Hương phong lan tỏa
theo chiều gió
Hoài mộng chiều xuân một
dáng hoa
Lan đài trinh trắng dưới trăng ngà
Thanh cao, tú lệ bên dòng suối
Sắc nước hương trời ngan ngát xa
Vương Thanh
Trên quả đất phong lan có
mặt từ lâu, có lẽ từ thời kỳ Jura cách đây 20 triệu năm, khi lục địa nguyên thủy
Pangée tan rã, các bản lục địa lìa nhau đem theo cả cây cỏ... Phong lan là thực
vật quan trọng nhất hoàn cầu gồm có 35.000 loại, được nói đến từ những thời thượng
cổ, trung cổ qua các hiệu lực y học và kích dục lắm khi vì dị đoan hơn thực tế.
Chỉ qua thế kỷ XVIII, khi bộ môn thực vật học thành lập, các nhà chuyên môn mới
bắt đầu phân loại. Nhà vạn vật học Karl von Linné (1707-1778) phân biệt phong
lan với những cây cỏ khác nhưng kê toàn thể trong một chi Epidendrum. Những
cây phong lan đầu tiên được các thủy thủ mang từ châu Mỹ về châu Âu để làm quà
cho các bà hay để khảo cứu về mặt khoa học. Năm 1733 cây Bletta
vereccundaen từ Bahama đươc nhập cảng nước Anh. Phải đợi 40 năm sau,
qua 1768 mới có cuộc viễn chinh đầu tiên thu thập thảo mộc dưới quyền nhà hàng
hải James Cook (1728-1779), từ đó bắt đầu nở dưới bầu trời châu Âu chiếc hoa
phong lan đầu tiên Brassavola nodosa nguyên gốc Curacao. Năm
1778, trong cuộc thám hiểm châu Á hai cây Phaius grandiolius và Cymbidium
ensifolium được đem từ Trung Quốc về. Năm 1789, chiếc tàu Anh Le
Bounty thất bại trong một cuộc nổi loạn (một cuốn phim rất hấp dẫn Nhưng
người phẩn nộ trên chiếc tàu Bounty, Marlon Brando thủ vai chính Fletcher
Christian) nhưng qua năm 1793, chiếc tàu Providence thành công đem về 15 mẫu
phong lan trong ấy có Oncidium altissimum, Oncidium carthaginense,
Lycaste baringtoniae, Epidendrum ciliare,...tất cả còn được xếp trong
chi Epidendrum. Qua thế kỷ XIX, sức quyến rũ của phong lan
ngày càng lớn ở châu Âu mà nhất là ở nước Anh. Những nhà thượng lưu đặt mua những
cây hiếm có, từ đó giá cây càng lên cao dữ dội. Trong những năm thập niên 1830,
nhà thực vật học Anh John Lindley rồi nhà thực vật học Đức Heỉnich Gustav
Reichenbach bắt đầu xác định một số cây. Quan trọng là năm 1862 nhà vạn vật hoc
kiêm cổ sinh vật học Charles Darwin (1809-1882) cho xuất bản cuốn sách quy chế Sự
thụ thai sâu bọ những cây phong lan và những kết quả khả quan cuộc tạp giao.
Phong lan lúc còn hoang dại
trong rừng là những cây mọc trên thân cây (épiphyte) hay trên mỏm đá (épilthe)
trong môi trường nóng và ẩm. Đấy là hai điều kiện sinh sống của cây phong lan
trong thiên nhiên cũng như ở nhà. Đi dạo trong rừng núi Trung-Nam Mỹ, hay châu
Mỹ La Tinh (nghĩa là những nước nói một thứ tiếng có nguồn gốc La Tinh: Tây, Bồ,
Pháp), khách bộ hành dễ bắt gặp cây phong lan. Nhưng chụp ảnh thì được, triệt để
cấm hái, nhổ đem về, theo thỏa ước Genève bảo vệ các loài hoang dã, tuy có nhiều
nước không tôn trọng luật lệ. Nói dễ chứ thật ra lắm khi phong lan mọc trên hóc
đá cheo leo nguy hiểm, phải chịu khó và can đảm lắm mới trèo hái được. Năm
1920, trong thời kỳ xây dựng những đường giây nói ở Ðông Dương, viện Bảo tàng lịch
sử thiên nhiên Musée d'histoire naturelle Paris nhận được nhiều mẫu thực vật học
trong ấy có vài cây phong lan lầu đầu tiên nhập cảng châu Âu. Có chuyện một bà
giáo sư ở Cămpuchia cưỡi voi đi tìm phong lan, mừng gặp một mầu hoa đỏ đẹp chưa
từng thấy, nhưng chưa kịp hái thì vòi con voi chợp mất và ta mất một loại quý!
Người ta còn kể chuyện một đàn kiến phả hoại một gốc Grammangis ở
Madagascar, một chiếc thuyền độc mộc chở đầy phong lan suýt bi một con trăn nước
đánh chìm ở Venezuela...Ở xứ lạnh, phong lan ở đất thường có các cụm hoa màu ít
sặc sỡ, sống chen lẫn với các đám cỏ ven rừng, trên các bãi hoang, hay trên các
triền núi bên các bụi cây thấp. Còn các loài phong lan sống ở đất vùng nhiệt đới
thì đa dạng, các cụm hoa sặc sỡ, ngào ngạt hương thơm (hay hôi hám) nổi bật giữa
các đám lá xanh nơi đồng cỏ. Nó cũng mọc ẩn, len lỏi dưới các bụi cây của các
cánh rừng thưa ẩm ướt, thậm chí ven các đầm lầy.
Ði viếng các chùa Huế, nếu
ngửng đầu nhìn lên, khách không khỏi lạ thấy những bụi phong lan treo lơ lửng
hay sống trên vỏ thân các cây gỗ khác. Lối sống kí sinh là một nét độc đáo của
phong lan. Thân rễ dài hay ngắn, mập hay mảnh, cây chụm lại thành bụi dày, cũng
có thể bò xa. Hệ rễ khí sinh cốt yếu cho cuộc sống thực hiện một số nhiệm vụ: lấy
nước, lấy muối khoáng trên vỏ cây gỗ, bám chặt thân vào thân cây gỗ để khỏi bị
gió cuốn đi, bảo vệ phong lan để nó mọc vươn ra chỗ có nắng giữa chốn rừng rậm
u tối. Quan trọng như vậy, hệ rễ phụ thuộc hình dáng chung của cả cơ thể cây.
Có cây phong lan nhỏ bé, khó khăn lắm mới nhận ra được, sống trong kẽ nứt của vỏ
cây hay đầu mút các cành cao. Để hấp thu chất dinh dưỡng, rễ cây có bên ngoài một
mô xốp ẩm dày chứa đầy không khí, có khi cả nước chảy trên vỏ cây hay lơ lửng
trong không trong hơi nước hay sương sớm. Hệ rễ của nhiều loại thu gọm mùn vỏ
cây, đan bện thành búi chằng chịt làm nguồn dự trữ chất dinh dưỡng. Trong những
cây bò dài, rể có thể buông thỏng cuống tận đất và hoạt động như rễ các cây
khác. Có những loại phong lan thân, lá kém phát triển, hệ rễ dày đặc và kiêm
nhiệm luôn cả công tác quang học. Cũng còn có những loại phong lan dạng búi nhỏ,
vòi hút ngắn, chỉ có thể hấp thu các chất dinh dưỡng từ đám thực vật xung
quanh, thông qua hoạt động của nấm, đến vài chục mét, có khả năng leo bò rất
cao, cũng có những phong lan sống ẩn trong lòng đất như Rhizanthella
igardneri, Cryptanthemis slater, thân nhỏ, không rễ, không lá. hoạt động được
nhờ sự trợ giúp của nấm và gố mục của các loài cây thân gỗ khác. Nấm là cầu nối
giữa hai thành viên thực vật bậc cao. Nó liên kết với các gốc mục để lấy
gluxít, muối khoáng, rồi sợi nấm xâm nhập qua lông trên thân của phong lan và
chuyển các chất đó vào nuôi cơ thể phong lan.
Phong lan, danh từ quốc tế Orchidaceae chỉ
định một gia đình những cây monocotyledon nghĩa là một nhóm
cây phát triển một dòng (monophyletic) gồm có, trong số những cây có hoa
(angiosperme), những thực vật mà mầm (plantule) tiêu biểu chỉ có một phôi
(cotyledon) tiến triển thành tiền lá (eophyle) Có thể kể trong các
monocotyledon những cây họ Phong lan Orchidaceae có
hoa phát triển nhờ đến phấn, họ Cău dừa Arecaceae, họ Chuối (loại
Musa), họ Lúa Gramineceae, họ Bấc Juncaceae.
Phong lan là một đại gia đình nhiều vẻ nhất gồm có hơn 25 ngàn chi, phân ra làm
850 loài. Chúng đều là những cây dạ thảo có dạng cỏ khác nhau, tự dưỡng hay dị
dưỡng trên nấm, lá nhỏ, sống lâu, dạng thân rễ hay dạng củ, trên đất từ ôn hòa
đến nhiệt đới. Cuộc sống cộng sinh với một loại nấm nhỏ giúp cây sống không có
chút dự trữ trong hột cũng như không có rễ con cạnh rễ lớn, trong vùng nhiệt đới.
Các phân loại sinh loài xếp chúng vào loại Asparagales. Danh từ Orchidaceae phát
xuất từ tiếng La Tinh orchis bắt gốc trong tiếng Hy Lạp orkhidion có
nghĩa hòn dái, giống như hai củ trong các phong lan vùng nhiệt đới. Tác giả các
tên nầy là Theophraste (vài trăm năm trước TC). Những họ phong lan có thể có mặt
trên mặt đất khoảng 75-86 triệu năm. Hột có thể bé tí teo 1-5 mm (Bulbophyllum
minutissimum) ở châu Úc, nặng không quá 1-2g nhưng cũng có phong lan lớn
như Grammatophyllum speciosum, hột nặng hơn một tấn và thân cây cao
đến 3m. Các hoa nầy, tùy tác giả, với số loài thay đổi từ 25.000 đến 30.000, thể
hiện những gia đình trong số lớn nhất các thực vật có hoa, chiếm mọi môi trường
trừ sông ngòi và sa mạc.
Nhiều phong lan trong giống Ophrys giữ
độc quyền môt loài sâu để thụ phấn cho hoa của mình, thường là ruồi, ong như
ong vò vẽ nhờ phát hương thơm hay giả hình thái. Nhiều cây phong lan cũng như
sâu bọ thụ phấn miền nhiệt đới bị dọa mất tích hay đã mất tích vì nạn phá rừng,
cũng vì những người săn hoa đem bán. tuy ngày càng ít hơn nhờ tiến triển trong
kỹ thuật gây giống. Một cây như phong lan bướm Phalaenopsis nhìn
trong vườn hoa đẹp bao nhiêu, khi trình bày hằng chục cây trong nhà hàng, hay hằng
trăm hằng ngàn cây trong nhà kính ở Thái Lan hoa hết còn quý như bị mất ít nhiều
hương sắc, vẻ đẹp bị tan hòa. Tuy nhiên, ở nhiều nước như Thái Lan, Tân Gia Ba,
các nhà chức trách kiếm cách tăng gia phong lan trong môi trường thiên nhiên
hay bán thiên nhiên, chẳng hạn trên cây các đường sá. Trong ba thề kỷ, 226 loại
phong lan đã được tìm ra, nay chỉ còn 178 và 5 được sử dung nhiều. Cây Grammatophyllum
speciosum được thử nghiệm đầu tiên đem lại kết quả khá khả quan:
10-95% thành công trong 8 năm đầu. Ngoài cây nầy bốn cây nữa thuộc các loại Cymbidium,
Bulbophyllum cũng được thử. Tuy nhiên, nhiều phong lan quý như
cây Phragmipedium kovachi vẫn tiếp tục bị cắt hái trong môi
trường thiên nhiên. Hiện nay Phalaenopsis là loại phong lan được
nuôi trồng nhiều nhất và cũng là phổ biến làm cây cảnh nhiều nhất ở châu Âu.
Phong lan không chỉ là cây trồng để xem hoa đẹp: giống Vanilla cống
hiến chất vani trong ngành ẩm thực, đặc biệt kem vani, ít biết hơn rượu rhum
Faham (Jumellea fragrans)và cả trong ngành mỹ phẩm như nước hoa Jicky
(Guerlain) hay Coco (Channael). Ở vùng Maroc rượu salep có quê
gốc Thổ Nhĩ Kỳ. Ở nước nầy, 36 loài thuộc 10 chi đã mất tích !
Ðứng về mặt hệ thống, nhiều
chuyên gia, chứ không phải tất cả, tin là họ phong lan Orchidaceae phát
triển theo sáu dòng xem như là sáu gia đình khác nhau. Theo kiến thức ngày nay,
họ Orchidaceae gồm có năm : gia đình-phụ : - Apostasioideae (2
chi, 17 loại) nguyên thủy, hoa 6 cánh bao hoa và 3 nhị ; - Vanilloideae (15
chi, 248 loại) ; - Cypripedioideae (5 chi, 158 loại) ; - Orchidoideae (221
chi, 4914 loại) ; - Epidendroideae (578 chi, 21268 loại). Bản
kê phát sinh loài chỉ công nhận một gia đình Orchidaceae gồm
có sáu gia đình-phụ : - Apostasioideae (2 chi, 20 loại) nguồn
gốc Tây Nam Á hay chấu Úc) ; - Codonorchidoideae chỉ gồm có một
chi Codonorchis ;- Cypripedioideae (4 chi, khoảng 100 loại, ở
châu Âu chỉ có chi Cypripedium ; -Epidendroideae ; -Orchidoideae (hàng
vạn giống) ; -Vanilloideae (đặc biệt loại Vanilla).
Phân loại hằng ngàn hoa phong lan không dễ nhất là cho người không chuyên môn.
Tối thiểu là nên biết vài loại thông thường.
-Phong lan bướm Phalaenopsis có
hoa đẹp và dễ trồng nhất, hay nói đúng dễ bảo quản nhất : mua về để đấy, chỉ thỉnh
thoảng, mỗi tuần một lần, tưới chút ít là đủ. Hoa bán thường đã trình này những
nụ nở và một số nụ chưa nở để người chợi hoa có thì giờ trông ngóng, chờ đợi.
Lá dài như cánh bướm, không thích nắng chang chang, một không gian ẩm nóng,
nhưng cũng cần một ít mặt trời và bóng tối.
-Phong lan cát lệ Cattleya quê
gốc các rừng nhiệt đới châu Mỹ là loại được mến chuộng nhất ở nước Anh, chi cần
một môi trường hơi ẩm nóng như trong một nhà kính. Trong những giờ có mặt trời,
một độ ẩm 60-70% là đủ. Trái lại cây rất thích ánh sáng mặt trời nhưng không chịu
đựng được những tia sáng chói lọi, vậy nên tránh mặt trời giữa trưa và đầu chiều.
- Phong lan quế
Vanda là một cây ngoài trời nên thường được thấy trong rổ treo trên
cây. Cây ít thích nước nên không nên tưới nhiều. Nếu đặt trên mỏm đá hay sỏi sạn
thì phải cao hơn mặt đất 2/3 để cho thoáng khí. Trái với những cây khác, phong
lan quê cần tẩm bổ. Ngoài những loại phân bón, có những thức ăn, nước bổ, những
phân chuồng, phân đặc thương mãi.
- Phong lan hài
Paphiopedilum là một trong những cây phong lan dễ trồng nhất, thích
nhiều ánh sáng mặt trời nhưng không dưới các tia gay gắt, trong một môi trường
quá nóng hay quá ẩm như trong một nhà hiên veranda. Rễ cây luôn cần phải phải ẩm
ướt cây mới phát triển tốt. Như nhiều loại hoa quỳnh, đặc biêt cây chỉ cống hiến
mỗi năm một cái hoa.
-Phong lan vũ nữ
Miltonia có hoa thơm ngào ngạt là loại cây sống trong ánh sáng tối thiểu,
không trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời. Cây cần được tưới nước nhiều, một hay
hai lần mỗi tuần. Ðể xem sức khỏe của cây trồng đúng chỗ không, lá cây cần mát
rượi khi vuốt. Cây cũng cần phân bón để tiếp tục có hoa đẹp.
Ở nước ta các nhà chuyên
môn đã kết hợp cách trồng cổ truyền và kỹ thật mới để có đươc hiệu quả trong
ngành sản xuất sản xuất phong lan :
-Phong lan quế Vanda
teres, thân dài, hình trụ đốt dài màu xanh, bén rễ, mà
xanh. Lá hình trụ, màu lục sẫm. Cụm hoa nằm ngang, trên thân. Cánh hoa màu hồng
tím nhạt, 5 hoa. Cánh môi có thủy ở giữa, hình tam giác chẻ sáu ở ngọn, cựa
hình nón rộng, dẹt.
-Phong lan da báo
Vandopsi gigantea, thân mọc thỏng xuống. Lá hình dài, màu
xanh lục, cong, ngọn chia ra 2 thùy không đều. Cụm hoa ở kẽ lá, thỏng xuống,
6-12 hoa, thơm, lâu tàn, màu vàng kim đốm nâu.
-Phong lan đuôi cáo
nhiều hoa Aerides multiflora, thân dài, mọc khỏe, hóa gỗ ở gốc, nhiều rễ
khí sinh. Lá dài, rộng, chia ra 2 thùy không đều ở ngọn, dày, làu lục nhạt có
đóm nâu. Cụm hoa hình chùy thỏng xuống, nhiều hoa thơm màu trắng có 2-3 đốm
tím.
-Phong lan hạc đính
Phaius wachi, sống ở đất. Lá rộng, dài, có cuống, bẹ mọc tư gốc. Cụm hoa
chùm, hoa to ngoài nhạt, trong đỏ nâu. Thường mọc ở thung lũng đá vôi ẩm ướt có
nắng, ra hoa tháng tư, năm.
-Phong lan hoàng thảo
vảy rồng Dendobium aggregatum, gốc mọc bò. Lá dài, rộng, có cuống rộng. Cụm
hoa là chum rộng, hoa tua như bờm ngựa, màu vàng nhạt giữ màu da cam, cánh môi
rộng. Bám trên cây gỗ ven rừng hay chân núi, trong rừng, ra hoa tháng ba, tư.
-Phong lan tai trâu
Rhynchostylis gigantea. Rề dày, thân dài. Lá dẹt, dài, màu lục sẩm, sọc dọc
màu nhạt. 2 cụm hoa ở kẻ lá thành chùm trụ dày đặc, thỏng xuống. Hoa nhiều,
thơm, lâu dài. Cánh hoa màu hồng sẫm, có đốm. Mọc nhiều ở miền Trung và miền
Nam Việt Nam.
Chiếm chỗ trong đời sống
ngang hàng với những đỏa hoa tuyên đẹp, màu sắc rực rỡ, hương thơm ngào ngạt,
đài các như các tôn nữ, lả lơi như các cô gái Thần Kinh, hoa phong lan từ rừng
rậm cây ngàn nhập về đồng bằng yên tĩnh được trọng vọng như những quý phi tôn
vinh nữ hoàng sắc đẹp cũng chẳng quá đáng.
Võ Quang Yến
Theo http://chimvie3.free.fr/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét