Lời gọi thâm sâu 1
NỖI LÒNG - 1 -
- "Và tôi đã trở lại
đất Mỹ sau 12 năm về sinh sống tại Việt Nam. Vết thương lòng vẫn âm ỷ nhưng niềm
hy vọng lớn lao phủ kín tâm tư, phần nào giúp nỗi an bình nội tâm, đồng thời giải
tỏa bớt đôi chút tâm cảm nhục nhã của kẻ đã bỏ nước ra đi vì không có bất cứ cơ
hội nào giúp đất nước, giúp dân tộc thăng tiến, vươn lên, hầu thoát khỏi kiếp lầm
than chẳng những nơi cuộc đời mưu sinh mà còn nơi những phương diện nhận thức,
đạo đức, văn hóa, những thiết yếu tinh thần căn bản con người cần có, và nên
phát triển như một lẽ tự nhiên nơi cuộc sống nhân sinh. Thực ra, nói rằng phần
nào giúp nỗi an bình nội tâm, giải tỏa phần nào tâm cảm nhục nhã của kẻ đã bỏ
nước ra đi, cũng chỉ là niềm hy vọng phát sinh từ những cố gắng thực hiện những
gì trong giới hạn cá nhân có thể, hầu phát sinh chút ít kết quả mong đợi, kết
quả mà mọi con dân Việt dẫu đang sinh sống bất cứ nơi nao trên quả địa cầu đều
mong đợi, mơ ước; dù đã thực hiện gì hay chưa, nhất là những con dân đang sinh
sống tại bất cứ phần đất nào nơi nước Việt. Xin đừng hỏi tôi mơ ước gì cho người
dân đất Việt. Câu trả lời ông bạn đã có, đang có, và cũng là chính mơ ước của
ông bạn đã và đang triền miên ấp ủ như bao người dân Việt, dù sống bất cứ nơi
đâu, dẫu đã bao giờ nói ra hay chưa; vì ông bạn mang dòng máu Việt. Có điều,
xin cho tôi giữ kín những địa danh đã sống và tên của những người liên hệ để
tránh những phiền hà có thể xảy ra vì bất cứ lý do nào."
- "Ba năm tính từ
ngày 30 tháng tư, 1975 tiếp tục sinh sống tại Việt Nam, đất nước của những con
dân máu đỏ da vàng, hai năm đầu, tôi đã phải làm mọi thứ nghề để mưu sinh, rọc
lá chuối bán cho người gói bánh, dạo quanh những xóm làng mua đồ "Lạp
xoong" bán kiếm lời, mua và cắt dây khoai lang bán cho người nuôi heo, kéo
lưới rùng nơi vùng biển Bà Rịa, gần Vũng Tàu khi trời giá lạnh gần mùa Giáng
Sinh, và bất cứ công việc gì hầu kiếm miếng ăn sống qua ngày, ngoại trừ lừa lọc
người khác hoặc những chuyện tổn hại đến bất cứ phương diện nào nơi cuộc sống của
họ. Nói rằng rọc lá chuối nhưng thực ra là ăn cắp lá chuối mới đúng sự việc của
cái được gọi là công việc chẳng nên này. Thử nghĩ, cây chuối của người ta đang
sắp trổ bông mà nhẫn tâm cắt lá thì sẽ ảnh hưởng thế nào tới quầy chuối chuẩn bị
phát sinh! Một lần độc nhất trong đời, và tôi đã không dám đi theo những người
rọc lá chuối; tâm tư không cho phép tôi làm chuyện hại người như thế; dẫu người
khác, đã bao nhiêu năm sinh sống bằng công việc ăn cắp này mà lương tâm không hề
nhận biết. Tôi chân thành xin lỗi chủ nhân của mảnh vườn trồng chuối nào đó mà
tôi đã một lần theo người tới cắt trộm lá trong lúc khốn cùng. Xin hãy tha thứ
cho tôi vì đã làm thiệt hại, dẫu không là bao, nhưng tôi đã làm sai, đã thiếu
nhận thức, và đã ăn cắp một cách vô ý thức nơi thời vận túng quẫn."
- "Ngày còn nhỏ, tôi
rất ốm yếu nên thường bị bạn bè cùng lớp bắt nạt, và một vài học sinh lớp lớn
hơn ăn hiếp, ngay cả một người anh họ cũng cứ nhè tôi mà bày tỏ quyền hành ức
chế. Những lần bị hành hạ bằng những nắm đấm, hoặc bạt tai, hay những lời phỉ
báng, khinh miệt, trêu chọc bức hại, tôi chỉ biết ôm nỗi bất mãn, nhục nhã chạy
về cáo với mẹ. Gia đình tôi nào khấm khá gì cho cam, bố tôi buôn cá khô từ Phan
Thiết đem về bán lẻ lại cho người nuôi heo, lời lãi chẳng được là bao, và nhiều
khi cá không bán hết phải đem phơi khô, tránh bị mục nát phát sinh dòi bọ. Mẹ
tôi ngày ngày phải cúi mặt đối diện chăm tưới mấy luống rau, lưng bán cho trời
nơi mảnh vườn quanh nhà phần còn lại của hơn hai sào ta đã được cất năm gian
nhà ở, thêm hai gian vừa làm bếp, chất củi, và một chuồng heo, lứa nhiều nhất
là mười con heo thịt. Nhà trên và nhà bếp được sắp xếp theo hình thước thợ; nơi
góc trống bên hông nhà, cách vách bếp là một chiếc ao hơi hẹp chạy dài tới cuối
vè đất, và hông chiều dài cũng giáp bờ vè còn lại, dùng để nuôi bèo nấu cám cho
heo ăn. Đầu kia của nhà bếp ngay phía sau chuồng heo tráng xi măng, được đào một
hố chứa đựng phân heo dùng để phân bón cho rau cỏ. Mà nào mẹ tôi có to lớn chi,
bà thấp chỉ tới ngang tai bố tôi, người mảnh khảnh tưởng chừng chỉ ngọn gió mạnh
cũng thổi bạt được bà một cách vô định hướng."
- "Gia đình tôi đông
anh em mà tôi lại là con đầu lòng. Khi tôi đang theo học lớp ba thì mẹ tôi mời
một ông thày có võ Bình Định, ngày ngày tới dạy võ cho tôi. Không biết mẹ tôi
phải trả công cho ông ra sao, mà công việc chính của ông là dạy võ cho tôi vào
buổi chiều cùng chăm sóc mấy chiếc nẹp phơi cá khô, ăn uống ba bữa, sáng, trưa,
và chiều. Có lẽ vì học võ phải vận động nhiều nên máu thông thoáng chuyển đổi dần
giúp tôi càng ngày càng có thêm da thịt. Và thế là từ lớp nhì đổ đi, không tên
nào nơi trường tiểu học còn có thể bắt nạt hay lên mặt hoạch họe gì, mà có
chăng, vô tình trông thấy tôi thì lo mà tránh."
- "Từ năm đệ thất trở
đi, tôi theo học Taekwondo nơi một trường dạy võ. Người tôi rong rỏng cao, lại
hằng ngày luyện võ, máu huyết thông nên hình dáng có vẻ bảnh ra; hơn nữa, biết
mình con nhà nghèo chưa làm chi giúp góp cho gia đình nên tôi ra sức chẳng những
luyện nơi đàng võ mà còn cố gắng học nơi đàng văn hầu được những điểm cao khỏi
phụ lòng cha mẹ. Bẩy năm trung học rồi cũng qua, tôi chẳng những thuận buồm
xuôi gió thăng tiến cả võ lẫn văn để rồi theo đà tiến đó và lòng trí quyết tâm
không phụ lòng cha mẹ; khi vừa xong tú tài hai thì bên làng võ tôi cũng đạt tới
đệ tam đẳng huyền đai. Đó là vào năm 1972."
- "Đẹp trai, cao
ráo, lại thuộc hàng sinh viên, và hơn thế nữa, đệ tam đẳng huyền đai thì cũng
chính là đối tượng cho các nàng quen biết mơ tưởng. Thế nên tôi cứ nghĩ mình có
số đào hoa, nhưng thực ra, các cụ nói không sai, "Lắm mối, tối nằm
không." Dẫu trong những ngày hội hè, lễ tết, ở cái tuổi lầng nhầng chúng
tôi, sinh viên, sinh hột, cùng những thanh niên, những nàng tiên lớp lớn trung
học, có dịp gặp gỡ dù với ý định nào chẳng biết; chúng tôi có dịp họp nhau đi
chơi, tham gia cắm trại. Tôi đôi khi đã trở thành mục tiêu cho khối nàng tiến tới
với đủ kiểu cách giả vờ hoặc giả thiệt, và đồng thời lại cũng là đích nhắm cho
lắm chàng chọn tôi làm tình địch. Nói cho đúng, quả lắm màn, nhiều vụ, đẩy tôi
vô làm mốc cho các nàng diễn trò gây chú ý, đồng thời biến tôi thành địch thủ của
những tay sừng sỏ nơi nhóm võ sinh trường khác. Có nhận định nào đó chẳng sai,
"Lửa thử vàng, vàng thử đàn bà, đàn bà thử đàng ông, và đàn ông thử lửa."
Sinh viên cao ráo, đẹp trai, đào hoa lại giỏi võ như tôi thì nào ngán thử lửa.
Và thế là năm tên trong nhóm học võ, hùa nhau quần tôi một trận nên hồn, bò
không được, lết không xong, phải nằm nhà bóp thuốc võ hai tuần mới có thể tạm
đi lại bình thường. Trận đòn này, nói thua tôi vẫn không chịu; vì bất cứ ai, nếu
ba người trong bọn họ cùng nhau đấu với một mình tôi cũng đều bị đo ván bởi họ
thường thì bé con hơn và chỉ thuộc hàng đệ nhất và đệ nhị đẳng. Tôi không ân hận
hoặc thù hằn gì đối với lối bề hội đồng của họ vì chuyện đấm đá đối với con nhà
võ, thắng bại là lẽ thường. Tuy nhiên, điều nhận thức nhớ đời đối với tôi lại
là chính chuyện bị đo ván bởi năm mạng cấp dưới đó đã dẹp tan lòng kiêu ngạo
nơi tôi, khiến từ đó nơi bất cứ trường hợp tranh đấu nào đều phải e dè, cân nhắc.
Đối với tôi, phải dành thắng mới là quan trọng; vẻ oai phong bên ngoài, huênh
hoang khoe sức lực, ra oai, lên mặt, chỉ thuộc loại thằng hề, không có tôi. Nơi
trường hợp dính líu tới tôi, cho họ hơn một chút cũng không sao, đôi khi tôi chấp
nhận im lặng chịu mất mặt nhưng vẫn bình thản, để rồi từ từ tính kế cho họ chạy
đàng trời cũng không thoát, mà coi chừng lại còn phải nhờ cậy, bám víu vào tôi
sau này. Thắng, thua, chỉ tôi biết như thành quả của trận đòn thừa sống thiếu
chết với năm tay hạng dưới đã giúp tôi thăng tiến nhận thức sống.
- Ông nói gì, tại sao ông
nói, cao ráo, đẹp trai, giỏi võ, có số đào hoa, mà lại lắm mối tối nằm không?
Lên tiếng hỏi, tôi quen
ông Quán từ khi ông dọn về căn nhà kế cận. Là người Việt nơi đồng đất nước người
ở một thành phố đa số dân chúng là mũi lõ mắt xanh; thế nên khi thấy một người
Việt lọt vô, tôi đã không ngại ngùng ghé qua làm quen. Đã được ba năm quen biết,
đôi khi chén thù chén tạc nhưng tôi vẫn không dám hỏi về những chuyện tư riêng
cá nhân. Tôi thường mời ông nhậu vào cuối tuần nhàn rãnh; bởi có bà xã lo lắng
miếng ăn, thức uống. Hai nhà chỉ có hàng rào phía sau ngăn cách, tôi mở một
cánh cổng nhỏ nơi hàng rào phía sau để tiện việc qua lại. Mãi sau này tôi mới
biết tên ông là Nguyễn Lâm Quán. Ông chỉ có một mình, không vợ con và có cuộc đời
khá trầm lặng. Từ ngày dọn về đây, chưa bao giờ tôi thấy bất cứ người khách nào
ghé qua thăm. Dẫu trong lòng lấy làm lạ, nhưng tôi cũng ngại không lên tiếng hỏi
bởi e đụng chạm đến nỗi đau riêng tư nào đó của ông. Bình thường, sau hai hoặc
ba tuần nhậu bên tôi, ông mời vợ chồng tôi ghé qua dùng cơm tối. Chẳng bù cho
tôi vì có bà xã nấu nướng nên tôi mù tịt về nấu ăn; ông chồng nào không thế.
Ông Quán rất rành nấu ăn và lại cũng rất giỏi nhận định thức uống. Ông biết nấu
đủ thứ, khi thì vịt nướng chao, mì vịt tiềm, cháo lòng, phở, bún bò Huế, gỏi đủ
loại cá, phở xào, giả cầy, lại còn cả lô món đồ ăn Mỹ, chẳng hạn Spaghetty,
Steak, cả mấy món tên dài lòng thòng tôi không thể nhớ. Hôm nay thứ bẩy, ông mời
vợ chồng tôi qua ăn món vịt nướng chao và phở xào. Bà nhà tôi đã ăn xong, đã về
nhà chỉ còn lại mình tôi với ông nhâm nhi đã gần hết chai Hennessy. Nói rằng
nhâm nhi gần hết chai Hennessy, nhưng thực ra ông uống giỏi hơn tôi. Tối đa,
tôi chỉ có thể uống bốn "Shots," và hiện giờ tôi còn đang thưởng thức
shot thứ ba. Có lẽ hôm nay ông uống hơi nhiều nên mở lời tâm sự khi vô tình
chúng tôi bàn luận về những thăng trầm nơi cuộc đời lan man đến phận số chẳng
ngờ. Khi tôi nói về nỗi đau của kẻ phải bỏ nước ra đi, không thể ở lại và nỗi
nhục tâm tư vì đã không thể làm gì được cho đất nước cũng như dân chúng trong cảnh
khốn cùng, có lẽ lời chân thành thú nhận nỗi nhục của tôi đã khiến ông mở rộng
lòng chia sẻ.
- "Thực ra. lòng tôi
rất yếu mềm, nhưng cuộc đời ép tôi phải cư xử như thế. Hơn nữa, tôi rất thương
bố mẹ vì đã vất vả nuôi dưỡng tám anh em chúng tôi; mà tôi lại là con trưởng đã
không làm được gì để giúp gia đình. Cho nên chỉ còn cách hết sức lo học hành
cho bố mẹ vui, đồng thời phải biết sống liêm sỉ tránh bất cứ điều gì khiến mang
tai mang tiếng khiến bố mẹ buồn. Tôi học ban C, lấy Pháp văn làm ngôn ngữ chính
và Anh văn làm sinh ngữ phụ vì vào thời đó Pháp văn đang được trọng dụng. Có điều,
trời ban cho tôi trí nhớ khá tốt. Chẳng hạn, ngày trước hôm thi môn vạn vật của
năm tú tài 1, tôi chỉ cần một đêm đọc ôn lại tập sách học là nhớ hết. Không hiểu
thế nào, đối với tôi, riêng môn lịch sử thì cũng giống như một câu truyện, đã học
qua trong năm nên khi ôn lại nào có gì khó khăn. Thêm vào đó, tôi đọc rất
nhanh; nếu đọc truyện, những bộ sách kiếm hiệp, chẳng hạn bộ Hậu Cô Gái Đồ
Long, gồm chín cuốn, sau này bản in của Đại Nam bên Hoa Kỳ gom lại chỉ còn ba
cuốn, tôi đọc chỉ trong một ngày, cỡ ba đến bốn tiếng là hết một cuốn."
- "Đụng vào thời đó,
tổng động viên của mùa hè đỏ lửa 1972, tôi không muốn gieo mình ra chiến trận bởi
nhiều người, trong đó có một số bạn tôi, mới đăng nhập sĩ quan, ra trường được
mấy tháng, đã thành tử sĩ trở về với cỗ hòm được lá cờ phủ bên trên trong danh
hiệu tổ quốc ghi ơn. Tôi không trình bày bằng cấp và gia nhập địa phương quân
nơi địa danh Vũng Tàu, tránh không cho ai biết gốc gác của mình, một lối trốn
lính bất khả dĩ. Cùng với khả năng sinh ngữ, tôi nhận dịch những bản văn của
quân đội Hoa Kỳ cũng kiếm thêm được chút cháo gửi về giúp gia đình. Trong thời
gian này, tôi tiếp tục học võ và tháng ba 1975 tôi đã đạt được đệ tam đẳng huyền
đai do một tập đoàn võ sư Đài Loan khảo hạch."
- "Tôi nói lắm mối tối
nằm không là đúng với sự thật nơi cuộc đời chứ không phải thăng hoa hoặc nổ bậy.
Tôi là người Công giáo, sở dĩ tôi theo ban C vì sau khi đậu tiểu học, được theo
học nơi một tiểu chủng viện dẫu không có ý định đi tu; hình như bố mẹ tôi có
ý cho tôi tránh bị ảnh hưởng sự lêu lổng rồi sinh ra đụng chạm của lớp trẻ
thanh thiếu niên chăng; dầu tôi vẫn liên lạc hay đôi khi đàn đúm với những bạn
học cùng lớp thời tiểu học. Thêm vào đó, có lẽ tôi quan niệm con người phải biết
liêm sỉ, hơn nữa, danh dự gia đình cũng như tăm tiếng của bố mẹ tôi luôn luôn
là điều tôi chặt dạ ghi tâm, không muốn bất cứ gì làm phiền lòng bố mẹ. Tôi cảm
nhận được lòng thương của bố mẹ tôi, nhưng không biết cách nào giúp hoặc làm
hài lòng bố mẹ, nên đã cố gắng học thật giỏi cho bố mẹ vui lòng. Thử hỏi ông bạn,
thời học sinh, chúng ta có thể làm được gì cho bố mẹ được vui ngoài chuyện giúp
những việc lặt vặt trong gia đình? Tất nhiên chỉ là cố gắng học cho thật giỏi
vì còn gì hay cách nào khác hơn.
Với quan niệm con người sống
phải biết liêm sỉ, dẫu mangsố đào hoa tôi lại nhận ra sự phiền hà của những người
có số đào hoa; dù cho bất cứ ai, nam hay nữ nơi lứa tuổi thanh niên đều mơ ước
có số đào hoa, được nhiều người khác phái để ý. Riêng tôi, có điểu lạ là cho dù
quen rất nhiều bạn gái, phụ nữ, có thể nói đến cả trăm, nhưng không bao giờ có
ý nghĩ hoặc mơ ước có cuộc sống gia đình, hoặc có một người vợ để chung sống đến
trọn đời. Tôi thấy cuộc sống gia đình có vẻ buồn tẻ; giả sử trời ban cho mưa
thuận gió hòa, cuộc đời có miếng ăn, miếng để, không phải lo lắng chi tới kế
sinh nhai thì quanh đi quẩn lại, ban ngày đi làm, chiều về ăn tối, ngủ nghỉ qua
đêm để rồi sáng lại đi làm, ngày nào cũng chỉ lặp đi lặp lại chỉ có thế, chẳng
chi thay đổi. Phỏng con người có cuộc đời buồn tẻ như thế, lo làm kiếm miếng ăn
để sống và chờ chết? Dĩ nhiên, nhiều khi nghĩ lại, đôi lúc đặt lại vấn đề về
tâm tư, tôi nhận ra tâm tình con người có trạng thái nào đó khó mà phát biểu; để
rồi có lúc, tôi thử biện giải tâm trạng một cách thẳng thắng nên nhận ra, khi
có cơ hội mà đã không thực hành ý thích sẽ phát sinh tâm trạng tiếc nuối; “nơi
trường hợp muốn phạm tội mà lại không có cơ hội, thế mới tức, mới ấm ức, dằn vặt."
Nói xong, ông nhẹ mỉm cười, nâng ly rượu chiêu một ngụm rồi gắp miếng vịt nướng
chao đưa lên miệng từ từ nhai, đoạn đứng lên lấy chai rượu mới bên trên nóc tủ
lạnh.
- Tôi không uống được nữa
đâu, thưa ông. Tôi nói.
- Tôi biết, tửu bất khả
ép; nhiều lần ghé qua nhà ông, tôi biết tửu lượng của ông ra sao. Đêm nay thứ bẩy,
mai ông bạn không phải đi làm; tôi muốn mời ông bạn cùng tôi một đêm tâm sự.
Tuy nhiên, tùy ông, khi nào không chịu đựng nổi nữa, xin ông cứ tự nhiên, chẳng
có điều lệ nào bắt buộc, cũng như không có gì ngăn cản; ông hãy là chính ông, tự
do, tự tại; đó mới thực sự là điều tôi muốn. Tôi không thích hình thức dẫu đôi
khi mình cũng cần đến nó; bởi tôi không muốn lừa người và giả tạo với chính
mình; vì dù ai cố giả tạo cách mấy thì đến lúc nào đó cũng lòi cái đuôi cáo ra
mà thôi. Thực ra, chân thành, ngay thẳng, không hình thức mới có thể có được những
người bạn chân thành. Ba năm qua, từ ngày tôi dọn về đây, ông có thấy tôi có vẻ
hình thức với ông bà bao giờ chưa?
- Xin lỗi ông, cho tôi hỏi
một câu hơi tò mò vào đời tư của ông được không?
- Ông cứ hỏi; điều gì tôi
muốn dấu thì sẽ không bao giờ nói ra, chỉ có thế.
- Gia đình ông có ở bên
này không, và sao ba năm, tôi không thấy bất cứ ai ghé thăm ông; đồng thời cũng
không thấy ông đi đâu; ít nhất dù chỉ một đôi ngày.
- Tôi cả đời độc thân,
không vợ, không con, không bạn gái. Về vấn đề không có người quen ghé thăm bởi
tôi không muốn anh em hoặc bạn bè của họ bên Việt Nam đôi khi lỡ bị phiền hà
sau này; dẫu tôi đã trở về sống 12 năm không hề liên lụy gì. Tôi còn có bẩy gia
đình người em bên Việt Nam; ngay cả những ngày ở Việt Nam, tôi cũng không cho họ
biết và không đến thăm họ. Lý do tại sao, đó là điều tôi muốn chia sẻ với ông
đêm nay. Xin ông cứ tự nhiên, nếu có gì cần biết thêm, làm ơn cứ hỏi. Tôi biết
ông bà thế nào qua ba năm hàng xóm sát vách mà.
- Nói đúng sự thực, đã
bao lâu nay, lòng tôi tò mò muốn biết về ông nhưng e ngại lên tiếng, vô tình
làm phiền ông; do đó tôi đành cố giữ im lặng, chỉ dám hời hợt nói qua loa những
chuyện trời mưa, trời nắng mỗi khi gặp gỡ. Thêm vào đó như ông thấy, chung
quanh đây chỉ toàn người bản xứ, chỉ có gia đình tôi với ông là người Việt. Con
cái của tôi thì ở xa, giỏi lắm một năm may được một lần chúng ghé thăm bố mẹ;
thế nên, tâm tình “Bán anh em xa, mua láng giềng gần,” càng thôi thúc tôi muốn
biết về ông. Nói cho đúng, lòng tôi cứ nổi lên ước muốn sống gần gũi với ông
hơn.
- Trong suốt hai năm sau
ngày 30 tháng tư, tôi làm đủ mọi thứ nghề như đã nói và không trở về gia đình
mong tránh chẳng những trở thành gánh nặng cơm áo mà còn tai mắt của những kẻ
thắng cuộc, đôi tháng dọc theo vùng biển Chu Hải, Phước Hòa, cho tới Hố Nai,
ngược lên vùng Dốc Mơ, Gia Kiệm trên quốc lộ 20, đường dẫn tới Đà Lạt. Một hôm,
còn đang lui cui đẩy xe đạp, phía sau chất 20 bó rau lang, cột chặt, cắt nơi miền
rẫy phía sau rừng cao su Tam Bung khi vừa ra khỏi đường rừng rồi dọc theo quốc
lộ 20, về chợ Phúc Nhạc bán cho người nuôi heo; một ông cỡ độ hơn năm mươi tuổi
đi chiếc xe Honda dame, vượt qua và tấp vào lề đường dừng lại, đợi tôi tới gần
chỗ đứng đoạn giơ ngang tay ra hiệu bảo tôi dừng lại; ông nói,
- Tôi theo dõi em từ hôm
năm người võ sĩ có lẽ thuộc hàng đệ nhất và đệ nhị cấp huyền đai bề hội đồng một
mình em cho tới nay. Tôi thấy em chỉ có một mình, làm đủ mọi loại công việc; ít
bữa ở nơi này, đôi tuần hoặc đôi tháng nơi khác. Chú em không có gia đình, vợ
con, hoặc anh em thân thuộc sao? Tướng của chú em, nếu tôi không lầm thì rất
đào hoa, lại thuộc hạng người quen biết nhiều, mà sao cho đến nay vẫn độc thân,
lại chấp nhận bươn chãi qua ngày như hiện giờ. Phỏng chú em còn ôm mộng gì khó
bề giải quyết nên rán vượt qua ngày tháng để đợi thời?
- Từ ngày bị bề hội đồng,
ông nói tiếp, tôi đã học được bài học khiêm nhu kể cũng hơi đắt giá, nhưng con
nhà võ, thắng thua là chuyện thường, miễn sao không chết. Đồng thời, trong cảnh
khốn khó tràn ngập, mọi người dân miền Nam còn chưa hết sững sờ, thì nạn thiếu
thốn cũng phủ lấp muôn nơi. Đã nhiều lần tôi định trở về với gia đình nhưng
hình như có lực nào đó cản lại. Thầm nghĩ, thân trai sức dài vai rộng mà chấp
nhận ngày ngày mặt cúi xuống đất, lưng bán cho trời, chăm sóc mấy luống rau kiếm
miếng cơm qua ngày, rồi cũng phải lập gia đình chôn vùi đời trai trẻ nơi xó hẹp
của mảnh đất nào đó, và sẽ qua đi như chưa bao giờ hiện diện trên mảnh đất này.
Tôi thương và nhớ bố mẹ tôi đã bao ngày tháng tận tụy làm ăn, nuôi nấng tám anh
em chúng tôi; tôi phải làm gì trong hoàn cảnh, thời đại này. Hơn nữa, tôi thuộc
giòng Bắc kỳ 54, được nghe và đọc nhiều về cảnh đấu tố điền chủ, phú hộnơi miền
Bắc, nay miền Nam lại phát sinh chiến dịch đánh tư sản, mại bản. Đôi lần tôi
ghé qua vùng kinh tế mới Tân Hữu trên đường đi Võ Đắc, Võ Xu, hoặc ra Phan Thiết
nơi những chuyến xe lửa cũ kỹ, tận mắt chứng kiến cảnh dân chúng chen chúc trên
những toa tàu chật chội, và cảnh màn trời, chiếu đất, nơi bãi biển ban đêm chờ
chuyến tàu sớm đưa những người buôn thúng bán mẹt về nơi phố thị. Những gương mặt
rạng ngời nhưng bị vết lọ than củi, nắng mưa che lấp của lứa tuổi thanh thiếu
niên mất học đường, phải ra đời tranh đua giành sống. Đôi khi gặp mấy người bạn
học ngày xưa trong nhóm bị cải tạo nơi ga Trạng Táo đang chờ phương tiện di
chuyển đến phương xa nào đó, nhưng tôi đã không dám lên tiếng gọi thăm hỏi, e
phiền lụy đến họ nên đành phải dấu mặt, im tiếng. Hai năm trời lang thang vô định
hướng mong một chuyện gì đó bất thường xảy đến, tôi chỉ biết mong chờ mà không
biết mình mong chờ gì.
- Không ngờ ông để ý theo
dõi tôi, nhưng thưa, có chuyện gì không ạ? Tôi trả lời lập lững như không trả
lời vì tôi biết, dưới thời đại Cộng Sản, không nên tin bất cứ ai dù vợ con thân
thuộc, và bất cứ những gì không muốn ai biết thì đừng bao giờ nói ra. Phỏng đó
là sự khôn ngoan cuộc đời bắt tôi thực tập qua hai năm bươn chãi?
- Tôi không phải là công
an hay mật vụ chìm. Tôi thấy chú em thay đổi rất nhiều từ sau ngày bị bề hội đồng,
trầm tĩnh, kín đáo, và hình như hai năm qua chú em thay đổi chỗ ở, công việc kiếm
kế sinh nhai với mục đích ẩn sâu nào đó không thể dự đoán được. Tôi còn biết
chú em hằng ngày tiếp tục luyện võ, có lẽ năng lực đã gần đệ tứ đẳng huyền đai,
nhưng cứ như thế sẽ không bao giờ vượt qua được đệ ngũ đẳng huyền đai bởi thiếu
năng lực nội công. Hình như chú em chưa biết làm sao để phát triển năng lực nội
công thì phải, nên dầu đã tam đẳng huyền đai vẫn bị năm người đệ nhất và đệ nhị
huyền đai hạ cho đo ván. Nói cho đúng, đệ tam đẳng huyền đai nếu có năng lực nội
công thì năm chứ mười đệ nhị đẳng huyền đai cũng không thể nào đụng đến chú em
được. Đây là một trong những lý do tại sao tôi theo dõi chú em đã hai năm nay.
- Thế những lý do khác
thì sao, thưa ông? Tôi giả đò ngờ nghệch, nai tơ, nhẹ nhàng lên tiếng như một
người tò mò muốn biết cho qua chuyện.
- Có phải chú em đang ở
nhờ gia đình một người bạn ở Thanh Sơn? Em gái người bạn đó cũng xinh xắn và
hình như rất có cảm tình nghiêng về chú em; trong khi chú em lại cố ý như ngây
ngô, không biết, nếu không muốn nói là cố tránh tạo thêm sự thân thiết. Bạn của
chú em cũng biết em anh ta có cảm tình đặc biệt với chú em, nhưng cũng đành cố
lờ đi như không biết và chờ đợi xem phản ứng của chú em. Tôi nghĩ chú em biết
nhưng cố đè nén nỗi lòng, do đó, tôi đoán chú em có chủ đích nào đó, bởi vậy, cố
tình gặp để nói với chú em.
- Cóc nhái làm sao dám lo
chuyện ểnh ương. Cuộc đời rồi cũng qua, chẳng lẽ cơ cực một mình chưa đủ hay
sao mà còn muốn kéo thêm kẻ khác xuống vực thẳm cho họ khổ thêm, thưa ông.
Không ngờ ông biết về tôi nhiều hơn chính tôi, nhưng nơi thời điểm này, biết
tính sao hơn, thưa ông. Lập gia đình thì không chi khó khăn, nhưng nơi hoàn cảnh
sau này, may mắn yên ấm cho qua thì không sao, nhưng lỡ thời vận đưa đẩy lúc
chén bát đụng nhau, khi cơm không lành, canh không ngọt sao tôi có thể chịu đựng
được. Tôi giả “ngây thơ cụ” cộng thêm suy tư tự ái của người thanh niên biết
liêm sỉ.
- Nếu tôi không lầm thì bố
mẹ của cô ta định sẽ chia cho cô ta hai mẫu tây rẫy chuối thì sao sau này có thể
thiếu may mắn cho được, nhất là đối với một người tháo vát như chú em.
- Ông là con ma xó nhà
người ta hay sao?
- Tôi không phải là ma
nhà người ta, mà ma theo đuổi chú em đã hai năm.
- Với mục đích gì, thưa
ông? Tôi cố tỏ ra ơ hờ, không để ý.
- Thực tâm, nói chú em đừng
cười, tôi không hiểu sao cứ để tâm theo dõi chú em; đồng thời nhiều chuyện đưa
đẩy khiến tôi có cơ hội theo dõi mà chẳng hiểu theo dõi để làm gì ngay từ thời
buổi ban đầu. Sau hơn năm rưỡi, tôi mới chợt có chủ đích. Con người của chú em,
ngũ quan đoan chính, gân cốt rất thuận cho việc học võ. Chẳng những thế, chú em
có niềm cao ngạo; tôi nói cao ngạo chứ không phải kiêu ngạo. Người có niềm cao
ngạo là người biết mình có thực tài nào đó, có niềm tự tin, có liêm sỉ. Chỉ một
điều tôi không biết đó là mục đích của chú em đối với cuộc đời.
- Đây là lần đầu tiên
trong cuộc đời tôi được hỏi về mục đích cuộc đời, thưa ông. Con người được sinh
ra thì phải sống và không muốn chết khi còn ít nhất trai trẻ như tôi. Tôi lại cố
tình trở nên ngây thơ. Thực ra, như ông biết, không ai biết mục đích cuộc đời của
họ là gì; tôi cũng thế thôi; bởi tôi đã sống và đang sống trước khi nghĩ đến mục
đích cuộc đời. Nhất là lúc này, nơi thời điểm tận cùng của xã hội, không thể
nói đến ngày mai thì sao có thể đặt vấn đề về tương lai, phương chi mục đích cuộc
đời. Ngày ngày lo kiếm miếng ăn như con vật thì nói chi đến ngày mai hay viễn ảnh
tương lai, những ngôn từ thần thánh đó thì đành coi như sáo ngữ nơi văn chương
mà thôi.
- Tôi có câu hỏi hơi quá
phận chú em có chấp nhận trả lời không. Tôi nói rất chân thành, ông nói.
- Nào có gì phải dấu diếm
nên chẳng có gì đối với tôi là quá phận cả, thưa ông.
- Vậy tôi phải xin lỗi
trước; nếu gia đình người bạn đương đường bày tỏ muốn gả con gái của người ta
cho chú em; chú em sẽ có phản ứng thế nào?
- Ông biết đó, tôi đã ở đậu,
ăn nhờ nhà người ta gần bốn tháng và đang định dời đi. Đi đâu tôi cũng chưa biết,
nhưng vẫn phải ra đi vì tôi không muốn phiền gia đình họ nữa. Thưa ông, câu trả
lời ông đã rõ.
- Tôi có đề nghị, tôi muốn
chú em chừng hai năm hay hơn luyện năng lực nội công và thăng tiến Taekwondo đến
mức cao nhất nếu có thể. Ông tổ của Taekwondo được tạm gọi là đệ thập đẳng
nhưng chỉ hơn hạng cửu đẳng, nếu nói theo trường phái Taekwondo với cách luyện
tập ngày nay. Tôi muốn chú em chỉ cần đệ thất đẳng thêm phần năng lực nội công
thì cho dù đệ cửu đẳng của trường lớp hiện nay cũng không làm gì được chú em.
Chú em đồng ý?
- Tôi trên răng dưới dép
thì lấy đâu cơ may đào luyện thêm?
- Tôi nghĩ, tối đa sáu
tháng, vấn đề sinh sống sẽ không còn là điều kiện khó khăn đối với chú em.
- Vậy tôi phải làm sao?
- Phỏng ba ngày nữa đủ để
chú em chuẩn bị lên đường?
- Lòng tôi chợt phân vân
vì nhiều vấn đề dồn dập ập tới; trong khi quá ngỡ ngàng bởi đề nghị bất chợt của
một người chưa bao giờ quen biết. Dĩ nhiên, bản năng sinh tồn và tiếp nối cuộc
sống luôn đeo đẳng và ám ảnh tâm sinh lý nơi bất cứ ai; dẫu ước vọng, niềm mơ,
hay sự tin tưởng nào cũng không thể che lấp bản năng nhân sinh này. Tất nhiên,
là một thanh niên độc thân, đang thời buổi cương phương, tôi nào phải gỗ khô,
đá lạnh; dẫu nhu yếu cuộc sống nơi thời buổi này đòi hỏi một người trần thân
xoay xở, nhất là trong trường hợp bơ vơ cô độc, thân tự lập thân hầu tránh gánh
nặng cho gia đình thân thuộc với hoài bão mông lung chưa hề được xác định, nên
rán bươn chãi, ẩn nhẫn kiếm sống đợi chờ, chờ mong điều gì, thực tâm cũng không
biết; tôi chỉ cảm thấy lòng mình mong muốn, tha thiết với ước vọng, với điều
nào đó đang đợi sẵn.
Tôi biết Ba, bạn tôi, đưa
tôi về nói với bố mẹ cho ở nhờ không vì bất cứ ý đồ nào. Chúng tôi quen biết
nhau nhân một hôm tôi đang lang thang nơi Sài Gòn trước năm 1975 trên vỉa hè sắp
đầy hàng chợ trời. Tôi ghé vô nơi chưng bày những chồng sách, truyện. Sách mới,
sách dịch, sách cũ, nào tiếng Anh, tiếng Pháp, muôn loại sách, chắc chắn giá cả
rẻ hơn nơi các tiệm đặc biệt bán sách. Đàng khác, các tiệm sách đâu có những cuốn
sách cũ đã trãi qua bao thời thay đổi còn được vô tình lất lây giữ lại giữa
dòng người tâm tính vội vàng biến chuyển theo nhịp sống nhân sinh. Còn đang để
ý lướt qua danh hiệu nơi chồng sách hơi cũ, chợt có tiếng hơi lớn của người nào
đó phía sau nổi lên coi bộ bất mãn với thái độ của ai đó. Tôi quay lại thì vừa
thấy một tên ăn mặc có vẻ đầu đường xó chợ đang giơ tay đấm một thanh niên cỡ
tuổi tôi, coi bộ hiền lành nhã nhặn, ăn mặc bình dị như thường thấy trên phố.
Với phản ứng tự nhiên,
con nhà võ mà, tôi nhẹ bước tới đưa tay hất ngang cú đấm của anh chàng ngang
ngược dám thượng cẳng chân, hạ cẳng tay giữa phố chợ. Có mấy người thuộc băng đảng
hè phố của tên ngang ngược này trờ tới xông vào, nhưng bị tôi cho đo ván chỉ với
mấy cái gạt tay, ngáng chân. Thực ra, tôi nào có sợ gì ai vì dẫu mang danh hiệu
nghĩa quân để trốn lính, nhưng lại quen biết nhiều cấp lớn; vì là chuyên viên dịch
tin tức trong hệ thống quân đội nên luôn có sẵn giấy phép công vụ không lệ thuộc
thời hạn, giờ giấc, hoặc địa danh, khu vực. Cái nhóm băng đảng hè phố này chỉ
là những trẻ ranh ngang ngược, không lo học hành, đàn đúm với tụi du thủ du thực
hư hỏng cả tương lai. Tôi không nói không rằng, nắm tay anh Ba kéo ra nơi khác
giữa những cặp mắt kiêng nể của đám người ngang ngược hè phố Hòn Ngọc Viễn
Đông.
- Vì sao mà tụi nó làm
phiền anh, tôi hỏi.
- Tôi đang định mua cuốn
Anh Em Nhà Kamarazốp thì có người xô phải, tôi bực mình lên tiếng cự nự thì hắn
định đánh chợt gặp lúc anh nhào vô đỡ đòn.
- Hình như anh không phải
người Sài Gòn?
- Tôi ở vùng Gia Kiệm,
nhân tiện đi ghi danh năm thứ hai đại học Văn Khoa nên muốn mua ít sách về đọc.
Sao anh nghĩ tôi không phải người Sài Gòn?
- Cái giọng Bắc kỳ của
ông khiến tôi nghi ngờ. Người Sài Gòn, nếu là dân 54 sẽ bị pha giọng miền Nam,
nghe nhẹ nhàng hơn.
- Tôi mới nói với anh chỉ
có một câu thôi mà!
- Chẳng những thế, lối ăn
mặc của ông cũng không giống với dân Sài Gòn. Mình kiếm nơi nào uống nước nói
chuyện; ông có bận chi không?
- Đi thì đi, chiều nay trở
lại kiếm sách và mai tôi phải trở về.
Mang danh nghĩa quân
nhưng tôi có tiền do dịch tin tức từ tiếng Anh qua tiếng Việt. Từ quán cà phê
bước ra, anh Ba có nhã ý mời tôi ghé qua nhà người bác ở Sài Gòn, và tôi lại được
mời dùng bữa trưa. Chiều hôm ấy, tôi đi lang thang với anh Ba mua vài cuốn
sách, và chúng tôi quen nhau từ dạo đó. Nói cho đúng, gọi là quen nhau nhưng chỉ
là độc nhất một lần vô tình gặp chuyện, và mãi cho tới ngày sau năm 1975 khi
tôi lang thang kiếm sống ngang vùng Gia Kiệm mới gặp lại và được anh Ba dẫn về
giới thiệu với ba mẹ cho ở nhờ. Hơn nữa, không ngờ Ba có người em gái dễ thương
đã học xong tú tài 2 năm 1974 nhưng bỏ ngang không theo đại học Luật Khoa từ
khi đất nước đổi đời.
Nói đúng ra, tôi rất đào
hoa, nhưng lề lối luân lý, đạo đức, văn hóa được khuôn mẫu nơi trường lớp chủng
viện Công giáo nên quan điểm cũng như nhận thức giá trị cuộc sống có phần khép
kín. Đối diện với lý thuyết, quan niệm, nhận định nơi sách vở, tâm trí tôi được
rộng mở, nhưng dầu thế tôi lại rất bảo thủ. Tôi dùng ngôn từ bảo thủ nhưng
không phải cố chấp khư khư ôm ấp triết thuyết hay tư duy của bất cứ tác giả,
văn hào, văn chương nào, mà bảo thủ theo quan niệm như thành quả hay sản phẩm
nhận thức của chính mình. Tất nhiên, những gì, những quan niệm đã sẵn được hấp
thụ qua học đường hay đọc sách nơi tôi, rất dễ dàng thay đổi hay cải tiến một
khi tôi nhận thức được điểm nào đó dẫu chống ngược lại với quan điểm của mình,
cho dù trong lãnh vực niềm tin. Tôi cho rằng, những tri thức nhận được chẳng
khác gì các thực phẩm, ăn vô phải được tiêu hóa thành máu nuôi cơ thể. Những kiến
thức, tri thức đến với tâm trí qua bất cứ phương diện nào, cần được cẩn trọng
ghi nhận và thâm trầm suy tư, suy nghĩ cho đến tận cùng, nếu thuận lý, hợp tình
với mình chẳng khác gì thực phẩm phải được tiêu hóa thành dòng máu nuôi sống cơ
thể, và nếu còn vướng mắc, trục trặc, thì cần phải được lựa lọc, hoặc đào thải,
hoặc kiên tâm nghiền ngẫm cho tới khi thông suốt, trở thành của riêng mình mới
thôi.
Đàng này, dẫu đang có ý định
thay đổi chỗ ở nhưng đề nghị quá bất ngờ lại không có được bất cứ lý do, lý trấu
nào làm cơ sở bám víu, hoặc điều kiện hay thực tại nào làm căn bản cho tôi ít
nhất có được nhận định mù mờ hầu liều mạng quyết định. Nói cho đúng, tôi chẳng
có gì nên chẳng sợ mất mát chi; chỉ có mỗi cái mạng và nếu cái mạng đã mất thì
nào còn chi để tiếc nuối. Hơn sáu tháng sau ngày rời bỏ Tân Hữu, sáng không có
gì ăn, lang thang bữa trưa có gì bỏ vô bụng cho qua, và tối đến uống nước lạnh
đi ngủ; mà tôi vẫn còn sống đến lúc này, tôi đâu e ngại điều chi.
- 2 -
Nghĩ đến lòng tốt của gia
đình người bạn đã cưu mang tôi suốt bốn tháng, không đòi hỏi nơi tôi bất cứ chi
mà coi tôi như người nhà; chỉ hơn một tuần kỳ mới tới, tôi vô rẫy chuối làm
công việc hầu trả tiền ăn ở, và từ đó làm việc riêng, chẳng hạn đi mua dây lang
về bán kiếm ít tiền lời. Vào thời đó, làm thuê nơi rẫy chuối, tiền công chỉ
đáng hai đồng một ngày; trong khi đi cắt dây lang về bán cho người nuôi heo,
tôi kiếm được ít nhất 10 đồng một ngày. Bữa trưa thì xin chủ vườn mấy trái bắp
luộc dồn đầy chiếc dạ dầy cho qua. Tối chỉ cần ba đồng, một đĩa nem hay tái nho
nhỏ, một đồng, cút rượu, một đồng, và tô cháo lòng cũng một đồng nơi quán bà
Tân, Phát Hải, tha hồ vương giả. Đôi khi tôi đưa ít tiền tạm gọi gửi chi phí ăn
ở với gia đình nhưng không được nhận.
Dáng dấp và thái độ cũng
như ánh mắt Lan, em gái của Ba, chợt thoáng gợi nơi lòng tôi mối duyên nào đó.
Tôi cảm thấy giao động, nhưng thực tại cuộc sống cũng như mơ ước viễn vông mờ mờ
ảo ảo khuyến khích tôi tạm quyết định lần lữa chờ phận số. Tất nhiên, gặp gỡ chỉ
là duyên, nhưng nếu thực sự mang nợ kết hợp hôn nhân thì có “Tránh trời cũng
không khỏi nắng.” Nếu đã là lương duyên thì trước hay sau, chuyện đến sẽ phải đến.
Hãy từ từ cho thêm thời gian tìm hiểu lòng mình thực sự muốn gì và sẽ đi về
đâu. Thế nên, tôi quyết định, thử cho mình thêm cơ hội liều mạng, do đó hỏi,
- Thế tôi phải đợi ông ở
đâu, và vào giờ nào?
- Tôi sẽ đến đón tại nhà
người bạn của chú em, cỡ 10 giờ sáng ba ngày nữa được không?
Và ngày thứ ba, trước lúc
10 giờ sáng tôi đã sẵn sàng khi ông lái chiếc Honda dame trờ tới trước hè, ngay
cửa. Tôi dùng chiếc ly uống nước dằn tờ giấy, đã viết tối hôm qua, trên bàn với
đôi dòng tạ từ,
Ngày… tháng… năm…
Thưa hai bác, bạn Ba, và
em Lan.
Vì có việc bất chợt phải
ra đi gấp, không thể trì hoãn, nên cháu dùng đôi dòng chữ vội vã này thay người
giã từ hai bác, bạn Ba, và em Lan.
Bốn tháng trời ròng rã,
gia đình hai bác đã rộng lòng cưu mang, chấp nhận cho cháu ăn nhờ, ở đậu, không
đòi hỏi bất cứ điều kiện gì. Cháu không biết dùng ngôn từ nào để bày tỏlòng
chân thành ghi ơn hai bác, bạn Ba, và em Lan. Tiền nhân dân Việt để lại câu, “Một
đêm nằm bằng ba năm ở.” Cháu chẳng những được hưởng hơn kém 120 đêm nằm, tương
đương 360 năm ở, mà lại còn được ăn uống, được coi như thành viên trong gia
đình.
Phải ra đi, dẫu lòng
không muốn, nên mang nỗi đau như xé tâm can, nhưng biết sao hơn. Ơn này biết
sao trả, cháu chỉ còn biết “Sống để dạ, chết mang theo.” Thực ra, chính lúc này
và những tháng ngày tiếp theo cháu mới nghiệm được thực thể câu nói, “Đối với
ân huệ lớn lao không thể trả nổi; thì cách trả ơn tuyệt vời và đúng đắn nhất
chính là vô ơn; vô ơn để giữ chặt trong lòng.” Ơn huệ của hai bác và gia
đình,cháu chỉ còn biết trân trọng ghi nhận trong tâm; nói ra không được; mà
càng nói ra lại càng chẳng nói được chi, chẳng khác gì vô ơn.
Muốn viết thêm nữa, nhưng
cũng không thể viết được gì, và thời gian quá gấp không cho phép cháu chần chừ.
Thế nên, cháu chỉ biết,
Nguyện cầu ơn trên phù hộ
hai bác, bạn Ba, và em Lan trong những ngày tháng tới.
Nguyễn Lâm Quán.
- Tất nhiên, lúc viết những
hàng chữ này tối hôm trước, tôi đã phải phóng tay ngoáy cho có vẻ rất vội vã
trong cảnh bất chợt, hàng chữ lệch lạc, xiêu vẹo. đoạn đeo chiếc ba lô chứa mấy
bộ quần áo, chạy ra leo lên phía sau chiếc Honda dame đang nổ máy chờ sẵn. Cũng
may, nhà không có ai; vì mọi người đã ra rẫy chuối, khiến tôi tránh được cảnh
khó ăn khó nói lúc chia tay.
Khi chiếc Honda dame vừa
êm ả lăn bánh trên quốc lộ 20 hướng về Ninh Phát; tôi chợt nhận ra mình đã
không biết ông ta tên gì nên lên tiếng,
- Thưa ông tên gì, cháu vẫn
chưa biết tên của ông. Riêng tên của cháu là Quán, ông đã thừa biết từ lâu.
- Tầm, tên tôi là Tầm. Cứ
đi một đoạn đã, sau khi ăn trưa và đổ xăng, mình sẽ kiếm nơi nào mát ngồi nói
chuyện trong khi cho xe nghỉ vì chuyến đi còn dài.
Tôi không nói năng chi
nhưng lòng cứ băn khoăn muốn biết mình sẽ đi về đâu và cuộc sống sẽ ra sao. Nói
cho đúng, gọi là băn khoăn, nhưng bao lâu nay đã quá quen với cảnh thường xuyên
di chuyển, thay đổi chỗ ở với nỗi lòng thách đố cuộc đời, tôi không nôn nao
chút nào bởi đã có ông Tầm bảo đảm cho những ngày sắp tới. Hơn nữa, ông đoan chắc
chỉ cần tối đa sau sáu tháng cuộc sống của tôi sẽ được ổn định, khiến tôi tạm
an lòng.
Chiếc Honda dame của ông
hình như đã được xoáy lòng nên tiếng nổ khá nặng, có lẽ cũng do xăng pha dầu
hôi nơi thời buổi này. Ông Tầm cho xe chạy hơi nhanh hơn các xe máy bình thường
trên con lộ. Qua Ninh Phát, Bốt Đỏ, Dầu Giây, Trị An, Bầu Cá 1, Bầu Cá 2, Trà Cổ,
và dừng lại giữa khoảng Hố Nai, nơi quán trái cây bên đường có dấu hiệu bán
xăng bằng ba chai 750 ml, trên đó úp chiếc phễu, ngay đầu con đường nhỏ dẫn tới
trại cưa phía sau dãy nhà nay đã ngừng hoạt động. Hình như ông quá quen với nơi
này nên chạy xe thẳng vô trại cưa. Khi vừa tới, đã có người bán xăng đợi sẵn.
Trại cưa hoang vắng, trống
rỗng; còn chăng chỉ là khung gỗ đội lớp mái tôn trình diện nét tàn phai theo
dòng thời gian. Một vài bàn cưa mâm chỉ còn khung gỗ; lưỡi cưa, trục cưa, dây
kéo đã được di chuyển tới nơi nao nào ai biết. Những đường rầy bằng sắt của máy
cưa dây cũng đã không còn; chơ vơ những phiến cầu gỗ âm thầm chấp nhận bị lãng
quên hầu có thời gian hồi tưởng thời hoạt động oanh liệt của nhà máy, mong đè bẹp
ưu tư, e ngại, ngày nào đó bị phân thây thành củi nấu nướng. Trống vắng và trơ
trụi gợi lên trong lòng tôi nỗi ngậm ngùi kéo theo liên tưởng đến thân phận những
con người mang bộ mặt nặng nề chấp nhận cảnh khó khăn kiếm sống sau ngày đổi đời.
Tôi nén tiếng thở dài. Dân tộc tôi, gia đình, anh em, họ hàng, bạn bè quen biết,
giờ này chẳng khác chi lớp thú mang dạng nhân sinh, ngày ngày lầm lũi lần mò miếng
ăn hầu sống cho qua kiếp người, chịu đựng phận trời vô tình đổ xuống và gồng
mình chấp nhận, “Trói lại mà đánh khen hay chịu đòn.” Đâu đó lởn vởn nơi tâm
trí câu, “Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu.” Mình nào có hơn gì; thiên
hạ còn có miếng đất cắm dùi; tôi bồng bềnh tha phương cầu thực, nặng lòng ấm ức
chẳng dám hé môi giải tỏa nỗi bứt rứt, thao thức kiếm tìm cơ hội, ít nhất có thể
giảm bớt chút nào niềm đau phận số của con người, của dân tộc tôi. Ôi vận trời,
ôi phận người!
Còn đang luẩn quẩn với cảm
ứng hiện trạng thực tại hoang vắng của nhà máy thì ông Tầm lên tiếng bảo tôi,
sau khi đã đổ xăng xong, đoạn đẩy chiếc xe tiến về phía trước,
- Lại đàng kia, chúng ta
ăn rồi đi tiếp.
Tôi lững thửng bước theo
ông. Tới gần một bàn cưa mâm chỉ còn trơ mặt gỗ, ông dựng xe, bước tới bụi chuối
cắt hai tàu lá trãi lên mặt bàn cưa, đoạn mở chiếc “Ba lô” được gắn khéo léo
ngang hông phía sau xe như một phần của kiểu cách tiện ích thời đại. Ông lấy ra
hai gói lá chuối chứa đựng bánh ướt, một gói lá chuối khác, trong đó bao gồm
rau răm, mùi ta (ngò), rau diếp, và những miếng giò lụa. Hai chiếc đĩa sành kèm
theo hai đôi đũa, một chai nước mắm được pha hành, tỏi, ớt, và hai chiếc bi
đông, một chiếc bằng nhôm và một chiếc bằng mủ nhựa màu xanh. Tất cả được đặt
trên bàn cưa mâm phủ hai tàu lá chuối; ông nói,
- Mình tạm ăn trưa xong rồi
đi tiếp.
- Ông mua bánh cuốn ở
đâu?
- Gọi tôi bằng bác; có lẽ
tôi lớn hơn ba của anh đôi năm.
- Bác mới cỡ năm mươi mấy
sao lớn tuổi hơn ba cháu được.
- Anh nói đúng, nhiều người
cũng cho rằng tôi cỡ năm mươi mấy tuổi. Thật ra, tôi đã 67 tuổi.
- Bác nói đúng, ba cháu
năm nay mới năm mươi tám tuổi. Sao bác có thể trông trẻ, khỏe mạnh như thế.
- Tại tôi tập võ
Taekwondo và luyện nội công theo phương pháp Hatha Yoga.
- Ủa! Yoga là phương pháp
tôi luyện thân xác của Ấn học mà.
- Nói cho đúng, mọi
phương pháp luyện nội công đều tùy thuộc nguyên tắc ý dẫn khí; khídẫn huyết đến
đả thông kinh mạch. Tuy nhiên, người ta thường chỉ cứ như con vẹt lặp đi lặp lại
lý thuyết “Ý dẫn khí; khí dẫn huyết đả thông kinh mạch,” nhưng đã không biết áp
dụng nó thế nào để phát triển nội công; chẳng khác gì những nhạc công đều biết
lý thuyết chuyển âm từ ngàn xưa là 1-4-5, nhưng không biết cách ứng dụng,
không biết áp dụng luật 1-4-5 vào hành trình chuyển âm của một bản nhạc.
- Thế nghĩa là sao, thưa
bác?
- Anh có biết gì về âm nhạc
không?
- Cháu tự học Guitar
Classic khoảng hơn kém một năm, nhưng thấy mình không có khả năng phát triển
theo ý muốn nên bỏ.
Ông Tầm lấy chai nước mắm
tỏi ớt rưới lên đĩa bánh cuốn đã được bỏ thêm mấy miếng giò lụa, rau thơm đoạn
mỗi tay cầm một chiếc đũa đảo đĩa bánh cuốn trong khi tiếp tục,
- Thế anh có viết bản nhạc
nào không?
- Cháu có viết vài bản nhạc
và đôi khi buồn buồn dùng guitar nghêu ngao chứ không đặt vấn đề chuyển âm vì
nghe và để ý những bản nhạc được ghi nơi CD, cứ thấy người ta đánh âm bass
trùng với âm cung giọng hát nên cũng cứ theo như vậy.
- Thế anh có hiểu chuyển
âm là gì không và luật chuyển âm 1-4-5 là thế nào không.
- Đọc sách dạy về âm nhạc,
cháu cũng chỉ đọc được như thế, nhưng không có phần nào chỉ về sự áp dụng của
luật chuyển âm vào âm nhạc nên không để tâm đến chuyện chuyển âm. Tuy nhiên, nếu
cháu không lầm, thì nhạc sĩ là người viết ra bản nhạc; ca sĩ là người hát bản
nhạc; còn phần hòa âm thì đã có ban nhạc. Nơi trường hợp trình diễn nhạc sống,
ban nhạc lại cần người phối âm. Đã một đôi lần xem được bản phối âm của ban nhạc
thì thấy cứ nốt nào nơi bản nhạc thì hòa âm được viết với hợp âm của cung ấy.
Chẳng hạn, nốt La thì hợp âm được viết là La trưởng hay thứ, Đô thì cũng được
viết là Đô trưởng hay Đô thứ. Nhiều khi cầm cây guitar, luật chuyển âm 1-4-5
cũng được gợi về nơi tâm trí, nhưng thấy mấy người trẻ học dương cầm cũng chỉ
được dạy, đụng nốt nào dùng hòa âm của nốt đó tùy thuộc bản nhạc nên không biết
nghĩ gì thêm, đành cứ lờ đi trong nỗi thắc mắc mờ mờ ảo ảo không để tâm kiếm
tìm câu giải đáp.
- Nếu cứ gặp cung hay nốt
nào thì dùng hòa âm của cung ấy thì đâu cần luật chuyển âm 1-4-5. Thí dụ nơi nốt
La của bản nhạc, theo nhận định của anh, làm sao để biết phải dùng hòa âm La
trưởng, hay La thứ, hoặc La dim? Chẳng những thế, lại còn có La4, La7, La9,
La13 v.v… nữa.
- Sao bác biết lắm thứ thế.
Cháu có bao giờ thấy ai phối âm những thứ ấy cho ban nhạc chơi bao giờ đâu. Vô
tình, một hôm ghé qua nhà một anh đang phối âm một bản nhạc cho ban nhạc chơi
nhạc sống, cháu thấy anh ta phối âm khổ sở lắm. Nào phải căn cứ trên bảng tìm
hòa âm, nào gạch gạch, xóa xóa để thay đổi hòa âm nọ, hợp âm kia.
- Thế anh có biết hợp âm
hay hòa âm chính của bản nhạc là gì không?
- Nơi trung học đệ nhất cấp,
cháu được dạy rằng phải nhìn vào nốt cuối của bản nhạc. Nốt cuối cùng của bản
nhạc là nốt nào thì hợp âm của nốt đó là hòa âm chính của bản nhạc.
- Vậy anh có biết thế nào
là hợp âm trưởng, thế nào là hợp âm thứ, thế nào là hợp âm dim không? Rồi thêm
nữa, hợp âm 7, hợp âm 9, 11, 13. Tôi nói thẳng và thật, không có bất cứ ý đồ
khen thưởng hay chê bai gì. Duy nhất chỉ với một mục đích nhưng tôi sẽ không
nói lên cho đến khi nào anh tự nhận ra. Anh đã biết về guitar; anh thử tưởng tượng
đang cầm cây đờn, tay trái bấm hợp âm và tay phải gẩy dây đàn. Nói cho tôi biết,
đối với hợp âm Đô trưởng, anh bấm ra sao? Anh cứ đơn giản trả lời, có sao nói vậy,
không cần giải thích.
- Thì cháu bấm nốt Đô, nốt
Mi, và nốt Đồ.
- Vậy trên sáu dây của
cây đàn sẽ bao gồm những nốt nào?
- Nốt Mì, nốt Đô, nốt Mi,
nốt Sol, nốt Đố, và nốt Mí. Tựu trung, gồm ba nốt Đồ, Mi, Sol, nơi những cung bậc
khác nhau.
- Anh thử tưởng tượng bấm
hợp âm Fa trưởng.
- Hợp âm Fa trưởng bao gồm
các cung bậc Fa, La, Đô.
- Thế hợp âm Đô thứ?
- Hợp âm Đô thứ bao gồm
các cung bậc Đô, Mi giảm, Sol.
- Và hợp âm Fa thứ?
- Hợp âm Fa thứ bao gồm
các cung bậc Fa, La giảm, Đô.
- Anh có thấy gì khác biệt
giữa hợp âm trưởng và hợp âm thứ của hợp âm Đô không?
- Trưởng thì Đô, Mi, Sol;
thứ thì Đô, Mi giảm, Sol.
- Thế còn sự khác biệt giữa
trưởng và thứ của hợp âm Fa?
- Fa trưởng thì Fa, La,
Đô; Fa thứ thì Fa, La giảm, Đô.
- Qua sự phân tích trưởng
và thứ của hai hợp âm Đô và Fa, anh có nhận thấy sự gì khác biệt giữa hợp âm
trưởng và thứ không?
- Đô trưởng, Đô, Mi, Sol;
Đô thứ, Đô, Mi giảm, Sol; chẳng lẽ…
- Chẳng lẽ sao?
- Hình như hòa âm trưởng
và thứ chỉ khác nhau nửa cung ở nốt thứ nhì?
- Nghĩa là thế nào?
- Từ nốt Đô đến nốt Mi là
hai cung và từ nốt Mi đến nốt Sol là một cung rưỡi. Từ nốt Đô đến nốt Mi giảm
là một cung rưỡi, và từ nốt Mi giảm đến nốt Sol là hai cung. Ủa, cháu chưa bao
giờ để ý đến sự khác biệt này.
- Thế nếu anh so sánh giữa
trưởng và thứ của hai hợp âm Đô và Fa, anh có thể đưa ra công thức cho hợp âm
trưởng và thứ được không?
- Khoan, khoan, bác đợi
cháu suy nghĩ ít phút. Đô – Mi = 2; Mi – Sol = 1.1/2; Fa – La = 2; La – Đô =
1.1/2. Công thức của hợp âm trưởng là 2, 1.1/2. Khoan, khoan, Đô – Mi giảm =
1.1/2; Mi giảm – Sol = 2; như vậy công thức của hợp âm thứ là 1.1/2 – 2. Sao…
- Sao thế nào?
- Chuyện chỉ đơn giản có
thế mà sao bao lâu nay cháu không để ý?
- Có biết nguyên nhân
không? Ông Tầm hỏi ngắn gọn.
Tôi chầm chậm gắp miếng
bánh cuốn kẹp thêm rau từ từ đưa lên miệng trong khi tâm trí bận suy nghĩ tìm
nguyên nhân. Mà tại sao ông Tầm lại nhắc đến nguyên nhân! Xưa nay, chuyện gì
cũng thế, tôi chỉ thường học theo dẫu lòng ruột khó chấp nhận những lý thuyết,
quan điểm đối nghịch hoặc khác với nhận thức của mình, trong khi không đặt vấn
đề kiếm tìm nguyên nhân, hay phương pháp của những sự việc thực nghiệm, thực
hành.
- Thiếu suy nghĩ, thiếu
nhận định, thiếu đặt vấn đề.
- Thế có bao giờ anh để ý
đến sự liên hệ của hợp âm chính của bản nhạc với bản nhạc không?
- Nghĩa là sao, thưa bác?
- Nghĩa là không cần phải
nhìn nốt cuối vẫn có thể biết bản nhạc đó sẽ được dùng những hợp âm nào không?
Tôi chỉ muốn nói tới hợp âm, chưa nói tới chuyển âm.
- Bản nhạc chưa có nốt
thì sao có thể viết hợp âm, phương chi chuyển âm.
- Thử tưởng tượng và nói
lên anh biết một đôi bản nhạc nào?
- Ồ, Ngậm Ngùi, Lời Tri
Ân, Phận Người.
- Bản Ngậm Ngùi có hợp âm
chính là gì?
- Đô trưởng.
- Nếu không nhìn nốt cuối,
chỉ nhìn đầu hàng thứ nhất, anh sẽ thấy gì?
- Không thăng, không giảm.
Nhưng cũng có những bản nhạc không thăng, không giảm, mà hợp âm chính lại là La
thứ.
- Sẽ có câu giải đáp tại
sao. Bây giờ chỉ xét hợp âm trưởng của bản nhạc đã. Vậy hợp âm chính của bản Lời
Tri Ân là gì?
- Là Sol trưởng.
- Khóa nốt cho bản nhạc
là gì?
- Khóa nốt, bác nói sao?
- Khóa nốt chỉ về những dấu
thăng, giáng hay giảm, ngay đầu của bản nhạc. Những dấu thăng được xếp theo thứ
tự, Fa, Đô, Sol, Rê, La, Mi, Si; Những dấu giáng thì theo thứ tự ngược lại, Si,
Mi, La, Rê, Sol, Đô, Fa.
- Như vậy, khóa nốt của bản
nhạc Lời Tri Ân là gì?
- Thưa một dấu thăng ở
hàng Fa, trên cùng của khuông nhạc.
- Câu trả lời có tiến bộ.
- Sao bác nói có tiến bộ?
- Bởi anh đã để ý nhận
xét đầy đủ vị trí của dấu thăng, dù cho người không biết gì về nhạc cũng có thể
định vị nó được. Anh để ý thêm chút nữa, vị trí của một dấu thăng nơi bản nhạc
là Fa thì hợp âm trưởng của bản nhạc là Sol trưởng. Nếu bản nhạc có hai dấu
thăng, dấu thăng thứ hai sẽ đứng vào vị trí Đô, và hợp âm trưởng của bản nhạc sẽ
là Rê trưởng. Nếu bản nhạc mang ba dấu thăng, vị trí thứ ba của dấu thăng sẽ là
Sol; bản nhạc sẽ có hợp âm trưởng là La trưởng. Nhận định như thế, nơi một bản
nhạc mang những khóa nốt thăng, sẽ có hợp âm trưởng mang tên tiếp theo tên của
vị trí nốt thăng cuối. Thí dụ, nơi bản nhạc có bốn dấu thăng, vị trí các dấu
thăng sẽ là, Fa, Đô, Sol, Rê, và lẽ đương nhiên, hợp âm trưởng của bản nhạc sẽ
là Mi trưởng. Và nếu bản nhạc mang năm dấu thăng, thử đếm coi xem sao, Fa, Đô,
Sol, Rê, La; hợp âm trưởng của bản nhạc sẽ là Si trưởng. Anh có thể tính được hợp
âm Si trưởng bao gồm những cung bậc nào không?
- Si, Rê, Fa.
- Tại sao lại Si, Rê, Fa?
- Xin lỗi, cháu nói theo
quen miệng nên quên tính toán. Hợp âm Si trưởng bao gồm ba nốt, Si, Rê thăng,
và Fa.
- Tại sao lại Si, Rê
thăng, và Fa.
- Xin lỗi, cháu nói sai,
nó là Si, Rê thăng, và Fa thăng.
- Đã biết mục đích tôi
nói chuyện về âm nhạc với anh chưa?
- Bác muốn nhắc nhở cháu
đặt vấn đề và suy nghĩ, tính toán cho kỹ càng hơn.
- Đúng, tôi muốn khuyến
khích anh từ nay để tâm đặt vấn đề về bất cứ chuyện gì dẫu đã quá thường nơi cuộc
đời.
- Thưa bác, những chuyện
quá thường sao lại còn phải đặt lại vấn đề?
- Vậy tôi thử hỏi, mắt
anh có đang nhìn thấy tôi; tai anh có đang nghe tôi nói?
- Thưa bác, chẳng lẽ cháu
đang trong cơn mơ?
- Thế anh có biết con mắt
nào nơi anh nhìn trong giấc mơ không?
- Bác nhắc tới con mắt
nhìn trong giấc mơ cháu mới nhớ. Số là ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cháu
có đi theo một nhóm người lập cư ở Tân Hữu, trên đường đi Võ Đắc, Võ Xu. Một
hôm, cháu cùng hai người khác tạo thành một nhóm chặt những bộ cây để bán cho
người ta làm nhà nơi những vùng kinh tế mới khác. Khi vừa qua khỏi một khúc
quanh của đường xe be ngày trước, cháu chợt giật mình, tự hỏi mình đã đến đây tự
bao giờ. Để tâm lục lại ký ức, cháu mới nhận ra sự kiện trước mặt cháu đã nhìn
thấy nó trong một giấc mơ ba năm về trước. Tuy nhiên, vì đã không để tâm đặt vấn
đề, cho tới lúc này, cháu cũng chưa có câu trả lời, có chăng, đôi khi tâm trí
lãng đãng chợt nhớ lại, và rồi cũng chỉ thoáng qua, không gì hơn kém.
- Nói như vậy, chứng tỏ
anh đã nhận biết mình có con mắt nhìn trong giấc mơ nhưng đã bao ngày tháng
không để tâm tìm hiểu. Sự thể này được gọi là thực chứng, và sự việc suy tư,
suy nghĩ về sự thực chứng này được gọi là nghiệm xét để nhận thức thực thể sự vật
và sự việc. Đại khái, cho dù dùng ngôn từ nghiệm xét hay suy tư, tìm hiểu, thì
cũng chỉ là suy nghĩ cho đến tận cùng của sự thể hay sự việc nào đó dẫu nhận thấy
bình thường hay nơi trường hợp đặc biệt nào đó. Kết quả của sự suy nghĩ, suy tư
chính là sự thấu hiểu thâm trầm, hay còn được gọi là nhận thức; mà sự nhận thức
này chỉ đúng và hợp với chính mình mà thôi, không thể chia sẻ hay giãi bày với
bất cứ ai hầu mong họ cảm nghiệm được như mình. Thế anh có biết con mắt nhìn
trong giấc mơ phát xuất từ đâu trong anh không?
- Cháu đâu thấy sách vở
nào viết về nó.
- Nó ở nơi anh sao ai biết
mà viết về nó; nếu anh đã không viết nó ra! Bởi đó, chỉ có anh mới biết về nó
sao lại chờ người khác viết. Và giả sử có người nào viết về con mắt nhìn trong
giấc mơ thì họ chỉ có thể viết về con mắt nhìn trong giấc mơ của họ, chứ sao có
thể viết về con mắt nơi anh! Họ viết về con mắt nơi họ sao anh có thể nhận biết
về con mắt nơi anh. Như thế, tất cả những gì nơi sách vở chỉ là phương tiện gợi
cảm ứng hay khuyến khích hoặc kích thích anh tự nhận biết nơi chính mình chứ
không thể nói chi về mình. Họ làm sao biết mình mà nói, mà viết. Anh chưa đọc
được tác giả nào viết về con mắt nhìn trong giấc mơ vì chưa gặp được tác giả đã
nghiệm chứng được như anh. Thực ra, cũng đã có nhiều tác giả viết về chuyện này
nơi các sách đạo học; mà có lẽ anh chưa có cơ hội đọc được chăng.
- Dĩ nhiên, cuộc đời này
còn rất nhiều điều cháu chưa biết.
- Điều căn bản là mình đã
biết còn rất nhiều điều chưa biết nên khi đối diện với cuộc đời cần phải suy
nghĩ, cần phải nghiệm xét; bởi nếu không suy nghĩ, không nghiệm xét thì suốt đời
ngu muội, được nhà Phật gọi là vô minh. Hơn nữa, có câu nói, “Tội lỗi bởi sự
ngu dốt mà ra.” Ngôn từ tội lỗi ở đây có nghĩa những thiệt hại, lầm lẫn, bởi sự
thiếu suy xét, thiếu suy nghĩ chín chắn, thiếu nghiệm xét mà ra. Tuy nhiên, cuộc
đời một người ngắn ngủi trong khi, ai cũng thế; khát vọng nhận biết có thể nói
là vô cùng; thế nên, cho dù cố gắng đến mấy, hoặc cho dù một người được sinh ra
trong cảnh bọc điều, tiêu pha cả đời để đọc sách cũng không thể nào thỏa mãn được
khát vọng nhận biết mọi sự được.
- Bác nói như thế thì ai
cũng đành chấp nhận ngu muội mà thôi.
- Có thể nói như thế; bởi
vậy đã có câu, “Đa thọ, đa nhục.” Ngày xưa khi mới nghe câu này, tôi chỉ cho rằng
người càng già càng dễ cảm thấy tổn thương tự ái, nhưng năm tháng trôi qua, tôi
có cảm nghĩ câu này có nghĩa càng già, càng nhận biết nhiều điều mình còn chưa
biết. Anh có biết mấy câu thơ, “Càng trẻ, càng biết nhiều; càng già, càng u tối.
Cuộc đời luôn thay đổi, che khuất nẻo đi về. Lối nào thoát bến mê, dẫn đường về
tự thể. Càng tìm, càng vọng tưởng; không kiếm lại ngu ngơ; thánh nhân vốn khù
khờ”?
- Thực tại cuộc sống luôn
luôn biến chuyển không ai biết trước được. Nhưng chẳng lẽ con người được sinh
ra để sống đợi cái chết? Bác có tin vào phận số không?
- Có gì mà nói đến tin
hay không! Những gì thực hữu, hiện thực, thì tin hay không, chẳng chi thay đổi.
Nó đã là sự thực thì dẫu không tin, nó vẫn hiện hữu. Nguyên ngôn từ tin đã tự
chất chứa nghi ngờ; vì nếu không nghi ngờ thì đâu cần chi nói đến tin hay không
tin. Thế nên, nói rằng tin vào điều gì thì đã thực sự chứng tỏ có sự nghi ngờ về
điều đó. Vấn đề được đặt ra và cần thiết lại chỉ là khi mình đối diện một vấn đề
nào đó mình có suy nghĩ, suy tư, hay đặt vấn đề để nghiệm xét hay không! Chẳng
hạn nơi trường hợp của anh, cũng như bao người khác, đã thực chứng được con mắt
nhìn trong giấc mơ nhưng chưa bao giờ, nếu không muốn nói là biết bao người đã
qua đi không bao giờ đặt vấn đề tự tìm hiểu con mắt nhìn trong giấc mơ nơi mình
là gì, phát xuất từ đâu, tại sao có hoặc làm cách nào để sử dụng con mắt ấy. Có
chăng, ai khao khát lắm thì lại tin tưởng nơi những lời giải thích mù mờ, đầy
thiếu sót của những nhà nhân danh khoa học; cho rằng những gì chúng ta nhìn thấy
trong giấc mơ là phát xuất từ ảnh hưởng hay tác động của tâm sinh lý; chẳng
khác gì người mù hung hăng tuyên bố mặt trời không chiếu sáng, dẫu cảm thấy
nóng bức khi đứng dưới ánh mặt trời. Con người được sinh ra để sống chờ cái chết
hay không tùy thuộc người đó dám suy nghĩ hay không.
- Tại sao bác lại nói dám
suy nghĩ hay không?
- Hình như trận bề hội đồng
giúp anh chẳng những trầm tĩnh hơn mà còn khôn ngoan và thâm trầm hơn. Hèn chi
anh không có bất cứ hành động nào trả thù họ. Phỏng anh có chút ý định nào trả
thù họ sau này không?
- Bác có quen biết với
người nào trong bọn họ không?
- Hỏi câu này, anh có
mang ẩn ý nào không? Anh nghĩ gì mà đánh đồng tôi với bọn họ.
- Cháu cảm ơn bác đã nói
thẳng và nói thật. Nói cho đúng với tâm trạng chẳng những lúc này mà còn ngay
lúc lê lết về bóp thuốc suốt hai tuần lễ, cháu chưa bao giờ có dẫu chỉ ý nghĩ
thoáng qua về sự trả thù, mà có chăng phải cảm ơn họ. Thực ra, nếu trực tiếp
nói lên lời cảm ơn đối với họ coi chừng chỉ làm phiền họ, nếu không muốn nói rằng
khuyến khích họ trở nên hư hỏng. Thế nên, sở dĩ hỏi bác có quen biết với họ hay
không, cháu chẳng hề có ý nghĩ đánh đồng bác với họ, nhưng bởi vì cháu chưa biết
rõ thực lực của bác như thế nào; bởi đã bị giật mình khi nghe bác nói đến luyện
nội công và luyện tập Teakwondo tới đệ thất đẳng huyền đai.
- Thế sao anh phải cám ơn
họ?
- Vì họ, cháu đã học được
bài học lễ độ cuộc đời thì có chi mà thù với oán.
- Bài học gì?
- Nổ, huênh hoang, tự
mãn, không mở mắt để nhận biết trong thiên hạ này kẻ tài giỏi vẫn còn có người
tài giỏi hơn.
- Vậy anh nghĩ gì hay suy
tính thế nào khi quyết định đi với tôi?
- Bác thử tính coi, mấy
năm nay cháu thay đổi chỗ ở không ít, làm đủ mọi việc hầusống qua ngày. Cháu
đang định thay đổi nơi ở, có thể là vùng Hố Nai. Thực ra, sống ở đâu thì cũng
thế thôi, nên khi nghe bác nói đi theo bác, cháu muốn thử chính mình, cho mình
một cơ hội. Nếu cùng lắm, chỉ sáu tháng hay một năm, cháu sẽ có quyết định sau.
- Như vậy anh vẫn chưa biết
mình muốn gì?
- Thực tâm, cháu vẫn cảm
thấy có điều gì đó lôi cuốn mình theo đuổi, nhưng cũng chẳng biết điều đó là
gì; nên vẫn mở rộng lòng cho mình cơ hội thử. Cháu biết lòng mình muốn gì nhưng
sao có thể biết cuộc đời mình được sinh ra để làm gì. Ý muốn, ước mơ là một
chuyện, nhưng cuộc đời biến chuyển, thay đổi không biết đâu mà lường; đâu ai biết
ngày mai sẽ thế nào.
- Anh có thể lược qua và
phân tích những viễn tượng ước mơ để nhận định cho chính xác sự việc nào hay điều
gì đó lôi cuốn tâm trí mình theo đuổi không?
- Đã nhiều khi cháu tự hỏi
điều gì khiến tâm hồn mình thao thức, khắc khoải, nhưng vẫn chưa phân định được
rõ ràng. Mấy tháng kỳ ở vùng kinh tế mới Tân Hữu, có lần ghé vô một gia đình, vừa
gặp họ đang dùng bữa trưa, chỉ một rổ đọt rau cứt lợn luộc, chấm muối sả ớt;
hai vợ chồng và ba người con nhỏ chừng 7, 9, và 12 tuổi, mà cháu cảm thấy lòng
ruột vượng lên nỗi đau khó tả. Dẫu vào thời kỳ đó cháu cùng với hai người khác
đang đi chặt cây bán cho người làm nhà nơi kinh tế mới nào đó, nhưng hình ảnh bữa
ăn của gia đình ấy cứ luôn ám ảnh tâm tư, cho dù càng cố quên thì hình ảnh ấy lại
chỉ càng in đậm thêm. Không biết vận trời giáng xuống dân Việt mình cho đến bao
giờ. Trước năm 75, cháu có đôi lần ghé ngang vùng Gia Kiệm; những hình ảnh sinh
hoạt dân chúng thời đó quả thật đối nghịch với hiện trạng ngày nay. Nghĩ tới,
cháu chỉ biết thở dài. Đôi tay mình quá ngắn, sức lực giới hạn, nhưng lòng ruột
cứ xôn xao, luôn tự hỏi mình có thể làm được gì trong khi ngày ngày vất vưởng,
chỉ biết kiếm miếng ăn cho qua chẳng khác gì loài thú.
- Tôi nghĩ anh biết anh
đang muốn gì nhưng chưa tìm ra cách giải quyết thế nào. Hãy kiên nhẫn giải quyết
những gì cần thiết cho cuộc sống hôm nay; ngày mai, việc đến sẽ đến và cơ hội
cũng đang chờ kẻ kiếm tìm. Vấn đề chỉ là cần đào tạo bản thân mình trước. Tayngắn
thì kiếm cách, kiếm phương tiện, nối cho dài ra; sức lực yếu kém thì lo đào luyện
bản thân cho vững mạnh. Thời nào, lúc nào cũng tràn đầy những cơ hội để thực hiện
ý nguyện; chỉ sợ lúc cơ hội đến, ý chí không còn hoặc tâm hồn lại đam mê chuyện
khác mà bỏ lỡ hay buông xuôi; đó mới là điều đáng nói. Nhìn vào thực trạng dân
chúng, tôi nhận thấy cần phải làm gì thay vì để lòng ruột đau đớn, xót thương,
dằn vặt, biến mình thành kẻ chủ bại. Tất nhiên, dù đường dài đến đâu, cuộc hành
trình cũng phải bắt đầu bằng một bước chân. Nếu cứ cho rằng một bước chân thì
quá nhỏ bé khi đem nó so sánh với đường dài vạn dặm, cuối cùng cũng sẽ chết tại
chỗ không hơn không kém. Cuộc đời cũng thế, giá trị cuộc đời không phải chỉ là
ước mơ mà là những hành động biến ước mơ thành hiện thực. Thử đối diện với
chính mình, một bữa ăn so với cả cuộc đời không là gì cả nhưng có trường hợp
thiếu một bữa ăn, coi chừng bao mơ ước, bao công trình sẽ bị sụp đổ; bao công sức,
tiền tài đã đổ vào tan thành mây khói. Thế nên, phân tách hiện thực để có nhận
định rõ ràng, phân chia diễn tiến của diễn trình sự việc dự định thành những phần
có thể thực hiện và bắt tay vào việc. Muốn có được một dinh thự nguy nga, phải
mua xi măng, gạch hay đá, vẽ lập lăng, đào chân móng, trộn xi măng với nước, xây
từng viên gạch. Nên nhớ rằng, bản vẽ đinh thự không phải là dinh thự, không thể
nào bước chân vào bản vẽ được, nhưng muốn bước chân vào dinh thự lại cần bản vẽ.
Mơ ước cũng cần được suy nghĩ và phân tích, xác định giống như dàn bài một bản
văn, hoặc bản vẽ rõ ràng, khúc chiết. Những bước chân của diễn trình kiến tạo ước
mơ thành hiện thực chẳng khác gì những viên gạch được xây chồng chất theo lập
trình bản vẽ tạo thành dinh thự. Do đó, tôi nghĩ, hãy phân định bước chân đầu
tiên của mình là gì và bắt đầu thực hiện. Thực tế cuộc đời minh chứng, có sẵn
thực phẩm nhưng muốn có bữa ăn lại cần phải nấu nướng. Thêm vào đó, thức ăn đã
được dọn sẵn trên bàn, muốn no bụng thì phải ăn; cho dù lười nhai thì cũng phải
kiếm máy xay thực phẩm thành sinh tố để nuốt. Đã không còn là lúc chúng ta ngồi
đặt vấn đề mà cần thực hiện bất cứ gì chẳng những thăng tiến cho mình đồng thời
thực hiện dự tính thì mới may ra có thể hoàn thành phần nào đó của mơ ước.
Tôi trầm ngâm suy nghĩ những
lời đơn sơ, mộc mạc, nhưng không kém nhận thức thực tiễn ông Tầm nêu lên, trong
khi chầm chậm ăn nốt phần bánh cuốn còn lại trong đĩa. Tôi thầm nghĩ, những
chuyện thường tình ai không biết, ai không thực hiện và đã quá quen với chúng,
nhưng khi để tâm phân tích mới thấy mọi sự đều cần có những lập trình không thể
thiếu. Thế vì lý do gì ông Tầm để tâm theo dõi tôi; ông muốn gì nơi tôi; ông muốn
sử dụng tôi vào việc gì. Tự hỏi tôi có gì để ông lợi dụng, tứ cố vô thân, chẳng
quen biết ai, bơ vơ, lạc lõng, không danh vọng, không tiền tài, khả năng, trên
răng dưới dép thì có thể mang lại lợi ích gì cho ông. Dẫu không thể tưởng tượng
ngày mai sẽ ra sao nhưng tôi muốn thử, muốn thử như một sự thách đố với chính
mình, với phận số; cùng lắm chỉ sáu tháng hay một năm, nếu không thuận tiện,
tôi có thể kiếm nơi khác. Một thân một mình, mấy năm nay, cho dù gặp hoàn cảnh
túng quẫn nhất, tôi vẫn có thể vượt qua được mà. Vấn đề chỉ là tôi có thể làm
được gì để giải quyết nỗi thao thức trong lòng triền miên đè nặng bất cứ lúc
nào nhìn thấy cảnh khốn khổ của những người chung quanh, người dân của đất nước
tôi, dân tộc tôi sau những ngày bị mệnh danh giải phóng. Giải phóng khỏi cuộc sống
thịnh vượng sang cảnh đói khổ, thiếu thốn, mờ mịt, không dám nghĩ tới ngày mai.
Ngày mai, ngôn từ thần thánh đã chìm vào quá khứ khi đối diện với bữa ăn chỉ
toàn đọt cây cứt lợn luộc, hoặc may mắn lắm mới có được nồi cơm độn khoai lang
khô. Tại vận trời hay tại con người?
Rút trong túi tấm giấy và
chiếc bút bi đưa cho tôi, ông Tầm nói,
- Đây là giấy phép thông
hành đã được ký sẵn, anh điền tên và chi tiết vô. Và từ nay, anh sẽ là cháu họ
của tôi, gọi tôi bằng bác. Dẫu không cần thiết nhưng giữ sẵn lỡ có trường hợp cần
dùng đến, bởi thường thì không có chuyện gì xảy ra đâu.
- Cháu luôn có giấy phép
thông hành mà, còn có thêm mấy cái “xơ cua” đã được ký sẵn, chỉ cần điền tên và
ngày tháng, nơi đến cũng như địa chỉ ăn ở.
- Vậy là được, bỏ tấm giấy
vào túi quần, giặt bút vô túi áo ngang ngực, ông tiếp, mình chuẩn bị lên đường,
đoạn mở nắp bi đông nhựa hớp thêm ngụm nước.
Tôi uống miếng nước nơi
bi đông nhuôm, cuộn hai tấm lá chuối quăng vô bụi rậm gần đó và leo lên phía
sau chiếc Honda ông đã nổ máy chờ sẵn.
Xe rẽ qua quốc lộ 22 nối
tiếp với quốc lộ 1, và được đổ thêm một bình xăng trước khi tiến vô đoạn đường
lưa thưa đây đó những căn chòi chơ vơ giữa khoảnh rừng hay vườn tược để rồi tiến
sâu vô một đoạn đường chung quanh chỉ là rừng cây rậm rạp. Tôi chẳng cần biết
mình sẽ theo ông đi tới đâu, cũng không thèm nghĩ đến ngày mai sẽ sống thế nào
trong tâm trạng thách đố với đời. Tôi nghĩ, con người sống chết có số, vào đời
không do ước muốn, ý định của mình, được nuôi dưỡng tới ngày lớn khôn, lo kiếm
ăn, thỏa mãn nhu cầu cuộc sống, và rồi chết, rồi sẽ chìm vào quên lãng như chưa
từng hiện diện trên cõi đời này thì ngày mai nào có chi phải lo.
Bao nhiêu năm qua, dày
công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ, tôi muốn sống gần để giúp đỡ gia đình, nhưng thế
cục thay đổi; vận trời khiến toàn dân chẳng khác gì trên lưng voi rót xuống
thân phận loài thú, chỉ tối ngày luẩn quẩn với miếng cơm manh áo, thua cuộc đời
những con chó ngày xưa. Gọi là ngày xưa nhưng nào đã bao lâu, mới chỉ một đôi
năm mà tâm trạng mọi người đã trở nên hụt hẫng, không dám nghĩ tới tương lai,
không dám mang trong mình bất cứ hoài bão ước mơ, dù chỉ là mơ ước đơn sơ về một
bữa ăn thịnh soạn. Đã một thời gian tôi sống nơi Bà Rịa, kéo lưới rùng mong kiếm
đường vượt biên như bao người đã ra đi. Ra đi để làm gì? Ra đi cho vinh thân
phì da, chạy trốn đối diện cảnh dân chúng lầm than, cơ cực? Rồi sao? Rồi cũng
chết đi như những con vật, cả đời chỉ biết kiếm tìm thực phẩm lấp đầy chiếc dạ
dầy như bao kẻ khác.
- 3 -
Tôi được sinh ra để làm
gì? Cuộc sống phải có lý do, ý nghĩa của nó. Mục đích cuộc đời một con người là
chi, nếu cuộc đời chỉ là quãng thời gian sống chờ chết thì được sinh ra, tốn
công sức tranh đua kéo dài sự sinh tồn, quả là vô nghĩa. Dù cho có được nhà cao
cửa rộng, ra giày vào dép, vợ đẹp, con khôn, được cuộc đời ưu đãi sinh ra trong
bọc điều, dù ăn uống cao sang, địa vị chức quyền oai phong đến mấy thì cuối
cùng cũng ra đi với đôi bàn tay trắng. Tất nhiên, không mang vào đời bất cứ gì
thì ra đi cũng chẳng còn chi để mang theo. Giá trị cuộc sống của tôi là gì? Tại
sao phải sống, bị sống, hay được sống?
Được hay bị sinh ra, chưa
kịp sống đã phải khoác lên mình án tử, và cho dù chưa có bất cứ ý nghĩ, ước mơ
nào thì đã bị tròng vào cổ công ơn nuôi nấng, dưỡng dục, công lao vô biên, bao
bọc của cha mẹ, của mọi người chung quanh. Những bài học vỡ lòng, tình cảm, yêu
thương của gia đình, nơi trường lớp, những lý thuyết, chủ thuyết, yêu thương
dân tộc, bổn phận với quốc gia, xóm giềng, mang mang phủ lấp tâm trí tôi. Chỉ
vì cuộc sống vô nghĩa, không mục đích, chủ đích mà tôi phải mang trên mình
trách nhiệm, công ơn nặng nề, bao la như thế phỏng là mục đích cuộc sống chăng.
Tại sao tôi được sinh ra, sinh ra để làm gì? Cuộc đời phải có ý nghĩa, giá trị
của nó. Giá trị cuộc sống là gì? Sống để làm chi? Nếu chỉ vì miếng ăn, chỉ vì
mơ ước, chỉ để thỏa mãn nhu cầu nhân sinh và chờ chết thì ước vọng, tham vọng,
hy vọng cho đến mấy cũng là không khi cái chết ập tới.
Nhà cao cửa rộng, quyền
hành mênh mang, có làm tôi cảm thấy oai vọng hơn không? Tiền rừng bạc bể có
thay thế được thực phẩm lấp cho đầy cái bụng đang kêu gào chăng. Vẫn biết tiền
có thể mua được thực phẩm, nhưng không thể thay thế thực phẩm làm yên cái bụng.
Người ta vô tình thiếu nhận định đã cho rằng “Có tiền mua tiên cũng được,”
nhưng khi chiếc bụng đói meo, một bó tiền kề bên một chén cơm nguội giữa cảnh
mênh mông trời đất; phỏng có ai nhai bó tiền thay vì chén cơm nguội được chăng?
Thế ra điều kiện sống định giá tất cả. Tuy nhiên, thực thể cuộc sống minh chứng
nhận định, “Khi con vật ăn no, chúng ngủ; lúc không phải lo miếng cơm manh áo,
con người suy nghĩ.” Suy nghĩ, suy nghĩ mới có thể nhận định để rồi thực hiện
đúng đắn những việc hầu cải thiện cuộc sống.
Dĩ nhiên, ai không muốn
có cuộc đời dễ thở hơn, và cũng bởi vì “Có tiền mua tiên cũng được,” nên người
ta đã thiếu ý thức, chạy theo phương tiện, biến phương tiện và những liên hệ,
cơ hội, thành mục đích cuộc sống, thay vì suy nghĩ để có nhận định rõ ràng đâu
là mục đích cuộc đời của một người. Hèn chi, những thể chế độc tài kiếm đủ mọi
cách ngăn cản con người suy nghĩ bằng lối khuynh đảo điều kiện sống của dân
chúng. Làm tập thể thì “Cha chung không ai khóc,” tất nhiên kết quả dần suy yếu,
đồng thời trở thành cơ hội cho kẻ có quyền hành bòn rút càng khiến cuộc sống
dân chúng lầm than, thiếu thốn. Dĩ nhiên, khi chiếc bụng đói meo thì mục đích
cuộc sống chỉ là an định chiếc dạ dày, tối ngày mò mẫm vì miếng ăn chẳng khác
chi loài thú.
Đã có vị “triết da, triết
thịt” nào đó hô lên, “Con người là sinh vật có, hay biết, suy nghĩ.” Cái vị triết
da, triết thịt này tuy nhận ra điểm khác biệt giữa người và thú, nhưng đã vô
tình không đào sâu cho biết suy nghĩ phát xuất từ đâu, chẳng khác chi các nhà
khoa học, cho tới ngày nay, cuối thế kỷ 20, vẫn nhắm mắt, bịt tai, liều lĩnh,
thiếu suy tư, công bố mọi tư tưởng, suy tư phát xuất từ bộ óc. Bộ óc chỉ là vật
chất sao có thể phát sinh suy nghĩ? Nếu vật chất có thể phát sinh suy nghĩ thì
cuộc đời này chẳng khác gì nồi cám heo, con vật, cây cối, nhà cửa, tất cả lộn
tùng phèo. Nếu cái nhà, cái giường mà có thể suy nghĩ được thì coi chừng sẽ hất
người ở hay đang ngủ bay ra đường. Con vật cũng có bộ óc nhưng chúng sinh hoạt
theo bản năng; chả thế mà có câu, “Người ta có thể dạy cho con khỉ đánh một bản
nhạc piano tuyệt vời, nhưng không thể biến con khỉ thành nhạc sĩ.”
Miên man suy nghĩ cho tới
khi ông Tầm dừng xe nơi sân một căn nhà gạch lợp ngói ẩn sau đám rừng được con
đường nhỏ ngoằn ngoèo dẫn tới. Sân được lát bằng gạch thẻ. Lối xếp gạch hơi lạ
đối với tôi vào thời ấy. Những hàng gạch không theo hàng lối bình thường, nhưng
có những hàng ngang chạy xéo xéo đối nghịch với hàng dọc của những viên gạch
cũng được xếp xéo theo những hình chữ V mở. Có sáu ô gạch hình vuông cách đều,
xếp thành hai hàng theo chiều ngang của sân dọc theo chiều dài của căn nhà. Sân
gạch vuông vắn, rộng rãi hòa với mặt đường đất; phía trước sát với rừng cây và
phía sau tiếp giáp với bậc hè tương đồng với nền nhà được láng xi măng.
- Anh đứng tạm đây để tôi
cất xe. Ông Tầm lên tiếng ngắn gọn, đoạn tiếp tục chạy xe tới đầu nhà phía trước,
nơi đó mái nhà được nối thấp xuống làm chỗ để xe. Sau này tôi mới biết nơi đó
cũng là bếp, có cửa ra vào phía trước sân và cửa ngang hông lên nhà.
Nghe tiếng mở chốt cửa
trước đồng thời cửa bật mở và tiếng ông Tầm vang lên,
- Mời vô, ông bật lửa với
hộp quẹt que và châm vào ngọn đèn dầu trên bàn, loại đèn có bấc bản lớn cuộn
thành vòng tròn và lắp bóng đèn vô. Cầm đèn tiến về phía đầu nhà nơi ông cất
xe, mở gói giấy vừa được đem vô để trên bàn ăn, ông lấy ra hai ổ bánh mì, một
gói nhỏ thịt xá xíu và một gói nhỏ rau thơm, một trái dưa leo nhỏ hơn cổ tay
dài cỡ một gang. Lấy con dao nhỏ rạch một ổ bánh mì, đưa cho tôi, đồng thời đứng
lên, lấy đôi đũa đưa cho tôi và một chai xì dầu nơi đầu bàn.
- Tối nay, mình ăn tạm
bánh mì cho tiện rồi còn tắm rửa, nghỉ ngơi. Anh có cần ăn ớt không? Nếu muốn,
phía sau nhà có lẽ may ra có ớt tươi.
- Thưa không đâu, tôi trả
lời ngắn gọn, lấy con dao nhỏ xắt dọc theo chiều dài trái dưa leo thành những
thanh nhỏ và chuẩn bị phần bánh mì, thịt xá xíu đã được thái mỏng cùng với rau
thơm, xì dầu cho mình và bắt đầu ăn.
Tôi giữ im lặng, không
nói gì dẫu lòng đầy thắc mắc, chỉ âm thầm thả nổi tâm tư trôi theo ngoại cảnh
diễn tiến. Suốt ba năm, gần chục lần thay đổi nơi ở, làm đủ mọi công việc, từ
cuốc đất làm rẫy, chặt cây làm nhà nơi Tân Hữu, kéo lưới rùng ở vùng biển Bà Rịa,
mua bán đồ cũ dọc vùng Hố Nai, Gia Kiệm, mua, cắt dây lang khu rẫy rờ Tam Bung,
phía sau Túc Trưng bán cho người nuôi heo miền Gia Kiệm, xay củ tróc ngái
(giong tây), và đóng dàn lọc bột, làm công trên ghe te đánh tôm, phụ làm hàng
đáy vùng Chu Hải, v.v…, vẻ bên ngoài, tôi có vẻ dễ thương, đơn sơ gần như ngờ
nghệch, không bon chen, cởi mở, ruột ngựa, lễ độ, chí thú kiếm miếng cơm, chấp
nhận hoàn cảnh, phận số sống qua ngày, bởi lúc đói, đầu gối phải bò, không dám
hẹn hò, yêu đương cho dù hình hài và thái độ không đến nỗi tệ. Hơn nữa, vào thời
đó, cái “mác” sinh viên, sinh hòn cũng khá ăn khách.
Cũng phải nói thêm, vẻ
bên ngoài tôi ngoan và hiền lắm cộng thêm tính chất thật thà, dám chấp nhận nói
lên những gì mình chưa biết, chưa có kinh nghiệm, đồng thời canh cánh biết ơn
những người đã giúp tôi về bất cứ phương diện nào. Sáng hôm đó, sau cỡ sáu tuần
đi ghe te đánh bắt tôm cá vào một đêm nước lừng nên về sớm, tôi ghé vô thăm ông
bà cụ bố mẹ vợ chủ ghe với ý định nhờ cụ đan cho chiếc sảo tôm lỗ hơi lớn hơn
bình thường.
- Sảo mà đan lỗ lớn sẽ lọt
mất tôm, cụ nói.
- Thưa cụ, khi đãi tôm,
những tép nhỏ sẽ chìm xuống trước, nếu lỗ sảo bình thường, phải lắc qua lắc lại
nhiều lần tép mới lọt hết, sầy suộc cả tôm. Đàng này, nếu lỗ sảo lớn hơn bình
thường một phần ba, chỉ cần lắc nhẹ một lần, các tép nhỏ sẽ lọt xuống hết và một
số tép lớn còn sót lại được bán theo giá tôm vẫn có lợi hơn.
- Thế chú định tính công
xá ra sao để tôi bảo em nó đưa cho chú.
- Thưa cụ, mới có ít bữa,
cứ hãy để đó rồi tính sau cũng không sao.
- Không được, làm te thì
ngày nào tính công xá ngày đó. Chú làm te với em đã sáu tuần rồi mà công xá vẫn
chưa thanh toán. Mọi sự cần phải được dứt khoát, rõ ràng.
- Nói cho đúng, thưa cụ,
cuộc đời của con mang ơn rất nhiều người mà vẫn chưa biết sao trả ơn họ. Thôi
thì để đến khi nào anh chị ấy trả hết nợ ghe hãy nói tới công xá cũng chưa muộn
mà.
- Chú đã nói vậy nghe
cũng được, vậy thì cứ theo ý của chú.
Làm thuê, làm công, thường
thì công xá được ngày nào xào ngày đó. Dẫu tôi ở nhà chủ ghe te, tiền ăn thì
tính vào nửa ký tôm mỗi ngày, bởi mấy ai trong cuộc đời làm thuê không công.
Hơn nữa, cuộc đời này nào có ai chê tiền, nhất là nơi thời buổi toàn dân chúng
bị đổi tiền chẳng khác gì đương đường bị cướp bóc; khiến mọi người rơi vào cảnh
bần cùng, khó khăn, khốn đốn, không phát sinh ý định đạo tặc là đã quá tốt
lành. Cũng như mọi người nơi giai đoạn ấy, túi trống rỗng, thuộc dân học trò dẫu
được liệt vào hạng “Chỉ mong cái bút, cái nghiên anh đồ,” nhưng gặp thời buổi
“Hai tay vày lỗ miệng” vẫn khó khăn, đem mồ hôi, công sức đổi lấy miếng cơm qua
ngày vẫn chẳng đủ, mà được trả tiền công lại chưa nhận thì chẳng khác chi tâm
trí bị khùng, nếu không muốn nói là ngốc nghếch. Tiền là do công sức mình làm
ra; mang ơn, nợ oán ai thì lo mà giải quyết với họ chứ mắc mớ gì dính líu tới
người khác.
Bề ngoài, tôi có vẻ hiền
lành, chân thật, tin tưởng người khác đến độ ngu ngốc như thế, nhưng thâm tâm
tính toán hơn kém, không dốt nát như vài lời nói và biểu hiện phiến diện. Tôi
nhiều lần thay đổi nơi ở với tâm trạng thách đố phận số. Vả lại, đã có thời
gian cùng cực, suốt sáu tháng không biết cách nào xoay xở kiếm miếng cơm cho đầy
bụng, sáng đã chẳng có gì ăn, trưa giả đò đạp xe đạp ghé ngang nhà ai đó, dẫu
chẳng quen biết mấy, thăm hỏi đúng lúc gia đình họ đang dùng bữa trưa, cho dù
được họ “chào dơi” thế là lại cũng giả đò ngại ngùng nhưng sà vô ăn được miếng
nào hay miếng nấy, để rồi buổi tối uống nước lạnh đi ngủ. Nước được múc từ giếng
cạn thì uống đâu sung sướng gì, nhưng vẫn phải uống; uống vì chiếc dạ dày kêu
réo, để rồi mười hay mười lăm phút sau vẫn chưa ngủ được, nước lã thì đâu béo bổ
chi, đâu đánh lừa được lòng ruột, nên coi thân xác tôi như ống cống chuyền qua,
và rồi lại vẫn phải uống nước lã chẳng sạch sẽ gì nơi chiếc giếng cạn trước khi
rơi vào giấc điệp.
Dẫu đang tuổi thanh niên,
nhưng cả thời thanh xuân dưới lớp vỏ học trò thì làm lụng tay chân sao có thể
so sánh với dân chuyên môn đâm hà bá, phá sơn lâm. Nếu tôi lấy tiền công như những
người “đi ghe” khác, lỡ chủ ghe tính hơn thiệt lợi ích, thuê người khác, thì
tôi biết làm chi, ăn nơi nao, ngủ ở đâu chốn đồng đất nước người, không ai quen
biết. Tôi ngờ nghệch như thế đó và hiền lành, dốt nát không đáng cho người để
tâm tính toán hơn thua, so sánh. Dân tộc mình có khuyên, “Một câu nhịn là chín
câu lành;” riêng tôi, lòng luôn thèm khát có chút tiền đút túi đề phòng bất chợt,
nhưng đành phải ngu ngơ nhịn vì chủ đích riêng tư. Dẫu cần tiền, ai không thế;
tuy nhiên, tôi đi làm đâu phải để kiếm tiền, nên âm thầm chấp nhận dẹp nỗi thèm
tiền trở thành giả đò ngu ngơ, ngốc nghếch, ngốc nghếch nhưng nào dám nói ra;
nói ra bể mánh! Suy nghĩ, tính toán là một chuyện, đối diện với thực tại biến
chuyển của cuộc đời đôi khi đành chấp nhận “Ngậm bồ hòn làm ngọt.” Điều gì muốn
giữ kín, cần phải để tâm, ngậm miệng cho dẫu đôi khi miệng ngứa ngáy muốn phu
ra, nhưng đành chấp nhận cắn răng, nín thở, ngậm tăm như không để tâm. Chẳng ai
chấp kẻ dốt.
Sau khi ăn xong, ông Tầm
nói,
- Anh đợi tôi chừng 10
phút rồi đi tắm; đoạn ông đi về phía đầu nhà bên kia lấy đồ đi xuống bếp.
Dù muốn cố gắng tưởng tượng
hoặc đặt vấn đề tìm hiểu lý do tại sao ông Tầm đem tôi về đây, và rồi sẽ sinh sống
ra sao, tôi không thể nào nghĩ được bất cứ lý lẽ hay nguyên nhân gì. Tự hỏi, tại
sao tôi nhất thời quyết định đi theo ông, tôi chỉ có thể nghĩ mình đang thách đố
với cuộc đời. Mấy năm nay, cho dù thế nào, tôi vẫn còn đang sống dẫu trong cảnh
khó khăn nhất nên ít ra đã có nơi ở thì chẳng có gì để nói. Cùng lắm thì chỉ
đôi ngày, tôi sẽ kiếm được chuyện nào đó kiếm tiền để sống qua ngày.
Và rồi sẽ ra sao, tôi tự
hỏi. Nghe ông Tầm nói, chỉ cần tối đa sáu tháng, vấn đề sinh sống không còn là
điều kiện khó khăn đối với tôi. Tại sao sáu tháng, ông Tầm có quen biết với trường
dạy võ; nếu thế cần gì phải sáu tháng. Tôi đã được chứng thực đệ tam đẳng huyền
đai, hai năm nay lại cố gắng tự luyện tập nên năng lực có phần tiến xa hơn. Những
thế đánh, nhận thức tâm ý, thái độ, vận chuyển năng lực tôi nghĩ cũng gần tương
đương với đệ tứ đẳng, nếu không muốn nói là trội hơn một chút bởi cố công tự
luyện. Bài quyền của đệ tứ đẳng đã trở thành của tôi; tôi có thể vô ra bất cứ
lúc nào.
Ai mà không biết, một thế
đánh, một miếng võ, nếu luyện một ngàn lần, tất nhiên sẽ trở thành phản xạ. Sự
khác biệt giữa các đẳng cấp chỉ là kết quả của suy tư, suy nghĩ qua thực hành,
thực tập, để phát triển những thế đánh tương đồng trong những trường hợp khác
nhau đồng thời phản ứng vận năng lực hợp lý, hợp tình hơn các đẳng cấp thấp
hơn. Nói cho dễ hiểu, nếu đem so sánh sự cao thấp trong làng võ, chẳng khác gì
sự khác biệt giữa sự viết chữ và tính toán của sự học hành và luyện tập viết
lách của học sinh các lớp nơi học đường. Người ta thường nói chữ viết tháu như
bác sĩ; vì học tới bác sĩ đã phải viết quá nhiều nên sinh ra viết tháu, viết tắt,
viết ăn bớt nét, bớt chữ. Võ học cũng thế, càng luyện tập, càng rút ngắn được
thế đánh. Tất nhiên, đánh sao thì đánh miễn trúng đích; còn năng lực cú đánh mạnh
yếu thế nào lại tùy thuộc sức mạnh, nội lực. Thế đánh chuẩn, đầy đủ đường nét,
trông thì đẹp cho những kẻ sơ cơ, nhưng khi đụng chuyện, nhanh, mạnh, chính xác
mới đáng nói. Dẫu ai đó nói sao thì nói, nếu đã thua, đã bị đo ván thì lý thuyết,
quy luật nào cũng đành sõng soài nhận bại.
Và sáng hôm sau, thức dậy,
lúc đi ngang qua phòng ăn định rửa mặt, đánh răng, tôi đã thấy ông Tầm đang ngồi
nhâm nhi cà phê; trên bàn cũng có thêm một phin cà phê đang nhỏ giọt. Ông lên
tiếng,
- Anh đánh răng, rửa mặt,
uống cà phê, rồi mình “Warm up” đôi chút cho thông máu.
Tôi không nói gì, chỉ
nhìn ông, nhẹ gật đầu và tiếp tục đi tới. Sau đó trở lại uống cà phê, ông Tầm lại
nói,
- Bởi tôi xa nhà đã hơn
hai tháng nên không có gì để ăn sáng. Hôm nay mình ăn lúc 10 giờ vậy. Ly cà phê
tôi pha cho anh đó.
Tôi lấy đường pha vào cà
phê và mười lăm phút sau, ông Tầm nói,
- Bây giờ mình ra ngoài
làm mấy cử động rồi đi chợ.
Tôi theo ông ra trước
sân. Ông bước ra đứng vào khung gạch được xếp thành hình vuông giữa sân gần mép
rừng đoạn lên tiếng.
-Tôi sẽ đứng tại đây; anh
hãy dùng hết sức đấu bất cứ kiểu nào xem có thể đánh bật tôi ra khỏi khung gạch
vuông này không.
Tôi thầm nghĩ, ông Tầm
không có vẻ gì là cao ngạo; tất nhiên phải là người có năng lực và chuyên nghề
võ nên đã biết tôi có đệ tam đẳng huyền đai, lại đã biết tôi hằng ngày luyện tập
mà lại dám thách đố kiểu đó nên phải coi chừng. Ừ thử thì thử, do đó đơn giản
lên tiếng hỏi,
- Bác đã sẵn sàng chưa.
Ông gật đầu, và tôi không
nói không rằng, đưa tay phảitung thử cú dấm thẳng diện. Ông nhẹ nhàng hơi
nghiêng và xoay thân mình né tránh trong khi đôi mắt vẫn tỉnh táo theo dõi cử động
của tôi. Chưa xong cú đấm trước tôi đã ngưng, và tay trái chớp nhoáng bồi cú đấm
tiếp theo nhắm vào vai vừa nghiêng tới gần. Ông Tầm chợt uốn người hơi ngả về
phía sau khiến cú đấm của tôi trượt sát ngực; ngay khi ấy, chân phải tôi tung
cú đá ngang đùi. Ông Tầm khẽ nhún chân xoay người ngược về phía trước. Người ta
không thèm đánh trả mà vẫn bị hụt trong khi tôi ra đòn chớp nhoáng như trong
cùng một lúc thì còn đấm đá kiểu gì. Tôi ngừng, nhẹ nói,
- Không đụng tới bác được.
- Thôi mình đi chợ, ông
nhẹ nói, anh đi theo tôi, rồi tiến về phía bếp.
Mỗi người một chiếc xe đạp,
tôi theo ông ra tới chợ, ghé vô tiệm thuốc bắc. Ông giới thiệu tôi là cháu với
chủ tiệm đoạn hẹn hò gì đó sáu tháng sau. Tiếp đó mua ít trứng vịt, một miếng
thịt heo. Trên đường về, ông nói,
- Từ ngày mai, mỗi buổi
sáng sớm, anh đi chợ. Quãng đường từ nhà tới chợ chỉ hơn hai cây số. Tuần đầu,
anh dùng xe đạp, rảo qua các hàng và nếu có thể càng làm quen với nhiều người
càng tốt. Có ai hỏi về thân thế, cứ nói là cháu tôi mới về cư ngụ. Những ngày
sau đó, thay vì đi xe đạp, anh chạy bộ. Trong khi chạy áp dụng nguyên tắc hít
thở để tăng năng lực. Mỗi sáng chạy năm cây số cũng tạm ổn.
Chạy bộ năm cây số đối với
con nhà võ nào có chi đáng nói nhưng sao lại có vấn đề hít thở để tăng năng lực,
tôi tự hỏi, nhưng không nói gì.
Về tới nhà, ông dẫn tôi
ra phía sau. Cảnh sắc làm tôi thích thú. Cỡ vài sào đất được viền bởi những tảng
đá có lẽ được thu dọn từ sào đất. Nơi hai đầu nhà là hai chiếc giàn nho nhỏ mỗi
cái vuông vắn, cạnh cỡ năm mét. Một đôi luống rau đủ loại được chia ra từng
khu. Vài luống khoai nắm sát chân đồi; và từ trên đồi cây cối rậm rạp, một đường
nối tiếp bằng những ống tre, được chống đỡ hoặc bằng cách buộc treo trên cây hoặc
bằng hai cây buộc xéo dẫn nước vào bếp. Hèn gì tối qua thấy nước róc rách chảy
vô chiếc đình sành, khi đầy lại trào cả ra ngoài nơi nền hồ. Phía ngoài chiếc
giàn có một chiếc ao nhỏ, bề ngang cỡ chừng chục thước và bề dài hình như cả ba
chục thước, lõm bõm đôi con cá đớp nước. Nước nơi ao hơi đục. Tôi lẩm bẩm, “Ao
trong ít cá,” đoạn để ý nhìn thấy nơi góc ao có đám lục bình cỡ bằng chiếc chiếu
trãi giường. Mặt ao, bèo tấm chiếm gần nửa vây quanh đám lục bình.
Thấy tôi để ý chiếc ao,
ông giải thích,
- Chiếc ao này đón nước
được chuyền tới từ trên đồi cao phía sau bằng ống tre tiếp nối. Khi bồn đầy, nước
dư chày theo rãnh xuống ao. Tôi nuôi cá rô phi vì cá rô phi ăn bất cứ rong rêu
gì dưới nước và cũng ăn bèo tấm nên không phải cho ăn, đồng thời những rau rợ,
hoặc lá rau già cỗi, không ăn được, băm ra quăng xuống cũng là thực phẩm cho
chúng. Anh có biết tại sao có đám lục bình ở góc ao kia không? Thứ nhất, lục
bình là cây lọc nước, thứ hai, rễ lục bình là thuốc chữa bất cứ loại bệnh nào của
cá. Hai tháng qua, tôi phải nhờ người tưới rau nên vừa rồi đi chợ tôi không mua
rau.
- Thế nước từ đồi của ai.
- Của tôi. Mười lăm năm
trước khi còn trong lính, lúc ấy tôi là thượng sĩ, có lần dẫn mấy anh em lên đồi
đi săn, vô tình gặp đám cỏ xanh tươi dưới một vài cây lớn; nơi ấy thỏ rừng hay
ra ăn. Ngay phía trên cao hơn đám cỏ có dòng nước rỉ ra mà không ai để ý. Tôi
tìm hiểu xem đồi thuộc về ai và hỏi mua. Cũng như bây giờ, đất đâu thuộc của ai
thế nên tôi rào dậu, cắm vè và về sau làm nhà, dẫn nước, đồng thời lại phải đào
ao để thoát nước.
- Hôm nào bác đưa cháu đi
coi nguồn nước được không; tôi nói.
- Đâu cần phải tôi đưa
đón. Khi nào muốn, anh đi theo đường ống tre sẽ biết. Không chi lạ cả, nơi nguồn
nước, tôi khoét thành một vũng sâu độ ba gang tay, ve bờ; nước chỉ lên tới gần
miệng bờ nhưng không bao giờ cạn. Tôi lấy một ống nhuôm đặt vô và dẫn vào ống
tre đưa nước về đây. Nước tưới rau này cũng là nước múc dưới ao nơi tôi xây mấy
bậc xi măng để bước xuống.
- Tại sao bác không làm bồn
chứa nước ngay trên này, đỡ phải múc từ ao?
- Có lẽ anh chưa bao giờ
dùng nước rửa cá hoặc tôm để tưới rau. Rau tôi trồng không bao giờ phân bất cứ
một thứ gì, chỉ nước dưới ao mà rau tốt như thế. Khi còn ở đây, bao giờ anh thử
chia một đám rau đang lên tươi tốt như nhau thành hai phần; một bên anh tưới nước
ao, và một bên tưới nước trong bồn đựng nước tắm trong vòng một tuần, anh sẽ biết.
Nơi ao tôi còn thả thêm mấy con cá ngao để chúng đẻ trứng cho cá rô phi ăn.
Trưa nay, mình ăn cơm với canh rau đay muồng, thịt xào với cải bẹ Đàlạt và thịt
kho với trứng. Anh biết nấu ăn không?
- Chỉ e không có thực phẩm
để nấu chứ. Luộc gạo và nấu ăn dĩ nhiên cháuphải biết. Nhà có tôm khôkhông thưa
bác?
- Có cả tôm tươi và thịt
gà nữa, trong tủ lạnh.
- Ở đây không có điện mà!
- Tủ lạnh chạy bằng gaz ở
giáp với tường phòng tắm về phía bếp.
- Tối qua, lúc đi tắm,
cháu trông thấy nhưng tưởng là tủ đựng đồ khô.
- Mấy luống khoai kia sao
ít lá thế, tôi đưa tay chỉ về phía chân đồi nơi có mấy luống khoai lang và mấy
luống khoai môn.
- Khoai sắp sửa đào được
rồi, cắt bớt dây cho nó xuống củ. Anh có thấy chi khác biệt giữa mấy luống
khoai lang cũng như mấy luống khoai môn không?
- Khoai lang cháu không
nhìn rõ lắm, phải tới gần mới phân biệt được; tuy nhiên, khoai môn, hình như sự
khác biệt khá rõ ràng vì mầu sắc và hình thức của lá. Nhưng tại sao hai loại
khoai môn có tàu màu tím lại được trồng thành hai khu khác biệt.
- Tôi trồng năm loại
khoai môn khác nhau. Loại có tàu màu tím phía đầu đàng kia là khoai sáp, ăn nó
dẻo dẻo và ruột nó màu vàng hơi xanh. Loại rọc tím đầu đàng này củ hơi dài, ruột
trắng, bở. Loại có bụi to lớn, tốt tươi, rọc giống rọc mùng (bạc hà). Củ của nó
lớn như vốc tay và mùi vị đậm đà. Còn hai loại khác có tàu màu xanh, một loại củ
dài, một loại củ tròn. Tôi định trồng mỗi thứ một luống nhưng ăn không hết nên
chỉ trồng ba luống. Tuy nhiên, cầu xin không ăn hết.
- Tại sao bác phải cầu
xin?
- Anh không nhớ cuối năm
1975, và cả năm 1976 sao? Khoai môn đào lên nếu biết cách giữ, có thể để được cả
năm; lỡ trường hợp xảy đến như năm 76 thì còn đỡ hơn ăn bo bo.
Tôi thở dài; hình ảnh gia
đình trẻ, hai vợ chồng và ba đứa con bên rổ đọt rau cứt lợn luộc, chấm muối sả ớt,
hiện về trong tâm trí mà lòng quặn đau; dân Việt tôi, đất nước tôi. Đưa tay chỉ
về cuối vườn giáp chân đồi, tôi đề nghị đến gần xem khoai lang. Đến gần, tôi chỉ
thấy những đọt khoai lang hơi khác nhau. Khoai lang mỡ, da trắng, ruột vàng, ngọn
đậm đà, luộc đọt chấm mắm tỏi ngon phải biết, nhuận trường, củ xắt phơi ghế độn
với cơm tương đối dễ ăn. Đọt khoai lang vỏ tím ruột trắng dễ trồng nhưng đọt ăn
hơi khô. Hai loại khác, đọt nhỏ và lá non màu hơi tím. Loại này có củ da màu
tím và ruột cũng màu tím. Nếu hái đọt để luộc chỉ có thể hái khoảng một ngón
tay tính từ ngọn. Nghe đâu loại khoai lang này người bị bệnh tiểu đường có thể
dùng được. Còn một loại khoai lang khác, ngọn cũng nhỏ như khoai lang tím vỏ
tím lòng nhưng đọt nó mầu xanh tươi, tôi không biết loại gì nên hỏi,
- Khoai lang có đọt nhỏ,
xanh tươi kia là loại gì, cháu không biết.
- Đó là loại khoai lang
Nhật, củ có vỏ màu trắng nhưng trong ruột, luộc lên màu tím lịm. Nó cũng giống
như loại này, ông chỉ vô đám đọt và lá non màu hơi tím, nhưng được ưa chuộng
hơn nên giá bán cao gấp đôi. Hai loại ruột tím này người bị bệnh tiểu đường có
thể ăn được. Đoạn ông nói,
- Thôi mình vô nấu ăn.
- Để cháu hái nắm rau đay
muồng nấu canh.
Ông Tầm tiến tới đám rau
cải xanh, tiện tay, nhổ một cây, dũ đất dính nơi rễ.
- Sao bác không cắt lá ăn
dần mà lại nhổ cả cây.
- Mai, tôi gieo thêm một
đám, khi nó lên cỡ một gang mình ăn lẩu cá rô phi.
Trong khi hái đọt rau đay
muồng, tôi hỏi,
- Bác muốn ăn canh rau
đay nấu theo kiểu nào?
- Bắc, Trung, Nam, hoặc
Tàu hay Tây, anh biết được mấy thứ?
- Dĩ nhiên, Tàu hay Tây,
họ không ăn canh rau đay thì không có cách cho cháu biết. Hơn nữa, kiểu Bắc,
hay Trung hoặc Nam cháu cũng không biết luôn. Cháu chỉ biết mấy kiểu không tên,
nhưng thực hành thì gần giống nhau nhưng ăn lại có khác biệt.
- Nói lạ. những cái miệng
khác nhau tất nhiên đâu thể cảm nhận giống nhau mà không khác biệt.
Tôi giật mình vì cũng một
câu nói của tôi mà ông Tầm nêu lên thực trạng khác của vấn đề. Tôi nói về trạng
thái của món canh rau đay được nấu cách khác nhau; ông nói về trạng thái của
cũng một món canh đối với những chiếc miệng khác nhau. Tôi còn đang sửng người
thì ông nói,
- Giật mình ah! Hèn chi
dám cao ngạo đối đầu với cuộc sống. Thôi mình đi vào nấu ăn. Anh nấu theo kiểu
đắc ý nhất của anh; vì dẫu sao nó vẫn hơn không có canh.
Câu nói của ông gợi về
nơi tâm trí tôi lời thơ của Nguyễn Tất Nhiên được phổ thành nhạc, “Có còn hơn
không, có còn hơn không.” Đã nhiều lần tôi lặp lại câu này trong quá khứ và
không đồng ý với câu nói một chiều trong trạng thái đặc biệt tâm tư, mà ghép
câu thơ vào vị thế độc lập của cuộc sống; bởi phỏng có món nợ, hay thất bại,
thì có hơn không có? Tại sao không thấy tác giả văn chương, triết lý nào hoặc bất
cứ ai viết tiểu luận nhận định về những lối nói, phát biểu, được chấp nhận một
cách thường tình; trong khi tôi lại thấy phần nào đó có những nghịch lý? Tôi
khác người hay muốn trở thành khác người? Tất nhiên, tôi có nhiều điểm khác với
bất cứ ai dẫu có chung thân phận làm người. Tại sao người đời dễ chấp nhận nói
năng, “Đi khám bác sỹ,” ngay cả trong văn chương, hay luận bàn xã hội; nhưng lại
được hiểu ngược lại với lời phát biểu, và được chấp nhận đó là chuyện thường,
thường vì thuận miệng; trong khi tôi lại nhận ra câu nói nghịch thường. Tôi muốn
chẻ sợi tóc làm tư? Tôi không muốn nhưng tâm trí thường hay có những phản biện,
trực diện nhận định hầu mong thấu triệt vấn đề nào đó khi đối diện với nó.
Tôi lấy dao thớt, cẩn thận
thái thật nhỏ nắm đọt rau đay muồng, bỏ vào chiếc rá “nylon mau” (lỗ nhỏ) đem rửa
đoạn bỏ lên một chiếc đĩa gum gủm tránh nước rửa rau chảy ra bàn bếp. Lò bếp của
ông được xây bằng xi măng, có một miệng chụm củi và phía trên được chia làm bốn
khoảng trống, hai to, hai nhỏ, để đặt nồi nấu nướng. Phi hành mỡ, xào tôm tươi
được xắt nhỏ, tra mắm muối, tôi lấy thêm đùi gà lóc thịt bỏ vô xào với tôm, đổ
thêm nước nấu canh rau đay.
- Vậy là có thêm món gà
luộc. Món canh rau đay ngon là phải. Lần đầu tiên tôi sẽ được ăn canh đặc biệt
chưa bao giờ có thể nghĩ tới.
- Nhà mình có cây chanh
nào không? Tôi hỏi?
- Cây chanh làm gì?
- “Con gà cục tác lá
chanh; con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi; con chó khóc đứng khóc ngồi; mẹ hời, mẹ
hỡi, mua tôi đồng riềng.” Ăn thịt gà cần lá chanh.
- Nơi đầu nhà bên kia có
cây chanh cao hơn đầu người ngay sát bên giàn mướp.
- Bác có ăn canh rau đay
với mướp không?
- Nhà có mướp hương mà
tôi quên không nghĩ tới.
- Mướp hương thì thơm
hơn, nhưng không ngọt bằng mướp trâu.
Tôi thu dọn bàn ăn và rửa
chén xong, trở lại bàn ăn, định ngồi uống nước trà thì đã thấy mấy cuốn sách,
có vẻ cũ kỹ, được xếp chồng lên một tập giấy hình như được “Copy” để sẵn. Trong
khi tôi rót nước trà ra ly, ông Tầm lên tiếng,
- Nội trong vòng một
tháng, ngoài giờ tập luyện và ăn uống, anh đọc cho xong tập bản thảo và những
cuốn sách này. Tuy nhiên, phương cách đọc sách không giống như đọc truyện hoặc
nghe giải thích để hiểu biết, mà tâm tình, tâm ý của mình phải hòa vô sự thể, sự
việc được viết, được diễn tả; sao cho cảm nhận, cảm nghiệm được sự thể, sự việc
có thể xác minh ngay nơi bản thân mình. Nói cách khác, anh cần suy tư, suy
nghĩ, hay còn gọi là thực nghiệm, nghiệm xét những gì đọc được cho đến tận
cùng, hầu biến sự thể, sự việc được giãi bày trở thành sự việc diễn tiến nơi
chính anh. Tất nhiên, có những điều tác giả viết ra không phù hợp hoặc không hợp
lý, hợp tình, không thể áp dụng được theo nhận định, nhận thức của anh thì cứ
việc bỏ qua; nhưng những gì hợp với nhận thức, suy luận của anh, hãy thực nghiệm
để chúng trở thành của mình. Cũng giống như đánh võ, miếng võ phải trở thành phản
ứng tự nhiên của mình thì những nguyên tắc, thực hành được viết nơi sách cũng
phải trở nên phản ứng tự nhiên nơi anh. Dĩ nhiên, khi đọc, tâm trí, tâm tư của
anh sẽ làm việc tối đa, chìm tâm tưởng nơi những thực nghiệm được giãi bày; đồng
thời cũng cần dùng phản biện phân tích để biến sự nhận thức thành hiện thực những
gì có thể chấp nhận được. Tôi nghĩ, một tháng là thời gian quá đủ đối với anh.
Hãy đọc cho hết rồi chúng ta sẽ nói chuyện sau. Vấn đề cơm nước, chi phí tối
thiểu trong cuộc sống, yên trí, anh không cần lo ngại vì phải nhờ và tôi đâu.
Tôi rất sòng phẳng và cũng không để anh chịu thiệt. Nếu cần giải tỏa căng thẳng
đầu óc bằng cách nấu nướng thì cũng nên, nếu không, tôi nấu ăn không sao. Một
tháng đọc sách này, chủ đích chỉ là để anh cảm nghiệm phương pháp thực tập kiến
tạo nội lực bằng cách suy nghĩ, nhận định để áp dụng nơi bản thân. Tôi nhắc lại,
đọc sách không giống như đọc truyện giết thời giờ mà thực nghiệm những gì có thể
được viết nơi sách vô bản thân. Nếu có gì khúc mắc cứ việc hỏi, tôi sẽ giải
thích cho dù nhận thức của anh đối nghịch với nhận định thực nghiệm của tôi.
Nói vậy quá đủ, tất cả đều tùy thuộc nhận thức và thực nghiệm, thực chứng nơi
anh.
Tôi vừa uống trà vừa im lặng
nghe. Giọng ông Tầm nhẹ nhàng, trầm trầm nhưng xác quyết, đầy tự tin, gây áp lực
mạnh mẽ. Khi ông so sánh thực nghiệm sự thể, sự việc được giãi bày trong sách với
sự luyện tập các ngón đòn nơi sự luyện tập võ nghệ, tôi hiểu ngay ông muốn nói
gì. Vì theo học ban C nơi trung học, và cũng vì cố gắng học cho giỏi để bố mẹ
được vui, tôi đã đọc khá nhiều truyện, sách chẳng những nơi tiếng Việt, mà còn
sách tiếng Anh, sách tiếng Pháp, để thăng tiến ngôn ngữ. Hơn nữa, trời cũng ban
cho tôi có trí nhớ khá tốt. Thế nên, đọc sách đối với tôi chẳng những là món giải
trí chẳng khác gì du lịch nơi tâm tưởng, biết thêm nhiều điều chưa bao giờ có
cơ hội đối diện nơi cuộc sống mà còn có thể nói chưa bao giờ tôi có thể tưởng
tượng trong tâm trí. Bởi thực tập luyện võ nên phản ứng của tôi khi đọc sách đều
được ứng nghiệm phân định nơi tâm trí những gì tác giả sáng tác qua trí tưởng
tượng hay những gì kinh nghiệm hoặc sự thể, sự việc diễn tiến nơi cuộc đời. Do
đó, tôi đọc sách rất nhanh, có thể vì có trí nhớ khá tốt, lại quen luyện võ, nhận
thức diễn tiến sự thể, sự việc được tác giả ghi lại dường như hiện hiện trước mắt
nên có thể phân định chân giả, thực hư dễ dàng.
Có điều lạ, đó là bất cứ
những sách nào đã đọc xong, tôi đều quăng vô thùng rác vì thấy không có gì đáng
cất giữ lại dù sách tiếng Anh hay sách tiếng Pháp; bởi chúng thường chỉ là những
loại biên khảo hoặc ghi lại những gì đã được viết lan man nơi diễn trình tư tưởng
hoặc luận bàn đây đó, thế thì có chi đáng để giữ lại, chỉ chật nhà. Bởi vậy,
khi nghe ông Tầm nói về phương cách đọc sách, tôi hơi ngỡ ngàng nên định bụng để
xem những sách ông nói tôi đọc, viết về những chuyện gì rồi quyết định sau.
Tôi cẩn thận bê chồng
sách, hơn kém hai mươi cuốn, và tập giấy copy để lùi gần về phía mình, đồng thời
đặt chồng sách sang một bên, nhìn thấy ngay trang đầu của tập giấy copy có hàng
chữ ghi chú, “Cẩn chú: Xin chân thành cảm nhận cảm nghiệm của quý bậc thức ngộ
và ghi ơn quý tác giả, dịch giả, với những câu nói được trích từ các tác phẩm.”
Liếc đọc sơ qua lời cẩn chú đồng thời thấy cả dãy tên sách ghi tên tác giả, dịch
giả, nhà in, cùng năm tháng, tôi tự hỏi, bảng danh hiệu các tên sách được trích
dẫn thường thì được ghi nơi cuối của cuốn sách, thế sao lại được để ngay đầu bản
copy này. Hình như thấy tôi để ý đến trang đầu của bản copy, ông Tầm nói,
- Đó chỉ là bản copy của
bản thảo cuốn sách chưa có tên và cũng chưa viết xong của một tác giả nào đó mà
ông chưa biết tên. Nhân một hôm ghé vô thăm một người bạn, thấy để tập bản thảo
trên bàn, ông mượn về muốn đọc qua xem có gì hay. Đọc xong, ông thấy quá hay
nên xin được copy một bản. Người bạn nói tác giả của bản thảo nói còn đang viết
tiếp, chỉ mới xong mấy phần lược qua đạo học gồm có Phật học, Ấn học, Điểm Đạo
Ai Cập, Lão học. Tác giả còn đang viết tiếp phần Tân Ước của Kinh Thánh nên nhờ
ông duyệt qua dùm nếu có điều gì cần nhuận sắc thì cho tác giả biết. Những cuốn
sách tôi đưa cho anh cũng được liệt vào danh sách được trích dẫn.
- Theo bác nhận thấy,
cháu nên đọc cuốn nào trước, tôi hỏi.
- Đọc cuốn nào trước, cuốn
nào sau không quan trọng; điều quan trọng là anh lãnh hội được những gì. Có điều,
như tôi đã nói, mục đích đọc sách của anh là kiếm ra phương thức thực nghiệm để
phát triển nội lực, năng lực nơi mình. Theo tôi nhận thấy, tập bản thảo chỉ ghi
lại những điều cốt yếu nơi hành trình suy tư, nghiệm chứng của một người trong
diễn trình nhận thức về thực thể hiện hữu của người đó. Nói cho đúng ngôn từ,
điều diễn xuất trong tập bản thảo viết về diễn trình và nguyên tắc suy nghĩ nơi
phương diện tâm linh. Tôi không muốn nói nhiều về nó bởi nếu nói ra sẽ có thể
chặn đứng suy nghĩ, hoặc ảnh hưởng nhận thức của anh. Đó là điều tối kỵ bởi nhận
thức của tôi không phải là nhận thức của anh. Sự thể này cũng giống như trái ớt,
đối với người này thì cần thiết và ngon, nhưng đối với những người không ăn được
ớt thì sao. Do đó, tôi nghĩ, sau khi đọc xong những cuốn sách, hãy đọc tập bản
thảo. Tuy nhiên, anh cũng nên nhận định cho rõ, quan điểm và nhận định của bất
cứ tác giả nào đều không phải là của anh, nhưng suy nghĩ và đặt mình vào trường
hợp và vị thế cũng như trạng thái nhận định của tác giả hầu thăng tiến nhận thức
của anh mới quan trọng. Tôi muốn nói, sách vở chỉ là phương tiện giải thích
cách nấu và sự lợi ích cũng như nguy hại hoặc mùi vị của món canh rau đay nấu với
mướp, chứ không thể khiến cho anh no bụng và cảm nhận được hương vị ngon ngọt
lúc ăn. Nên phân biệt, ăn món canh và đọc hoặc nghe giải thích về cách nấu cũng
như sự bổ ích của món canh là hai thực thể hoàn toàn khác nhau. Đọc mà không
suy nghĩ, không thực nghiệm để áp dụng thành của mình chẳng khác gì đọc sách
các chiêu thức võ học mà không luyện tập, thực hành. Nói vậy quá đủ, bởi có nói
thêm chỉ làm hại anh mà thôi.
Trên cùng của chồng sách
là cuốn Tân Ước nhỏ, được in ra để phát cho những người lính nơi chương trình
“Mỗi quân nhân một Tân Ước.” Tôi cũng có một cuốn; hơn nữa, tôi là người Công
giáo; từ nhỏ cho tới lớn, tôi theo học tại các trường Công giáo. Đặc biệt hơn,
nơi bậc trung học, tôi theo học nơi tiểu chủng viện thì hằng ngày đi lễ, nghe
các cha giải thích Phúc âm đến chán cả tai; thế sao nó lại được đặt nơi đây làm
một trong những mục tiêu tôi cần phải tìm hiểu. Nghĩ thế, tôi hỏi,
- Thưa bác là người Kytô
giáo?
- Không, tôi theo đạo Cao
Đài.
- Cháu theo đạo Công
giáo, lại cả đời học hành nơi trường Công giáo, hơn nữa, còn học trong chủng viện
Công giáo, nghe các cha giảng giãi nên quá quen với cuốn Tân Ước, sao còn cần
phải đọc nó?
- Tôi biết anh là người
Công giáo, và hầu như cả đời theo học nơi những trường Công giáo. Nhưng hãy nói
cho tôi làm sao có thể áp dụng vào cuộc đời mình câu nói, “Kẻ nào cầm cày mà
quay trở lại thì bất kham với Nước Thiên Chúa”? Hoặc câu, “Kẻ yêu cha mẹ hơn Ta
không đáng là môn đệ Ta; kẻ yêu con trai, con gái hơn Ta không đáng là môn đệ
Ta”? Đức Giêsu dạy anh bất hiếu hoặc trở thành người cha bỏ bêgia đình, con cái
à? Những câu ấy nói gì về sự việc nào trong cuộc đời anh; áp dụng thế nào vào
hành trình thăng tiến nơi anh; đó mới là vấn đề, và chỉ anh có thể trả lời cho
chính anh. Tôi hy vọng, những cuốn sách này sẽ đem lại cho anh lợi ích không nhỏ,
nhưng tất cả đều tùy thuộc suy tư, nhận thức nơi anh. Và như anh đã nói thế,
tôi nghĩ, tốt nhất, cuốn Tân Ước anh nên đọc sau cùng.
- Cảm ơn bác, nếu có gì
khúc mắc, nhờ bác chỉ bảo. Thôi, từ giờ, cháu bắt đầu đọc, hy vọng trong một
tháng, cháu sẽ đọc hết.
ĐỌC SÁCH - 1 -
Ngoài miệng tuy nói thế
nhưng trong lòng tôi nghĩ, những cuốn sách mỏng này, nội một ngày tôi sẽ đọc hết
ba cuốn, chỉ vài ngày là xong, nào có chi mà phải những một tháng, nhưng mấy
câu nói nơi cuốn Tân Ướcđược ông Tầm nhắc đến cũng phần nào đánh động tâm trí.
Tại sao ông lại nói áp dụng vào cuộc đời mình, rồi lại ảnh hưởng đến sự thăng
tiến nhận thức! Mình đã được giảng giải phải kính mến Chúa hết lòng hết sức,
mình có bao giờ bỏ đọc kinh, đi lễ đâu! Nhưng sao lại nói, “Kẻ yêu cha mẹ hơn
Ta không đáng là môn đệ Ta”? Sao lại so sánh yêu cha mẹ và yêu Chúa? Kính mến
Chúa và yêu cha mẹ là hai trạng thái khác biệt; một đàng là hữu vi, nhân sinh,
thế tục, đàng khác là niềm tin, sự tin tưởng, mông lung vì đâu biết Chúa là gì,
chỉ cho rằng, nghĩ đến danh hiệu, không kinh nghiệm, cảm nghiệm, không một liên
hệ thực tiễn. Nói rằng kính mến Chúa là kính mến thế nào ngoài việc đọc kinh, cầu
nguyện, tham dự thánh lễ, nào có gì khác đâu. Hừ, hãy xem các cuốn sách khác viết
gì trước đã.
Đưa tay lấy cuốn sách mỏng
nhất, cuốn Lão Tử Tinh Hoa rở thử xem nó nói gì. Ngay trang đầu, tác giả là
Nguyễn Duy Cần phía trên bốn chữ Lão Tử Tinh Hoa nghênh ngang ở giữa. Trang tiếp
theo giới thiệu một số sách của tác giả; để rồi trang kế ghi đôi câu nhận định
của hai tác giả Tây phương. Nơi trang thứ tư có mấy hàng chữ, “Tri giả bất
ngôn, ngôn giả bất tri;” được dịch là, “Biết không nói, nói không biết.” Sao mà
nói ngang như thế? Biết sao lại không nói; kẻ nói sao lại không biết? Không biết
mà có thể nói được à? Đã không biết thì nói thế nào, nói điều chi, nói mình
không biết ư? Biết mình không biết tức là đã biết mình không biết; mà đã không
biết thì nói làm sao? Chẳng lẽ nói mình không biết điều mình không biết; mà đã
không biết sao có thể nói. Kỳ cục, trong cuộc đời này thiếu gì điều mình không
biết và bởi vì không biết thế sao lại nói, “Kẻ nói không biết.” Kẻ biết không
nói tức là im lặng; kẻ nói không biết chẳng lẽ là kẻ ba hoa chích chòe, nổ. Nơi
Tục Ngữ, Ca Dao có câu, “Đầu ngòi có con ba ba, kẻ gọi con trạnh, người la con
rùa.” Nó là con ba ba, nhưng lại có người rao truyền nó là con rùa. Người nói
không biết mình nói gì; người rao truyền không biết mình rao truyền về điều
chi? Nói bậy, rao truyền tào lao, kẻ nói không biết; kẻ nói không biết.
Đã không biết thì nói làm
sao mà lại nói kẻ nói không biết. Đồng ý rằng, người biết mà giữ im lặng, không
nói gì thì đúng là người biết không nói. Nhưng sao lại nói, “Kẻ nói không biết.”
Nó đã không biết sao có thể nói mà lại nói, kẻ nói không biết. Câu này nói về
điều gì? Sự thể nào, trạng thái nào, nơi vị thế ra sao, hoặc mưu mô ẩn kín cần
được giữ im lặng, không nên nói ra. Người biết không nói. Biết gì, biết ra sao,
tại sao không nói? Ah, mình không nói gì về cha mẹ, các em mình vì e có điều
làm phiền đến họ. Người giầu có không khoe của, chỉ kẻ nghèo hèn mới, “Đẹp tốt
phô ra, xấu xa che đậy.” Người nói không biết; người nghèo khoe sự mình không
có để người khác nghĩ mình giàu sang. Họ biết họ nghèo nên mới khoe mà. Kẻ nói
không biết; kẻ nói không biết.
Đầu óc tôi lùng bùng với
những lý luận cứ như đám mây vần vũ, xáo trộn, không biết đâu là lý lẽ sao cho
có thể giải thích hợp tình, hợp lý, có thể chấp nhận được. Thấy tôi ngồi im
nhìn chằm chằm vào trang đầu tiên của cuốn sách, ông Tầm lên tiếng,
- Có chuyện gì mà có vẻ đứng
hình vậy?
- Ah, cháu đang suy nghĩ
thế nào lại nói, “Kẻ nói không biết!”
- Thì nó cũng giống câu,
“Kẻ yêu cha mẹ hơn Ta không đáng là môn đệ Ta” mà thôi.
- Hai câu có liên hệ gì với
nhau đâu!
- “Người biết không nói;
kẻ nói không biết,” nơi trường hợp, trạng thái nào? Kẻ yêu cha mẹ hơn Ta không
đáng là môn đệ Ta, nơi trường hợp, trạng thái nào?
- Trường hợp, trạng thái!
Trường hợp, trạng thái.
Tôi lẩm bẩm, lặp đi lặp lại
vấn đề được ông Tầm nhắc tới trong khi đầu óc quay cuồng, bối rối. Tôi tự nhủ,
không biết bao nhiêu sách, truyện, tiếng Anh, tiếng Pháp mình đã đọc, đâu có
trường hợp nào kích động tâm não mình như thế này. Chợt nhớ, câu, “Dục tốc bất
đạt,” tôi tự nhủ, hãy khoan, từ từ suy luận. Trường hợp, yêu cha mẹ thuộc về
tâm tình. Biết không nói thuộc về thái độ. Nơi trường hợp khinh thường đối thủ
hay một ai đó, biết không nói có nghĩa chẳng nên nói vì nói ra sẽ bất lợi. Ah,
Phúc Âm cũng có câu, “Của thánh đừng cho chó, chớ quăng châu ngọc trước miệng
heo, kẻo chúng dày đạp dưới chân và quay lại cắn xé các ngươi.” Biết nhưng
không nên nói vì nói ra sẽ bị coi khinh và phiền hà. Tại sao lại bị dày đạp và
quay lại cắn xé. Biết không nói, không quăng châu ngọc trước miệng heo. Con heo
là thứ con vật, bị coi là nhơ uế, hèn hạ nơi xã hội Do Thái. Quăng châu ngọc
trước miệng heo, nói những lời khôn ngoan, tốt lành với những thứ heo, những
người thiếu suy nghĩ, nhận thức, sẽ bị coi thường và dày đạp; sẽ bị kết án.
Không đúng, không hợp lý; nói với phường ngu dốt sẽ bị cho là thế nọ, thế kia,
khinh thường, chà đạp. Điều này có nghĩa, không nên nói với, không nên chia sẻ
với những người thiếu hiểu biết, thiếu suy nghĩ, suy tư kẻo bị khinh thường,
đàm tiếu, phỉ báng. Đối với những người không muốn hiểu, không đủ khả năng để
hiểu thì chỉ nên im lặng kẻo bị họ chà đạp.
Người biết không nói nơi
trạng thái nào? Những gì mình biết nhưng không nên nói ra, hoặc không thể nói?
Kẻ yêu cha mẹ, làm sao có thể nói ra mình yêu cha mẹ mình thế nào. Yêu cha mẹ
chỉ có thể nói lên bằng cách đối xử, cách sống. Kẻ biết không nói, không phải,
kẻ biết nhưng không thể nói, vì càng nói ra càng chẳng nói được gì; làm sao giải
thích được lòng yêu thương đối với cha mẹ. Kẻ nói không biết, trạng thái, trạng
thái. Thì hãy đọc xem cuốn sách nói gì. Mới có một câu thôi mà đã bối rối như bố
vợ bị đấm, tôi tự nhủ. Ông Tầm thấy tôi im lặng suy tư nên đứng lên đi ra vườn
phía sau. Tôi ôm đống sách và tập bản thảo vô giường, nằm ngửa lên đọc cuốn Lão
Tử Tinh Hoa vì có cửa sổ phía đầu giường soi sáng.
Cỡ độ hơn kém ba giờ tôi
đã đọc xong nhưng chẳng hiểu tinh hoa của Lão học là gì. Nói cho đúng, chẳng hiểu
sách nói gì. Lần đầu tiên trong đời tôi đối diện với cuốn sách nhưng đọc xong
cũng chẳng nhận ra được căn bản nó nói về điều chi, ngay cả chỉ với một câu
ngang ngược nơi trang đầu tiên của cuốn sách. Cũng có một đôi câu khác được tác
giả giải thích một cách thực tiễn ít khi được để ý, nếu không muốn nói là chẳng
bao giờ được để tâm suy nghĩ, suy nghiệm, chẳng hạn, Tác giả Nguyễn Duy Cần nêu
lên sự thể ánh sáng mặt trời. Ai cũng nhận biết mặt trời soi sáng và cho đó, chấp
nhận đó là sự tự nhiên, nhưng đâu ai nói về công việc soi sáng của mặt trời,
đâu ai thấy mặt trời làm việc chi; tuy nhiên, tất cả sự sống, sinh hoạt đều nhờ
vào ánh mặt trời. Mặt trời chẳng làm gì nhưng không có ánh mặt trời, mọi sự đều
ngưng trệ. “Không làm gì nhưng không việc chi không làm;” tôi chợt nghĩ, không
làm gì là làm tất cả. Chuyện gì, sự gì, trạng thái nào nơi tôi ảnh hưởng toàn bộ
con người tôi, ảnh hưởng tất cả cuộc đời tôi? Sự gì nơi tôi coi bộ không để ý
nhưng hoạt động bao trùm mọi lãnh vực cuộc sống? Ước mơ, ý định, tham vọng, yêu
thương, ghen ghét, mưu đồ?
Dĩ nhiên, có cái khát vọng
nào đó, mờ mờ, ảo ảo nơi tâm trí mỗi khi nghĩ tới cảnh điêu tàn trong cuộc sống
của dân chúng khiến tôi có ước vọng làm gì đó may ra có thể giúp dân chúng có
cuộc sống thoải mái, khấm khá hơn. Tại sao tôi chấp nhận lang thang, làm bất cứ
việc gì miễn tạm sống cho qua chờ cơ hội. Cơ hội gì? Cơ hội cho tôi vươn lên?
Không, tôi sống thế nào chả được. Vậy cơ hội gì, để làm gì và cho ai? Mắc mớ gì
tâm tư tôi cứ luẩn quẩn với nỗi khát khao không rõ ràng ấy? Tại sao có điều gì
đó không được phân định rõ ràng cứ như ma đùa, quỷ ám tâm trí tôi? Nhiều lần tự
hỏi nhưng chưa bao giờ để tâm phân tích trạng thái tâm tư, tôi chỉ biết khắc
khoải một cách mơ hồ.
Không hiểu tinh hoa hay tạp
hoa mà khi đọc qua phần giới thiệu thân thế cũng như sự nghiệp, tính chất, thể
văn của tác giả, vừa khi bước vào học thuyết thì cụ Nguyễn Duy Cần đã đương đường
tuyên bố, “Đạo Đức Kinh, theo nhiều học giả Đông phương cũng như Tây phương, là
một quyển sách thuộc về tâm linh, đạo học cho những người đi theo con đường Huyền
học và siêu thoát” (Lão Tử Tinh Hoa; Thu Giang Nguyễn Duy Cần; Sống Mới; Forth
Smith; AR, USA; năm? Tr. 39). Theo cụ Nguyễn Duy Cần, điểm chính yếu của Đạo Đức
Kinh nói về Đạo, nguyên lý tuyệt đối, cội nguồn và điều hành vũ trụ, không
sinh, không diệt, không tăng, không giảm, không thể hiểu bằng lý trí mà chỉ có
thể cảm nhận; không một danh từ, ý tưởng, cũng như phán đoán nào có thể nói hoặc
diễn giải về thực thể được gọi là Đạo này. Lý thuyết, nào chẳng khác chi
Pascal minh xác, “Thiên
Chúa là Đấng không thể dò thấu. Chúng ta không thể nói được gì về Thiên Chúa.
Những gì chúng ta nói về Thiên Chúa chỉ là tưởng tượng.” Tôi không nhớ đã đọc
được câu này ở sách Pháp hay sách Anh hoặc sách Việt, nhưng, suốt những năm từ
nhỏ đến hết bậc trung học nơi nhà trường Công giáo, không có thầy nào nhắc tới,
và ngay cho tới tận lúc này, cũng vẫn chưa thấy linh mục hoặc bà sơ nào đá động
đến. Nhiều lần tôi thầm tự hỏi, Chúa mà không thể nói đến được, không thể hiểu
được thì nói rằng tin vào Chúa là tin thế nào, chẳng lẽ tin vào tưởng tượng hay
danh hiệu! Nếu thế thì tệ hơn vô thần! Vô thần ít nhất còn tự tin vào chính
mình cho dẫu ma giáo hay đểu cáng, độc ác ra sao, hãy còn có điểm tựa để tin.
Có điều, hình như có điểm
chung nào đó nơi những phát biểu kỳ cục ngang ngược nơi các lý thuyết hay quan
điểm khác nhau. Tôi chỉ mờ mờ cảm nhận có điểm chung nào đó chứ không phân định
rõ được điểm chung ấy là thế nào. Cụ Nguyễn Duy Cần còn nêu lên tính chất tương
đối nơi vạn vật của Đạo, “Không một danh từ nào, không có một ý tưởng nào, cũng
không có một sự phán đoán về giá trị nào mà có thể gọi là tuyệt đối cả” (Hữu vô
tương sanh, nan dị tương hành, trường đoản tương hình, cao hạ tương khuynh, âm
thinh tương hòa, tiền hậu tương tùy. Tr. 42). Cặp tương đối ấy luôn luôn nằm
trong mọi sự, mọi vật, và bất cứ trong đời sống ta lúc nào cũng thấy nó hiện
lên và thường gây cho lòng ta nhiều tranh chấp, mâu thuẫn, (Thiên hạ giai tri mỹ
chi vi mỹ, tư ác dĩ; giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện dĩ; thiên hạ đều
biết tốt là tốt, thì đã có xấu rồi; đều biết lành, thì đã có cái chẳng lành rồi,
Tr. 43). Sự thể được giãi bày này sao giống giống đạo học nhất nguyên, âm dương
đối lập nhất thể, cũng như Dịch học!
Sở dĩ nhắc tới Dịch học bởi
trong quá khứ, có thời tôi tấp tểnh muốn nghiên cứu về tử vi để ít nhất muốn biết
trước chút nào về phận số tương lai của mình, đồng thời khi có dịp nổ cùng bạn
bè, nhất là đối với phái nữ; tôi có thể ba hoa chích chòe cho vui, kiếm thêm cảm
giác hưng phấn may ra được kẻ khác cho rằng mình cũng là một thứ gì. Hơn nữa,
nghe đâu đây cũng như nơi cuốn báng bổ tử vi nào đó, có tác giả khuyến khích muốn
giỏi tử vi, tử bình, nhâm độn, thì cần suy nghiệm về dịch học. Và thế là tôi
mua mấy bộ, ít nhất có thể biết chắc là sách viết về dịch của ba, bốn tác giả.
Nào Dịch học diễn nghĩa, Dịch học ứng dụng, Dịch trong y lý, Dịch học hiện đại.
Đem chúng về tôi ngày đêm đọc tới đọc lui, nghiên cứu nơi tác giả nọ, so sánh với
lời bàn của dịch giả kia, và cuối cùng thì ngâm cứu. Không hiểu sao người xưa
nghĩ ra được những thứ không tiền khoáng hậu, chẳng chi minh chứng cứ buông ra
những thứ, những lý thuyết tự trời rơi xuống khiến đầu óc tôi quay cuồng không
thể nhớ, chẳng có chi làm gốc gác, điểm tựa để chìm sâu vào cõi huyền hoặc của
nhân sinh. Sự thể này đối với ai không biết, riêng tôi đúng là huyền hoặc.
Bởi đó, đã một giai đoạn
thời gian dài, không biết bao nhiêu năm, khi nào nghe thấy ai nhắc tới tử vi,
lý số, tôi đều cho rằng mấy thày bói toán chỉ “giác” bằng cái miệng chứ bản
năng không thể “ngộ.” Tuy nhiên, sau này, trời xui đất khiến tôi gặp và làm
quen được một thày ngộ được tử vi. Tôi nghĩ, không cần phải nói nhiều, cứ cho
ông ta biết ngày sanh tháng đẻ cũng như giờ giấc chui ra khỏi bụng mẹ. Ông ta
không cho phép mình nói thêm bất cứ điều gì để lắng nghe ông phán về quá khứ, đặc
điểm, dáng người, tính chất, và có thể cả ẩn tướng; coi chừng chính bạn cũng
không để ý về ẩn tướng nơi mình. Cuộc đời lắm điều oái oăm, nhiều sự mình chưa
biết và có thể không bao giờ biết. Ôi cái phận số. Ai muốn chứng nghiệm ngộ tử
vi hay không, cứ việc kiếm thày tử vi, Tam Xuân, ở Louisiana, USA, mà nghe
phán. Cũng xin nhớ, đừng nhắc đến bút hiệu của tôi kẻo phiền hà tức khắc ập tới.
Cụ Nguyễn Duy Cần cũng
cho rằng, “Cái lập trường chống lý của Lão Tử, là do nơi kinh nghiệm thuần túy
tâm linh của ông. Tri thức không bao giờ đạt đến cái Tuyệt đối, Nguyên lý cùng
tột của vũ trụ, vạn vật, tức là Đạo” (Tr. 45). Thế nên, phương pháp giải thoát
theo Lão Tử là phương pháp tiêu cực, “Đừng sa vào cái tạp niệm nhị nguyên, tức
là gần được với Đạo rồi vậy” (Tr. 45). Đã không thể nói gì được, không thể nghĩ
bàn chi, cũng không biết chi về Đạo thế mà Đạo Đức Kinh lại dương danh Đạo là mẹ
nuôi của vạn vật, của muôn loài, “Hữu danh vạn vật chi mẫu” (Tr. 52). Rồi lại
thêm, “Trở về với Đạo thì người ta mới được trường cửu, hay nói một cách khác,
người ta mới thực hiện được cái Chân Tánh của mình” (Tr. 52). Quái, không thể
nghĩ bàn, không thể dùng lý trí để nhận biết, thì sao có thể trở về! Về đâu?
Chẳng những thế, những
câu nói trong Đạo Đức kinh còn mang đầy vẻ nghịch thường mà cụ Nguyễn Duy Cần
cho rằng có kết luận bất ngờ. Chẳng hạn câu, “Người biết không nói; kẻ nói
không biết.” Người biết không nói thì dễ thôi, họ có lý do của họ; nhưng người
nói không biết mới bất ngờ. Bất ngờ vì không biết sao có thể nói. Phỏng đây là
thách thức bàn dân thiên hạ suy tư, suy nghiệm, nghiệm xét. Nơi Tân Ước, Phaolô
viết trong thư gửi Côlôsê, “Đừng dập tắt Thần Khí! Đừng khi thị các ơn tiên
tri! Nhưng hãy nghiệm xét mọi sự; điều gì lành hãy giữ lấy! Hãy kị điều dữ bất
cứ dưới hình thức nào!” (1Thes. 5:19-22). Làm sao có thể nghiệm xét mọi sự. Cuộc
đời này thiếu gì sự việc, sự thể mình không biết mà dám hô hào, “Nghiệm xét mọi
sự?” Nói cho đúng, người ta chỉ có thể nghiệm xét trong giới hạn nào đó chứ làm
sao có thể nghiệm xét mọi sự. Nghiệm xét mọi sự là thế nào? Đã nghiệm xét mọi sự
sao lại còn nói huyền nhiệm và mầu nhiệm? Hừ, mỗi vị thần có phép riêng được
rao truyền; mỗi lý thuyết có bế tắc ẩn giấu; mỗi tác giả mang tham vọng nào đó.
Mỗi người có ước mơ, tham vọng khó nói lên lời. Mình vẫn chưa biết ước mơ, mục
đích cuộc đời của mình là gì, rồi sẽ đi về đâu! Ngày mai, ngày mai, ôi ngôn từ
thần thánh!
- 2 -
Không cần bàn đến những vấn
đề trừu tượng; cái nhất thể dân tộc Việt, đã trãi qua, “Một ngàn năm đô hộ giặc
Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày” (Lời bài
hát của Trịnh Công Sơn), vẫn còn là dân tộc Việt. Đảng phái chính trị, chính em
cũng chỉ là nhất thời, cũng chỉ giống như sự tăng trưởng, hoặc khuyết giảm của
cặp âm dương nhất thể nơi Đạo, nhưng tại sao lòng tôi cảm thấy đau xót mỗi khi
nghĩ đến hoặc nhìn thấy cảnh lầm than khốn khổ của dân chúng chung quanh? Họ
còn có túp lều để ở; tôi lang thang không ngõ chui về, có gia đình không dám trở
lại, trở lại càng đau lòng hơn vì với tâm tính ngang tàng của tôi chắc chắn gia
đình, bố mẹ sẽ bị liên lụy. Thì sao không lập gia đình, mình đào hoa lắm mà,
tôi thầm nghĩ; mình đâu cần mái ấm để rồi trở thành con thú, tối ngày mặt cúi
xuống đất, lưng bán cho trời chỉ vì miếng cơm manh áo. Mình không thích con gái
sao? Thích chứ, các nàng dễ thương, hấp dẫn nhưng không thấy cần thiết, không
muốn cho bất cứ ai bị khổ lây.
Mình nghĩ gì vậy? Suy
nghĩ lung tung khiến tôi ấp sách lên ngực ngừng đọc. Huyền đồng, “Trở về với đời
sống giản dị,” cụ Nguyễn Duy Cần giải thích như thế. Sống giản dị là sống thế
nào? Phỏng có ai có lối sống giản dị hơn tôi chăng? Không nhà, không cửa, chẳng
vợ con đùm đề, không nơi nương tựa, may nhờ có ông Tầm rước về nuôi, nhưng đợi
sau sáu tháng, một năm, tôi sẽ quyết định thế nào. Ăn nhờ, ở đậu mà không giản
dị thì ăn cướp mới giản dị hơn sao? “Theo Đạo càng ngày càng bớt. Bớt rồi lại bớt,
đến mức vô vi. Vô vi đây là vô dục vậy” (Tr. 54). Trời, trên răng dưới dép thì
có gì để bớt? Chẳng lẽ chỉ còn cái mạng lại tự tử quách. Vô vi, bớt cái dục, cụ
Nguyễn Duy Cần nói bớt cái dục, thì cụ có vợ con không? Mấy người tu thiền, tu
dòng, tu nhóm đã bao lâu năm, hay cả đời có bớt được cái dục không? Ah, “Phải dứt
bỏ, dứt bỏ cả lề lối suy tư theo ‘la tập’ nhị nguyên, dứt bỏ lòng ham muốn
riêng tư, dứt bỏ cái học trục vật, chạy theo danh lợi bên ngoài… Tóm lại, phải
dứt bỏ cái ta nhân tạo, giả dối để trở về với cái ta đồng nhất với Đạo, trở về
thanh tĩnh và vô vi” (Tr. 54). Viết lách, đề nghị cái gì? Trở về với thanh tĩnh
và vô vi! Không muốn, không ước mơ, tham vọng cũng dễ thôi, nhưng lúc dạ dày
kêu réo thì dù cho có vô vi cách mấy đầu gối vẫn phải bò. Hừ, ai không phải lo
miếng cơm manh áo; ai không phải tính toán, suy nghĩ sao cho có của ăn, của để
hầu ít nhất no cái bụng. Phỏng khi bụng đói meo cụ còn có thể cầm bút viết hai
chữ vô vi không hay lại phải hữu vi lục nồi, vét chảo? Cụ Nguyễn Duy Cần viết về
Đạo và phương cách trở về với cái được mệnh danh là Đạo mà. Cụ trình bày cái Đạo
chứ đâu khuyên nhủ ai! Cụ quảng cáo.
“Đạo khả Đạo phi thường Đạo.
Đạo mà có thể thuyết giảng minh bạch được thì không phải là thường hằng, bất biến”
(Tr. 54). Quái đản, không biết thì nói thẳng không biết, đàng này lại cố thuyết
giảng về điều không biết. Dĩ nhiên, biết mình không biết thì đã là biết, nhưng
làm sao có thể nói về điều mình không biết. Phương cách nào để có thể biết điều
mình không biết. Đã không biết thì có thể nói chi. Không biết cách nào để có thể
bay, để có thể di chuyển nhanh như chim bởi vì mình không có đôi cánh thì ráng
tập chạy cho nhanh; chạy hãy còn chậm thì kiếm cách chế ra xe đạp chạy nhanh
hơn; xe đạp vẫn còn thấy chậm thì chế ra xe máy, rồi xe hơi, rồi phi cơ; ấy là
phát minh; đó là sáng kiến của những người lười và không vô vi, là dục. Quái, bỏ
cái dục, bớt cái dục thì sao có tiến bộ, văn minh. Chẳng lẽ sống vô vi là trở về
với thời ăn lông ở lỗ. Ở lỗ, có ai không mặc quần áo mà dám ló mặt ra đường
chăng? Bớt, bớt đến độ không còn gì để bớt, bớt cái dục, cái ham muốn nghĩa là
thế nào? Nói về điều không thể biết thì phải làm sao, phải là sao để biết mới
có thể nói. “Đạo khả Đạo phi thường Đạo; Đạo khả Đạo phi thường Đạo! Người nói
không biết; kẻ biết không nói!” Kỳ quái! Thôi thì cứ đọc cho hết; đâu phải vô
lý mà cụ Nguyễn Duy Cần tốn công sức để quảng bá cái không biết!
“Không làm gì nhưng không
việc gì không làm.” Không làm gì là làm tất cả. Quái đản, sao mấy câu nói này cứ
làm phiền tâm trí tôi. Và lại thêm câu khác, “Đi xa tức là về gần.” Đi đâu xa
nhất? Về gần, về đâu? Đi về nơi trường hợp nào? Đi, đi đâu? Chết là đi xa nhất
vì sẽ chẳng bao giờ có thể gặp lại. Về gần! Ah, linh hồn trở về nơi cõi uyên
nguyên. Mình bị lừa, tôi thầm nhận ra. Câu nói được chia hai phần, đi xa, nói về
hữu vi, thân xác; về gần nói về tâm linh, thực thể linh hồn. Linh hồn là gì,
sao có thể minh chứng, cảm nhận, cảm nghiệm? Câu nói pha trộn giữa hữu vi và vô
vi, giữa hiện thực và vô hình. Biết không nói cũng thế; nói không biết! Hừ,
thôi thì cứ đọc qua cho hết xem sao, may ra gặp được điều gì khác lạ; tôi thầm
dự tính.
Mới đó mà chiều đã ập tới,
tôi nghĩ, cần phải biết điều một chút nên xuống bếp, mở tủ lạnh định bụng kiếm
đồ nấu ăn bữa tối. Cũng vừa lúc đó ông Tầm bước vô lên tiếng,
- Anh định kiếm chi vậy?
- Cháu tìm xem có gì để nấu
bữa ăn tối.
- Cơm ban trưa tôi nấu
nhiều nên chiều nay không phải nấu cơm, chỉ cần nấu món ăn cho lẹ.
- Bác mua trứng sáng nay,
còn ít thịt kho, lại có thêm gà đông lạnh. Ngoài vườn có rau cải, hành hoa; nên
cháu nghĩ làm cơm chiên với rau cải.
- Vậy thì nên trụng rau cải
với nước muối cho bớt nhặng trước khi trộn với cơm chiên.
- Cháu nghĩ, rau cải luộc
ăn với cơm chiên hành hoa với trứng, trộn thịt kho, thịt gà.
- Cũng hay, để tôi ra nhổ
rau cải về luộc, anh chuẩn bị chiên cơm.
Cuốn Cái Cười của Thánh
Nhân được biên soạn với những câu truyện giả tưởng, không thực tiễn, coi độc giả
như những đứa bé ba, bốn tuổi nhưng đầy mơ mộng viễn vông. Cụ Nguyễn Duy Cần có
ý định chi khi biên soạn cuốn này? Để diễu thiên hạ hay để đánh thức độc giả, dẫn
dắt độc giả nhìn lại chính mình nơi phương diện nào đó? Nơi câu truyện tặng bó
lúa, phi lý, nhiều thì tặng thóc, ít tặng gạo. Chỉ cho một bó lúa, không hiện
thực chút nào. Thế thì liên quan gì đến thánh nhân; chẳng lẽ thánh nhân ngu ngơ
như đứa bé ba, bốn tuổi? Nơi phần phụ lục của cuốn sách, in thêm phần Tư Tưởng
U Mặc, những câu nói nghịch thường. Không nhớ tôi đọc được từ nơi đâu, “Cái
bóng của Thượng Đế là quỷ vương?” Hoặc, “Thượng Đế và Satan là một?” Đọc mà giật
mình, quả là phạm thượng. Thiên Chúa là Thiên Chúa và là Thiên Chúa độc nhất.
Lý lẽ nào, trường hợp, trạng thái nào có thể đánh đồng Thiên Chúa với Satan.
Cái bóng của ai là hình ảnh người đó. Bóng của Thượng Đế sao có thể là quỷ
vương! Tên đề của sách là Cái Cười của Thánh Nhân thì chẳng lẽ thánh nhân có những
nụ cười ngây ngô như thế sao? Hèn chi có thành ngữ, “Nói thánh nói tướng.”
Tới chừng nửa đêm thì tôi
đã đọc xong cuốn Cái Cười của Thánh Nhân. Kể ra tôi đọc cũng nhanh; mới hơn sáu
tiếng đã xong hai cuốn sách. Mà sao những gì được viết nơi hai cuốn này đánh động
nặng nề đến tâm tư tôi. Nguyên những chuyện đâu đâu không liên hệ gì đến cuộc sống.
Những chuyện khùng khùng điên điên. Ông Tầm muốn tôi đọc mấy cuốn này vì lý do
gì? Nói cho đúng, mới đọc được hai cuốn mà nơi tâm trí tôi nổi lên một trận chiến
liên miên bất tận, và đối thủ của tôi lại vô hình, lại là những phát biểu, luận
điệu thách thức tôi suy nghĩ để giải mã chúng sao cho hợp tình, hợp lý nơi trạng
thái, trường hợp nào đó. Trạng thái nào, trường hợp nào? Đã từ lâu tôi vẫn tự hỏi,
nơi trạng thái nào cái bóng của Thượng Đế là quỷ vương? Trong trường hợp nào
Thượng Đế và Satan là một? Thượng Đế là gì; Satan là gì?
Chính khi đọc hai cuốn với
những phát biểu, ngụ ngôn ngang ngược, nhưng đôi khi ngờ nghệch này, tâm trí
tôi lại liên tưởng đến những câu nói nghịch thường nơi Tân Ước; khiến tôi lờ mờ
cảm nhận, hình như kiểu phát biểu nơi Tân Ước mang sắc thái nào đó. Chẳng hạn,
“Kẻ cầm cày mà quay trở lại phía sau thì không thích hợp với nước Thiên Chúa
(Lc. 9:62). Quay trở lại phía sau để làm gì trong khi phải để ý điều chỉnh lưỡi
cày cho luống cày đều đặn theo sau con trâu phía trước. Sự thể giống như giả tưởng
chẳng khác gì những chuyện ngụ ngôn.
Nơi cuốn, Cái Cười Của
Thánh Nhân, cụ Nguyễn Duy Cần cho rằng “Yếu tố quan trọng nhất của văn u mặc là
sự bất ngờ, nghĩa là không thể dự liệu trước được” (CCcTN; Thu Giang Nguyễn Duy
Cần; Đại Nam xuất bản; Glendale, CA, USA; năm?; Tr. 31). Tôi cảm thấy hình như
điều được cụ Nguyễn Duy Cần cho là “Sự bất ngờ” chẳng khác gì nhẩy trật đường rầy
này để bước sang đường rầy khác. Đường rầy nào thì tôi chưa xác định được. Tuy
nhiên, hình như nơi tâm trí nổi lên ý niệm nào đó, mơ mơ màng màng thúc đẩy tôi
cần tìm cho biết.
Năm giờ sáng hôm sau, tôi
dậy sớm theo tập quán để luyện võ. Chừng tiếng sau trở vào nhà đã thấy ông Tầm
đang ngồi uống cà phê nơi bàn ăn, đồng thời cũng có thêm một ly trên đó phin
pha cà phê vẫn còn đang nhỏ giọt dành cho tôi.
- Hôm nay, anh mua con cá
về nửa kho, nửa chiên.
- Bác muốn ăn loại cá
nào?
- Nếu có được con cá dảnh
thì tốt.
- Cá dảnh là cá gì?
- Anh có biết câu, “Lươn
ngắn lại chê trạch dài; thờn bơn méo miệng, chê trai lệch mồm” không? Cái con
thờn bơn ấy.
- Ah, con cá ngộ, con cá
mặt đen, mặt trắng. Cháu biết tên nó là cá thờn bơn, cá ngộ, nhưng cá dảnh thì
mới nghe lần đầu. Ở đây họ có bán khô cá ngộ không bác? Nếu có, cháu mua thử một
vài con về nhậu đế.
Ông Tầm đưa cho tôi 10 đồng;
tôi đạp xe ra chợ. Chỉ kiếm được một con cá ngộ bằng hai bàn tay, sao đủ chiên
và kho, tôi định kiếm thêm một con cá trê về kho bởi chợt nhớ câu ví von, “Một
trăm đám cưới không bằng hàm dưới cá trê.” Nhớ ngày còn nhỏ, mỗi lần nhà có cá
trê kho khô với rau răm và ớt, tôi ăn cơm quên chết. Cá trê chiên sơ, kho khô,
hơi mặn, nêm bằng nước mắm, thêm ít muối, đáy nồi lót một lớp rau răm, thêm ớt,
sả, và đun lửa riu riu cho tới khi cháy cạnh. Không thể diễn tả được mùi vị nó
tuyệt vời thế nào. Vì hơi mặn nên ăn với cơm rất dôi, chỉ mới nghĩ tới đã muốn
trôi cả cái lưỡi. Sau khi mua được con cá ngộ, kiếm ngang, kiếm dọc mấy hàng cá
tươi mà vẫn không thấy cá trê, một chị bán cá chợt hỏi tôi,
- Chú kiếm dzì dzậy?
- Tôi đang tìm xem có ai
bán cá trê không. Tôi muốn mua một con.
- Sớm nay tui có được mấy
con đã có người mua rồi. Ở chợ này chỉ tui mới có vì ba tui đánh lợp bên sông.
Tui chỉ còn năm con cá rô, chú mua tui bán hời cho. Cá rô này béo lắm, không
thua cá trê đâu. Chú đem về kho tiêu, ớt, sả, nước mắm, nếu có thêm chút xì dầu
và ủ trấu cho khô và mềm cả xương ra ăn mới đã. Thế bà xã đâu mà chú phải đi chợ
sớm vậy?
- Dạ, tôi còn đang định
kiếm mà chưa có ai chịu, nghèo quá mà, ai dám thương. Mấy con cá rô này chị bán
nhiêu?
- Tui lấy chú đồng hai
thôi.
- Một ngày công chỉ có
hai đồng mà năm con rô này những đồng hai; chúng có quá mắc không chị?
- Tui lấy chú đồng hai
không mắc đâu. Người khác, tui tính đồng rưỡi còn hời đó. Cá nhà mần ra, tui
đâu e hơn, thiệt.
- Thì chị lấy tôi một đồng
làm quen để lần sau tôi còn ghé hàng chị nữa. Tôi đàn ông, đàn ang nào có quen
chợ búa, trả giá chi.
- Chú về nói bà xã đi chợ
cho khỏi bị lừa. Tui nói thiệt nè, đồng hai là quá hời rồi.
Tôi đã ấm ớ mở lòng, vì
nghèo nên không ai dám thương do đó chưa có vợ mà chị ta còn giả vờ nhắc tới
“Bà xã;” khiến tôi chợt có ý nghĩ chị này muốn tôi vô tình khai ra vị thế hiện
trạng của mình; do đó tôi đánh đáo lưỡi,
- Có được bà xã thì cũng
đỡ, được cả đàng nọ lại được cả đàng kia, nhưng, tôi ởm ờ, nhỏ giọng, nơi thời
buổi khốn khổ này nào ai dám dây mình vô thứ tứ cố vô thân.
Mấy người đàn bà bán cá
biển kề bên nghe tôi than thở trả giá mỉm cười liếc chị bán cá rô, rồi nhìn tôi
có vẻ lạ lùng. Nơi chợ miền quê này, hiếm thấy ông nào lảng vảng nơi hàng cá
hàng tôm; mà tôi lại là thanh niên hơ hớ, vừa mua con cá ngộ nơi hàng cá biển
cách chị ta hai thớt hàng, lại nhì nhằng, đôi co trả giá mấy con cá rô. Đàn ông
đâu chả thế, cho dù những tay bợm nhậu, cũng chẳng bao giờ trả giá hơn thiệt
khi mua đồ, cứ nhắm mắt nhắm mũi móc tiền trả theo giá nói của chủ cửa hàng.
Công nhận năm con cá rô ngon thiệt. Mẩy thật là mẩy, lại to nữa, ít khi gặp được
những con rô lớn như thế. Con cá ngộ tôi vừa mua hết một đồng, nếu đem so với
năm con cá rô này thì chúng đáng giá hơn kém hai đồng. Lòng tôi thấy vui vui,
cô bé cỡ chừng 18, 20, gọi tôi là chú, chắc chưa lập gia đình; vì nếu cô đã có
chồng, thường sẽ gọi tôi bằng anh, người miền Nam mà. Nói cho đúng, đồng hai đối
với năm con cá đâu mắc mỏ gì, nhưng tôi muốn nhì nhằng, nói qua nói lại với cô
bé này cho vui. Hơn nữa, tôi định láu cá khi cô bé nói “Lấy tui đồng hai.” Ngôn
ngữ Việt mình dễ thương thiệt. Nói một đàng, hiểu một nẻo, duyên dáng, thân
tình ghê nơi.
Cái số của tôi nó đào hoa
kỳ lạ; miệng thì dẻo quẹo dễ thương. Nói cho đúng, đễ thương tại tôi rất tôn trọng
mọi người nên ăn nói lễ phép, nhẹ nhàng, lại luôn luôn tỏ ra mình kém vế hơn
người đối diện. Thực ra, tôi cũng chẳng đơn giản gì; đẹp trai, cao ráo, thuộc
hàng sinh viên sinh hòn, và hơn nữa ít nhất đệ tam đẳng huyền đai, chăm chỉ luyện
võ nên vóc dáng cường tráng dễ bắt mắt. Bởi thế, thái độ và cách thức ăn nói của
tôi hiền hòa, dễ thương, nhưng niềm tự tin, thách đố với phận số đã tạo cho tôi
vẻ bất khả xâm phạm. Tôi không bao giờ chọc chạch đàn bà con gái vì như thế là
hèn, là thiếu nhân phẩm. Có lẽ thái độ đứng đắn càng làm tôi ăn khách, hấp dẫn
hơn. Có điều, chưa bao giờ tôi cảm thấy mình cần có người bạn đời, mà có chăng
chỉ e ngại, nếu có vợ con, tôi sẽ bị ngăn chặn cảnh tự do vùng vẫy giữa chợ đời.
Nơi hoàn cảnh người người khốn khó kiếm ăn từng bữa này, có vợ, tôi chỉ còn nước
tối ngày căm cúi lo miếng cơm manh áo thì cuộc đời sẽ buồn biết mấy!
Chị bán cá này cũng khá
xinh gái, tuổi mười tám, đôi mươi, con gái nào trông không hấp dẫn. Ăn nói nhẹ
nhàng, cởi mở của chị càng khiến tôi muốn kiếm cớ nhì nhằng, đôi co cho thêm phần
thân thiện. Có lẽ ai cũng biết trị giá năm con cá rô lớn như thế mà chỉ có một
đồng hai là quá rẻ, thế mà tôi cứ lý này, cớ kia, rồi lại còn ám định trở lại
mua hàng để hạ thấp giá thì cũng lấy làm lạ. Hơn nữa, tôi lại là thanh niên trẻ,
hiện thân của giới ham vui, chơi đùa mà phải đi chợ mua cá về nấu ăn. Ngay từ đầu,
chị bán cá đã dợm hỏi lý do tại sao tôi phải đi chợ nên mọi người chung quanh đều
biết tôi còn độc thân. Nếu đi chợ kiếm đồ nhậu đâu ai ghé hàng cá. Thực ra, so
sánh giá cả giữa cá và thịt thì nếu tính về lượng, cá mắc hơn, lại nấu món nhậu
phiền hơn; bởi vậy, tôi trở thành trung tâm cho những cặp mắt chung quanh để ý
tới. Nhưng chị bán cá này lại không tỏ vẻ chi phiền hà vì cảnh nói qua nói lại
lằng nhằng của tôi. Thế nên, quen thói tửng tửng, tôi đò đưa,
- Tôi mua chị một đồng
làm quen; chị cũng chỉ nên lấy tôi một đồng thôi. Lần sau, nếu muốn ăn cá, tôi
sẽ ghé chị cho bõ công quen biết.
Làm ngang như thuộc thành
phần quê mùa, tôi nói theo kiểu bớt đầu bớt đuôi cho gọn, nhưng ngôn ngữ lại
ngược ngạo “mua chị” và “lấy tôi.” Tôi nhẹ liếc mắt xem cảm ứng của mấy bà hàng
cá đôi bên; thấy họ mỉm cười nhưng không hiểu họ có biết ẩn ý nơi câu tôi nói
chăng.
- Thì cũng được. Tui lấy
anh một đồng; cá do tía tôi đặt lờ chứ nào tui có buôn bán chi đâu. Lần sau mua
cá nhớ tui nghen.
- Tôi sẽ đi chợ mỗi ngày,
ghé đây hay không tôi không dám chắc, nhưng nhớ chị thì tôi luôn nhớ.
- 3 -
Miệng tôi dẻo và dễ
thương đến thế nên chẳng hiểu đào hoa nơi tôi do cái miệng hay phận số. Thực
ra, tôi nhì nhằng với cô bé bán cá vì nhớ lời ông Tầm dặn cố ý làm quen hoặc để
mọi người biết sự hiện diện của tôi nơi miền đất xa lạ này. Dẫu biết mình thuộc
loại đào hoa nhưng được thấm nhuần nơi phong hóa, luân lý, và đạo đức chủng viện,
tôi chưa bao giờ có dù chỉ là ý định hoặc ước muốn bôi bác hay khinh thường bất
cứ ai, đặc biệt nữ giới. Qua nhận biết thực tại cuộc sống khó khăn, dân chúng
nào sung sướng chi mà còn cực nhọc, khổ ải bon chen với cuộc sống; thêm vào đó
được nuôi dưỡng lớn lên trong gia cảnh chẳng khấm khá gì nên phải đối diện với
bao cảnh khó khăn sinh sống, tôi không muốn, bằng bất cứ giá nào, có thái độ hoặc
hành động bất nhã với bất cứ ai.
Tôi miệt mài đọc cuốn
Quân Vương ngay nơi phòng ăn sau khi cơm trưa xong. Cuốn sách phân định các loại
thực tại thế cục dân sinh và quân quyền; đồng thời trình bày mưu chước, thái độ
diễn xuất, và những phương án trị vì của bậc vua chúa trong những hoàn cảnh
khác nhau. Nơi cuối sách được ghi lại vần thơ của Pétarque, “Đạo lý chống bạo
tàn, võ khí sẽ sớm thành công tiêu diệt quân thù. Trí dũng cảm từ xưa vẫn có và
còn mãi mãi trong người dân ta” (Le Prince; Quân Vương; Machiavell; Phan Huy
Chiêm dịch; Quán Văn; Saigon; VN; Năm?; Tr. 190).
Tôi không hiểu ẩn ý ông Tầm
muốn gì khi đưa tôi đọc cuốn này. Có bao giờ tôi thèm nghĩ tới làm ông nọ ông
kia đâu. Trong văn chương người Việt có câu, “Làm quan có mả, làm kẻ cả có
giòng.” Tôi được sinh ra trong một gia đình bình dân; gia đình nghèo nàn thuộc
hàng dân dã thì lấy gốc gác nào, phương tiện nào, mà đòi leo lên vị thế này nọ
trong cuộc đời. Đâu ai lạ gì, “Con vua thì được làm vua; con chú sãi chùa đành
quét lá đa.” Dẫu biết rằng anh hùng không vị quá khứ nhưng vào thời buổi nhiễu
nhương, xáo trộn, bất thường, và khốn khổ này, phải để ý từng lời nói, tránh vô
tình làm nấc thang cho kẻ khác rình mò lấy điểm thì anh hùng đâu bằng miếng cơm
hẩm khi lục tung cả nhà lên vẫn không kiếm được chút chi ăn cho sống người!
Dẫu nghĩ thế, nhưng tôi
chỉ biết bụng bảo dạ, ít ra cuốn sách cũng giúp cho tôi tăng thêm nhận thức như
một phần hành trang chuẩn bị cho quãng đường đời vô định đang trờ tới, hầu thản
nhiên đón nhận những biến chuyển có thể bất ngờ mà không làm tôi sửng sốt, giao
động. Dĩ nhiên, mọi sự, mọi việc đều có giá phải trả. Diễn tiến nơi giòng đời
đâu phải tự nhiên bất thường xảy tới. Nếu không để tâm suy nghĩ, nhận định, những
sự kiện “Cái xẩy nẩy cái ung,” ngỡ ngàng xảy đến biến thành tai bay vạ gió, có
ăn năn thì cũng đã muộn. Vô tình, lơ là không chú ý coi chừng thì khi khốn khó ập
tới, tìm đâu thuốc chữa bệnh hối hận. Đương nhiên, cuộc đời đâu thiếu người tốt
lành, nhưng hình như nơi thành ngữ có câu, “Chân thành, năng nổ nhưng thiếu hiểu
biết chỉ là phường phá hoại.” Nhiều sự việc trong cuộc đời xảy ra như thế,
nhưng đâu phải thế. Sự đời đều có giá phải trả, và nếu không muốn phải trả với
giá không hài lòng thì cần trả giá cho sự chuẩn bị hầu “Tránh voi đâu hổ mặt
người.”
Xưa nay, nay xưa, tôi chỉ
nghĩ mỗi người có một phận số; con vua thì được làm vua; bởi thấy lắm cảnh chẳng
thuận lý, không hợp tình vẫn nhan nhản trước mắt. Chẳng khác gì nơi vần thơ Tản
Đà có câu, “Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn, cho nên quân ấy mới làm quan,”
trong cảnh, “Những người khố rách áo ôm, mồ hôi đổi lấy bát cơm no lòng” (Thơ Tản
Đà; “Đời Lắm Việc;” Đồng Nai; VN; năm?; Tr. 133). Thật là khó thể chấp nhận nhận
định, “Thằng dân ngu quá lợn,” mà có lẽ chỉ tại không biết, không nhận thức và
thực hành, “Dân vi quý; xã tắc thứ chi; quân vi khinh.” Hai mươi mốt năm từ
ngày Bắc vào Nam, dẫu được nuôi dưỡng trong gia cảnh bình dân, nhưng có bao giờ
tôi phải đối diện với nỗi thương cảm khi thấy người người chung quanh bần hàn
như thế này. Thực tế minh chứng, không phải cứ kiên thủ làm ăn, chắt bóp, cần
kiệm, là có thể giầu có; mà chỉ những ai được sinh ra với số phận giàu có mới
có thể giàu được. Kiên chí làm lụng, cần kiệm, chắc chắn sẽ không bị đói nghèo,
chứ phận đã không được giàu có thì khi có tiền, rồi tiền cũng vì lý do nào đó
ra đi; chả thế mà nói tiền bạc; tiền thì bạc bẽo nếu không được dùng như đầy tớ,
phương tiện. Phỏng thời đại này, nơi đất nước này, vận số dân chúng đều toàn là
phận nghèo, hay đất nước đến hạn vận long đong khốn khổ, đối nghịch nên “Quân ấy
mới làm quan!”
Những gì được viết nơi cuốn
Quân Vương đối nghịch nhận thức của tôi về vận số, phần nào đó khuyến khíchtâm
trí đặt lại vấn đề hầu phát triển nhận thức suy nghĩ, để rồi quan sát, nhận định,
và phát triển phương thức giải đáp đối diện với cuộc đời tùy thuộc hoàn cảnh.
Nhờ cuốn sách này, tôi hiểu được câu, “Tầm thường và lòn cúi, việc gì cũng
thành công” (Beaumarchain); trong khi, “Những vị quan giỏi là những người đầy
mưu mánh.” Muốn có mưu mánh phải suy nghĩ, nhận định. Dĩ nhiên, con người đâu
phải loài chim, nên sao có thể chấp nhận, “Hãy nhìn chim trên trời, không gieo
vãi, gặt hái, không cất vào kho lẫm; mà Cha trên trời còn lo cho chúng” (Mt.
6:26). Đối với con người, không suy nghĩ, làm lụng kiếm miếng cơm, manh áo thì
chỉ đi ăn mày, sống dựa vào sự bố thí của thiên hạ. Vào thời buổi gạo châu củi
quế này, nhà nhà phải ăn bo bo vẫn chưa đủ no thì ăn mày chỉ còn cách cạp đất,
vẫn không có đất mà cạp bởi đất của nhà nước.
Có điều lạ, đó là nghĩ
quanh, nghĩ quẩn, mấy câu nói nghịch thường nơi sách đọc, mấy câu Phúc Âm cứ
nhào vào tâm trí tôi khuấy động. Tại sao, có điều gì, tính chất gì liên hệ giữa
Phúc Âm và những câu nói ngang ngược, kỳ cục này. Có lẽ, tại vì tôi được theo học
nơi trường sở Công giáo, được nghe nhắc đi nhắc lại quá nhiều lần, lại có trí
nhớ khá tốt nên những câu nói nơi Phúc Âm tương đương tính chất dễ dàng hiển lộ
khi suy nghĩ chăng, nhưng nơi phương diện, tính chất nào, trạng thái, hay trường
hợp gì? Điều gì, tính chất nào tương đồng giữa sự thể ăn mày, sống dựa, có thể
liên hệ tới loài chim, chẳng phải khổ nhọc gì vẫn có sâu bọ làm thực phẩm vui sống
qua ngày? Mới chỉ hôm qua và sáng nay mà đầu óc tôi muốn nổ tung lên. Thôi, hãy
để đầu óc yên nghỉ suy tư, đi tưới rau.
Đặt lên vai chiếc đòn
gánh bé bé xinh xinh hai đầu móc với dây cột đôi thùng “Ô doa” (thùng có làm
thêm doa để tưới nước trên luống rau), tôi thầm nghĩ, những hạt cỏ cây sẵn đấy,
những con sâu xanh mọng nơi hoa lá đấy nhưng chim phải kiếm tìm. Con người thì
phải trồng tỉa, phân bón tưới nước. Công việc nào không là công việc mới có thể
tiếp tục cuộc sống. Chim coi bộ không phải gieo vãi chi, nhưng cả ngày, cả đời
đều chỉ lo kiếm tìm hạt cây cỏ, sâu bọ ăn cho no chiếc dạ dày. Ah, nếu không có
những con chim kiếm tìm sâu làm thực phẩm thì sâu bọ sẽ ăn trụi hết luống rau,
còn đâu cho con người chăm bón. Phỏng những con chim được nuôi dưỡng bằng những
con sâu hoặc bông hạt cây cỏ, hay mang nhiệm vụ bắt sâu bọ làm hại rau cỏ? Một
công đôi việc, vừa sinh sống vừa giúp ích, vậy mục đích của những con chim là
gì? Chúng có bao giờ nghĩ đến mục đích cuộc đời của chúng không? Rồi những con
muỗi, con gián, chúng có nhiệm vụ gì?
Đặt vấn đề mục đích cuộc
đời của loài chim, tôi lại tự khúc mắc về mục đích cuộc đời của mình. Câu hỏi
này không biết đã tự bao giờ nổi lên nơi tâm trí. Tôi được sinh ra, có cuộc đời
để làm gì; sống để làm chi. Con chim, muông thú, lo kiếm ăn, truyền giống và chết
đi từ thuở xa xưa. Con người cũng thế; quyền năng, giầu có, danh tiếng, rồi
cũng đi vào quên lãng theo dòng thời gian năm này trôi theo tháng nọ. Ai cũng
thế thôi, vào đời tay trắng và rồi ra đi cũng trắng đôi bàn tay. Còn chăng, tiếng
tăm để lại; mà tiếng tăm nào có lợi ích gì, giúp gì khi thân xác đã chìm sâu dưới
lòng đất. Cuộc đời là gì; sao tôi cứ cảm thấy điều chi khao khát chẳng khác ước
mơ đuổi bắt trong tâm tưởng. Tôi khao khát điều chi, ước vọng nào cứ mờ mờ, ảo ảo
trong tôi chẳng khác chi câu nói trong cuốn Lão Tử Tinh Hoa, “Người biết không
nói.” Tôi biết tôi có ước vọng nhưng không phân định được ước vọng đó là gì nên
chẳng thể nói được chi. Phỏng điều mơ ước mịt mù đó được cụ Nguyễn Duy Cần gọi
là Đạo?
Cuốn Hành Trình về Đông
Phương được Nguyên Phong dịch từ cuốn Life and Teaching of the Masters of the
Far East, tác giả Baird Thomas Spalding, tôi đã có dịp đọc trong thời kỳ luyện
thi tú tài hai. Tôi không hiểu sao tên đề bản dịch lại có vẻ như nói về hành
trình thực nghiệm, phỏng đây là kiểu gây chú ý tới người mua (độc giả)? Tôi còn
nhớ rõ, nơi phần lời tựa (Foreword), Blair T. Spalding đã viết, “I wish to
state that I was one of a sesearch party of eleven persons that visited the
Far East in 1894.” Tôi không nhớ rõ đã đọc được từ đâu đó, ông Spalding, có nơi
viết, được sinh ra tại New York, USA, vào năm 1872, nơi khác được viết ông sinh
tại Anh quốc năm 1857. Ông qua đời năm 1953. Cũng theo lời tựa nơi cuốn bản tiếng
Anh, tác giả nói cuốn sách ghi lại công trình biên khảo và gặp gỡ một số vị
chân sư, “Masters,” khi ông cùng phái đoàn ghé qua Ấn Độ để nhờ họ thông dịch một
số tài liệu từ những kinh điển đạo học của Ấn Độ.
Phần cuối của lời tựa nơi
bản tiếng Anh, Spalding cho rằng, các vị chân sư bên Ấn chấp nhận Buddha tượng
trưng phương pháp dẫn đến thức ngộ; đồng thời họ cũng công nhận đức Giêsu là vị
thức ngộ hoặc được coi như đạt tới trạng thái tâm thức mà mọi người hằng ước
mong đạt tới. Nơi câu kết, Spalding viết, “Đức Giêsu là ánh sáng chiếu rọi mọi
tâm hồn, ánh sáng hướng dẫn mọi hài nhi sinh vào thế giới.” Không đọc được từ bất
cứ nơi đâu để biết tác giả Spalding theo tôn giáo nào, nhưng dựa vào câu cuối của
lời tựa, tôi nghĩ Baird Thomas Spalding theo Kytô giáo.
Cũng vui khi đọc được bản
dịch này nơi tiếng Việt. Theo nhận định của tôi, sách được viết dưới quan điểm
Tây phương, dùng những tài liệu biên khảo để ghép nối thành câu truyện diễn tả
hành trình của một nhóm người đối diện với những sự thể, sự việc như thành quả
nghiệm chứng được ghi chép. Gốc gác của những thành quả này được cho là thuộc về
quyền lực tối thượng đang hiện diện và hoạt động mọi nơi, mọi chốn mà bình thường
chúng ta không để ý hoặc không để tâm suy nghiệm. Một đôi nơi, tác giả dùng nhận
thức vật lý để minh chứng nguồn năng lực của quyền lực tối thượng này thể hiện
nơi cuộc sống của sinh vật.
Nơi một đoạn văn giải
thích về sự di chuyển để sinh nở của loài nhệch (Lươn biển) trong bản dịch được
viết, “Này các ông bạn, cá hồi (Salmon) sinh ra ở nước ngọt, theo dòng nước ra
biển và sống ở đây cho đến khi trưởng thành rồi lại trở về nguồn. Hãy nhìn nó lội
ngược dòng về sinh quán, nó bơi một mạch đâu hề phân vân lưỡng lự. Nếu ta bắt
nó đem đến một chỗ khác, nó vẫn trở lại nơi xưa. Ai đã dạy cho nó phân biệt một
cách chắc chắn như vậy? Loài lươn biển cũng thế, chúng rời sinh quán từ các ao
hồ, sông lạch khắp nơi trên thế giới để bắt đầu một cuộc du hành đến tận ngoài
khơi quần đảo Bermuda. Muốn đến đây một con lươn Âu Châu phải đi gần 4000 cây số,
lươn Á Châu phải đi xa hơn có khi gần 8000 cây số. Chỉ tại đây chúng mới sinh sản
và chết. Các con lươn con sinh ra tại đây không biết gì về sinh quán mà vẫn trở
về quê hương xa xôi của cha mẹ chúng nó. Biết tìm về một cái lạch ở Pháp hay một
cái hồ ở Nam Dương. Giống nào về nhà giống đó, một con lươn Pháp không bao giờ
bị bắt ở Ấn Ðộ và một con lươn giống Thái Lan không bao giờ đi lạc sang Phi
Châu. Ai đã ban cho loài lươn nguồn cảm kích phân biệt như thế? Ai đã hướng dẫn
những con lươn bé bỏng trên đường phiêu du ngàn dặm như vậy? Chắc chắn không thể
do ngẫu nhiên phải không các bạn?
Khi đọc bản in tiếng Anh,
tôi cũng như mọi người, đọc để mà đọc, đọc để có thêm kiến thức, đôi khi nảy
sinh nhận định và biết để mà biết. Mọi sự hiểu biết từ sách vở coi như chuyện
ngoài tai. Thử hỏi ai không như thế! Chẳng hạn qua bốn năm học âm nhạc nơi
chương trình trung học đệ nhất cấp, từ lớp đệ thất (lớp 6) cho tới lớp đệ tứ (lớp
9) ở Việt Nam thời trước 1975, quý vị đã biết được những gì về ngành nghệ thuật
ấy, hay nếu ai thích và muốn học hay tự học đánh đàn dương cầm hoặc guitar đành
phải mò mẫm lại từ đầu như chưa học gì. Nghe giảng giải về lý thuyết âm nhạc và
thực tập, thực hành đánh đàn, áp dụng lý thuyết nơi thực hành đánh đàn là hai sự
thể hoàn toàn khác biệt, chẳng khác gì nghe giải thích về lợi ích của thực phẩm
hoàn toàn khác với hành động ăn uống.
Thế nên, có dịp đọc bản dịch
Hành Trình về Đông Phương, nhất là khi đọc đoạn nói về cá hồi và những con nhệch
(lươn biển) chưa kịp lớn, không biết gì về quê hương của bố mẹ chúng, nhưng chỉ
mới cỡ sáu inches (8 cm), biết cắm đầu cắm cổ, một mạch bơi về quê cha đất tổ,
tôi mới nhận ra tác giả muốn dùng sự việc nơi phương diện vật lý hiện thực của
loài nhệch để minh chứng có một quyền lực đang hoạt động nơi những con cá hồi,
nơi những con nhệch thơ dại, nơi tạo vật. Tôi cảm thấy có niềm vui nào đó nở rộ
trong tâm tư, và cũng chính sự nhận thức này kéo tâm trí tôi liên tưởng đến sự
thể mà cụ Nguyễn Duy Cần gọi là Đạo ở cuốn Lão Tử Tinh Hoa. Tôi tự hỏi, năng lực
nào, quyền lực nào dẫn đưa những con cá hồi từ ngoài khơi biển mặn trở về nguồn
nước ngọt thời được trứng nở ra để đẻ trứng? Năng lực nào, quyền lực nào dẫn dắt
những con nhệch còn măng sữa trở về vùng quê hương, nơi bố mẹ chúng trưởng
thành? Năng lực nào dẫn dắt những con chim biết bắt sâu bọ nơi cây cỏ, biết cặp
đôi rồi để trứng, nở con, biết công mồi mớm con. Ah, có lần, khi còn đang đi chặt
cây bán làm nhà kinh tế mới nơi Tân Hữu, tôi thấy được tổ chim di tuyệt vời,
tuyệt vời hơn tác phẩm của bất cứ nghệ sĩ điêu khắc nào. Riêng tôi, năng lực,
quyền lực nào kiến tạo nơi tâm tư nỗi thao thức mờ mờ, ảo ảo, khiến tôi cố kiếm
tìm mà mãi tận lúc này vẫn chưa nhận biết.
Cái năng lực, quyền lực
nào dẫn đưa cá hồi trở lại sinh quán, khiến những con nhệch chưa kịp lớn đã thuận
theo bản năng, vượt hành trình ngàn vạn dặm đầy môi miệng của những kẻ săn mồi
dưới nước để trở về đúng quê hương nơi bố mẹ chúng trưởng thành? Lời ca, cung
nhạc của bản thánh ca “Đồng Cỏ Tươi” vang vọng đâu đây nơi tâm trí, “Đồng cỏ
tươi, Chúa chăn cho tôi nghỉ ngơi, trên đồng cỏ non xanh rì; tôi nay còn thiếu
thốn chi, vui thay mà cũng phúc thay!” (Thánh Vịnh 22). Đâu đây hiện về nơi Tục
Ngữ, Phong Dao, dân Việt có thành ngữ, “Trời sinh voi, Trời sinh cỏ,” như dục
giã tâm tư tôi để ý đến thực trạng hiện hữu nơi mình, danh hiệu của sự thể năng
lực bẩm sinh đang hoạt động nơi tôi, nơi mọi người, nơi tạo vật mà dân gian và
các tôn giáo mệnh danh bằng những danh hiệu khác nhau như Trời, Tạo Hóa, Thiên
Chúa, Ông Xanh, Quyền Lực Hiện Hữu, v.v… Chính lúc này, câu Phúc Âm, “Ta là đường,
là sự thật, và là sự sống” (Gioan 14:6), nhắc nhở nơi tâm trí, Thiên Chúa là sự
sống; chính sự sống đang hiện hữu nơi tôi, nơi tạo vật, dẫn đưa những con cá hồi
về sinh quán gốc, khiến những con lươn biển măng sữa biết tìm về quê hương bố mẹ
chúng. Đã bao năm qua, danh hiệu Thiên Chúa hằng ngày được nhắc nhở bên tai mà
tôi đã chẳng để ý; tôi sống nhưng không để tâm, không nhận biết sự sống nơi
mình là chi, mà cứ coi đó là chuyện thường tình. Chính sự thường tình, bẩm
sinh, đang hét vào tai tôi, hãy tỉnh thức, tỉnh thức nhìn lại bản thân hầu nhận
biết thực thể hiện hữu của mình thực sự là chi!
Không hiểu sao, sự nhận
biết này ảnh hưởng mạnh mẽ nơi tâm trí, liên miên ám ảnh, thúc giục tôi tìm tòi
cho ra lý lẽ hoặc thực tại, sự thật nào, manh mối nhận thức cũng như sự liên hệ
nào nơi suy luận, suy tư đã tạo nên kết luận mơ hồ về sự hiện hữu của mình; đồng
thời tôi cũng cảm thấy ngỡ ngàng với chính mình; vì tại sao đã bao nhiêu ngày
tháng, qua nhiều sách vở tôi đã đọc, không một tác giả nào nói lên được mục
đích của đời người, mà chỉ phân tích, nói tới tham vọng, ước vọng ngắn hạn, rồi
đưa đến diễn tiến, diễn trình vô cùng của ham muốn nhân sinh, đạt được mơ ước
này thì lại chồng chất thêm thèm khát khác trờ tới, tạo thành động lực, cố gắng
liên miên bất tận, thúc giục, lôi kéo con người lao công, mệt mỏi không ngừng
nghỉ, trầm luân trong ham muốn hầu đạt được ước mơ. Hèn chi cụ Nguyễn Duy Cần
nói tới “Huyền Đồng,” trở về thanh tĩnh, vô vi.
Tôi có tưởng tượng không?
Albert Einstein cho rằng tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức; vì kiến thức thì
hữu hạn, và tưởng tượng thì vô hạn. Hèn chi ước mơ, ước muốn, tham vọng của con
người trở nên vô cùng bởi chúng hàm chứa tưởng tượng. Ước mơ, tham vọng của tôi
là gì? Mục đích cuộc đời của tôi là chi? Tôi được sinh ra để làm gì? Không biết
tại sao mình có cuộc đời, không biết mục đích cuộc đời của mình là chi, chẳng
hiểu nỗi thao thức trong lòng thực sự như thế nào thì biết sao mà tưởng tượng.
Chính ngay cuộc sống còn bấp bênh, rày đây, mai đó, ngày ngày chỉ lo sao có được
miếng cơm, manh áo cho qua, tương lai mờ mịt, không dám dầu chỉ nghĩ tới, thì
tưởng tượng, ước mơ nào còn chỗ đứng. Tôi muốn gì, tôi phải thực hiện, phải làm
chi? Những ý nghĩ, những câu hỏi mờ mờ ảo ảo cứ luẩn quẩn, dồn dập nơi tâm trí
chẳng khác nào đám mây dày đặc, luôn cuồn cuộn giao động, quấy phá, thách đố
tôi gỡ rối. Đầu mối đâu mà gỡ, gốc gác đâu để tìm!
René Descartes nổi tiếng
với câu, “Tôi suy nghĩ nên tôi hiện hữu.” Hiện hữu để làm gì? Con chim, con muỗi
cũng hiện hữu; mục đích của những sự hiện hữu là thế nào? Không hiểu có ai bị
phiền hà bởi những ý nghĩ như tôi chăng? Tại sao cụ Nguyễn Duy Cần nêu lên điểm
huyền đồng nơi Đạo Đức kinh? Sách vở nào nói lên mục đích của sự hiện hữu? Tại
sao Descartes phải đặt vấn đề nhận biết sự hiện hữu của mình bởi nhận biết mình
suy nghĩ. Sự suy nghĩ thuộc dạng vô hình; sự hiện hữu xác thân hữu hình. Sao lại
phải dùng sự hiện hữu vô hình để xác quyết sự hiện hữu thân xác hữu hình mà
không dùng ngược lại. Chẳng lẽ gốc gác của sự hiện hữu hữu hình bắt nguồn từ ý
niệm, ý nghĩ, nhận thức, tưởng tượng vô hình. Quái, nghi ngờ sự hiện hữu của
thân xác, vật chất chung quanh đến nỗi phải dùng ý niệm, ý nghĩ, chẳng thể đụng
chạm, chẳng thể rờ tới được, để minh xác sự hiện hữu hữu hình, quả là kỳ cục,
ngược đời. Như vậy, tôi là thế nào, tôi có hiện hữu hay không? Thân xác, cuộc đời
của tôi là gì? Mấy cái ông “triết da, triết thịt” này chỉ bới bèo ra bọ; thế
sao họ được người người thán phục, coi trọng? Coi trọng vì lý do gì? Vì họ đã
bày ra được điều kích thích người khác suy nghĩ, đặt vấn đề, cho dù những vấn đề
đó không đem lại miếng cơm manh áo cho bất cứ ai? Sao suy nghĩ lung tung thế,
tôi tự hỏi để rồi tự nhủ, còn mười mấy cuốn khác và một tập bản thảo nữa, hãy đọc
cho hết rồi tính.
Thoạt tiên, khi nhận tập
sách, tôi thầm tính chỉ nội trong một tuần là sẽ đọc hết, nhưng chỉ mới ngày thứ
hai, dẫu đã đọc qua được bốn cuốn, Lão Tử Tinh Hoa, Cái Cười của Thánh Nhân,
Quân Vương, và Hành Trình về Đông Phương, tôi đã bị tối tăm mặt mày; nhiều vấn
đề được khêu gợi lên trong tâm trí mà vẫn chưa có lời giải đáp. Nhưng tại sao
khi ông Tầm trao sách cho tôi, ông lại nhấn mạnh cách đọc, “Tôi nhắc lại, đọc
sách không giống như đọc truyện giết thời giờ mà thực nghiệm những gì có thể được
viết nơi sách vô bản thân.” Lăng quăng nói về vấn đề âm nhạc, sao ông có thể bới
ra cơ cấu công thức của hợp âm trưởng, sự khác biệt giữa hợp âm trưởng và hợp
âm thứ, nguyên tắc nhận ra hợp âm chính và phụ của bản nhạc không cần nhìn nốt
cuối, chỉ cần biết “Khóa nhạc.” Ông đưa mọi thứ vào thành công thức, điều mà
tôi chưa bao giờ để ý. Có lẽ tôi phải để tâm phân tích và sắp xếp những kiến thức,
nhận định thành hệ thống cho dễ dàng phân định.
Đọc cuốn Phật Học Tinh
Hoa, cố gắng để ý xem tinh hoa của Phật học là gì, nhưng tôi chỉ thấy những lời
giảng giải về lịch sử, cơ cấu, quan niệm, chủ thuyết, cũng như quan điểm, nhận
định của tác giả về Phật giáo. Chẳng hạn, đời sống của Thích Ca, điều kiện tinh
thần của người học Phật, kinh điển Phật giáo, giáo lý Tiểu thừa, Đại thừa,
Duyên sinh quan, quán nọ hàng kia, trí huệ, “hữu vi” thật giả, niết bàn niết ghế.
Cuối cùng, ngay trước phần Thập Ngưu đồ, cụ Nguyễn Duy Cần phán,
“Bậc thánh” trên các bậc
thánh, dù họ có hi sinh cả nghìn lần những gì quý báu nhất của đời họ, có hi
sinh cả tính mạng họ cho nhân loại, cho một đấng thiêng liêng cao cả nhất của họ...
họ cũng vẫn bị mãi giam hãm trong con đường luân hồi sinh tử nếu họ không hiểu
rằng tất cả cái đó, thực ra chỉ là những trò chơi con trẻ, những thứ “mộng, huyễn,
bào, ảnh” do chính “hành tướng” của mình tạo ra và phóng lên bức màn vô tận của
Hư Không! Có đúng với câu nói này của một vị thiền sư: “Đừng nghĩ đến Thiện,
cũng đừng nghĩ đến Ác, thì trong lúc đó mới hiện tỏ ra được cái “Bản lai diện mục”
của mình thôi”. Và “Chỉ thiên một chút thôi bên thiện hay bên ác, cũng đủ làm
cho mặt biển Chân Như nổi sóng, cả Trời Đất sẽ bị phân chia và chênh lệch.”
(PHTH; N. D. Cần; Đại Nam; CA, USA; năm?; Tr. 280).
Giời! Thế cái tinh hoa của
Phật học là cái gì? Những lý thuyết, chủ thuyết, quan điểm, quan niệm, khuyên
nhủ, khuyên răn, v.v... nào thiếu gì nơi cuộc đời này mà lại lấy chúng, chép
cho đầy sách và cho là tinh hoa. Có lần đọc được cuốn Pháp Bảo Đàn kinh, lục tổ
Huệ Năng dạy chỉ một câu mấu chốt, và đó là, “Kiến Tính thành Phật,” không hơn
không kém, chẳng đảnh lễ, cúng kiến, niết bàn niết chiếu chi ráo trọi. Nhưng kiến
tính là thế nào, cần điều kiện gì, phải kiết già, kiết non, ăn chay, ăn mặn, một
vợ, hay năm bảy chồng, ngày ấy tôi, cũng như bao người, đâu thèm để tâm tìm hiểu,
chỉ đọc như con khỉ ngó sách thì nào lãnh hội được chi. Quả là tốn giờ đọc cuốn
Phật Học Tinh Hoa, hao tổn tâm trí theo dõi, lại nhét đầy mớ lý thuyết, chủ
thuyết, quan niệm rác rưởi hữu vi, nhân sinh vô đầu óc khiến đáng thương cho
cái cổ ngoan hiền tìm hiểu của tôi.
Ủa, mình đọc sách hay phê
bình sách đây? Tôi tự hỏi. Tác giả viết sao thì đó là chuyện của họ; mình đọc,
hiểu biết, và thực hành thế nào là chuyện của mình, mắc mớ chi mà bực bội.
Nhưng uổng phí thời giờ, thà vung chân, múa tay luyện võ còn lợi ích hơn; không
hiểu sao ông Tầm lại khuyến khích đọc loại sách vô bổ này; tôi quạo với ông Tầm
trong tâm tưởng nhưng thanh lịch đủ để không lên tiếng chi.
Lục lọi nơi chồng sách,
kiếm xem có cuốn Pháp Bảo Đàn kinh chăng, nhưng nào thấy, tôi âm thầm cố lục lọi
tâm trí xem phải thế nào mới có thể kiến tính. Lục tổ Huệ Năng còn nhắc tới “Bổn
lai diện mục.” Kiến Tính, nhận biết bổn lai diện mục, đối diện thực thể hiện hữu
chính mình; thân xác chỉ hiện hữu trong giai đoạn thời gian, nhưng so với diễn
tiến biến chuyển vô cùng của hiện hữu thì thân xác, cuộc đời một người bị coi
là giả, có đó rổi mất đó, ngàn năm trước là có, giờ là không vì chẳng còn hiện
diện nơi thế giới hữu hình. Hiện giờ là có, là hiện hữu, nhưng ngàn năm sau lại
cũng chỉ là không; được gọi là không vì không còn thấy được nơi thế giới hữu
hình, vật chất, nhân sinh.
Vậy “Tính, Bổn lai diện mục”
nơi tôi là gì mà phải kiến, kiến bằng cách nào? Theo lý thuyết nhân duyên, nhà
Phật cho rằng mọi sự, mọi vật đều do nhân duyên mà sinh ra, mà có hiện hữu.
Duyên hợp thì thành, thì sinh; mà duyên tan thì diệt, thì biến mất. Thế sao lại
phải kiến tính. Tính là cái gì, cái bổn lai diện mục; bổn lai diện mục là thứ
gì bởi khi duyên tan thì chẳng có chi? Hừ, luẩn quẩn, huyền mị; không biết thì
nói không biết, chỉ tưởng tượng “lý gio, lý trấu” rồi thuyết giảng điều mình
không biết. Vô ngã, hữu ngã! Nếu quyển sách, những dòng chữ, là vô ngã, thì tư
tưởng chứa đựng trong đó hữu hay vô? Đọc sách cho qua, tưởng là biết mà thực ra
chẳng biết gì, không áp dụng, thực hành nơi bản thân, không nhận thức được sách
viết về chuyện gì đang diễn tiến nơi bản thân thì đọc làm chi, tổn giờ, phí sức,
quả là đọc cũng như không, vô bổ. Mà nếu duyên hợp thì có, duyên tan thì diệt,
sao lại bày ra cúng, kiến, sao có thể hy vọng, ước mơ, cầu, khấn?
Phật là người thức ngộ
hay là tâm thức ngộ? Tâm là phật; phật là tâm; sao lại còn nói phật tại tâm.
Nói rằng phật tại tâm là đã có phân biệt tâm và phật. Vậy nếu kiến tính tức là
nhận ra tâm là phật, là Chân Như, thế thì cần chi phải nói đến nhân duyên. Thử
hỏi, bày ra thuyết nhân duyên để mua vui thiên hạ hay tự lừa đảo? Nếu đã kiến
tính đâu cần thiền, sao lại bới ra Sáu Cửa Thiền Thất? Nơi phần “Trước Khi Vào
Cửa Động,” Trúc Thiên viết, “Thiền đứng riêng một khung trời cùng tuyệt, chủ
trương chỉ thẳng vào nơi tánh, thấy thẳng tự nơi tâm để tức khắc thành Phật.” Một
lục tổ Huệ Năng, “Ngồi nhiều sinh bệnh” nên cần hành thiền. Hành thiền tức là
thiền bất cứ lúc nào, trong khi làm việc hoặc vui chơi, giải trí, lúc rửa bát,
quét nhà, hay nấu ăn, luyện võ. Bởi đó hành thiền cần định tâm, và định tâm có
nghĩa, làm gì thì làm, chơi gì thì chơi nhưng tâm trí luôn luôn để tâm hướng về
kiến tính, và kiến tính tức là đối diện tính, đối diện tâm Chân Như, nhận chân,
nhận thức mình là phật, là hiện thể của Chân Như. Đã thế sao còn bày ra sáu cửa;
đúng là bới bèo ra bọ! Và rồi lại chia thêm người và nghiệp. Phỏng người là do
nhân duyên tạo nên? Vậy cớ gì nói người tạo ra nghiệp, mà không nhận biết nhân
duyên tạo ra nghiệp. Người đã là vô ngã phỏng vô ngã kiến tạo hữu ngã là nghiệp.
Người đã vô ngã tất nhiên không thể tạo nên nghiệp thì làm gì có báo? Thế nghiệp
báo ở đâu ra? Luẩn quẩn, không hợp lý, chẳng hợp tình! Cứ tưởng tượng bày ra rồi
lại tự oánh nhau với tưởng tượng, trận chiến vô cùng tại tâm!
Ah, vô ngã là thực thể
hay nhận thức. Nếu vô ngã là thực thể thì hữu ngã chính là trạng thái thiếu nhận
thức; thiếu nhận thức về bản lai diện mục, về tính, về thực thể hiện hữu nơi
mình. Như vậy, thiền cũng chỉ là suy tư, là suy nghĩ để kiến cái tâm, kiến bản
lai diện mục, kiến thực thể hiện hữu nơi mình, nhận thức, nhận biết thực thể hiện
hữu nơi mình. “Ta là phật đã thành, chúng sinh là phật sẽ thành,” Muốn thành phật
thì vẫn là dục; thế nên kiến là đối diện; định tâm đối diện tâm phật. Tâm là phật,
phật là tâm sao lại gọi là tâm phật? Phỏng đó là nói lắp bởi còn phân chia tâm
trí và tâm phật thì còn lệ thuộc hữu vi, bản ngã, phân biệt. Thử hỏi, không
phân biệt, không suy nghĩ, không nhận biết, nhận định sao có thể nhận thức, sao
có thể ngộ? Mấy con chó, con mèo còn biết phân biệt chủ của nó với những người
ngoài; mà con người nếu không phân biệt, không nhận thức, không suy nghĩ để nhận
biết đâu là tâm trí, đâu là tâm phật thì sao có thể kiến tính.
Tính nơi mình là gì mà
“Kiến tính thành phật?” Thiền cũng chính là kiến sao lại còn chẻ sợi tóc làm
tư, lại bới thêm sáu cửa, bẩy cửa mới có thể thấy tự tánh, thấy tâm, mới nhận
thức được tính, được bản lai diện mục? Vậy, theo thiền, cái tâm phật nơi tôi là
gì?
Nơi phần cuối của lời tựa
“Trước Khi Vào Cửa Động,” dịch giả Trúc Thiên nêu lên kết luận, “Nhưng thôi, khỏi
cần vào sáu cửa. Ta chỉ vào bất cứ một cửa nào đó thôi, tùy theo duyên cảm. Sáu
cửa đều trổ về một cửa. Một cửa bao hàm luôn sáu cửa. Nhưng vào, xin nhớ ra. Ðó
là điều tối cần. Nếu ra không được thì cửa nào cũng là cửa tử. Còn ra được thì
sao? Không biết. Xin để cho người biết – hòa thượng Phật Quả Viên Ngộ – lên tiếng
nói: “Chư Phật chẳng từng xuất thế, củng không một pháp trao cho người. Tổ sư
(Ðạt Ma) chẳng từng qua đây, cũng chưa hề lấy tâm truyền thọ. Bởi người đời nay
không rõ nên mảng lo cầu ngoài. Sao không biết tự dưới gót chân mình chặt đứt hết
đại sự nhân duyên, hiền thánh đừng dính níu? Chỉ nên như ta nay thấy mà chẳng
thấy, nghe mà chẳng nghe, nói mà chẳng nói, biết mà chẳng biết. Cầu gì mới được
chứ?” “Kiến tính thành phật,” chẳng khác gì bất kiến bất thành! Đã là phật thì
kiến mà chi, thành cái gì!
Mình đã đọc cuốn này và tạm
dịch tên đề của nó là “Cuộc đời muôn chiều hướng” rồi mà; tôi thầm nghĩ, nhớ lại
đã đọc nó nơi bản tiếng Anh, khi lật trang đầu tiên cuốn, Những Bí Ẩn Của Cuộc
Đời,” thấy ghi tên dịch giả Nguyễn Hữu Kiệt của bản tiếng Anh, Many Mansions,
tác giả Gina Cerminara. Không hiểu sao ông Tầm muốn mình đọc cuốn này. Đại
khái, tác giả cuốn sách này nói về khả năng đi vào giấc ngủ thôi miên của ông
Edgar Cayce, tìm về kiếp trước của người khác để nói lên lý do hay nguyên nhân
hiện trạng bệnh tật của họ; đồng thời cho lời khuyên nên chữa trị bằng cách nào
hoặc dùng thuốc thang chi, nhưng đặc biệt nhấn mạnh về sự điều chỉnh tâm trạng,
thái độ trong cuộc sống khi liên hệ với người đồng loại. Nơi phương diện tâm
linh, tác giả viết, “Linh hồn con người trải qua nhiều kiếp sống và được tiến
hóa thông qua những cơ hội học hỏi kinh nghiệm từ đời sống. Con người thâu thập
kinh nghiệm trong cuộc sống và tích lũy nó trong tâm thức, rồi mang theo những
điều đó vào những kiếp sống tiếp theo sau đó.”
Tôi theo đạo Công giáo, lại
được dưỡng dục, cũng như theo học dưới nền giáo dục Công giáo, đặc biệt nơi tiểu
chủng viện nên chỉ hơi ngỡ ngàng khi đọc cuốn Many Mansions nơi bản tiếng Anh,
nhưng không dám nói năng gì hoặc chia sẻ với bất cứ ai. Dẫu mục đích đọc sách
chỉ là trau dồi thêm ngôn ngữ, nhưng kiến thức cũng được mở rộng cho dù không
chút cố gắng tìm hiểu. Hơn nữa, được dạy dỗ, “Chúng ta phải tin với giáo hội,”
luôn luôn khuôn mẫu tâm trí tôi suy nghĩ trong giới hạn những gì phải tin;
ngoài ra, tất cả đều chẳng nên để ý, nếu không muốn nói, những gì không giống
được dạy, được nghe giảng giải, đều thuộc về ma quỷ. Thế nên, những quan niệm
kiếp trước, kiếp sau, luân hồi, hoặc nghi lễ cúng kiếng, vái lạy, ngay cả đồ
cúng cũng bị tuyệt đối không đụng đến. Tôi là người Công giáo mà.
Dĩ nhiên, mê đọc sách, lại
có trí nhớ đồng thời theo ban C thời trung học, bản dịch này giúp tôi học hỏi
được nhiều ngôn từ tiếng Việt khá chính xác hơn; vì khi đọc nơi tiếng Anh, tôi
hiểu nhưng loạng quạng diễn giải bằng tiếng Việt. Mặc dầu sách nói về luân hồi
và những hệ quả của lối sống lệ thuộc luân lý, đạo đức nhân sinh liên hệ đến cuộc
đời con người, và cho dù rất khác biệt với niềm tin được dạy dỗ của tôi, nhưng,
tâm tính thanh niên mà, tôi nghĩ, nếu đã là sự thật thì dù tin hay không, sự thật
vẫn là sự thật; biết thêm kiến thức, chẳng bổ đàng nọ cũng bổ đàng kia; cuộc đời
này thiếu gì chuyện nghĩ rằng không thể nhưng đã có thể, đã là hiện thực, thì
tin hay không trở thành vô nghĩa.
Tự hỏi, vậy kiếp trước của
tôi đã như thế nào, những gì được viết nơi sách không soi sáng cho tôi chút
chi, dù chỉ mơ hồ. Có điều, những lời khuyên, lời nhận định của tác giả chẳng
khác gì sự cảnh cáo khuyến khích cũng như cảnh tỉnh tôi nên có cuộc sống ý thức
hơn dưới quan điểm luân lý, đạo đức nhân sinh, và biết mở rộng lòng cảm thông với
những người chung quanh, tránh soi mói, phân biệt, hoặc xét đoán theo nhãn quan
hạn hẹp của mình. Tôi đâu sợ bị phạt; bởi nghĩ, không nhớ đọc nơi đâu câu,
“Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu” (Lão). Trong Phúc Âm thì lại có câu,
“Vì Ngài sai mặt trời soi sáng trên kẻ tốt cũng như người xấu, và làm mưa trên
kẻ ngay cũng như người ác” (Mt. 5:45). Lấy con dao cứa vào tay mình rồi cầu khẩn
đấng nào đó giúp mình không cảm thấy đau, thì nó vẫn đau. Thưởng phạt, hậu
tính, hãy cứ sống tốt lành sao cho không áy náy lương tâm là được. Đời này lo
chưa xong, mắc mớ chi đời sau, chỉ vẽ chuyện. Nghĩ thì nghĩ thế, nhưng đâu phải
dễ chi viết được một cuốn sách, và mắc mớ gì hao tổn tâm lực mò mẫm tìm kiếm
tài liệu này, sự việc kia, rồi giờ giấc căm cụi viết lên những điều vô ích, tôi
chỉ biết tâm phục, khẩu phục tác giả đã đổ công sức và nhận thức kiến tạo tác
phẩm để lại cho đời.
Tin hay không những điều
tác giả đã viết ra, tôi không đặt thành vấn đề. Đối với tôi, có thể áp dụng những
gì được nói đến mới quan trọng. Cho rằng điều này tác giả viết đúng, điều kia
không hợp, sự nọ khiến mình cảm thấy vui, hoặc bực mình tức là đã tự biến mình
thành thùng rác ngu xuẩn, chấp nhận để kẻ khác quăng vô bất cứ thứ gì, dẫu quý
giá đến đâu đối với họ nhưng đã trở thành độc hại, phiền hà chính mình. Cho rằng
đọc để tăng kiến thức, thử hỏi, tăng kiến thức để làm chi nếu kiến thức đó
không được suy nghĩ, nghiệm chứng nâng cao nhận thức nơi mình. Nghe ai đó kể lại,
họ sụt sùi thương cảm nhân vật trong câu chuyện nào đó phải đối diện với gia cảnh,
trường hợp nọ kia, tôi im lặng nhưng cảm thấy thương hại, hối tiếc cho sự mất
mát vô lối, lãng phí thời gian, trầm mình vô tâm tưởng nô lệ tàn phá tâm tư. Uổng,
chẳng những lãng phí thời gian mà coi chừng còn ảnh hưởng tai hại đến tâm tư,
nhận thức, tự biến mình thành kẻ mộng du quái đản.
Tuy nhiên, đối với những
cuốn sách thực nghiệm, được tác giả kể lại những sự thể, thực trạng tâm tưởng,
hiện trạng được chứng thực qua biên khảo hay kinh nghiệm nơi diễn trình cuộc sống
khiến độc giả, hoặc thách đố họ suy nghĩ, nghiệm chứng hầu tăng thêm nhận thức
làm tươi đẹp cuộc đời, ít nhất nơi chính họ, tôi chân thành cảm phục. Dĩ nhiên,
kết quả mà người đọc nhận được lại tùy thuộc chính họ. Đọc sách để giết thời giờ,
đọc để mà đọc, đọc như không đọc, có lẽ độc giả loại này chưa bao giờ, hoặc
không thể nghiệm được câu, “Người làm không hết việc; kẻ giết vẫn thừa giờ.”
Nói cho đúng, nếu đừng
cho tôi là lộng ngôn, nhà Phật có câu nói hình như đã mấy trăm năm, “Thời mạt
pháp.” Tôi không thuộc tín đồ Phật giáo nhưng cứ bị lời phát biểu này đánh động
tâm tư. Tôi không hiểu câu nói “Thời mạt pháp” mang nghĩa phương pháp, phương
cách trình bày, diễn giảng, hay giảng giải các pháp không chỉnh hoặc không thực
dụng, hay các pháp bị hiểu dưới quan điểm thế tục thiếu nghiệm chứng hoặc thiếu
thực chứng. Tất nhiên, tự thuở ban đầu, vị xướng lên câu nói này hình như không
muốn đụng chạm đến tín đồ, và những vị quảng bá, triển dương, rao giảng, nên đổ
tất cả phiền hà, thiếu sót nơi “Pháp.”
Dẫu nhà Phật có lục tổ Huệ
Năng, không biết ngay cả ký tên của mình thế nào; nhà Ấn có RamaKrishna, chỉ mới
học đến lớp tư trường làng, mà một trở thành tổ thứ sáu của nhà Phật, vị khác
trở nên một vị thánh được tôn sùng qua bao thời đại; thì nói rằng pháp mạt hay
mạt pháp, đổ lỗi cho pháp, hoàn toàn không hợp lý, chẳng hợp tình chút nào. Từ
ngàn xưa, có pháp nào dạy, diễn giảng, chỉ bảo người mẹ phải thương yêu, chăm
sóc, lo lắng cho đứa con mình sinh ra thế nào đâu! Nhìn, hay nghĩ về thực thể sự
thể này, ai cũng nhận ra một điều, và đó là, cứ đối diện với sự thể, sự việc,
con người sẽ nhận biết, nhận thức, sẽ ngộ được nên thế nào. Pháp nào dạy cho
người mẹ thương con phải suy nghĩ ra sao, phải nhận thức thế nào mà nói pháp mạt
hay mạt pháp? Pháp là kết quả, thành quả của diễn trình suy nghĩ, suy tư, nghiệm
chứng, thực chứng được ghi chép lại. Tất nhiên, người ăn được ớt thì thấy ớt
ngon; kẻ không ăn được ớt mà lỡ nhai phải miếng ớt sẽ thấy thế nào, người trong
cuộc tự biết. Pháp thì cũng thế! Tin hay không, thực hành, thực nghiệm mới biết.
Đọc để mà đọc, đọc giết thời giờ, chỉ tự biến mình thành thùng rác!
Tuy nhiên, đâu phải phi
lý mà nơi Phúc Âm có câu, "Khốn thay cho các ngươi, Ký lục và Biệt phái giả
hình, vì các ngươi khóa Nước Trời chận người ta lại! Các ngươi sẽ chẳng vào đã
rồi, mà những kẻ muốn vào, các ngươi cũng chẳng để cho vào” (Mt. 23:13; Bản dịch
Nguyễn Thế Thuấn). Sở dĩ tôi nhớ chỉ vì câu này đã làm phiền tâm trí tôi mấy
tháng. Các ký lục và Biệt Phái là những người được học hành, đào luyện để thi
hành nhiệm vụ rao giảng lời Kinh Thánh, lề luật, hướng dẫn dân Chúa nhận biết,
tôn thờ, chính chủ thể sáng tạo vũ trụ và con người. Tại sao họ bị kết án nặng
nề vậy? Rao giảng Kinh Thánh thì không có gì được gọi là sai với đúng vì họ được
đào luyện với mục đích đó.
- 4 -
Nhân một hôm, thắc mắc
sao có thể áp dụng câu Phúc Âm, “Kẻ yêu cha mẹ hơn Ta không xứng với Ta” (Mt.
10:37). Tôi đặt vấn đề, nếu cho rằng, Phúc Âm là lời rao giảng của đức Giêsu, vậy
chẳng lẽ đức Giêsu khuyến khích người ta nên bất hiếu? Chính ngay luân lý còn
khuyên dạy chúng ta, “Ơn ai một chút chớ quên; phiền ai một chút để bên dạ
này,” mà Phúc Âm lại là lời Chúa sao khuyến khích chúng ta bất hiếu? Sao dạy
chúng ta đối nghịch với giới răn, “Thứ bốn, thảo kính cha mẹ?” Tôi chỉ đặt vấn
đề để phản biện, hầu có thể áp dụng lời dạy khôn ngoan trong cuộc đời của mình.
Chẳng rõ đã qua bao ngày
tháng, tâm trí bị phiền hà; vì câu nói nghịch thường này cứ luôn lởn vởn trong
tâm trí. Một hôm, nơi một bài nghị luận, tôi đọc được mấy câu Tục Ngữ, “Liệu bò
đo chuồng; liệu cơm gắp mắm,” “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng;” bình luận tới
lui, ngược xuôi, và nơi cuối bài viết, tác giả kết luận với câu Ca Dao, “Đầu
ngòi có con ba ba, kẻ gọi con trạnh, người la con rùa,” đầy vẻ chua chát, bất
mãn. Đại khái, tác giả nêu lên ẩn ý luân lý, cách sống, thái độ hàm chứa nơi Tục
Ngữ, Ca Dao, và phê bình cũng như cười cợt thái độ nhận biết theo nghĩa từ
chương của những vị mang danh học giả, học thiệt, mình đầy kiến thức nhưng chẳng
khác chi những con vẹt thiếu bộ óc người, cho rằng Tục Ngữ, Ca Dao là sản phẩm
của giới bình dân chẳng khác gì kẻ tuyên truyền con ba ba là con trạnh hay con
rùa.
Tất nhiên, là người Việt,
ai không hiểu câu, “Liệu bò đo chuồng” nào nói chi đến bò hoặc chuồng bò; cũng
như, “Liệu cơm gắp mắm,” đâu mắc mớ gì tới mắm, tới cơm, hoặc, “Ăn trông nồi,
ngồi trông hướng,” chẳng liên hệ tới ăn, tới nồi, phương chi ngồi và hướng. Thế
nên, tác giả kết luận một số người mang học vị này nọ, thiếu suy nghĩ, nghiệm
chứng nên rao truyền, tuyên truyền điều mình không biết bằng câu Ca Dao nói lên
cảnh nực cười, thiếu hiểu biết.
Suy nghĩ, phân tích một
chút, tôi nhận thấy Tục Ngữ, Ca Dao trình bày theo kiểu ám định, nói đàng nọ, ý
chỉ đàng kia, chẳng khác gì, “Sấm đàng đông, động đàng tây; tuy rằng nói đấy
nhưng đây động lòng.” Tục Ngữ, Ca Dao dùng sự vật, sự việc bình thường, dân
quê, ám định về thái độ, cách ăn, nết ở, phương cách sống, của một người nơi
phương diện luân lý, đạo đức xã hội; chẳng hạn, “Khôn ngoan ở chốn nhà bay; dù
che ngựa cưỡi, đến đây cũng hèn.” Câu lục bát khuyên nhủ về thái độ, cách liên
hệ trong cuộc sống của một người nơi đồng đất lạ.
Thế lời kết án nơi Phúc
Âm ám chỉ về điều gì nơi công việc rao giảng, cầm cân nảy mực theo lề luật của
giới ký lục và Biệt Phái, mà nặng nề, thâm trọng qua phát biểu, “Khốn cho các
ngươi?” Có lẽ không còn lối nói nào nghiêm trọng hơn? Tôi được dạy, “Thiên Chúa
yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải
chết, nhưng được sống muôn đời” (Gioan 3:16); trong khi chính đức Giêsu lại nặng
nề kết án những người mang nhiệm vụ, rao giảng, truyền bá lời Chúa nghiêm trọng
như thế? Nơi phương diện nào, cách nào, sự rao giảng trở thành, “Khoá cửa Nước
Trời không cho thiên hạ vào?” Phỏng, bằng cách diễn giảng, diễn nghĩ, giải
thích, giải nghĩa, rao giảng con ba ba thành con trạnh hay con rùa!
Ah, kể ra tôi cũng khá
thông minh, nhờ suy nghĩ, đặt vấn đề, so sánh, dẫn tới nhận định, nên đã có thể
biết được lý do, nguyên nhân tại sao ký lục và Biệt Phái bị lên án một cách
thâm trọng như thế. Lời Kinh Thánh nói ám định về tâm linh, về tâm tình, nhận
thức, diễn trình suy tư, nơi tâm trí con người. Các ký lục và Biệt Phái diễn dịch,
giảng giải theo nghĩa từ chương dưới quan điểm luân lý, đạo đức nhân sinh, thế
tục. Làm sao chấp nhận kẻ bất hiếu có thể là người công chính trong khi giới
răn dạy, “Thảo kính cha mẹ.” Vậy thì, “Kẻ yêu cha mẹ hơn Ta” mang nghĩa gì, ám
định điều chi nên được cho là, “Không xứng với Ta?”
Nơi Ca Dao có câu, “Yêu
ai, yêu cả đường đi; ghét ai, ghét cả tông chi, họ hàng;” hoặc, “Yêu nhau, cau
bảy bổ ba; ghét nhau, cau bảy bổ ra làm mười.” Yêu thương thuộc tâm linh, tâm
tình, nhận thức, tâm cảm, tâm trí, được tỏ bày bằng thái độ hiến thân, theo đuổi,
suy nghĩ, tư duy, ước muốn, ý định, ý nghĩ, tham vọng, ước mơ, dồn hết năng lực
lệ thuộc, hay phù trợ đối tượng. Dĩ nhiên, một người ước mơ, ham muốn, hay có
tham vọng về điều gì thì sẽ dồn hết năng lực, tài lực, đam mê để đạt thành, thực
hiện điều đó. Hèn chi Phúc Âm cũng có câu, “Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng
anh ở đó” (Mt. 6”21). Tự xét lại lòng dạ mình, tôi thấy câu nói không chỉ về
gia sản hoặc tài lực mà kho tàng ở đây có nghĩa ước muốn, ước mơ, ý định, tham
vọng. Bởi đó, câu này cần được hiểu là, “Ước muốn, ý định, hay tham vọng của
anh ở đâu, thì lòng dạ anh ở đó.” Từ sự nhận thức này, câu, “Kẻ yêu cha mẹ hơn
Ta, không xứng với Ta,” có nghĩa “Kẻ có ý định, ước muốn bất cứ điều gì hơn Ta,
không xứng với Ta.” Câu nói về diễn trình suy nghĩ, suy tư, diễn trình tâm thức,
nhận định, nhận biết về Thiên Chúa. Hèn chi Phúc Âm có câu nói mang đầy vẻ kỳ cục,
nghịch thường, “Hãy coi chim trời. Chúng không gieo, không gặt, không thu tích
vào lẫm, và Cha các ngươi, Ðấng ở trên trời nuôi nấng chúng! Các ngươi không
hơn chúng sao?” (Lc. 6:26). Không suy nghĩ, nghiệm chứng, nghiệm xét sẽ rơi vào
trường hợp, “Chân thành, năng nổ, nhưng thiếu hiểu biết chỉ là phường phá hoại,”
bị lên án không oan chút nào. Nơi trường hợp cá nhân, không suy nghĩ, chỉ nguy
hại cho chính mình. Nếu đứng trong vị thế rao giảng, tai hại muôn người; thay
vì khuyến khích người ta suy nghĩ để thăng tiến nhận thức lại chôn vùi nhân
sinh nơi vòng luẩn quẩn thế tục bị nhà Phật gọi là vô minh.
Tôi phải suy nghĩ để nhận
định điều gì, sự thể, sự việc nào cần được chú ý và cần được áp dụng ở phương
diện, trạng thái nào nơi cuộc đời mình? Cuốn Lão Học Tinh Hoa thách đố nghiệm
chứng, suy tư câu “Người biết không nói; kẻ nói không biết.” Bỏ lối suy nghĩ hữu
vi, đối đãi, theo quan điểm luân lý, đạo đức nhân sinh là suy nghĩ thế nào?
Hành Trình về Phương Đông nêu lên thực thể, quyền lực hiện hữu tối thượng đang
hiện diện và hoạt động nơi mọi sự. Lục tổ Huệ Năng nơi nhà Phật đoan quyết, “Kiến
tính.” Cái Cười của Thánh Nhân diễu cợt, chê tôi thiếu suy nghĩ thâm trầm. Cuốn
Quân Vương khuyến khích nên suy nghĩ, nhận định, và tính toán cặn kẽ từng
phương diện hầu nhận biết phương cách nào nên thực hiện khi đối diện với những
biến chuyển của cuộc sống. Những Bí Ẩn của Cuộc Đời thách đố tôi nhìn lại để nhận
biết khả năng nơi mình ra sao và nên có thái độ sống thế nào, nhưng sao có thể
biết? Sáu Cửa Thiền Thất đòi hỏi suy tư, dùng hoạt động tâm tưởng để nhận thức
thực thể thực sự mình là ai.
Tôi đọc sách rất nhanh
nhưng mấy ngày này lại càng lúc đọc càng chậm. Đọc chậm vì vừa đọc vừa suy nghĩ
hầu nhận biết những điều được nêu lên trong những trang sách nói gì, ám định gì
về diễn biến suy tư hoặc tâm trạng nơi tôi. Tôi đọc sách, nhưng thực ra, tôi
đang quan sát những hiện trình, đang đối diện với tâm trạng, sự thể thực tại
nơi mình ở phương diện nào đó. Thời gian vùn vụt trôi; mới đó mà đã trưa, chưa
kịp phân định liên hệ nhân duyên và nhân quả thì chiều đã ập tới.
Tại sao lại có quan niệm
duyên chỉ là gặp gỡ, nợ mới nên vợ chồng. Duyên hợp thì phát sinh sự việc, sự
thể; duyên tận thì mọi sự tan; vậy nợ ở đâu ra. Luân hồi bắt nguồn từ bất tử; nếu
mọi sự đều do duyên hợp tan thì sao có bất tử. Như vậy, lý thuyết nhà Phật chỉ
nói về biến chuyển của sự vật, sự thể. Luân hồi gốc gác từ Ấn học, bởi Atman là
một phần của Brahma, bất tử, nên mới có hành trình thăng tiến nhận thức qua tái
sinh, luân hồi. Nhà Phật không có tái sanh; đạo Phật mượn tạm luân hồi, tái
sanh bên Ấn học dưới quan điểm luân lý, đạo đức nhân sinh và tâm lý e sợ khổ ải
hữu vi trong diễn trình quảng bá, triển dương tôn giáo. Ôi cái tội độc nhất vô
minh Đạt Ma sư tổ mệnh danh sao mênh mông thế! Càng quảng bá, càng vô minh,
thay vì khuyến khích con người suy nghĩ hầu phát triển nhận thức, người ta lại
cứ ngăn chận, ăn cướp cơ hội của chúng sinh bằng cách rao giảng, nhồi nhét quan
niệm luân lý, đạo đức hữu vi, nhân sinh, hèn chi bị Phúc Âm lên án.
Chiều nay tôi định nấu phở
nên buổi sáng đi chợ, mua miếng sườn heo nhỏ, miếng thịt bò, nếu ông Tầm muốn
ăn phở tái. Ghé qua hàng rau rợ, mua ít giá, nơi vườn nhà đã có ngò gai, húng
quế, ngổ (ngò ôm), tía tô ta, tía tô Nhật. Tôi không quên vô tiệm thuốc bắc mua
một gói ngũ vị hương tán nhỏ để pha vô nước nấu phở và một đơn Mai Quế Lộ.
Không thích hầm xương bò vì vừa mất giờ canh chừng, vừa tốn củi lửa. Phi hành,
tỏi, tôi nấu phở bằng sườn heo và đùi gà, nước trong, ngọt, nhẹ mùi, chỉ cần
thêm gừng, hành tây, và chút ngũ vị hương bỏ trong túi vải, nấu thêm chừng vài
phút rồi lấy ra tránh quá nặng mùi, dễ ăn hơn. Như vậy, nước phở chỉ cần 30
phút là xong. Sở dĩ tôi cân thêm một đơn Mai Quế Lộ vì cần có thời gian ngâm với
một lít rượu đế mới có thể dùng được. Phần nước cho hai tô phở chỉ cần một muỗng
canh Mai Quế Lộ, hương thanh, nhẹ, dễ chịu hơn mùi nặng nề của xương bò với ngũ
vị hương. Lá số của tôi, cung mệnh ở Ngọ có Đào Hoa, Bác Sĩ, Lộc Tồn, tam hợp với
Hồng Loan, Thiên Không, Địa Kiếp tại dần; nhị hợp có Thiên Trù nên thích ăn
ngon, do đó nấu ăn cũng không đến nỗi tệ. Tuy nhiên, độc ẩm lại là điều tối kỵ,
chỉ chán chường, thành ra muốn nghiện rượu cũng khó.
Nơi cuốn thứ năm của bộ
Life and Teaching of the Masters of the Far East nêu lên diểm, “Hãy nhận biết
chính mình” (Know yourself). Ngày trước, khi đọc bản tiếng Anh, tôi đã không để
tâm suy nghĩ về điểm bình thường của mọi người, và đó là chúng ta thường tự giới
hạn chính mình trong sự nhận biết, nhận thức thực thể hiện hữu hữu vi của con
người. Chúng ta thường nghĩ hoặc thường cho rằng mình biết rõ về mình trong giới
hạn hiện hữu nhân sinh, cuộc sống xác thân; do đó khi đọc thấy công án “Tôi là
ai,” cũng như hầu hết độc giả, tôi nghĩ rằng không ai có thể biết về tôi hơn
chính tôi, nên coi thường điều “Know yourself” nêu lên, gốc gác thực thể hiện hữu
của con người chính là thực thể tâm linh. Nơi Công giáo gọi là linh hồn; nhà Phật
gọi là Tính, hèn chi lục tổ Huệ Năng chỉ thúc đẩy “Kiến Tính.” Nơi Sáu Cửa Thiền
Thấtđược ghi, “Kinh Niết Bàn lại nói: Tất cả chúng sanh đều có tánh phật, chỉ
vì vô minh che lấp nên không giải thoát. Tánh phật ấy, tức ’tánh giác’ ấy vậy.”
(SCTT; Trúc Thiên dịch; Phật Học Viện Quốc Tế; CA, USA; Tr.43). Nơi khác, Sáu Cửa
Thiền Thất. Cũng ghi, “Tâm ấy không lìa ngoài cái xác thân bốn đại. Nếu lìa tâm
ấy tức không còn vận động gì được, vì đó là thân vô tri, khác gì cây cỏ, ngói gạch”
(Tr. 131). Tôi là ai? Linh hồn tôi là gì, liên hệ với xác thân và cuộc đời tôi
thế nào, sao có thể minh chứng tôi có linh hồn? Đặt vấn đề là một chuyện; suy
nghĩ là một chuyện khác; thực chứng, minh chứng, nghiệm chứng lại là điều không
thể thiếu cho nhận thức. Xưa nay, tôi vẫn hãnh diện mình đọc sách nhiều, biết
nhiều, hiểu lắm, nhưng quả thật vô bổ, vì đã không suy nghĩ nên không nhận biết
thực thể mình thực sự là gì! Linh hồn mình là cái chi!
Và đã một tuần trôi qua,
tôi chỉ mới đọc được 7 cuốn sách, quả là quá lầm lẫn khi đã nghĩ, chỉ cần một
tuần có thể đọc hết mọi quyển. Không lạ gì đã có lời khuyên chỉ cần đọc một cuốn
sách, ngược lại cũng có câu, “Tận tín ư thư bất như vô thư,” đọc sách mà tin
vào sách thà đừng đọc (Mạnh Tử). Hai phát biểu đối nghịch khuyên hai loại độc
giả. Chỉ cần đọc một cuốn sách nói lên thái độ tâm trí của người nghiệm chứng,
suy nghĩ, chứng nghiệm những điều tác giả tâm huyết viết ra trong cuộc đời mình
để nâng cao, phát triển nhận thức. “Tận tín ư thư bất như vô thư,” khuyên những
ai đọc sách chỉ hiểu theo nghĩa từ chương, hữu vi, thiếu kiểm nghiệm. Hèn chi
nhà Phật ghi lại lời khuyên của Thích Ca, “Chớ vội tin những lời ta nói. Vội
tin những lời ta nói mà không nghiệm chứng tức là khinh ta.” Thực ra, khi đã thực
chứng hoặc nghiệm chứng rõ ràng thì có gì mà phải tin.
Đọc sách, tin hay không
thì ích lợi hoặc thiệt hại gì chẳng biết, mới chỉ một câu nơi đầu cuốn Lão Tử
Tinh Hoa đã đủ làm cái đầu tôi quay quay suốt cả tuần lễ. Tin làm sao với câu
nói ngang ngược, “Kẻ nói không biết?” Đã không biết sao có thể nói! Chứng cái
gì, nghiệm cái gì nếu không biết! Tới lúc đụng đến cuốn Đạo Đức Kinh, tôi mới
tá hỏa. Nơi mục, “Những bản dịch sách của Lão Tử,” cụ Nguyễn Duy Cần viết, “Một
học giả người Âu có khuyên ta cách đọc sách Lão Tử như vầy, quan trọng nhất
không phải những gì trong sách ấy nói với mình, mà là những gì trong sách ấy đã
khêu gợi được nơi lòng mình” (Đạo Đức Kinh; Quyển 1; ND Cần; Xuân Thu; TX, USA;
năm?; Tr. 13). Đồng thời nói về bản dịch, cụ thêm, “Vì vậy, chú giải của các học
giả Trung Hoa, Nhật Bản từ xưa đến nay rất nhiều mà phần đông không giống nhau;
mỗi nhà mỗi hiểu một cách. Các bản dịch của các học giả Âu châu cũng rất nhiều,
riêng bản dịch bằng Pháp văn, theo H. Maspéro, có trên 60 bản, nhưng không bản
nào giống bản nào cả. Mỗi người mỗi dịch theo sự hiểu biết của mình” (ĐĐK;Tr.
14).
Hèn chi có câu nói, “Dịch
là diệt.” Không hiểu diệt ngôn từ hay diệt ý? Khổ nỗi, tôi lại không biết chút
gì về chữ Nho, chữ Hán. Nhưng, “Những gì trong sách ấy đã khêu gợi được nơi
lòng mình” là thế nào? Lúc đang đói, sách diễn tả về một món ăn tuyệt vời, chỉ
làm đói thêm, đói chảy nước miếng. Gợi được nơi lòng mình. “Người biết không
nói; kẻ nói không biết” gợi nơi lòng mình điều chi? Gợi nơi lòng mình trong trường
hợp nào, trạng thái nào khiến người biết không nói; kẻ nói không biết? Tại sao
biết lại không nói? Tâm trạng nào bị cho là nói mà không biết? Ah, khi đang
đói, nghe giải thích về sự bổ ích, hương vị tuyệt vời của món ăn nào đó chỉ làm
phiền hà đến tâm trạng của người nghe. Người nói càng nói thì càng chỉ khiến
người nghe khùng lên vì đói; bởi những lời giải thích không thể làm giảm cơn
đói. Những lời giải thích về thực phẩm vô bổ, không giúp ích gì để giảm bớt cảm
giác đói bụng của người nghe. Người nói biết điều mình nói nhưng không cảm nhận
được cái đói của người nghe. Vậy là sao, nói điều mình không biết! Kẻ nói không
biết. Chứ sao lại “Người biết không nói?”
Câu ngang ngược này vẫn cứ
làm phiền tâm trí, khiến tôi suy nghĩ lung tung, mà càng suy nghĩ thì chỉ càng
rối thêm. “Nên chỉ đọc một cuốn sách!” Mới chỉ một câu đã muốn khùng lên rồi,
sao dám nói chi đến một cuốn. Xưa nay, nay xưa, nào có bao giờ đầu óc tôi bị rối
tung như thế này đâu. Mà không hiểu sao, cái câu nghịch thường, không nói,
không biết này, cứ như quỷ ám, ma đùa, miên man làm phiền, hết đeo đẳng ban
ngày, lại còn khuấy động cả ban đêm, chẳng những khi nấu ăn, tưới rau, mà ngay
cả lúc đọc sách cũng không tha khuấy động.
Phỏng tôi bị tổ trác? Câu
nói khích động tôi suy nghĩ nhưng kiến thức đã chẳng giúp ích gì. Nghiệm chứng,
thực chứng là thế nào. Trường hợp, trạng thái nào được gọi là “Kẻ nói không biết.”
Không biết thì sao có thể nói. Nơi chương 25 lại còn được viết, “Đi xa là trở về.”
Đi đâu là xa nhất, trở về là trở về đâu? Cái gì đi, cái gì trở về? Nơi Công
giáo có quan niệm “Trở về với Chúa,” cái hồn trở về, cái xác đem chôn. Như vậy,
đi xa nhất là chết, chẳng bao giờ còn có thể gặp lại, và cái hồn trở về với
nguyên bản. Câu nói nơi Đạo Đức Kinh, nửa nói về hữu vi, nửa nói về tâm linh.
Ah, hèn chi các vị học giả Đông, Tây, kim, cổ, hiểu khác nhau nên dịch khác
nhau. Các vị ấy chỉ dịch theo tri thức, kiến thức hữu vi, thiếu nghiệm chứng,
nên bỏ quên phần tâm linh.
“Kiến tính thành phật.”
Kiến, hành động hữu vi; Tính, thực thể tâm linh, linh hồn. Kiến là thị kiến, là
gặp gỡ, là đối diện, nhận thức. Linh hồn, Tính, là gì? Cho đến nay chưa sách vở
nào có thể nói tới; những nhà khoa học cũng hình như cố giả đò lãng quên để rồi
cũng như mọi người chấp nhận có linh hồn, nhưng chẳng thể nói được gì về nó, chẳng
thể minh chứng linh hồn là gì, hình dáng, màu sắc ra sao, nặng nhẹ thế nào. Phỏng
những tác giả, dịch giả viết về “Tính” họ đã kiến chưa? Nếu đã kiến thì viết
làm chi? Viết để giúp người khác ngộ. Còn giúp, còn muốn giúp thì vẫn là dục;
mà vị phật thì không muốn, không ước chẳng khác gì nơi Đạo Đức Kinh, “Thiên địa
bất nhân, Dĩ vạn vật vi sô cẩu; Thánh nhân bất nhân, Dĩ bách tính vi sô cẩu.”
(ĐĐK; chương 5); đất, trời, không hề tư vị ai; cấy rau vào lúc nắng thì mất ăn;
phơi lúa ngay khi trời đang mưa thì thiệt luôn cả giống; dốt đành rán mà chịu.
Ah, cái Đạo, được gọi là trời, đất này ngang ngang, ngửa ngửa, giống như Thiên
Chúa nơi Thánh Kinh, chẳng khác chi phật nơi nhà Phật, không tư vị ai, chẳng
giúp đỡ ai. Kinh Kim Cang có nói, "Các ông chớ bảo Như Lai khởi nghĩ thế nầy:
Ta sẽ độ chúng sanh. Nầy Tu Bồ Đề, chớ khởi nghĩ thế ấy. Vì cớ sao? Thật không
có chúng sanh Như Lai độ đó. Nếu có chúng sanh Như Lai độ đó thì Như Lai ắt có
ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả" (Kim Cang Giảng Luận; Tr. 241). Nơi Kinh
Thánh Tân Ước được viết, “Vì Người cho mặt trời mọc lên trên kẻ dữ và người
lành, và làm mưa trên người ngay và kẻ ác” (Mt. 5:45). Thế sao các vị rao giảng,
truyền bá nơi tôn giáo lại cứ hùng hồn khuyên nhủ, cầu nguyện, cầu xin, khấn hứa.
Không đúng, khấn chứ không hứa, bởi nếu đã hứa thì phải tuân giữ lời hứa.
Tại sao câu, “Thượng thiện
nhược thủy; thủy thiện lợi vạn vật,” được cụ Nguyễn Duy Cần dịch là, “Bậc thượng
thiện giống như nước; nước thì hay làm lợi cho vạn vật mà không tranh.” Nơi cuộc
đời, ai dám cả gan tung hô bất cứ ai là thượng thiện. Thượng thiện là bậc thiện
trên hết mọi sự thiện là Thượng Đế, là Tào, là Ông Xanh, là Thiên Chúa, là Chân
Như. Thế nên, “Thượng thiện nhược thủy” nên được dịch là, Tào như nước hiện diện
mọi nơi, nuôi dưỡng vạn vật. Ngay như dịch “Tào” thành “Đạo” để rồi lại dịch
thành “The Way,” và nơi ngôn ngữ Việt lại được chuyển nghĩa Đạo thành đường.
Ôi, dịch hay diệt tùy thuộc nhận thức của dịch giả. Nước là căn bản sự sống;
không khí cũng chứa nước; đá lạnh ứa nước; đốt củi cũng ứa nước; như vậy câu
Tào như nước thường đã bị hiểu sai nên cũng thường dẫn đến nhận thức không chín
chắn. Nếu hiểu câu Tào như nước mang nghĩa Thượng Đế ở khắp mọi nơi, thì Thượng
Đế chính là quyền lực hiện hữu nơi mình, nơi vạn vật. Riêng câu, “Phù duy bất
tranh, cố vô ưu,” được dịch là, “Vì không tranh, nên không sao lầm lỗi” (ĐĐK;
Tr. 50). “Vô ưu” sao lại dịch là không lầm lỗi. Nhiều tác giả cho rằng Đạo Đức
Kinh là sách dạy cho con người sống theo chân, thiện, nhẫn, nhưng tại sao từ
ngàn đời đã có câu, “Làm bạn với vua như chơi với hổ?” Cuộc đời này thiếu gì
trường hợp rơi vào cảnh bị làm chốt thí. Tranh đua cũng phiền, không tranh cũng
chẳng yên, chẳng khác gì về già, cố tránh, không muốn bệnh cũng chẳng thoát. Nếu
cho rằng, “Phù duy bất tranh” mà thoát được bệnh, lão, tử, bất chấp Tào như nước
đục, dơ, thì còn có lý hơn là “Không sao lầm lỗi.”
Sao đầu óc tôi suy nghĩ
lung tung thế này, đã không thấy gì sáng sủa hơn mà lại cứ rối như mớ bòng
bong. Tác giả viết thế nào là chuyện của họ, mắc mớ chi đến mình; bởi mình có
phải là nhà phê bình đâu. Tôi tự hỏi, thầm diễu với chính mình, vì cho rằng tôi
là thứ học thiệt chứ không phải học giả. Nhưng trong lòng, tôi cũng phải thậm
phục quý tác giả, dịch giả, phê bình, giải nghĩa gia. Bởi cho dù họ đưa ra hoặc
nêu lên những vấn đề gì, phù hợp với suy nghĩ của mình hay không, hoặc mình
chưa hiểu tới, họ cũng đã tốn công sức, năng lực, và kiên nhẫn trình bày. Đúng
hay sai, hợp hay không hợp đều là phương tiện hay cơ hội cho tôi suy nghĩ để
thăng tiến thêm nhận thức; thế nên, cần và phải tâm cảm ghi ơn họ.
Mục đích đọc sách của tôi
theo như ông Tầm đề nghị, đó là nghiệm chứng những gì có thể nơi sách trình
bày. Thiển nghĩ, loại sách này, chẳng hạn, Đạo Đức Kinh, đã bao ngàn năm thống
trị tâm não con người, và mới chỉ một câu, “Người biết không nói, kẻ nói không
biết” mà tôi vẫn còn ngắc ngứ, coi chừng sống để dạ, chết đem đi, thì dám nói
chi tới cả cuốn sách, hơn nữa, còn cả lố sách đang đợi chờ. Hừ, xưa nay, tôi
nghĩ mình cũng ngon lành lắm; thế mà mới chỉ có một câu, cả tuần vẫn như gà nuốt
dây thung, muốn nuốt vô, nuốt chẳng được, muốn nhả ra, chỉ thêm tắc họng. Từ
nay, chừa cao ngạo. Người ta nói, “Cao nhân tắc hữu cao nhân trị;” nơi trường hợp
của tôi, chỉ một câu nói ngang ngược đã hạ tôi đo ván. “Người biết không nói;
người biết không nói.”
Lơ mơ phảng phất, tôi cảm
nhận hình như Đạo Đức Kinh nói về sự thể nào đó nơi tôi, nhưng thường được tác
giả cho rằng những câu nói ám định về sự thể nào đó, của Tào (Đạo), của thánh
nhân, thánh trí, hay của bậc hiền giả trị nước, hoặc nên có thái độ với đời.
Qua những bàn luận, nghị luận, tác giả dùng nhận định của những vị danh nhân
khác để phù trợ quan điểm của mình về đối tượng là Đạo (Tào). Chẳng hạn, cho rằng
câu, “Thượng thiện nhược thủy” nói về “Bậc thượng thiện giống như nước” và thế
là tác giả phân tích, phân cốc tính chất của nước để áp đặt vào đặc tính nên có
của bậc thánh trí, “Tánh của nước là yếu mềm, gặp chỗ trống thiếu thì chảy vào,
gặp chỗ đầy dư thì chảy ra, lánh cao mà tìm thấp, ngày đêm chảy mãi không ngừng
để lấp đầy những gì trống trên mặt đất. Nó là tượng trưng thực hiện luật quân
bình của trời đất” (Tr. 68).
Giời! Sao không nói tánh
của nước bao gồm cả sự độc ác; khi trời nóng đổ lửa thì trốn biệt, chẳng biết
thương xót cho sự khổ ải dưới ánh nắng gay gắt của mặt trời mà đổ mưa khiến người
và vật thoải mái, cho phù hợp với câu, “Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu.”
Ah, đặt vấn đề như thế, tôi lại thấy mình rơi vào bẫy bình luận, phê bình, nhận
định, bình giải của tác giả. Nhưng cũng chính thái độ hung hăng con bọ xít này
khiến tôi hiểu được câu Phúc Âm nghịch thường, “Kẻ yêu cha mẹ hơn Ta, không
đáng là môn đệ Ta” (Mt. 10: 37). Trong khi suy nghĩ, nghiệm xét, bất cứ tư tưởng,
nhận định nào xía vô, chẳng nên dõi theo kẻo lạc đường. Điều chính yếu phải là
nhận biết diễn tiến nhận thức nơi mình, nhận biết tâm trạng mình đóng vai trò
nào nơi sự thể đang được nhắc tới. Xin cảm ơn lời bình chú về nước của tác giả,
và cũng cảm ơn lầm lỗi chẳng nên có khi đọc sách nơi mình.
Nơi phần “Tựa” của cuốn
Trang Tử Tinh Hoa, câu đầu tiên, cụ Nguyễn Duy Cần phát biểu, “Văn minh mà
thiên hạ ngày nay đang tôn sùng và theo đuổi là một thứ Văn Minh lượng, lấy sự
‘tiến bộ’ làm lý tưởng; còn văn minh của Trang Tử chủ trương là một thứ văn
minh phẩm, lấy sự tận thiện làm lý tưởng” (TTTH; ND Cần; Đại Nam; Glendale, CA,
USA; năm?; Tr. XI). Thế mà nơi trang 86, cụ nêu lên nhận định, “Quan niệm của
ông (Trang Tử) về vũ trụ như thế nào? Theo Trang Tử, có một cái Chân lý tuyệt đối,
vô hạn, toàn mãn, tức là cái sống chung của trời đất; cái sống ấy gọi là Đạo. Bất
kỳ là vật nào trong trời đất đều có cái Đạo ấy ở trong gọi là Tánh. Hay nói một
cách khác, Tánh ấy cùng với Đạo là một thể. ‘Thiên địa dữ ngã tịnh sinh; nhi vạn
vật dĩ ngã vi nhất” (TTTH; Tr. 86). Quan niệm này gợi lại nơi tâm trí tôi câu
Phúc Âm, “Ta là đường, là sự thật, và là sự sống” (Gioan 14:6). Trong khi nơi
“Lời Nói Đầu,” cụ Nguyễn Duy Cần nhắc nhở, “Đọc Trang Tử cũng như đọc Lão Tử,
‘điều quan trọng không phải ở những gì các sách ấy nói với ta, mà là ở những gì
các sách ấy đã khêu gợi được nơi ta” (TTTH; Tr. XVII). Nói như vậy, cụ ND Cần
vô tình đã rơi vào trường hợp, "Khốn thay cho các ngươi, Ký lục và Biệt
phái giả hình, vì các ngươi khóa Nước Trời chận người ta lại! Các ngươi sẽ chẳng
vào đã rồi, mà những kẻ muốn vào, các ngươi cũng chẳng để cho vào!” (Mt.
23:13). Thử hỏi, tại sao không để cho “Những gì các sách ấy đã khêu gợi được
nơi ta” hoạt động, khêu gợi, mà lại giải thích, giải nghĩa theo quan điểm, nhận
định cá nhân của mình. Quái, tôi lại rơi vào cái tật hung hăng con bọ xít phê
bình, nhận định! Hãy tha thứ cho cái lỗi lầm xí xọn nơi tôi.
Có điều, theo cuốn Trang
Tử Nam Hoa Kinh, “Trang Châu, thường gọi là Trang Tử, ‘sống trong khoảng
369-298 trước Tây lịch kỷ nguyên;’” không hiểu quan niệm, nhận thức về Đạo có ảnh
hưởng gì tới quan điểm, nhận thức nơi Phúc Âm về Thiên Chúa chăng. Sở dĩ nơi
tâm trí của tôi nêu lên câu hỏi này vì đã bao năm, ngay từ thời còn nhỏ đã được
theo học dưới giáo dục của Công giáo, con đẻ của Phúc Âm.
Sáng sớm hôm nay, sau khi
đi bài quyền, tôi chạy bộ ra chợ thay vì đi xe đạp. Chạy bộ để hòa hợp nhịp chạy
với nhịp thở, trong khi từ từ hít vô, chạy 15 bước và thở ra cũng mười lăm bước
đến khi hết hơi. Ngày đầu, tôi chạy giới hạn 10 bước, sau ba ngày tăng lên, áp
dụng nguyên tắc ý dẫn khí, khí dẫn huyết, và huyết đến đả thông kinh mạch, đồng
thời áp dụng nguyên tắc hành thiền do lục tổ Huệ Năng đề xướng. Mới đầu, rất
khó định tâm, nhưng riết rồi, cặp mắt trở thành phương tiện nhận biết diễn biến
đang xảy ra trên đường cho đôi chân tiếp tục chạy và tâm trí để ý đếm nhịp bước
đồng thời điều chỉnh cho hòa hợp nhịp thở. Nói cho đúng, bên ngoài, người ta chỉ
thấy tôi lao đi như chiếc máy, tưởng tôi đang cố gắng tập thể dục; đâu ai biết
được tôi chạy nhưng tâm trí định nơi nhịp chạy sao cho hợp với nhịp thở.
Cách chạy cũng không giống
kiểu chạy bình thường. Mấy đầu ngón chân gần chạm đất thì khớp nơi mắt cá, đầu
gối, eo hông, toàn bộ thân xác tôi nhịp nhàng trong thế nhún của một cây cung
thuận chiều và đúng thời điểm dồn xuống thành thế bật, dùng đất làm điểm tựa để
bung đi. Mới đầu, cử động của hai cánh tay còn ảnh hưởng đến thế chạy, nhưng
sau này, khi đã thuần thục, hai cánh tay tự do hoạt động theo ý mình muốn. Nói
cho đúng, gọi là chạy nhưng chỉ là nghiêng thân để lướt đi trên mặt đất, nhịp
nhàng theo phản xạ toàn bộ của cơ thể.
Từ nhà tới chợ chỉ hơn
hai cây số, tôi chạy mất cỡ mười lăm phút. Tôi không thăng hoa chút nào; bởi nếu
đi bộ theo kiểu hướng đạo, bước những bước dài một đoạn rồi chạy xắp xắp một đoạn,
thì mỗi giờ đi được bốn cây số; nghĩa là mười lăm phút sẽ đi được một cây số.
Đàng này chạy theo kiểu búng người của tôi, hơn hai cây số, nói mười lăm phút
là quá khiêm nhượng. Tôi muốn chạy nhanh hơn nhưng có lẽ phải kiếm đường khác bởi
không muốn bị bất cứ ai chú ý, do mới đến đây hơn kém mười ngày, dẫu thường có
mặt ở chợ để mua thực phẩm trong những buổi sáng sớm. Có lẽ tốt nhất là dậy sớm
hơn nửa tiếng, còn nếu không, tới gần chợ cần chạy chậm lại, hoặc gặp chốn đông
người đành đi bộ. Mới thoáng nghĩ như thế khi vừa ngang qua ngã rẽ, chợt tôi
nghe tiếng gọi từ một đường nhỏ nối liền đường lớn gần chợ,
- Chú gì ơi.
Tưởng có chuyện gì tôi ngừng
chạy, đồng thời quay nhìn thì thấy cô bán cá rô lần trước đang cho xe đạp chậm
lại lên tiếng hỏi,
- Chú chạy đi đâu mà vội
thế?
- Tôi ra chợ mua đồ nấu
ăn mà.
- Thế sao chú chạy như bị
ma đuổi dzậy?
- Có chứ, có con me đảo
ngược. Tôi giở giọng láu cá.
- Con me nào mà đảo ngược?
Có lẽ nàng nghĩ tôi nói giọng bị ảnh hưởng dân miền Trung, nên nói ma thành me.
- Con me đảo ngược không
là em thì là ai ở đây!
- Chời, cái chú này, dzậy
mà cũng nói.
- Thế cô gọi tôi chuyện
chi?
- Em thấy chú chạy vội vã
như có chuyện gì gấp rút nên lên tiếng gọi mà. Thế xe đạp đâu mà chú hổng đi?
Lần trước, hơn tuần rồi
mua cá, nàng xưng “Tui” mà lúc này đã đổi thành em, nghe dễ thương ghê nơi! Máu
“Galăng” nổi dậy, tôi nói,
- Tôi chạy thể dục mà; xe
để ở nhà; chẳng lẽ vừa chạy vừa dắt theo xe.
- Thế mà em cứ tưởng có
chuyện chi gấp gáp khiến chú chạy thục mạng.
- Hôm nay, cô có chi bán
vậy?
- Em có mấy con trê, hai
con lươn và ít con rô. Chú mua cá trê hông? Nàng rời khỏi xe đạp, định mở hom
chiếc giỏ đặt lọt vô chiếc thau sắt cũ đã phai màu sơn dùng chứa cá để bán,
trong lúc miệng nói.
- Không đâu, trưa nay tôi
định ăn bò lúc lắc hoặc nem thính Bắc kỳ cùng với canh rau mùng tơi nấu tôm
khô, làm cho mau. Cá trê mà kho thì chiều hoặc mai mới ăn được.
- Hay chú lấy mấy con rô
về chiên, chấm mắm ớt tỏi cho phê, em để rẻ cho chú mà.
Chẳng lẽ lại sinh chuyện
giao tình sao, tôi nghĩ, mà cô nàng càng lúc càng trở nên thân mật với tôi hơn.
Với ý nghĩ đó, tôi ỡm ờ,
- Tôi không có tiền mua
cá đâu, chỉ có ít đồng mua rau và thịt. Cô có bán chịu không, nhưng dẫu có bán
chịu, tôi cũng không có tiền trả; bởi ngày nào được tính theo ngày nấy. Thôi
đi, cá rô chiên chấm mắm ớt tỏi đúng là tuyệt vời, nhưng cái túi của tôi không
cho phép.
- Thế vợ chú đâu mà chú cứ
phải đi chợ dzậy?
Ah, cô bé này bắt mánh
tôi lần thứ hai, hèn chi cứ cố nhì nhằng. Cô bé cứ đẩy sôi máu thanh niên trong
người, tôi thầm nghĩ, có nên gieo cho nàng chút niềm vui chăng. Tuy nhiên, hạnh
phúc nào không kèm theo đau khổ, niềm vui càng lớn thì nỗi thất vọng càng to; đời
người cái chi không phải trả giá. Tôi đâu có chút ý định nào lập gia đình nên nếu
giả đò ỡm ờ với cô ta chỉ tội thêm cho nàng mà chớ. Nhưng cái máu lãng đãng cứ
hùng hục trỗi dậy khiến tôi cảm thấy khó mà dứt khoát với lòng. Thanh niên gặp
em gái thuận mắt, ai mà không muốn xáp lại. Nơi trường hợp của tôi, cứ như mỡ để
miệng mèo, cố làm như con mèo mù vẫn cảm thấy mùi hương. Ai da, vận số đưa đẩy
nhưng tôi cảm thấy không có dịp may để đạt vận số dẫu tràn đầy cơ hội. Hình như
ý tưởng nào nổi lên trong tâm trí; có vợ chỉ đạt được dịp may một lần, nhưng mất
tất cả những dịp may với các nàng khác. Tuy nhiên, sự đời là thế, dẫu mất tất cả
dịp may với những nàng khác, vẫn còn hơn không có dịp may nào. Lập gia đình, được
cả đàng nọ lẫn đàng kia, nhưng có ở trong chăn mới biết chăn có rận; cuộc đời
nào có gì bỗng nhiên từ trời rơi xuống; chuyện gì cũng có giá của nó. Hạnh phúc
chỉ là niềm vui đuổi bắt, và khi bắt được rồi, niềm vui chẳng được bao lâu; mà
tâm tưởng đối diện với thực tại khổ ải thì kéo dài tới muôn đời, cho tới khi từ
giã kiếp sống coi chừng vẫn bị đeo theo. Những ý nghĩ thoáng qua trong tâm trí
khiến tôi thấy cảm thương cho cô bé mới lớn này, nên lã giã,
- Lần trước mua cá, tôi
đã nói rồi, tôi đâu có vợ, nghèo quá mà, nhất là vào thời buổi này, chạy ăn từng
bữa cũng sút mồ hôi thì còn nói chi đến vợ, đến đèo bồng. Dẫu miếng ăn sống qua
ngày cho chính bản thân còn chưa lo được thì lấy vợ rồi cho nó đi ăn mày nghe
sao được.
- Thế gia đình, ba má chú
đâu mà không dzìa với họ?
- Chời, tôi thầm nghĩ, cô
em này điều tra lý lịch tôi kỹ quá, chẳng lẽ “khớp con ngựa ô,” nên chấm điểm
tôi rồi chăng. Tôi thở dài, nhẹ nhàng nói, ra bộ tâm sự, nhà tôi đông anh em lắm,
gia cảnh lại cũng chẳng khấm khá chi. Có được hơn mẫu đất thì ngày ngày cúi mặt
xuống đất, lưng bán cho trời. Tôi có về nhà chỉ thêm gánh nặng trong thời buổi
gạo châu củi quế này mà thôi, nên lang thang kiếm sống cho qua. Thôi, cô ra chợ
kẻo trễ bán không được giá. Tôi cũng phải về lo vài chuyện cho xong.
- Hay chú lấy mấy con rô
về chiên ăn, em không tính tiền đâu. Nàng rút bao nylon mỏng đựng cá.
- Không được, tôi dứt
khoát. Tôi không muốn ăn cướp hoặc ăn xin. Theo như lần trước, tôi biết, cá này
là do tía cô đặt lờ, công lao, mồ hôi, sức lực của ông đổi lấy. Cô không được
đem cho tầm bậy tầm bạ như thế.
- Em… em…, giời, thái độ
em tình ghê nơi.
- Em ún gì, mau lo đi bán
hàng kẻo trễ.
Tôi quay ngoắt chạy ra chợ.
Thầm nghĩ, cái số đào hoa của mình chỉ khiến lòng thêm đau lòng. Thanh niên mà,
nhưng sao tôi chưa bao giờ cảm thấy cần một người đàn bà bên cạnh dẫu thời đi học,
đi lính nghĩa quân và cả bây giờ. Dĩ nhiên, đàn ông thích đàn bà, và đàn bà
thích đàn ông là chuyện cần có, phải có, và nên có. Nhưng, cái ước mơ gì đó nơi
tôi quá mạnh cho dù chẳng biết nó ra sao, là gì, chỉ cảm thấy tôi phải làm gì.
Nhớ lại thái độ cô nàng
thật cuốn hút và đễ thương khi muốn cho tôi cá và bị thẳng thắn chối từ. Ah,
nàng thích tôi, nàng biết nàng thích tôi nhưng không nói lên được. “Người biết
không nói.” Ưh, người biết nhưng không thể nói, không nói ra được. Câu nói nơi
Lão học này chỉ về trạng thái, tâm trạng chứ không nói gì tới thái độ hữu vi,
nhân sinh. Hèn chi biết bao người, nghiệm chứng nó theo nhãn quan hữu vi đã chẳng
bao giờ nhận thức được. Lòng tôi như mở hội. Thế còn, “Kẻ nói không biết.”
“Vì vậy, trở ngại lớn lao
nhất trên con đường giác ngộ và giải thoát là tập quán tư tưởng, tức là lối suy
nghĩ, hay phê phán theo một khuôn khổ hệ thống nào” (TTTH; Tr. 197), nghĩa là
sao? Suy nghĩ theo khuôn khổ, thế nào là suy nghĩ không theo khuôn khổ? “Tiếng
hát hay, không sao lọt được vào tai bọn dân quê: hát líu lo, bậy bạ vậy thôi mà
chúng nao nức vui mừng. Thế nên, lời nói cao không thể vào được nơi lòng thế
nhân. Lời hay không thể nói ra được là vì lời thô rất nhiều, và đầy lấp cả
thiên hạ, và đã được bè đảng ủng hộ, phụ họa” (TTTH; Tr. 213).
Suy nghĩ theo một khuôn
khổ, hệ thống; lời cao không thể vào được nơi lòng thế nhân. Lời hay không thể
nói ra được, là sao? Thế nào là tiếng hát hay, thế nào là lời cao? Có nhận định
về âm nhạc, “Nghe thấy hay thì nó hay, không có âm nhạc dở.” Tiếng hát hay rung
động cõi lòng! Không, lời hát đánh động lòng người chứ không phải tiếng hát. Lời
hát đi vào lòng người. Lời nói cao, thế nào là lời cao hay thấp? Cao thấp của lời
nói tùy thuộc ý nghĩa, sự thể lời nói chứa đựng, không phải tùy thuộc ngôn từ.
Ngôn từ văn hoa hay không chứ không có cao thấp.
“Kẻ nói không biết” cao,
thấp nơi tính chất, ý nghĩa, trạng thái nào. Tiếng hát hay không lọt vào tai thế
nhân; lời hát đi vào lòng người. Kẻ nói không biết sao có thể lọt vào lòng người.
Kẻ nói không biết, hay bị cho là không biết? Tiếng hát hay không lọt tai thế
nhân nên bị cho là hát dở. Người nói điều không quen sẽ bị cho là ngang, là
khùng. Kẻ nói không biết.
Suy nghĩ tới lui, tôi chợt
nhớ vào năm 1965, tin Apolo đưa người Mỹ lên mặt trăng tràn ngập trên báo chí
và ra rả nhắc đi nhắc lại nơi đài phát thanh được nghe qua radio. Có một bà cố
(mẹ của một linh mục) cứ lẩm bẩm, dám vượt quyền Thiên Chúa. Ah, đức Giêsu bị kết
án là phạm thượng vì dám xưng mình là con Thiên Chúa. Tại sao những câu, “Thiên
Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài” (Khởi Nguyên, 1:27), “Anh em
không biết sao, thân xác anh em là đền thờ của Thiên Chúa, và Thần Khí Thiên
Chúa ngự trong anh em.” (1Cor. 3:16), lại được ít nhắc đến nơi diễn trình rao
giảng của Kytô giáo? Có thể, người ta coi đó là những thành ngữ nói cho qua hầu
nâng cao giá trị con người chứ không phải thực thể sự việc, sự kiện. Câu nói về
tâm linh, về bản thể, bản chất của con người nhưng không được để tâm nhận biết,
nhận thức. Câu nói cũng như không, bị cho là nói như không nói.
Cả buổi chiều, đọc cuốn
Trang Tử Tinh Hoa mà đầu óc tôi cứ bị câu, “Kẻ nói không biết” quấy rầy, khiến
suy nghĩ, lý luận lung tung. Thôi thì làm bạn với rau cỏ cho thanh thản tâm
trí, tôi lấy đôi thùng gánh nước tưới rau. Nhìn những luống rau mơn mởn, xanh
tươi khoe sắc dưới ánh chiều vương, tôi tự hỏi chiều nay nên nấu món gì. Bữa
trưa đã ăn nem thính Bắc kỳ với canh mùng tơi nấu tôm khô và nước luộc thịt.
Chiều nay, cơm với thịt kho và món rau trộn, nếu cần, câu lấy hai con rô phi
đem chiên chấm mắm ớt tỏi, thế là thịnh soạn chán. Mai có nên ăn gỏi không, tôi
tự hỏi. Ăn gỏi cá cần dấm mẻ, kiếm đâu ra mẻ nơi miền này. Dân Bắc kỳ rốn như
tôi mà ăn gỏi với nước chấm me hoặc mắm tôm đánh với chanh và ớt thì chẳng khác
gì như đấm vào miệng. Tôi thầm nghĩ, sao mình khó tính thế! Tiền nhân dân Việt
để lại câu, “Đi nước Lào, ăn mắm ngóe,” hay, “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.”
Phỏng tôi có quá cố chấp trong vấn đề ăn uống chăng. Thử hỏi ông Tầm xem kiếm
đâu ra mẻ, hoặc mai đi chợ kiếm quanh ai có mẻ xin một ít về gây giống. Ah, hỏi
ông tiệm thuốc bắc, ông ấy là dân Bắc di cư năm 54, hoặc mua ít men rượu về gây
giống, vài ngày là có mẻ.
Lấy xẻng, bới đám cỏ bên
cạnh rạch dẫn nước trào ra chảy xuống ao khi ang đã đầy, bắt được mấy con giun,
vô nhà bếp kiếm cần câu, tôi thấy có tấm chài nhỏ treo bên cạnh một chiếc cần
câu tre. Thế ra ông Tầm cũng biết quăng chài; tôi thì không. Lấy chiếc cần câu
mắc mồi, vừa quăng xuống, tôi đã giật được một con rô phi khá nhỉnh, cũng gần nửa
ký. Con cá béo mọng, óng ánh dưới nắng buổi chiều. Đủ rồi, tôi thầm tính, bữa
cơm chiều có rau trộn, thịt kho, và cá chiên, tuyệt. Chiên hay nấu, hoặc nấu cà
chua ăn với rau diếp, tha hồ vương giả.
Danh ngôn của người Do
thái có câu, “Đừng sợ rằng bạn không biết một cái gì đó. Hãy sợ rằng bạn không
chịu tìm hiểu về nó.” Tìm hiểu, tìm hiểu bằng cách nào, “Kẻ nói không biết.”
Chính người nói đã không biết thì tìm ở đâu? Thế mà sao nó cứ ám ảnh tôi. Phiền,
tôi nghĩ, vất quách nó đi, không nghĩ đến nó nữa. Thực lòng, tôi không muốn
nghĩ đến câu nói kỳ cục này chút nào, nhưng cứ bị nó làm phiền, quấy rối. Nơi
trang 195 của cuốn Trang Tử Tinh Hoa, cụ Nguyễn Duy Cần viết, “Cho nên mới nói:
bề ngoài của họ thì có vẻ hòa nhã với mọi người, mà kỳ thực, lòng họ cách xa với
thế nhân.” Nghĩa là sao, người biết không nói; thế còn kẻ nói không biết? “Tiếng
hát hay, không sao lọt được vào tai bọn dân quê;” lời nói cao xa người dân quê
nghe không lọt tai, bị cho là không biết; kẻ nói không biết hay người nghe
không biết? Người nghe không thể cảm nhận nên cho rằng kẻ nói không biết!
- 5 -
”Kẻ nói không biết,”
không biết nói cách nào, hay nói ra không được, hoặc nói kiểu nào thì người
nghe cũng không hiểu, không cảm nhận được. Cảm nhận, cảm nghiệm, người ta chỉ
có thể cảm nhận hay cảm nghiệm nếu đã có kinh nghiệm, hoặc thực nghiệm sự việc
tương tự. Cũng một vấn đề, sự việc xảy ra, không ai có cảm nhận, cảm nghiệm giống
ai. Người nói bị cho là không biết bởi không thể diễn tả cho người khác cảm
nghiệm được tâm tình, trạng thái như mình đã cảm nghiệm, đã trải qua. Người ăn
được cay không thể hoặc giải thích vị giác tuyệt vời khi nhai miếng ớt thế nào
cho người không ăn được cay. Thế nên, dù giải thích đến mấy thì người nghe cũng
không cảm thấy cay trong miệng, cũng không bị phỏng lưỡi. “Kẻ nói không biết”
nói về cảm nghiệm, nhận thức. Nhưng sao diễn giải cho hợp lý, hợp tình, thuận với
suy tư.
Cỡ mười giờ đêm, ra bàn
ăn định uống miếng nước vì hơi khát; có lẽ cơm tối tôi đã ăn hơi nhiều thịt
kho, tôi thấy ông Tầm ngồi thinh lặng uống trà. Đêm rồi mà còn uống trà thì sao
có thể ngủ, chẳng lẽ ông định thức trắng suy nghĩ việc gì.
- Đêm muộn rồi mà bác còn
uống trà?
- Không sao, tôi quen rồi.
Anh có chuyện gì mà thức khuya vậy?
- Cháu đang đọc cuốn
Trang Tử Tinh Hoa, nhưng cứ bị câu “Người biết không nói; kẻ nói không biết” quấy
rầy đầu óc, cố quên không được, đuổi đi không xong. Nó cứ như quỷ ám, ma đùa,
luẩn quẩn suốt.
- Khi nào anh không suy
nghĩ nữa thì mới có thể biết.
- Bác nói sao, không suy
nghĩ thì sẽ hiểu.
- Tôi không nói hiểu, mà
biết.
- Biết là thế nào?
- Biết thuộc về cảm nhận,
cảm nghiệm, thực nghiệm, nhận thức, nghiệm chứng; trong cuốn Tân Ước, thánh
Phao lô gọi là nghiệm xét. Anh ăn cơm chiều, anh biết anh no bụng, biết món cá
chiên chấm mắm tỏi ớt tuyệt vời thế nào; anh nghiệm được bữa ăn ra sao thì đó
là biết. Hiểu không phải là biết; hiểu thuộc về lý trí, không phải cảm nghiệm.
Hiểu bữa ăn ngon không thể làm mình no bụng mà phải ăn. Ăn là thực chứng, nghiệm
chứng, là biết mùi vị thực phẩm ra sao và ảnh hưởng mình thế nào.
- Giả sử có ai đó ghé qua
đây vào lúc này mà vẫn chưa ăn tối, anh có thể giải thích, giảng thuyết về bữa
ăn lúc chiều, giải thích món cá chiên chấm mắm ớt tỏi để người đó hiểu và no bụng
được không?
- Người biết không thể
nói; tôi lên tiếng.
- Thế còn người nghe anh
giảng thuyết, giải thích về bữa ăn, họ thấy thế nào? Anh đọc cuốn Phật Học Tinh
Hoa chưa? Có nhớ câu trả lời của Tổ Huy Sơn cho Hương Nham không?
Tôi im lặng nhớ lại, nơi
cuốn Phật Học Tin Hoa, cụ Nguyễn Duy Cần có ghi, "Xưa Hương Nham hòa thượng
tham học ở Bách Trượng thiền sư. Ông là bậc tuyệt thế thông minh, khôn ngoan
lanh lợi, phàm hỏi một, trả lời đến mười. Thế mà khi tổ Huy Sơn hỏi: ‘Lúc cha mẹ
chưa sinh ta ra, vậy thử nói một câu xem sao!’ thì tâm thần mờ mệt, chả còn biết
trả lời ra sao được cả. Ông ta bèn trở về liêu, đem những sách vở bình nhật đã
học mà đọc lại từ đầu chí cuối, mong tìm cho kỳ được câu trả lời, nhưng rốt cuộc
cũng chẳng tìm thấy. Chán nản, liền than: ‘Toàn là bánh vẽ, chẳng thể nào án
vô!’ Nhiều lần ông khất cầu tổ Huy Sơn nói ra cho biết thì tổ Huy Sơn trả lời,
‘Nếu ta nói ra cho ngươi biết, nhất định sau nầy ngươi sẽ mắng ta vì đó chỉ là
cái biết của ta, không ăn thua gì đến ngươi cả!’” (PHTH; Tr. 80).
“Kẻ nói không biết,” tôi
thầm nghĩ, cái biết của tổ Huy Sơn không phải là cái biết của Hương Nham, nhưng
sao lại nói, “Kẻ nói không biết.” Thấy tôi im lặng suy tư, ông lên tiếng,
- Thử đặt mình vào những
vị thế của người giải thích bữa ăn và vị thế của người đang đói bụng vì chưa ăn
cơm chiều, rồi đưa ra nhận định về đối phương, anh sẽ biết. Đoạn ông tiếp,
- Sáng nay đi chợ về thấy
anh có sắc mặt vui nhưng lại mang nét trầm tĩnh, ngưng đọng; có chuyện gì đặc
biệt hay sao?
- Bác biết coi tướng diện?
- Tôi muốn học cho biết
nhưng không ngộ được.
- Thế sao không thấy bác
chơi đàn sáo chi mà rành về âm nhạc vậy?
- Âm nhạc mang tính chất
toán học, nên chỉ cần để ý nghiệm chứng mấy nguyên tắc thì đâu có gì để nói. Điều
đáng nói nơi âm nhạc lại là tính chất cảm ứng của con người. Có điều, nhạc sĩ
viết bản nhạc do cảm ứng với nghiệm chứng hay thực chứng nơi mình, nhưng diễn
xuất, trình bày lại lệ thuộc ca sĩ và môi trường, thời điểm cũng như người hòa
âm, phối khí. Tuy nhiên, nhà hòa âm, phối khí lại tùy thuộc tầng lớp khán thính
giả. Có những bản nhạc dùng chuyển âm tuyệt vời nhưng nếu bị rơi vào trường hợp
“Đàn gẩy tai trâu,” thì có hay, có giỏi cho mấy cũng bị trâu nó húc cho.
- Bác nói thế nghĩa là
sao?
- Anh có biết luật chuyển
âm không?
- Cháu nghe mấy người
quen chơi nhạc nói chuyển âm theo công thức 1 – 4 – 5, nhưng không biết áp dụng
thế nào vào hòa âm bản nhạc.
- Nghe những bản nhạc
đang hiện hành, người ta thường chơi 1,3,4,5; tuy nhiên, nếu đánh hợp âm 1 rồi
3 thì âm thanh sẽ bị trùng hợp, âm thanh không nổi lên được. Thế nên, phải dùng
nguyên tắc 1,2,4,5.
- Nghĩa là sao, hợp âm 2
đến hợp âm 4 không phải là 3 sao mà không hòa âm 1,3, lại dùng 2,4.
- Cho dù cố ý chăng nữa,
không có bất cứ bản nhạc nào được viết theo trình tự hòa âm 1,3,4,5, hoặc
1,2,4,5. Tôi thử hỏi, nếu bản nhạc Đô trưởng thì 2,4,5 đối với Đô trưởng là những
hợp âm nào?
- 2 là Rê, 4 là Fa, và 5
là Sol.
- Rê gì, trưởng hay thứ
hay 7 hoặc 9?
- Rê thứ vì nơi bản nhạc
Đô trưởng không có thăng hay giảm.
- Vậy anh thấy có bản nhạc
nào mà hợp âm theo thứ tự Đô trưởng, Rê thứ, Fa trưởng, Sol trưởng bao giờ
chưa? Như thế, cần đặt lại vấn đề chuyển âm một bản nhạc. Trở lại sáng nay, anh
có chuyện gì vui nhưng hình như khó nói?
- Nào có chi đâu bác.
Trên đường chạy tới chợ, cháu gặp lại cô bé bán cá. Hình như cô ta để ý cháu.
Thì bác cũng thừa biết tính cách thanh niên mà, cháu ăn nói đò đưa mấy câu. Lúc
cháu nói không có tiền mua cá, lại cũng không muốn mua chịu, vì mua chịu cũng sẽ
không có tiền trả, cô ta muốn cho cháu mấy con cá rô về chiên, nhưng cháu chối
từ nên thấy tội cho cô ta.
- Tội cho cô ta là sao?
- Lần đầu tiên đạp xe đi
chợ mua của cô ta mấy con cá rô, theo giá chợ thì phải gần hai đồng, nói qua,
nói lại, cô ta lấy cháu chỉ một đồng. Lần này gặp lại, cô ta hình như giả đò vô
tình, lần thứ hai, hỏi vợ cháu đâu mà cháu phải đi chợ, rồi thẩm vấn luôn về
nơi chốn gia đình của cháu nữa. Cháu giả đò lãng đãng thân thiện nhưng lòng e
ngại cô ta có cảm tình sâu đậm với mình rồi sẽ bị thất vọng sau này nên dứt
khoát không nhận cá và bỏ chạy.
- Có sao đâu, nghe anh kể
tôi đâu cảm thấy gì. Thế cô ấy có nói chi về tâm tình của cô ta với anh không?
Ông Tầm buông một câu làm
tôi giật mình. Lời nói của tổ Huy Sơn, “Cái biết của ta, không ăn thua gì đến
ngươi cả.” Nói như không biết, không thể khiến người nghe cảm nhận được tâm
tình của mình. “Kẻ nói không biết. Kẻ nói không biết.” Tôi lặng người ngỡ ngàng
với sự nhận biết câu nói ngang ngược. Vui, tôi thực sự cảm thấy vui. Thấy tôi
ngồi im, ông Tầm lên tiếng,
- Kẻ nói không biết. Hiểu
chứ, biết chứ.
Tôi gật đầu, thinh lặng.
Làm sao mà nói để ông cảm nhận được trạng thái của tôi khi gặp cô bé sáng nay.
Mới gặp qua lần thứ hai đã dám cho cá, tôi biết nàng thích tôi, muốn làm quen rồi
thân thiết, nhưng tôi không dám quen thân với nàng vì sẽ khiến nàng đau khổ sau
này. Tôi cảm thương cho nàng đã lỡ thích tôi. Ôi cái số đào hoa tai hại, số con
mèo vừa mù, vừa tịt mũi. Cho dù có nói đến thế nào chăng nữa, ông Tầm cũng
không thể cảm nhận được tâm tình của tôi. “Kẻ nói không biết.”
Vài phút sau, ông lên tiếng
khuấy động màn đêm thinh lặng dưới ánh đèn mờ,
- Anh cảm thấy thích hay
yêu hoặc thương cô nàng?
- Cháu cảm thương cô ta
nhiều hơn; cô ta là một cô bé đơn thuần, chân quê, cháu không muốn cô ta bị tổn
thương tâm tưởng sau này. Cháu biết mình có số đào hoa, đào hoa một cách lạ
lùng, lại có hình dáng hợp nhãn phái nữ, nhưng chưa hề bao giờ có ý nghĩ hay ước
muốn có một người nữ bên cạnh để cùng nhau xây dựng một gia đình. Cháu quen biết
khá nhiều con gái và biết mình có sức hút tự nhiên với các nàng, nhưng có lẽ bởi
được dưỡng dục dưới mái trường Công giáo, nói đúng ra, nơi tiểu chủng viện, nên
quan niệm luân lý Công giáo ảnh hưởng, nếu không muốn nói là điều hành nhận thức
cũng như giới hạn lối sống, liên hệ của mình hầu như nơi mọi phương diện. Cháu
hiểu được bản năng tự nhiên của con người là đàn ông cần, thích, đàn bà và
tương tự, đàn bà cần và thích đàn ông, nhưng lại cảm thấy cuộc đời buồn chán,
ngày ngày sáng đi làm, chiều về ăn, ngủ, rồi lại sáng đi làm. Cuộc đời như thế
quả là đáng nản, chẳng chi hưng phấn. Hơn nữa, cháu cảm nhận hình như có điều
gì lôi kéo cháu nên cứ lỳ ra kiếm cách sống qua ngày và chờ đợi, chờ đợi điều
gì xảy đến cháu cũng không biết. Nói cho đúng, cho đến lúc này, cháu cũng không
biết mục đích cuộc đời của mình là gì dẫu đã nhiều lần tự hỏi. Thế nên, thái độ
của cháu đối với cuộc đời chính là một sự thách đố, đồng thời muốn kiếm tìm sự
khao khát nào đó mơ mơ màng màng lôi kéo tâm tư.
- Riêng về phương diện
tình cảm với cô bé này, dĩ nhiên, với tâm lý thanh niên, như bác đã từng trãi
qua, ai không thấy hưng phấn khi quen biết hoặc thân thiết với nàng nào đó hợp
với mình nơi phương diện nào đó. Có điều, đối với các nàng, dẫu nhiều khi lãng
đãng nói năng ám định thân thiết, cháu chỉ coi các nàng như những em gái nên
không muốn chìm sâu vào cảm tình trai gái yêu đương, hoặc bất cứ gì tổn hại đến
tâm tưởng của họ. Cũng có thể thái độ tránh tình, tình theo nên cháu trở thành
cuốn hút hơn đối với các nàng chăng. Nếu đó là sự thực hiển nhiên, thì cũng là
phận số, dẫu cháu không có chút ý định tán tỉnh nhăng cuội làm phiền bất cứ ai.
- Có bao giờ anh nhận thức
được cảnh giới cao nhất của tình yêu đó là không dám đối mặt với người mình yêu
không?
- Cháu tự kiểm chứng tâm
tình của mình với câu nói, “Cuộc sống không có tình yêu giống như một hoang mạc,”
nhưng hình như tình yêu của cháu không được dành cho một người đàn bà mà lòng cứ
cảm thấy phiền hà khi thấy người người lầm than kiếm sống. Cháu muốn làm một
cái gì may ra có thể cho họ có cuộc đời khấm khá hơn. Thực ra, sinh mệnh con
người thì ngắn ngủi, nay cháu đã hơn kém 30 nào biết nói chi hơn, và điều khó
khăn nhất là cháu chưa xác định được mục đích cuộc đời của mình. Sống để mà sống
quả là nhàm chán.
- Tình yêu là thứ không
thể nào quên được, nhưng vẫn có thể bỏ được. Còn tình yêu thực sự thì không cần
nhớ đến, nhưng lúc nào cũng sống với nó, cho nên không có vấn đề quên hay từ bỏ.
Thế anh có cảm thấy lo lắng gì không?
- Nếu có lo lắng gì thì
cháu không theo bác tới đây. Như bác đã biết, hình như cháu đã nói, cỡ sáu
tháng hay một năm sau cháu mới quyết định ở lại hay ra đi sao! Nói đúng ra, lo
lắng chính là điều vô bổ đối với cháu. Tính toán, nhận định, và quyết định, mới
là vấn đề. Do đó, cháu thách đố với cuộc sống, dám thử bất cứ gì nếu không làm
phiền hà tới người khác; bởi cháu không muốn phải ăn năn vì những gì mình đã
không dám thử.
- Thế anh nghĩ thế nào về
tiền bạc, tài sản?
- Cuộc đời mới quan trọng;
đã có thởi gian suốt sáu tháng, sáng nhịn, trưa rình mò ăn chực, tối uống nước
lạnh đi ngủ mà vẫn còn sống thì tiền bạc chi là con ở chứ không thể là điểm
đích cháu kiếm tìm; bởi cháu cũng nhận thức được kẻ nào cho rằng tiềm bạc làm
được mọi sự thì họ cũng dám làm tất cả, kể cả muối mặt làm mọi sự để có tiền. Đối
với cháu, làm gì thì làm sao cho hợp thời hợp cảnh, miễn sao lương tâm không cắn
rứt hoặc phải hối hận. Thành công hay thất bại, chuyện phải đến tất nhiên xảy
ra, cố tránh cũng chẳng thoát. Abraham Lincoln có câu nói, “Đừng buồn vì bụi
hoa hồng có gai mà hãy vui vì trong bụi gai có hoa hồng,” quả thực sâu sắc. Qua
mấy năm nay, cháu học được khá nhiều bài học sống động và nhận biết rõ trường đời
là cơ hội nên cần mở rộng lòng để đón nhận.
- Thế anh có nhớ tới cô
Lan ở Thanh Sơn, Gia Kiệm không?
- Cháu phải tự cảm ơn
mình vì đã không một lần lãng đãng ăn nói đò đưa với cô ta nên không gì tiếc nuối,
ăn năn hay ân hận. Có duyên thì gặp, không nợ thảnh thơi. Bác thử nghĩ, cuộc sống
hôn nhân đâu giống như hạnh phúc mình mơ tưởng, mà trên răng dưới dép như cháu,
khi chén bát đụng nhau sao có thể chấp nhận được dẫu chỉ lời nói nhẹ khinh khi.
Có lẽ tự ái nơi cháu quá cao.
- Anh đọc được mấy cuốn
sách rồi?
- Mới có mấy cuốn à. Thoạt
tiên khi nhận sách từ bác, cháu nghĩ chỉ nội một tuần là xong hết, nhưng ngay từ
tối hôm đầu tiên lúc vừa lật mấy trang đầu cuốn Lão Tử Tinh Hoa, đụng câu, “Tri
giả bất ngôn; ngôn giả bất tri; biết, không nói; nói, không biết,” cháu sửa lại
là “Người biết không nói; kẻ nói không biết;” đã khiến đầu óc cháu lùng bùng.
Cũng cảm ơn bác đã phân tích biết và hiểu lúc nãy. Hình như, cháu cần thêm thời
gian để xem xét sự liên hệ của tư tưởng đạo học Đông Phương với Phúc Âm. Cháu
đã đọc bộ sách Life and Teaching of the Masters of the Far East bằng Anh ngữ đã
khá lâu, nhưng ngày đó đọc chỉ để cho hiểu giống như đọc những sách khác. Nói
cho đúng, cả bộ sách đó cháu chỉ nhận được một điểm đó là tác giả dùng sinh vật
để minh chứng có một quyền lực, năng lực tối thương đang hoạt động nơi mọi sự,
được gọi là sự sống, sự hiện hữu. Sự thể này trùng hợp với câu Phúc Âm “Ta là
đường, là sự thật, và là sự sống.” Bộ sách dùng tài liệu biên khảo sắp xếp
thành sự việc được coi là hành trình đối diện các vị chân nhân mang nặng ảnh hưởng
nơi lý thuyết rao giảng Kytô giáo, nặng phần tâm linh theo kiểu “fiction” Tây
phương, phần nào khuyến khích nhận thức thực thể con người áp đặt trên đối tượng.
Mấy cuốn khác nơi các bản Việt ngữ cũng thế, giảng giải sách đạo học, tâm linh
dưới quan điểm hữu vi, nhân sinh. Thiển nghĩ, khuyến khích hay thách đố độc giả
suy nghĩ, suy tư để nâng cao nhận thức hầu thức ngộ thì tốt hơn. Nhưng biết nói
sao hơn, tác giả chưa ngộ thì chẳng khác gì “Kẻ nói không biết” mà thôi.
- Nhận thức của anh quả
thật là thú vị. Anh có thể nói lý do nào dẫn đến nhận thức và cách đọc sách của
anh được không?
- Có gì lạ đâu thưa bác,
vì cháu thích đọc sách bởi muốn thăng tiến nơi tiếng Anh và tiếng Pháp. Riết rồi
những quan niệm, nhận định, hay lý thuyết, chủ thuyết thâm nhập vào đầu cháu,
nên khi nói chuyện với bạn bè cùng lớp, vô tình cháu xổ ra những điều khác lạ
hoặc đối nghịch với quan điểm của họ đến nỗi họ đặt danh hiệu cho cháu là óc thối.
Ở tuổi mới lớn mà, tâm trí còn đang mở rộng để thâu thập. bất cứ những gì thấy
thuận lý, hợp tình là được in trí và thuận theo. Chẳng hạn, theo luân lý, đạo đức,
chúng ta chi chấp nhận một vợ, một chồng trong khi quan niệm, “Trai năm thê bảy
thiếp, gái chính chuyên một chồng,” cứ nhan nhản nơi văn chương và trở thành
thành ngữ trong cuộc sống dân gian. Đồng ý rằng, trong cuộc sống sự thể đa thê
hoặc vợ nọ con kia không thiếu nơi đất nước Việt Nam; đàng khác, trên thế giới
cũng có những phong tục đa phu, nhưng trong giới bạn học tuổi thanh thiếu niên
chỉ toàn là nam, đang độ phương cương phát triển do đó cố níu kéo phần ưa thích
về cho mình dẫu chỉ là lời nói cho qua. Hơn nữa, thói quen tạo thành tập quán
lâu dần tạo quan niệm, chiều hướng, cháu thấy không nên, do đó lên tiếng điều
chỉnh, và vì khác quan điểm nếu không nói là đối nghịch nên bị cho là đầu bùn.
- Hơn nữa, có những điều
mới nghĩ ra, cháu tưởng là mình có được ý tưởng mới, còn đang suy tới, tính lui
sao cho hợp lý, hợp tình và sao có thể áp dụng trong cuộc sống; thì đùng một
cái, nơi cuốn sách nào đó mượn từ thư viện, nó đã chình ình nằm đó cả trăm năm.
Càng đọc, càng thấy nhiều điều chưa biết nên càng thích đọc. Đọc sách vừa tăng
thêm kiến thức vừa trau giồi ngoại ngữ. Tuy nhiên, đọc nơi sách Anh, sách Pháp,
tác giả dùng lý luận nối kết thực nghiệm đoạn phân tích, diễn dịch rồi tổng hợp
kiến tạo tri thức mới theo đường lối trình bày kỹ thuật thực nghiệm, khiến độc
giả ít nhất có cảm tưởng hiểu được một cách rành mạch. Cháu nói, tưởng hiểu được
rành mạch, chứ không chỉ cách cho độc giả làm sao có thể cảm nghiệm, cảm nhận
thực sự sự thể đó như thế nào nơi mình. Thí dụ nơi bộ Life and Teaching of the
Masters of the Far East, tác giả Baird Thomas Spalding, mà cuốn đầu tiên được
Nguyên Phong dịch thành Hành Trình về Phương Đông, tác giả nêu lên sự kiện những
con nhệch (lươn biển) được sinh sản tại đảo Bermuda chưa kịp lớn đã cắm đầu cắm
cổ bơi về sinh quán của cha mẹ chúng rồi đưa lên vấn đề, “Ai đã ban cho loài
lươn nguồn cảm kích phân biệt như thế? Ai đã hướng dẫn những con lươn bé bỏng
trên đường phiêu du ngàn dặm như vậy? Chắc chắn không thể do ngẫu nhiên phải
không các bạn?” Tác giả chỉ nêu lên sự kiện cho độc giả chiêm ngưỡng chứ không
nói gì về sự liên hệ của quyền lực hướng dẫn những con nhệch bé bỏng ấy với độc
giả. Sách Tây phương trình bày sự kiện như một quảng bá tư tưởng, quan niệm, nhận
thức mà thôi.
- Nhưng, nếu đã quen đọc
sách Tây phương, khi đối diện với sách Đông phương, thế là bù trớt. Những năm
tháng trước, cháu thích đọc sách Anh, sách Pháp hơn vì đọc những sách dịch từ
các kinh theo lối đọc sách Tây phương, cháu không thể nào hiểu được họ nói gì.
Cháu học nơi tiểu chủng viện Công giáo, tham dự lễ nghi Công giáo và nghe các
cha giảng giải Phúc Âm nhiều khi không chấp nhận được. Ngày xưa, khi còn học lớp
đệ lục, đệ ngũ (lớp 7, 8) cháu có ý định đi tu làm linh mục. Qua sự giao tiếp
tìm hiểu mỗi khi có dịp gặp các vị tu sĩ, linh mục, hỏi ra mới được trả lời là
đi tu để cứu rỗi các linh hồn. Không dám hỏi thẳng, cháu tự tìm hiểu linh hồn
là gì; linh hồn của cháu thế nào, liên hệ đối với cuộc đời, xác thân cháu ra
sao thì không sách nào viết về sự minh chứng con người có linh hồn; chỉ có giáo
lý nói linh hồn là tính thiêng liêng. Nơi nhà thờ, nhà trường, những lớp học
giáo lý, cũng không ai đá động đến tính chất của linh hồn, chưa bao giờ cháu đọc
được nơi sách vở hay nghe được bất cứ ai minh chứng con người có linh hồn. Thế
là cháu bỏ ý định đi tu. Đi tu để cứu linh hồn người khác trong khi không biết
linh hồn mình là cái gì thì cứu chi, chẳng khác gì “Kẻ nói không biết.” Mà đúng
thật, họ nói điều họ không biết.
- Rồi có dịp đọc những cuốn
sách viết về thành ngữ, tục ngữ, ca dao, phong dao của dân Việt, giời, một số
tác giả viết những bài khảo luận và nhận định đều cho rằng Tục Ngữ, Ca Dao là sản
phẩm của giới bình dân, vô học, chân lấm tay bùn, tối ngày bán mặt cho đất, bán
lưng cho trời. Ngay như Nguyễn Tấn Long và Phan Canh cũng thế, họ cho rằng,
“Các nhà nho học cũng đã dùng chữ nôm ghi nhận những mẫu tâm tư của lớp bình
dân qua các bài khảo lục.” (Thi Ca Bình Dân VN; I. Nhân Sinh Quan; Xuân Thu;
CA, USA; năm? Tr.14).
- Anh nói sao, Tục Ngữ,
Ca Dao là sản phẩm của giới bình dân?
- Cháu đang muốn nói về một
số tác giả các bài khảo luận, nhận định, một số tác giả cho rằng Tục Ngữ Ca Dao
là sản phẩm của giới bình dân VN; chẳng hạn,
“Minh Hương trong cuốn Hoa Đồng Cỏ Nội dùng Tục Ngữ, Ca Dao với mục đích "tìm về nguồn cội" (tr. 9) "Giới thiệu... cái độc đáo, cái cao đẹp, cái thâm thúy và cả muôn vàn kinh nghiệm xác thực quí báu chứa đựng trong những bài thơ nhỏ một bộ phận của nền văn chương truyền miệng" (tr. 7). Minh Hương cho rằng Tục Ngữ, Ca Dao, nền thi ca truyền miệng đã có từ thời lập quốc: "Như chúng ta đã biết, văn chương truyền khẩu đã xuất hiện rất sớm, vào cái thuở bình minh của dân tộc mới thành hình..." (tr. 8). Tác giả cuốn Hoa Đồng Cỏ Nội đưa ra nhận xét Tục Ngữ, Ca Dao là một phần văn chương bình dân (tr. 9) hay văn chương đại chúng (tr. 8) "do tập thể sáng tác, bổ xung, sửa chữa và phổ biến liên tục." Nền văn chương này "đã góp phần đánh ngã được chánh sách đồng hóa thâm độc của người ngoài và đã kiên quyết bảo tồn được nền văn hóa dân tộc" (tr. 9). Mặc dầu tên gọi "văn chương dân gian," tác giả nhận xét Tục Ngữ, Ca Dao "là bộ bách khoa bình dân truyền miệng. Trong khi góp nhặt, phân tích, xếp loại và tìm hiểu những câu thơ truyền miệng ấy, chúng tôi vô cùng ngạc nhiên mà nhận thấy nền Văn chương dân gian đã đề cập gần đủ các ngành, các khoa: Y Dược, Sinh lý, Canh nông, Nghề nghiệp, Thiên văn, Vạn vật, Kinh tế, Di truyền, Tâm lý, Phân tâm v.v..." Theo Minh Hương, Tục Ngữ, Ca Dao phát xuất từ giới bình dân: "Người bình dân thường gần gũi với thiên nhiên, tháo vát với công việc lao động hằng ngày, không bị tiêm nhiễm sâu sắc một giáo lý, một tư tưởng nào trong sách vở nên họ rất đổi thực tế trong tư tưởng và trong cả hành động nữa. Sống thì đơn sơ, nói năng thì bình dị nên văn chương đối với họ cũng phải 'Văn hay chẳng lọ đặt dài, vừa mở đầu bài đã biết văn hay.' Thật thế, họ có thì giờ đâu mà 'con cà, con kê, con dê, con ngỗng' họ chỉ 'ăn một đọi, nói một lời.' Nói như thế, văn của họ đâu có phải cộc cằn, lúng túng, trái lại họ rất sành sỏi trong việc lựa chọn chi tiết thích thú để lôi cuốn người nghe. Nhiều khi họ lại táo bạo dùng nhiều hình thức mỹ từ để câu thơ trôi chảy một cách duyên dáng ý nhị hơn" (tr. 253).
1/9/2023
Lã Mộng Thường
Theo https://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét