Băng Sơn - Hà Nội
cảnh sắc hương vị văn hóa
Con
người ta sống ở đâu thì cũng cùng lúc sống trong hai môi trường. Môi trường tự
nhiên và môi trường nhân văn, hay sinh quyển và nhân quyển.(1)
Do "cuộc bể dâu chưa
từng"(2), ở tất cả mọi nơi trên quê hương, cả sinh quyển lẫn nhân quyển
đang thay đổi căn bản.
Hà Nội vốn có một sinh
quyển và một nhân quyển rất độc đáo. Nơi văn hóa cao không nhất thiết có tự
nhiên đẹp. Nhưng Hà Nội đã lại được cả hai, và được tới mức hiếm.
Nhiều nhà văn, gồm cả người
Hà Nội gốc và người ngụ cư, đã ghi lại hiệu quả cái Hà Nội ấy. Tất nhiên mỗi
người ghi mỗi khác. Khác từ trọng tâm của sự chú ý, đến cảm nghĩ, đến lời văn.
Cái ghi của Băng Sơn thế
nào?
Căn cứ vào những bài
trong Thú ăn chơi người Hà Nội và một số bài đăng báo mà chúng
tôi đã được đọc, Băng Sơn chú ý hơi rộng hơn đa số những người viết về Hà Nội
khác. Nội dung chính của tác phẩm ông là văn hóa ẩm thực, kế đến là cảnh sắc,
thứ ba là vài nét văn hóa khác của Thủ đô.
Trước những cái những
chuyện mình lấy làm chú ý, Băng Sơn cảm giỏi hơn là nghĩ. Ông cảm tinh tế, đặc
biệt hay thấy được thi vị nơi cảnh vật. Văn ông có những bài đậm chất thơ.
Sau đây là một số trích
đoạn từ những bài viết của Băng Sơn. Có bài khung cảnh là thôn quê, nhưng vì Hà
Nội mà ông quen thuộc vẫn còn gần quê nên chúng tôi cứ chọn.(3)
Cây xanh nét riêng Hà Nội
"Có hai loại cây
xanh (...) Một là cây xanh trong sân mỗi gia đình. Hai là cây xanh trên vỉa hè
(...)
Trong những căn nhà cổ,
thường lớp nhà trên cách lớp nhà dưới khoảng sân con, ở đó thường có non bộ, một
vài chậu cây cảnh như một chậu địa lan, mạc lan, hạc đính lan, một khóm sói,
khóm hồng, giò cúc. Có khi là một gốc đinh lăng xanh biếc lăn tăn (lúc ăn gỏi
cá khỏi phải đi kiếm), cũng có thể là một cây xương rồng, một cây cúc mốc, một
gốc chi mai, một khóm liên đài (hoa đá) (...) Từ trong nhà đi ra, bước xuống bậc
tam cấp là gặp ngay cây xanh tươi mát, bổ khuyết cho cái chật chội tức mắt âm u
của màu nâu đồ gỗ, màu đen của câu đối hoành phi, màu xỉn của gạch lá nem, vàng
của tường vôi, xám của rui mè trên nóc... Cây xanh thành nốt nhạc phá đi cái trầm
lặng của không gian tịch mịch (và còn) thoảng nhẹ một mùi hương cho thanh thoát
tâm hồn (...) Chủ nhân tưới cây, chăm sóc cái mầm xanh như người tri kỷ (...)
Hà Nội có những hàng cây
đẹp lạ lùng, là nỗi nhớ của người đi xa, là niềm yêu của người ở gần, là bâng
khuâng cho tình ái, là... nhiều lắm. Lò Đúc có sao (d)en thẳng vút. Nguyễn Du
có hoa sữa. Trần Hưng Đạo có cả hoa sữa, cả sấu um tùm. Phan Đình Phùng có sấu,
hoàng lan. Ngô Quyền còn sót lại mươi cây me cổ thụ. Điện Biên Phủ có hơn bốn
chục cây đa cứ oằn mình mà xanh biếc bốn mùa. Thợ Nhuộm có bằng lăng nước hoa
tím, đường Thanh Niên có xoan tây đỏ chói (...)
Xung quanh bờ hồ Gươm có
bao cây đặc biệt: cây mõ thân thẳng cành xòa rộng, cây lộc vừng như cây thế khổng
lồ, hoa chói đỏ rập rờn trên mặt hồ thu (...) cây vông hoa đỏ rực lúc chớm hè,
gốc gạo gọi chim về ríu rít cùng hoa khi cuối xuân, những cây vàng anh rực rỡ
những chùm hoa da cam đằm thắm, cây cọ như chống đỡ trời xanh, mấy cây đa hào
phóng bóng mát và búp cho con trẻ đùa chơi (...)
Đôi vườn hoa biệt thự thấp
thoáng một vài gốc tre đằng ngà thân vàng óng như mạ vàng, kéo những làng quê gần
lại. Hàng Dầu có cây sưa, mùa xuân hoa nở trắng như tuyết phủ. Hàng Bè, Hàng
Đào có dâu da xoan tỏa bóng mát rượi, hoa thơm thoảng xa dù hơi phàm tục. Cây
xà cừ cây cao bóng cả (...) Cây sấu gốc có vè có bạnh, lá thường xanh bốn mùa,
hoa rụng trắng tháng ba (...) Dăm chục năm trước, hoa giấy (tức hoa móc diều)
còn hiếm, chỉ một màu tím (...) nay thành phổ biến, đủ màu: tím, trắng, cánh
sen, cá vàng, có khi còn là cây thế (...)
Thử tưởng tượng nếu Hà Nội
không có cây xanh. Đó là cô thiếu nữ đẹp nhưng lại cạo trọc đầu (...) Hà Nội đẹp
một phần chính vì cây xanh (...) Cây làm thành phố mang ý vị trầm mặc, cổ kính
(...) là nỗi khắc khoải của người xa quê hương, là niềm âu yếm của người hàng
ngày phải có mặt trên đường phố (...) Cây xanh là một nét màu quan trọng của bức
tranh Hà Nội sắp bước vào nghìn tuổi".
Trong bài ký "Cây Hà
Nội", Nguyễn Tuân kể: "Bạn bè quốc tế cứ mê tơi trầm trồ vì
Hà Nội nhiều cây đẹp (...) Tôi đã có dịp đi ra (nước) ngoài mấy chuyến (...)
xin kết luận rằng màu xanh cây ta thật nhiều cung bậc (...) dáng cây cũng nhiều
vẻ, nhiều thế".
Trong "Những ngôi
sao xa xôi", Lê Minh Khuê tâm sự: "Chúng tôi nhớ thành phố
xanh (...) không lúc nào chúng tôi không nhớ". "Chúng tôi"
đây là những nữ thanh niên xung phong người Hà Nội đang lấp hố bom trên đường
Trường Sơn.
Đến khoảng đó, lòng cư
dân Thủ đô vẫn nhậy cảm đối với cây cối, tạm gọi là lòng còn xanh. Nhưng Đổi mới
khiến lòng xám đi nhanh lắm. Tuy mái tóc nổi tiếng đã thưa đi đáng kể, "cô
thiếu nữ đẹp" chưa gần trọc đầu đâu. Điều băn khoăn là cái con số những
người chiêm ngưỡng...
Nhỉ, người xưa cũng y như
nhà cổ
Ngoài nâu đen trầm lặng, trong ngát xanh
Bởi lòng xanh mới bâng khuâng cây phố
Hà Nội mai này tóc đẹp cho ai?
Hà Nội mùa sương
"Vào những ngày rét
ngọt hanh khô, đi qua phố Tràng Thi, tưởng như nghe thấy tiếng sột soạt của từng
trang sách mở ra, trong khi trên đường rặng bàng tung những tờ lá đỏ, như tấm
thư trời gửi cho người báo mùa đông sắp đến (...) Hàng phượng vĩ đường Thanh
Niên đã tắt hết đèn chỉ còn lại những quả khô như những sợi bấc đen chứa trong
đó cái hạt nâu vân vân, đựng lửa cho mùa sau. Hàng cơm nguội phố Lý Thường Kiệt
hình như mẫn cảm với sương đông trước hết (...) chỉ còn trơ lại những cành
trong bàng bạc màu trời (...) Cái vườn hoa bé tí tẹo nhưng xinh xắn vô cùng ở Cửa
Nam kia mới lạ lùng sao (...) mới giữa mùa đông, mấy cây mận trắng đã thẹn
thùng phô ra dăm đóa hoa gầy mỏng manh trắng muốt (...) cốt cách chẳng kém gì
hoa mai (...)
Có thể nào không nhắc đến
Hồ Gươm. Cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn. Tháp Rùa lúc nào cũng mờ ảo trong sương như
nét nhòe trong bức tranh kiệt tác của người họa sĩ tài hoa. Từng đợt gió chơi
trò đuổi nhau, từ phía đảo Ngọc về Hàng Khay, làm cô gái nào qua bờ hồ cũng phải
kín đáo kéo nghiêm tà áo vì cái lạnh trêu ngươi. Thiếu nữ Hà Nội những ngày lạnh
đủ các màu áo, từ hoàng yến, tím hoa cà, đỏ rực rỡ đến xanh lục thẫm (...) hàng
trăm cung bậc của màu như âm thanh của cây đàn diệu kỳ, mà sương khiến nốt cao
nốt thấp không còn phân biệt rõ lắm (...)
Ðêm đông (...) Gió tìm bạn
trên tán cây long não, xà cừ (...) Sương và gió làm mờ thực tại xô bồ (...) Đường
ngõ quanh co mờ tỏ (...) Hà Nội mang dáng vẻ trầm tư duyên dáng (...) Đền Quán
Thánh có những cây muỗm già trăm tuổi, thả lá khô xuống sân đền không một tiếng
vang, làm sương đông cũng không thể giật mình. Phải chăng hồn Thăng Long vẫn
còn ẩn hiện trong những làn sương mỏng màu lam kia? Đã qua mùa hoa sữa. Cây hoa
sữa bây giờ treo mành là những chùm quả (...) Có nhiều loài cây vẫn tươi xanh
(...) Hàng đa đường Điện Biên, những cây sao đen phố Lò Đúc, những cây chò xanh
từ đền Hùng được di về gần lăng Bác, hàng long não lá tròn và thơm nhè nhẹ ở phố
Lê Văn Hưu (...)
Một buổi tối nào ta khoác
tay người bạn thân đi dạo (...) chợt thấy ở một ngã tư chập chờn nào, một cây cột
đèn nhòa trong sương nào, có ánh sáng mờ ảo (...) Một mùi thơm ấm nóng (...)
ánh than hồng lập lòe theo tay cô gái (...) mặt người lúc sáng lúc tối (...) Ta
cầm cái bắp ngô vàng óng, lại đứng lên đi tiếp đoạn đường sương, vừa đi vừa tỉa
từng hạt mà ăn (...) Hình như món ngô nướng sinh ra không phải để cho mùa khác,
cũng không phải để cho lúc khác (...) Ngô nướng là một phần của đêm sương (...)
Những buổi sáng Hà Nội
choàng tấm áo sương, thành phố đổi khác hẳn như cô gái ngày thường lam lũ, hôm
nay thành cô dâu diễm lệ (...) Bờ cỏ Hồ Gươm đây đó còn vương những viên ngọc
li ti".
Lâu lắm rồi. Năm 2024, Hà
Nội còn sương. Nhưng vẫn "tấm áo" ấy, nay "choàng" sao như
không thành "cô dâu diễm lệ".
Nhớ Thanh Hào: "Quảng
Bá (...) Chợ hoa mờ mờ, ảo ảo. Mặt người, mặt hoa nhòa trong sương (...) Các nẻo
đường dẫn đến chợ, sương bay là là ngang mặt người, trong sương chở bao là mùi
hương, khiến khách đi đường có cảm giác trên mi, trên tóc bám đầy những hạt
sương thơm". Cái góc Hà Nội ấy, bây giờ đâu có khách nào được "cảm
sương" thế nữa.
Hoa, hoa...
"Mùa xuân (...) Nắng
hanh và mưa bụi. Trăng lạnh và sớm mai hồng. Gió nồm và mây phiêu bạt... (...)
Tinh khôi đóa cúc, khi phai tàn còn lên lời trong chén rượu hoàng hoa (...)
Bông thược dược rực rỡ như thiếu phụ đủ đầy chan chứa (...) Cánh hải đường lóe
lửa trong kẽ diệp lục xanh ngà (...) Ngọc lan như ngọn bút màu ngà, mực là gì
nhỉ hay chỉ là nỗi lênh láng tâm tư (...) Hoàng lan giơ ngón tay ẻo lả vẫy theo
ta, rồi vụt biến đi (khuất vào lá) (...) Hoa bưởi tà áo trắng cánh hoa, chút nhị
vàng như cái choáng váng của chén rượu mật ong (...) Đường trưa bóng trẻ ven
làng, nhẹ bẫng làn sen. Con thuyền thúng lỏng lảnh tay sào, lẫn vào những chiếc
ô xanh để ngược màu xanh bạc (...) Đồng quạnh chang chang, hoa súng nói gì
trong cánh tím, nhọn sắc như lời ai oán (...) Hoa trang trắng tinh lại nhỏ li
ti, khiêm tốn như tấm lòng thơm thảo (...) Ngả mình trên bãi cỏ đồng xa, chạm
tay vào cây trinh nữ, cây liền vội khép lá mi nhưng bông hoa màu sen vẫn rung
rinh như bông hoa tai của ai vừa bỏ quên (...) Chiều lâng lâng hoa lý (...)
Ngâu đó vô cớ mà bứt rứt (...) Hoa mộc ơi thơm về đâu mà kín như lời gái quê
không ngỏ, khác hẳn dạ lan hương rợn lên từng đợt trêu đùa như cô gái đa tình
váy tung bay trong gió lộng (...) Đêm, người đã thành dĩ vãng, vậy mà hoa sữa
(...)".
Hoa "màu mùi" vốn
đâu phải cho người. Nhưng mặc kệ, có mắt có mũi thì ta cứ... Đa số ngắm ngửi đã
đời rồi thôi. Nhà thơ nhà văn ngắm ngửi xong có thể nở đóa lời. Người đọc ngắm
ngửi hoa lời, đôi khi có thể không thấy được mối liên hệ với hoa thật, nhưng vẫn
cứ thích.
Hương đêm Hà Nội
"Hà Nội (...) Cũng
không hiểu mùa tạo ra hương hay hương gọi mùa về (...)
Mùa thu (...) Lá bay vàng
rộm mặt đường (...) Sương lam mơ hồ trên mặt sóng (...) Thời tiết cứ dìu dịu
(...) Những làn hương lan tỏa (...) Hoa dạ hợp trắng muốt (...) chẳng dễ gì tìm
thấy cây, chỉ cảm thấy đâu đây nở (...) Khu vườn biệt thự nào trên đường Phan
Đình Phùng tung ra những con sóng hương hoàng lan thoảng nhẹ, và hương ngọc lan
sắc sảo hơn, khiêu khích hơn (...)
Xin những đôi người hãy
thủy chung đến bạc đầu nếu một lần đã sóng bước dưới đường thơm hoa sữa phố Trần
Hưng Đạo, Nguyễn Du (...) Có lẽ sương thu đã bắt hương hoa sà xuống thấp, (làm)
ướt đẫm tóc (...) Có đôi người đã cháu nội cháu ngoại mà năm nào đến mùa cũng
phải một lần dắt tay nhau đi trong đêm (...) Lúc ấy họ nói gì với nhau (...) hỡi
mùa thu đi qua mà chẳng bao giờ mất (...)
Vườn Chí Linh có mấy khóm
dạ lan hương, đêm hè hoa nở như níu chân người qua lại để tâm sự điều gì. Dọc
bao phố cây xum xuê tròn bóng, những hàng sấu cổ thụ cứ tháng ba lại khiêm tốn
tỏa một thứ hương ra xung quanh. Không thơm ngát, không tình tứ, chỉ thoảng nhẹ
như không có, chợt hiện rồi chợt biến, khi những bông hoa như cái chuông nhỏ
xíu trắng ngà rơi nhẹ không một âm vang. Cả hương và hoa cứ bay cứ rơi (...)
không để ý có khi (...) không thấy (...)
Ði trong đêm (...) hồn ta
cảm nhận được hoàn toàn chất thiên nhiên tinh khôi trong hương thơm hoa lá. Đôi
khi hiếm hoi bắt gặp từ ban-công chuồng chim nhà ai một chút hương nhài khêu gợi
mà kín đáo, lả lơi mà thắc thỏm (...) Hoặc qua một ngõ có ngôi chùa cổ kính, một
gốc bưởi cằn nào đó bỗng tỏa làn hương mộc mạc đồng quê, gợi nhớ đến đĩa bánh
trôi bánh chay tháng ba có hội làng rộn rã, và có những làn mưa lây phây (...)
Hương đêm Hà Nội (...)
yêu biết bao nhiêu (...) không uổng phí, nếu phải thức những đêm dài để đi dạo
trên những con đường ngan ngát".
"Hương đêm" đây
là hương các loài hoa. Thực ra đa số hoa thơm suốt ngày đêm nhưng ban ngày
hương hoa bị xôn xao sinh hoạt "che" mất, phải đợi đến khi "ánh
đêm" xua hầu hết... người Hà Nội vào nhà thì số ít "đi dạo trên những
con đường ngan ngát" mới "cảm nhận được hoàn toàn chất thiên nhiên
tinh khôi" quanh mình.
Nhớ Tô Hoài: "Hương
là đặc điểm vườn hoa Việt Nam (...) Vườn hoa ta có mùi hoa, "vườn hoa
Tây" chỉ chuộng màu sắc (...) kém ý nhị (...) Vườn hoa Việt Nam (...) bốn
mùa thơm (...) hoa hồng, hoa ngâu, hoa lan, hoa lý, hoa nhài, hoa mộc, lan đất,
lan treo (...) sáng sớm đêm khuya đưa thơm dậy một vùng (...) Hoa ngâu hoa lan
tới độ chín đứng gần chỉ thoang thoảng thế mà đằng cuối gió (...) sực nức mùi
hoa mát cả ánh trăng đêm hè (...) Hoa sói thơm ngọt, hoa nhài thơm gời gợi...".
Như vậy Hà Nội từng là một
vườn hoa Việt Nam khổng lồ. "Vườn phố" ấy có hoa quê và có cả những
hoa mà không vườn quê nào có.
Bao nhiêu "những làn
hương kỳ ảo" một thời cơ hồ đã bay về thời ấy cả. Mà thơm nào chưa thì
mong gì lọt được vào lòng người Hà Nội trẻ. Cũng như "cây xanh", nét
riêng này có còn cũng chẳng biết là cho ai...
Mưa trên phố
"Hà Nội có những
ngày mưa khiến đôi người bạn phải bật cửa đội mưa để tìm nhau (...) Tách cà-phê
tỏa khói thơm, phả hơi nóng vào đôi bàn tay vừa dầm trong mưa lạnh giá (...) Những
giọt cà-phê lặng lẽ rỏ vào lòng tách trắng (...) ngoài kia mưa đang thảng thốt
rào rào, đang âm thầm thánh thót hay đang mơ hồ lơ đãng bay lướt không gian
(...)
Giêng hai, mưa bụi phủ trắng
những bông cúc muộn, chắc mưa này là hồi quang, là điệp khúc của trận mưa đông
làm mờ ảo nhành mai trước tiết đại hàn. Hình như tranh phố Phái không có mưa hoặc
rất ít mưa. Phải chăng mưa bay như phấn thông ấy là nét nhòe tài hoa của bức
tranh lụa làm bông hoa đã thành cánh bướm, ngọn tháp rêu phong cũng khoác áo
choàng voan (...)
Tháng bảy, nỗi mưa Ngâu
(...) Con sông trời cứ duềnh lên (...) Có những đêm mưa, nằm mãi không ngủ được
vì tiếng mưa thì thào trên hàng cây mái phố. Tiếng gì xa vắng thế? Tiếng gì như
hơi thở dài to dần lên, xoẹt qua tai rồi lại nhỏ dần đi và mất hút vào mưa? Chiếc
xe nào đi vội trong mưa, bánh xe xiết vào làn nước, tưởng như nhìn thấy hai làn
nước hình dẻ quạt tóe sang hai bên trong ánh đèn vàng chóe. Sáng mai, trận mưa
làm đường phố sáng lên, cây cối tinh khiết sạch sẽ, tươi tắn như gái dậy thì
(...) Hồ Gươm đầy lên, chan chứa, như rộng ra, mênh mông hơn, ít xanh hơn nhưng
lùa cái mát lạnh lên đường cho áo mình như mỏng đi trong thông thoáng (...)
Tháng mười trời màu bạc,
người lạnh hai vai. Con rươi sắp trở về, gọi vỏ quýt thìa là để thơm từ bếp nhà
này sang góc phố khác (...) Chợt một trưa nào, trời như chuyển mình, người này
người nọ kêu đau xương cốt, mây không tươi sáng cũng không âm u, mà cứ rập rình
những đám mây không ra dày không ra mỏng cho lắc rắc chút mưa trêu ngươi. Mưa
rươi đấy (...) Mưa rươi có gọi là mưa thu được không? (...) Thâm Tâm có câu
thơ: "Cuối thu mưa nát lòng dâu biển" (...) Khi mùa thu bàn giao
không gian cho mùa đông thì những sợi mưa đã biến thành những con dao vô hình cắt
vào da thịt người".
Mưa lạnh đi cà-phê thì phải
quá. Có hai càng hay, mà một thôi với mưa cũng đủ. "Bữa ấy mưa xuân phơi
phới bay...", "bay như phấn thông" cho "hoa nhòe thành bướm"!
Người Đàng Trong ra Thăng Long không biết có ai làm thơ "dạ vũ ký
nam"? Có dịp ra lâu lâu, thấm mưa đêm đất bắc, hẳn khi trở vào phải chong
nến tới sáng mà kể với tri kỷ...(4) "Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót
rơi...". "Mưa trên phố" nhiều vẻ thấm thía, sao hiếm rơi trong
tranh Phái nhỉ? Tìm mãi, mới thấy chỉ một lần.
Bánh dày bánh giò
"Hầu như thành lệ,
nhà làm giò chả nào cũng thường làm cả bánh dày bánh giò. Có thế mới tận dụng hết
nguyên liệu từ thịt đến mỡ, bì (và không bỏ phí) sức nóng của bếp lò (và cả)
tàu lá chuối (...)
Bánh giò là thứ ăn chơi,
ăn nhẹ (...) Thường phải ăn nóng (...) Bóc cái bánh giò, lá thành chiếc đĩa
(...) Nhân là thịt vừa mỡ vừa nạc xào với mộc nhĩ, hành (...) Bánh trong vì gói
bằng bột lọc, là thứ bột đã xay kỹ, ép, phơi khô, thái con chì, khi gói bánh mới
nhào bột cho dẻo (...) Bánh giò bột lọc dù luộc kỹ vẫn không nát, vẫn có thể xắn
thành từng miếng (...) Ăn bánh giò không phải là lúc quá đói hay có việc vội
(...) Ăn bánh giò, cần nhai thong thả miếng bánh vừa nóng vừa mềm, nóng mà vẫn
thấy mát ở đầu lưỡi, vừa ngọt vì nhân thịt vừa thơm vì hành mỡ, lại khiến xúc
giác được thay đổi vì mộc nhĩ (...) Bánh giò không cần gia vị như nước mắm, ớt,
hạt tiêu (...)
Cùng với bánh giò là bánh
dầy (...) Gạo nếp cái, nhặt kỹ, đồ xôi rồi đem giã (...) Khi xôi chín tới, bắc
ra, dỡ trên một tấm vỉ buồm đã xoa một lớp mỡ. Vỉ buồm đặt trên một mớ rơm sạch.
Hai người đàn ông lực lưỡng, dùng cái chày gỗ cao gần bằng người, giã chày đôi,
trong khi một người ngồi đảo bánh bằng bàn tay như múa và cũng đã được xoa nhẹ
một lớp mỡ. Khi xôi đã thành dẻo, không còn hình hạt gạo nào, là lúc bắt bánh.
Mỗi người nắm lấy một mớ bột dẻo ấy nặn qua kẽ ngón tay chỏ và ngón tay cái. Bột
dẻo phòi lên, một hình tròn như quả bóng bàn, trắng tinh. Dùng tay ngắt như hái
quả, đặt lên mảnh lá chuối đã chuẩn bị sẵn. Mỗi mảnh lá chuối là hai cái bánh.
Giây lát sau, quả bóng bàn ấy xẹp xuống (...) Để thật nguội mới ấp vào nhau
(...) (Khi ăn) cặp vào giữa hai cái bánh một miếng chả quế hay một miếng giò bò
hoặc một miếng chả mỡ".
Làm bánh dày, cái khâu bắt
bánh hồi tiền chiến Nguyễn Đình Lạp cũng có tả: "Bác Vuông (...)
véo lấy một nắm bánh, vê tròn ngược đi ngược lại mãi. Bất thình lình, bác bứt mạnh
ngón tay cái, vắt ra một cái bánh dầy tròn xoe, trắng phau như một quả trứng lớn".
Trong cổ tích bánh dày cặp
kè với bánh chưng, còn trong các nhà làm giò chả ở Hà Nội thì nó đánh bạn với
bánh giò. Hình như bánh giò ăn nguội với nước mắm nhĩ có cái ngon riêng...
Cơm nắm
"Ðêm trở trời, nằm
trong nhà bỗng nghe đánh "bộp" ngoài sân. Mẹ lụi cụi ra nhặt tầu cau
vừa rụng, cắt bỏ phần lá để đun, còn cái mo cau giữ lại, cất đi. Ngày con đi xa
mẹ lấy tấm mo cau đã khô, đem dấp nước, bới cho con nắm cơm vừa xới ở nồi ra,
thơm ngát. Mẹ cũng gói theo một dúm muối vừng gói trong lá chuối tươi đã lau sạch.
Vừng thơm lựng, vừa bùi vừa ngậy, ăn với cơm nắm nó hợp nhau như cau với trầu,
như cốm với hồng, như dưa hành với bánh chưng (...)
Trên chuyến tầu thủy chạy
dọc dòng sông mênh mông (...) tôi giở nắm cơm ra ăn (...) Gạo mới thơm ngọt mùi
cốm, hòa vào mùi thơm của muối vừng (...) tôi nhai thong thả miếng ngọc thực ấy
giữa hơi ngòn ngọt của dòng sông đầy phù sa, giữa hơi của mo cau đã mềm (...)
Cùng khoang tàu với tôi cũng có người giở cơm nắm ra ăn (...) Cách ăn khác
nhau. Có người dùng tay bẻ ba tư nắm cơm rồi cầm lên mà cắn những miếng thật
to. Có người dùng con dao thật sắc cắt nắm cơm thành từng thỏi nhỏ, vuông vức,
trông như những khẩu giò lụa trắng tinh. Nhìn những thỏi cơm đặt bên nhau đều
tăm tắp, cảm giác ngon, thèm ăn tăng lên đến mấy lần (...) Nắm cơm mà bẻ ra thì
quả là mất ngon. Nó chỉ còn là những tảng những vừng cơm cạnh nồi (...) Phải gọt
phải cắt, phải ăn thong thả (...)
Một lần khác tôi đi xa,
ngồi nghỉ dưới bóng mát một cây cổ thụ ở lưng đèo. Giở cơm nắm ra ăn, gió đồng
đưa hương lúa từ dưới thung lũng lên, gió núi đưa mùi hương cây dại từ trên núi
xuống, đất đỏ thấm vào gan bàn chân, cây xanh tỏa bóng mát trên đầu... Càng thấm
thía vị cơm nắm mẹ cho mang theo dọc đường xa ngái".
Trần Thị Lai Hồng
ghi: "Cơm nắm (...) nấu không khô, chẳng nhão (...) Dùng mo cau
non, loại mo bao quanh buồng cau, mỏng mềm, không phải mo bẹ lá (...) Cơm vừa
chín tới xới ra mo cau sạch, nhồi nhanh mạnh tay nhiều lần cho hạt cơm dẻo mềm
nhuyễn nhừ dính sát nhau thật mịn, rồi nắm lại (thành) hình dáng tròn đầy cỡ miệng
chén, hoặc vuông vức dẹp hơn cái bánh chưng, hay một thỏi tròn lẳn có đường
kính nhỏ hơn miệng chén và dài khoảng một gang tay (...) Trước mẹ cháu đội
thúng cơm nắm đi bán, gần như mỗi ngày vào con ngõ này là được ông ấy gọi
mua". "Ông ấy" là nhà văn Nguyễn Tuân đó.
Giò lụa lá chuối, cốm lá
sen, bánh chưng lá dong, nem chua lá vông lá ổi, cơm nắm mo cau... Những cái
dùng để gói ngày xưa không trơ trơ như giấy như nhựa mà tích cực góp phần làm
miếng ngon thêm thơm, thêm đẹp. Đó là những thứ "gia hương",
"gia sắc" tế nhị!
Quà chợ
"Những bà mẹ nghèo
(...) tan chợ (...) tong tả về nhà, con chạy ra ngõ sà vào lòng mẹ (...)
Củ khoai lang luộc, cắm
thêm bốn năm cái tăm thành con lợn, chơi thật lâu rồi mới dám ăn (...) Củ khoai
nước (...) dẻo quánh, nhàn nhạt. Làm gì có đường mà chấm, ăn nhạt thôi (...)
Chiếc bánh đa vừng giòn tan (...) Quà mà. Làm gì có đủ có nhiều mà ăn no ăn
chán (...) Bắp ngô (...) ăn tẽ từng hạt, may được "con mèo", là mừng
rỡ, khoe ầm lên, để vào lòng bàn tay cho nó kêu lên trong tưởng tượng (...) Chiếc
kẹo bột mỏng dính nhưng vẫn còn mang dáng xoắn vỏ đỗ (...) mùa hanh giòn căng cắc,
nhưng mùa nồm thì bở bùng bục (...) Những xâu táo mùa xuân, xâu hạt mít mùa hè,
xâu bồ quân tim tím mùa thu (...) Củ bột, còn gọi là củ dong hay củ hoàng tinh,
trông y như những chiếc măng tí hon (...) Củ khoai riềng ngọt một vị lợ lợ
(...) Củ ấu có hai đầu nhọn hoắt có cái ruột bùi bùi (...) Củ súng nhỏ tí vỏ
đen xì nhưng ruột lại vàng như màu quả dành dành lung linh bên bờ ao. Đừng tìm ở
củ súng cái ngọt cái thơm. Nó cũng hẩm hiu như số phận tuổi thơ con nhà nghèo
(...) Chuối mật da sạm nắng nâu già, chuối tây mập mạp, chuối tiêu trứng cuốc
thơm lừng (...) Mía (...) na (...) ổi găng tròn xoe, ổi nậm ổi đào hơi chua, ổi
nghệ lại chát (...) Quả thị thơm suốt những giấc ngủ mùa thu (...) Dâu da xoan
chín đỏ vừa ngọt vừa chua, hơi nhăn nheo, gần giống như mặt khỉ tí tẹo, thứ quà
rẻ đến nỗi có thể sang hàng xóm xin được (...)
Quà chợ có khi là bánh
(...) Bánh vuốt, bánh tẻ, thứ bánh bằng bột tẻ, hơi cứng, nhân chút ít đậu
xanh, gói thành hình dài như chiếc sừng dê, nhai kỹ cũng bùi đáo để. Ngon hơn một
chút là bánh khoai, bánh rợm (...) Bánh khoai còn nguyên những lát khoai sọ,
không nhừ mà cứ sần sật như một thứ sụn non (...) Bánh mật mầu thật đậm đà (nước
da bánh mật!), như ngầm chứa một điều gì không thể nói ra (...) Bánh khảo bột
ngô, từng thanh nhỏ, sấy vàng, có những cái khía nhỏ cho trẻ thơ dễ bẻ, bột
thô, ít đường, nhưng lại có hương thơm rất hấp dẫn (...) Bánh tai voi (...) kẹo
vừng (...) chè lam (...) Còn một thứ không hiểu gọi là gì, kẹo hay bánh không
biết. Đó là bỏng bộp, giống những quả bóng bàn (...)
(Quà chợ còn là những món
đồ chơi) (...) Chiếc trống bỏi, con tò he, ông phỗng bằng giấy bồi, ông tiến sĩ
giấy, sợi pháo dây, con lợn bằng đất sơn đỏ béo ục ịch... Nhưng cho đến năm sáu
chục năm sau, tiếng kêu tính tinh vui tai từ hai hạt đỗ của chiếc trống bỏi
đánh vào tang trống là mặt giấy căng, vẫn còn vang trong lòng tôi. Con tò he bằng
bột màu, có mùi chua chua, có thể là con gà có bộ lông xanh thật xanh, đỏ thật
đỏ, cái mỏ mềm mềm... vẫn như gáy vang đâu đó mỗi khi tôi bồi hồi nhớ lại (...)
Tôi cũng không thể nào không nhớ những sợi pháo dây, còn gọi là pháo hoa cà hoa
cải, nở toé ra như một trận mưa sao những đêm tết trong cảnh tối mịt mùng của
làng quê không có ánh điện (...) Những trận mưa sao ấy cùng làn khói thơm tỏa
ra (...) đã đưa tôi vào xứ sở của thần tiên kỳ ảo, có niềm vui sáng lên suốt một
đời người (...)
Quà chợ nghìn năm đang mất
dần đi, thay vào đó là nhiều thức quà mới, món đồ chơi mới (...)
Tôi cứ phân vân mãi về
lòng mẹ (...) Những bà mẹ giàu có và những bà mẹ còn nghèo khổ... có giống nhau
không, hoặc ai tha thiết chan chứa hơn ai, khi mua quà chợ về cho con? Riêng
tôi, những thức quà, những món đồ chơi đơn sơ (...) nay nhớ lại, tôi vẫn còn thấy
lòng mình rưng rưng".
Cái "quà chợ"
làm một ông lão tóc bạc phơ nhớ lại mà thấy lòng rưng rưng, nó có phải là vật
chất đâu. Nó là tấm lòng của mẹ đối với con. Thế thì so quà chợ, phải là so
lòng với lòng. So lòng những mẹ giàu có với lòng những mẹ nghèo khổ, rồi nhân
thể nên so luôn lòng của những đứa con. Những cụ mà ngày xưa mẹ đã mua cho những
quà gì không biết thật đắt tiền, bây giờ nhớ lại thấy thế nào nhỉ?
Bữa ăn ngày thường
"Trước hết (...) Lời
mời (...) Không thể nói: "Bố vào ăn cơm". Mà phải nói: "Mời bố
vào xơi cơm ạ". Khi cả gia đình đã ngồi vào mâm đông đủ, bắt đầu cũng bằng
lời mời. Lần lượt mời từ trên xuống, từng người một rồi mới được nâng bát. Lời
mời cũng không được nói sõng, phải có chữ ạ sau cùng. Ai ăn xong, trước khi đứng
dậy, cũng phải điệp khúc lại lời mời như bắt đầu bữa ăn (...)
Bà, hoặc mẹ, cô con gái lớn,
chị con dâu bao giờ cũng ngồi đầu nồi (...) Người ngồi đầu nồi phải ăn thong thả,
ý tứ quan sát cả nhà; ai sắp hết bát cơm thì mình dừng tay và cơm ngay, sẵn
sàng để xới cơm; không để ai phải chờ (...)
Ngồi ăn cơm không được
nhai tóp tép, nhồm nhoàm, húp xuỵt xoạt (...) Có một cái thìa chan canh, không
được dùng nó để húp. Muốn húp, phải múc canh vào bát riêng của mình. Múc xong
phải đặt thìa thật khẽ, không để bắn canh ra ngoài. Chấm thức ăn phải hứng bát
(...) không được đưa miếng thức ăn đã chấm trực tiếp lên miệng, mà phải đặt vào
bát cơm rồi và (...)
Trên mâm cơm có miếng
ngon nhất, bao giờ bố mẹ cũng gắp nhường ông bà, và thông thường ông bà lại gắp
trả lại cho cháu (...) Có khi bé em không thích, gắp trả vào bát của mẹ, và người
mẹ lại nhường cho bố (...)
Bát sạch ngon cơm (...) Cụ
Nguyễn Tuân sinh thời, trên mâm chỉ vài món, nhưng cái mâm phải bóng lộn, đôi
đũa thật khô, cái bát thật sạch (...)".
Tô Hoài: "Mâm
cơm (...) mỗi thứ bày ra đều (...) có chỗ nhất định (...) Con trẻ ngồi mâm với
người lớn thì (...) lấy đũa so cho mọi người (...) Không nhai nhồm nhoàm, nhai
tóp tép và không vừa miệng lúng búng nhai vừa nói chuyện (...) Ông bà, cha mẹ
ngồi trên (...) vợ chồng ý tứ không ngồi bên nhau (...) nàng dâu và con gái thì
giữ chân đầu nồi xới cơm cho cả nhà. Ðưa bát cơm vừa xới cho người vai trên,
đưa hai tay, gắp thức ăn thì tránh gắp chen đũa (...) Không chăm chắm chỉ gắp
liền một món - nhất là đấy lại là đĩa thịt gà nhất mâm (...) Gắp thức ăn chấm
nước mắm không đưa thẳng lên miệng, mà đặt thức ăn vào bát đã, rồi mới và (...)
Vào mâm thì ai cũng mời ăn. Ông bà bề trên nhất thường nói một câu vui: "Cả
nhà ăn cơm nào". Mọi người lần lượt mời bậc cao tuổi trước - không phải mời
người dưới thứ bậc mình (...) Ăn xong, đặt bát đã vét sạch, để ngang đôi đũa,
nói: "Cháu (con) xin phép ạ", rồi mới đứng dậy".
Văn hóa chẳng ở đâu xa.
Tết Hà Nội xưa
"Cái gì quý nhất,
ngon nhất người ta để dành ăn Tết. Nhà giàu mâm cỗ tám đĩa tám bát, chồng đôi
chồng ba đã đành, người nghèo cũng có "mâm cơm cúng cụ" với món này
món khác, dẫu cho quanh năm bóp mồm bóp miệng (...)
Hàng tháng trước Tết, người
Hà Nội đã tranh thủ vỗ béo lợn, gà và tích lũy các món khô như măng, nấm hương,
miến mọc, tôm he, bóng bì v.v. Còn các làng ngoại thành thì thi nhau tát ao, bắt
cá chép, cá trắm to làm nồi cá kho (...) Các nguyên liệu làm mứt như múi khế,
quả mơ, miếng bí đã được phơi khô trước đó cả tháng (...)
Sửa sang, dọn dẹp bàn thờ
là (...) để bày tỏ lòng thành kính với tổ tiên. Người Hà Nội trang trí ban thờ
cũng rất công phu: từ hoành phi, câu đối, chân chỉ hạt bột, rồi tam sự, ngũ sự
bằng đồng, cho đến ngai thờ, tranh chân dung, bình hoa, nhang nến...
Trước Tết nhiều ngày
(...) bộ quần áo trưng diện mấy ngày xuân. Nhà có ông bà cao tuổi, phải sắm được
quần áo đỏ, khăn đỏ; còn trẻ nhỏ không thể thiếu bộ đồ xúng xính, mới tinh, nước
hồ còn sột soạt... Thanh nữ cũng lo chuẩn bị xiêm y, giày dép, son phấn, đồ
trang sức (...)
Tết là dịp dành cho sự
sum họp gia đình. Mấy ngày đầu năm mới ít ai đi ăn cơm khách (...) Đêm giao thừa
người Hà Nội có tục lệ đi chơi xuân hái lộc (...) Nhiều người quanh năm không
biết cờ bạc là gì, nhưng Tết đến cũng có cỗ bài tam cúc để cả nhà cùng chơi. Đẹt
mũi, đẹt tay, đẹt đùi rồi cười vang cả nhà (...) Hà Nội trước có lệ bói tuồng đầu
năm. Chiều mùng một, các rạp hát mở cửa, không đề tên vở diễn. Khách vào xem mới
biết là vở gì, có người còn vào rạp lúc giữa vở, như kiểu bói Kiều, xem mình gặp
cảnh gì trên sân khấu. Nhà rạp khôn khéo, bao giờ cũng chỉ diễn những vở tươi
vui, đầm ấm, hạnh phúc, đoàn viên để ai cũng hài lòng".
Chuẩn bị kỹ thế, trách
nào Tết... vui như Tết. Nhưng đó là Hà Nội ngày xưa, chứ Hà Nội bây giờ thì xuê
xoa, quấy quá Tết đi nhiều lắm. Người người ngày ngày giờ giờ phút phút đua
nhau "kéo" như quân đèn cù để cải thiện đời sống vật chất hơn nữa và
hơn nữa, nên mọi sự chuẩn bị Tết đều nhường cả cho các nơi chuyên môn, chỉ việc
chạy đi mua... Thế kỷ 21 không còn bói tuồng thì có thể bói truyền hình, bói Mạng.
Nhưng coi chừng, rất dễ gặp cái xúi quẩy.
Hoa cúng
"Bàn thờ (...) bao
giờ cũng có một bát hương, chén nước và một đĩa hoa (...)
Hoa cúng (là) những bông
hoa rời, đặt trên cái đĩa nhỏ (...) Có thể là một bông huệ trắng muốt thơm
ngát, một bông ngọc lan thơm nồng, một nhánh hoàng lan mềm mại, hương phảng phất
(...) Có khi một nhánh hoa sói, một bông hoa cúc bán khai, một đóa thược dược,
một nhánh cúc bách nhật khô cứng (...) Đôi khi vào mùa ít hoa, (có thể) thấy một
bông hoa mào gà (...) Tùy theo mùa, theo thời tiết mà đĩa hoa cúng đầy hay vơi,
có thứ này hay thứ nọ (...)
Chợ làng Ngọc Hà, cứ hai
ba giờ đêm đã họp, họp trong sương mát, trong ánh những ngọn đèn dầu di động
theo bước chân người, họp trong tiếng trao đổi lầm rầm, trong hương hoa thơm
ngát từ ngõ này sang ngõ khác. Nhà thơ Vân Long có câu thơ rất hay: "Yêu
sao Hà Nội sương bay trắng / Buổi chợ hoa đêm đất Ngọc Hà..." (...)
Gói hoa, thường dùng lá bồ
tát, một loại lá dong, màu lá mạ, thường trồng ven rào. Thiếu mới dùng lá chuối.
Cái lạt bó hoa cũng tước thật mảnh, chỉ nhỉnh hơn sợi chỉ, buộc hững hờ cho hoa
khỏi nát, cánh hoa cứ lồng khồng tinh khiết, tươi nguyên. Sợi lạt còn thắt nút
thành tay cầm (...)
Nhiều năm trước có những
bà chuyên bán hoa cúng. Sáng sớm đi dọc các phố, treo gói hoa cúng vào cái đinh
đóng sẵn nơi cửa. Chủ nhà khi mở cửa đã thấy gói hoa còn ướt sương đêm, tươi
rói, mát lạnh. Cuối tháng bà hàng hoa mới đi lấy tiền một loạt một lần. Rằm, mồng
một, hoa cúng cần nhiều hơn. Cái làn đi chợ, ngoài thức ăn, còn toòng teng một
gói hoa cúng, một thẻ hương (...)
Hoa cúng khi cúng xong,
ít gia đình dẹp đi, thường thì cứ để khô (...) Ðến lần cúng sau, thay hoa mới,
người ta mới bỏ hoa cũ".
Sao bài viết về "hoa
cúng" mà lại in vào sách về "thú ăn chơi"? Vì hoa ấy trước cúng
sau chơi? À, mà có khi trước cúng cũng đã chơi rồi, khi đi "chợ hoa
đêm", đi trong "sương bay trắng", trong "hương hoa thơm
ngát từ ngõ này sang ngõ khác", khi sáng sớm mở cửa thấy gói hoa ướp sương
treo lủng lẳng trước nhà... Lại nhớ trong một truyện ngắn của Thạch Lam, nhân vật
chính dậy sớm, ra vườn cắt hoa đem vào đặt lên đĩa trên bàn thờ... Cái lối cúng
hoa, chơi hoa của ta đơn sơ mà đẹp. Đọc kể, bắt muốn cầm tận tay một gói hoa
gói bằng lá dong bồ tát, mà không biết có còn không?
Bài thơ áo dài
"Một nét duyên dáng
như mây thu mơ hồ hay cái đẹp lộng lẫy của ngày hè chói chang hoa phượng có gió
lộng (...) (dáng) bay nhè nhẹ của tà áo tím bên hồ hay vẻ lâng lâng của màu áo
trắng như tung đùa trong sắc xanh cây lá (...) Tấm áo dài Việt Nam không hẳn
hôm nay mới có (...) Cụ chúng ta, bà chúng ta, mẹ chúng ta từng chẳng mặc áo
dài đó ư? Cái áo năm thân, tứ thân buông tà hay thắt vạt, cái áo mớ ba, mớ bảy
đổi vai hoặc không đổi vai đi cùng với váy sồi hoặc quần lĩnh tía... đã vào ca
dao, thành câu ví, nên hình ảnh của (lối ăn mặc) thanh nhã, tài hoa, nền nã. Có
thứ huân chương nào tặng cho tác giả cái áo đổi vai. Nối vai nhưng lại so le, một
đường gấp khúc, tạo mảnh hình không đối xứng nhưng ưa nhìn, giống như cái răng
khểnh trên khuôn mặt trái xoan, hoặc một bên lúm đồng tiền của cô gái dậy thì
(...) (Mặc) áo dài (...) thong thả thì buông chùng, vội vàng thì thắt vạt trước,
mà hối hả hơn thì thắt vạt sau lưng mà chạy gằn cho tiện (...) Những năm ba
mươi của thế kỷ này, tấm áo dài (được cải cách đi) thành áo tân thời (...) Áo
dài nhung đỏ đi với kiềng vàng, áo dài nhung đen có chuỗi hạt trai sáng lấp
lánh, áo dài trắng có mái tóc đen huyền thả buông lửng sau lưng áo, áo tím hàng
Vân có chiếc nón bài thơ trắng ngà (...) Đó là sự tuyệt đỉnh hài hòa hay lộng lẫy
khôn cùng, cũng tựa như tấm áo Đồng Lầm có thắt lưng hồ thủy hay hoa đào (...)
Nữ sinh chiều hồ Gươm khoan thai nhịp bước, cắp cặp trước ngực, tóc đung đưa
sau lưng (...) hai tà áo dài cứ như trêu cợt, như đùa nô, như vô tình mà nghi
ngờ, mà nhắn nhủ mà xa xôi... (...) Mềm mại, uyển chuyển hình như đã lan truyền
sang cả sóng hồ nên hồ cứ lăn tăn, lan truyền cả vào tầng lá nên cây lá cứ rì rầm,
lay động (...) Ai có thể dửng dưng được trước nét thanh tân đầy ma lực của tà
áo dài cứ lả lướt như sóng cạn, vừa ngập ngừng lại vừa thách thức (...) Mươi
năm trở lại đây, tà áo dài Hà Nội bị ngắn đi (...) Nó không còn đủ sức bay, có
lúc chết cứng trên nửa thân người, như con bướm bị chặt cụt bộ cánh rực rỡ. Thật
tiếc. Rút ngắn phần bay lượn xòe rộng ấy khác nào cắt đi cái tưởng tượng và ảo
tưởng của nhà thơ".
"Mây thu mơ hồ",
"bay nhè nhẹ", "lâng lâng, tung đùa", "mềm mại, uyển
chuyển", "lả lướt"... Đúng cả. Bao nhiêu người đã phát biểu đại
khái như vậy.
Lạ lùng hơn: "Nữ
sinh khoan thai nhịp bước" bên bờ hồ mà "nhịp bay" của tà áo dài
"hình như đã lan truyền sang cả sóng (...) nên hồ cứ lăn tăn, lan truyền cả
vào tầng lá nên cây lá cứ rì rầm, lay động"!
Còn nữa. "Nét thanh
tân đầy ma lực" của tà áo dài kích thích "tưởng tượng và ảo tưởng"
đến nỗi mắt trông "sóng cạn" mà tâm hồn nhậy cảm của "nhà
thơ" thấy được vẻ "như trêu cợt, như đùa nô, như vô tình mà nghi ngờ,
mà nhắn nhủ mà xa xôi (...) vừa ngập ngừng lại vừa thách thức"!
Mây thu xuống đất
Hồ gợn lá lay
Mấy gã si ngây
Ngẩn ngơ lẽo đẽo...
Phụ nữ Việt Nam mặc
"mây thu" mãi, áo dài kỳ diệu thân yêu ở đời luôn với đất nước chứ
gì? Không thể nhầm to hơn.
"Mươi năm trở lại
đây, tà áo dài Hà Nội bị ngắn đi (...) Nó không còn đủ sức bay, có lúc chết cứng
trên nửa thân người, như con bướm bị chặt cụt bộ cánh rực rỡ".
Lời viết khoảng đầu thập kỷ 2000, vậy việc xảy ra khoảng đầu thập kỷ 1990.
Không biết tại sao ta chặt
cánh bướm, chỉ biết thế là dáng áo đi đời. Áo mất dáng sống thêm khoảng 20 năm
thì coi như thôi sống: từ khoảng đầu thập kỷ 2010, ngoại trừ khi bị trường học
hay sở làm bắt buộc, phụ nữ trẻ Việt Nam không mặc áo dài nữa. Lý do là quá say
mê bắt chước Tây.
"Chắc không một cô
gái Việt Nam nào lại không sung sướng được mặc tấm áo dài trong ngày hội, ngày
lễ, ngày tết và nhất là ngày bước xuống chuyến đò hạnh phúc".
Có sống dậy mà xem, người hỡi.
Tưởng ở nghìn năm
Nào ngờ chưa trăm
Đã cao bay mất
Mây ơi, áo ơi!
Riêng gì áo. Cứ đà mọi thứ Việt Nam đang tới tấp bay đi này, mấy chốc về tinh thần dân tộc trắng tay!
Như thường lệ, "viết"
đây là tập trung những lời bàn viết đã lâu, có thể sửa chút ít, nhuận sắc, rồi
viết thêm một lời dẫn. Chúng tôi dự định sẽ bàn thêm về những tác phẩm của Băng
Sơn.
Chú thích:
(1) Hoàng Cầm về Kinh Bắc: "Tôi
xin tỏ lòng biết ơn hai bầu sinh quyển và nhân quyển nơi quê hương...".
(2) Tên một bài viết của
TT.
(3) Xem bài "Thôi một
nước quê" của TT.
(4) Lý Thương Ẩn có bài "Dạ vũ ký bắc".
1/12/2024
Thu Tứ
Theo http://chimvie3.free.fr/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét