Tiếng kèn lá nối dài mùa
trăng
Tôi chặt xong vạt lanh tốt
bời ven suối Nặm Khao thì ngọn núi Phja Ruốn đã nuốt nửa mặt trời. Gió từ lũng
núi ào ra mang theo hơi sương lành lạnh. Thời tiết ở đây là thế. Trời vừa
nóng đấy đã lạnh ngay. Trên sườn núi nắng chùng chình, vương vấn mà dưới
thung đã nhuốm màu tím sẫm. Bóng tối đến nhanh như người ta chớp mắt, mở mắt.
Phải nhanh tay bó lanh lại rồi gùi về thôi, từ đây đến nhà còn phải đi qua
khu rừng dẻ, lội qua khúc quanh của suối Nặm Khao. Giờ này bếp nhà ai lửa đỏ
cũng liếm chân kiềng rồi. Vợ chồng, con cái tíu tít xúm quanh chờ hơi cơm chín.
Chỉ có bếp nhà tôi là nguội lạnh thôi. Giá như tôi có thể đổi cho người ta được
thì tốt biết mấy.
Còn chừng vài nhịp thở nữa
là về đến nhà, trăng đã ngồi trên núi Phja Ruốn tãi muôn vàn tia sáng bạc
xuống thung lũng. Trăng lặn xuống suối Nặm Khao bơi lội cùng tụi nước. Trăng lướt
theo cánh gió đầu thu chạy trên lá rừng tạo ra âm thanh rì rầm, mênh mang, kỳ
bí... Mắt tôi bị chặn lại bởi những gùi lanh, gùi bắp đứng, ngồi lổm ngổm trên
bờ suối. Khúc quanh của con suối Nặm Khao này là bến tắm của tụi con gái bản.
Nước suối ở đây như có phép lạ, mùa hè thì mát, mùa đông thì ấm, chả thế con
gái ở bản Nà Mạy nổi tiếng trắng nõn nà như lõi cây chuối rừng. Thấp thoáng dưới
ánh trăng ngời ngợi là những cái cổ và khuôn ngực màu đá vỡ, dập dờn chuyển động
trên sóng nước dập dềnh. Sao mà lũ con gái vô tư thế? Nhỡ có tụi trai ngoài bản
lạc bước lỡ nhìn thì sao? Có tiếng con gái kêu dé lên: - A dố! Có người!
Mỉm cười tôi nhẩn nha
nói: - Chị đây mà, có phải người lạ đâu.
Tiếng gọi, tiếng trêu
nhao nhao vang động lòng suối:
- Chị Mỵ Phua à, xuống
đây tắm với tụi em.
- Chị Mỵ Phua đẹp thế làm
khổ cái mắt tụi trai thôi.
Tôi lội ào qua suối, bỏ mặc
tụi con gái ở lại sau lưng, cắm cúi leo dốc về nhà. Bất chợt từ đâu đó bên bờ
suối ngân lên tiếng ngựa hí vang núi. Tiếng con ngựa này quen quá, cứ mùa trăng
là nó lại đến nơi đây, và tôi biết chủ nhân của nó là ai rồi.
Bỗng nhiên lồng ngực
tôi tưng tức ngộp thở, tôi muốn sải bước thật nhanh nhưng cái chân cứ ríu
lại, luýnh quýnh như bị gắn nhựa trám. Dường như từ đâu đó giữa lòng thung
lũng, cái mắt của người trai ấy đang đốt lửa dõi theo tôi. Tôi cố trốn mà không
trốn nổi. Trời sang thu se se lạnh mà mồ hôi rịn đầy chân tóc, túa ra ướt đẫm
lưng áo. Tôi sợ. Nỗi sợ dai dẳng đeo bám mấy năm trời nay không buông tha, để rồi
bụng tôi cồn quặn nỗi ám ảnh đã ăn ở không phải với anh Avừ.
Bước qua bờ rào đá, tôi đứng
dựa vào gốc cây lê mà thở, cây lê này khẽ đung đưa tán lá ve vuốt đôi vai tôi.
Nó muốn an ủi tôi, mà hình như nó đang thủ thỉ với tôi thì phải, nó bảo
tôi làm gì mà cuống lên thế? Sinh ra làm phận gái thì khổ rồi, mà là người có
chút nhan sắc càng khổ hơn, bởi nhiều người nhìn lắm, làm sao che được mắt
người ta? Thế mới biết làm cái cây sướng hơn nhiều. Chẳng phải lo nghĩ, cứ nhẩn
nha cắm rễ sâu xuống lòng đất là lớn lên tươi tốt thôi. Nhưng cũng không biết
thế nào mà nói đâu, bởi vì cái rễ cây thì ngắn, nhưng cái rễ người thì lớn lắm,
dài lắm. Nỗi đau bao năm nay tưởng như vón cục, nén sâu vào góc nào đó trong
lòng tôi, bỗng nhiên lúc này tất cả ào về, đầy ắp ứ, như thể mọi chuyện được chất
chứa vào một hang đá, bấy lâu nút chặt và giờ có ai đó phát hiện rồi mở toang
ra...
Đêm ấy trăng sáng vằng vặc,
bản tôi chìm trong yên tĩnh, chỉ có dàn đồng ca của côn trùng rỉ rả vọng lên từ
lòng đất. Đâu đó ngoài bờ rào đá, có tiếng kèn lá bay vút lên thinh không vời vợi.
Tiếng kèn lá ấy hiện diện ở quanh nhà tôi từ sau lễ hội "gầu tào".
Tôi biết người con trai ấy trong đám chơi nẩy pao. Quả pao với năm múi vải
màu giống như bông hoa đang treo trên vách phên kia là của người ấy, cái đầu
tôi chợt rối tung lên. Tiếng kèn lá ấy cứ gọi mãi, gọi mãi dài như con suối trở
đầy nước:
"...Tù mụa ơ, pi lầu
pi nheê pậy trôngs noồng pau noồng, pau noồng thoôi tì sse pán tau ti lấu tua,
lớ tháchs hoỏ cớ nha. Pi lầus laà hé doóng, tua láu cuôn pừ hai pét lầu laa lù
laâu cừa kha khúa..."
(...em ơi, anh lên núi
cao hỏi bầy chim, chim sải cánh đưa chân tới nơi em ở. Anh vào rừng thẳm, gió rừng
rì rào nói hộ anh lời thương nhớ em da diết...)
Tôi cố bíu lấy cấi ô cửa
nhỏ tí xíu, căng mắt ra nhìn xem người con trai ấy đứng ở chỗ nào, có biết đứng
dưới vòm cây không? Nếu mà đứng giữa trời thì sương rơi ướt đẫm người mất. Cố
nhìn mà cái mắt cứ mờ đi trong ánh trăng. Dụi mắt mãi cũng không thấy sáng ra
tí nào, cho tới lúc tôi nghe tiếng nói nhẩn nha của mẹ cất lên:
- Mỵ Phua à, sao cứ để thằng
trai nó gọi mãi thế?
Tôi thở dài nhẹ bước ra bếp,
chỗ mẹ đang ngồi thái lá thuốc, ngập ngừng:
- Nỉa bỏ ngoài tai tiếng
kèn của nó đi, con...con không biết trả lời nó thế nào.
Mẹ lắc đầu bảo tôi:
- Có gì mà khó nói chứ? Bảo
với nó đi tìm đứa con gái khác thôi, mấy ngày nữa là về nhà người ta làm dâu rồi.
Mắt tôi đỏ hoe, ướt nước:
- Nỉa à, con không muốn về
Nà Mạy làm dâu đâu, con sợ.
Mẹ vuốt nhẹ tóc tôi, nói
dịu dàng:
- Con chim nó có đôi, con
thú nó có bầy, con người cũng cần có tổ ấm, làm phận gái sao ở nhà mãi được?
Không sợ đâu, thằng Avừ nó tốt đấy.
Tôi cố nén tiếng thở dài
đang dâng lên, run run hỏi:
- Nỉa, sao nỉa nỡ trói
con với người ta?
Mẹ cầm thanh củi dụi mãi
vào trong bếp, hết thanh củi này đến cành củi khác, cho lửa cháy to lên rồi chậm
rãi bảo:
- Nỉa không muốn nuốt lời
hứa với người đã khuất. Ngày trước hai nhà hứa gả con cho nhau mà.
Nước mắt tôi tràn ra giàn
giụa. Mẹ khẽ khuyên tôi:
- Đời con gái ngắn lắm,
mày làm vợ thằng Avừ không phải làm dâu ai. Mà nó là thằng hiền lành, chịu khó.
Đấy, ăn hỏi rồi mà không dám mang kèn lá đến ngõ nhà đứa làm vợ tâm tình.
Rồi mẹ chợt thở dài: -
Sao cái tính nó giống cha mày thế không biết.
Nói xong, mẹ mải miết cúi
xuống thái lá thuốc như muốn dấu đi cái buồn đang đè chặt trong bụng.
Cha tôi mất lúc mẹ còn trẻ
lắm. Cha đi nương gặp con rắn hai đầu nó quấn, đến lúc người bản biết
thì cha không bao giờ thức dậy được nữa. Lúc ấy anh Apáo lên năm tuổi, còn
tôi là đứa trẻ đỏ hỏn mới hơn tháng tuổi. Mẹ tôi ở thế, nuôi các em chồng, nuôi
anh em tôi. Giờ thì các cô chú đã lấy vợ, lấy chồng ra ở riêng. Anh em tôi
giống như tụi chim đủ lông, đủ cánh rồi. Anh Apáo đi bộ đội được đi học để ở
mãi bộ đội. Còn tôi đã cao hơn mẹ nửa cái đầu. Mẹ thường dạy tôi, đàn bà con
gái phải khéo cái tay, khỏe cái chân, sáng cái nếp nghĩ trong đầu để còn đi làm
dâu, làm vợ. Giờ mẹ cũng chọn cho tôi người chồng tốt, tôi không thể phụ lòng mẹ,
tôi phải trả lời người con trai đâng mê mải thổi kèn lá ở ngoài cổng thôi. Mẹ
đưa cho tôi chiếc đàn môi rồi bảo:
- Còn chờ gì nữa, trả lời
người ta đi, đừng để nó gọi mãi mang tiếng xấu con à.
Tôi luống cuống giống con
gà vướng tóc, người run bắn như gặp rét, lúc sau trấn tĩnh mới đưa được tiếng
đàn môi tràn qua bờ rào đá, mới ngập ngừng nói lên cái điều khó nói:
"...Pi lầu ơ, tu mú
cư dà lúc peê đá mùa tù lềnh nghe, đá là mũa lừ mũa lừ de hoót phãu tee chí leềnh
la lù nhịa tù mủ cứ đá mũa, lúc siia nhịâ a tsênh tìa thá pi lầu, rêng cau khù
mua trếu tù pa nịa lểnh vịa..."
(...Anh ơi, em là bông
hoa đã có người nâng niu, là giọt sương sớm tan trong bàn tay người con trai ấy,
lời yêu em đã trao nơi trái tim nồng nàn, đắm say, xin anh giành khuc shát muôn
đời sang người con gái khác...)
Và khi nàng trăng náu
mình trong khe núi là lúc vó ngựa vang lên kéo theo tiếng hí dài tiễn biệt. Tôi
biết người con trai ấy buồn lắm.
Đã bao đêm, bao ngày trôi
qua, biết mấy mùa trăng đến, trăng tàn, tôi tự hỏi cái bụng mình sao rối bời
lên thế, hỏi mà không biết câu trả lời. Dẫu biết rằng cái chuyện tôi gắn chặt đời
mình với nếp nhà này, với những bát nhang trên ban thờ kia là chuyện nấp kín
trong lòng, không thể dãi bày, chia xẻ, không dễ gì lôi ra. Trăng đêm nay giống
như bao đêm khác, vẫn sáng lênh loang trải từ trên núi, lướt qua tán rừng, chạy
xuống phủ tràn những nếp nhà trong bản Nà Mạy, trăng gọi tiếng kèn lá dập dìu,
vấn vít. Tiếng kèn lá của người trai ấy, bao năm qua vẫn da diết nồng nàn như
chưa có chuyện gì xảy ra. Tiếng khèn lúc khoan nhặt thảnh thơi, lúc thủ thỉ êm
đềm, lúc giục giã dồn dập, lúc bay bổng ngân nga, lúc lại như tiếng trách hờn
giận dỗi... Tôi bịt chặt tai bằng đôi bàn tay bé nhỏ nhưng không bịt nổi. Tiếng
kèn lá như có quỉ ám cứ chạy ùa vào tai tôi, nó hối thúc làm ngực tôi căng tức,
ngộp thở và tôi chợt cắn môi lại, hai tay đập chan chát vào bó lánh tươi vừa chặt
về, cho tới lúc bàn tay rát bỏng như cầm than nóng thì nước mắt tôi cứ thế túa
ra tức tưởi.
Ngày tôi về nhà chồng, hoa
Bjooc tháy nhuộm tím đất trời. Màu tím dịu dàng, man mác, của cánh hoa rắc kín
bản, phủ khắp rừng rồi leo ngược lên núi Phja Ruốn kết thành dải hoa mềm mại,
hoang sơ, huyền bí. Người già trong bản bảo lâu lắm rồi, hoa Bjooc tháy mới nở
nhiều thế. Đây không biết là điềm lành hay điềm dữ? Bởi cái sắc tím mênh mang
này là sự chờ đợi, nhớ thương dấu kín trong lòng, rồi thời gian trôi qua, chợt
giật mình nuối tiếc. Bao đời nay, có ai yêu màu tím của hoa Bjooc tháy là sướng
đâu. Màu tím thanh tao, nhẹ nhàng quyến rũ thế nhưng thường làm cho bụng gái bản
héo hắt vì mơ mộng, làm tụi con trai dù mạnh mẽ như cái cây mọc trên đá cũng bị
hút theo sự đa cảm, lụy phiền của con gái. Còn tôi, không biết có phải vì duyên
phận hay không mà tôi yêu hoa Bjooc tháy đến độ lạ lùng. Tôi nghe như thấy hoa
thở, tiếng thở êm ái từ lòng đất dội lên. Tôi nghe hoa hát, tưởng như lời hát
xao xuyến từ ngàn xưa dội về...Dường như, tôi sinh ra để gắn với loài hoa huyền
bí này, nên vào dịp tôi đi làm vợ người ta, nó mới nở nhiều đến thế.
Sáng sớm, mặt trời còn dụi
mắt ngái ngủ, bầy chim noộc éc đã chao đảo kêu những lời đau nhức. Mẹ tôi chép
miệng thở dài bảo, chim noộc éc kêu thế không biết trong vùng này ở đâu có điềm
dữ đây? Nhà tôi có đám vui sao tụi chim cứ bay liệng kêu mãi thế? Tôi thấy lo
quá. Cho tới lúc, mặt trời ngồi trên đỉnh núi trễ nải buông nắng thì ông mối,
bà mối dẫn đoàn nhà trai sang đón cô dâu. Lạ quá đi thôi! Sao anh Avừ không đón
tôi? Có đám rước dâu nào vắng chú rể đâu? Họ hàng nhà tôi, người già, trẻ nhỏ
xôn xao, bồn chồn. Bụng tôi bỏng rát như có chảo mỡ đang sôi.
Phong tục ở đây đám cưới
ăn hai ngày. Ngày đầu chú rể sang nhà gái ra mắt tổ tiên dòng tộc, tiếp khách bạn
cô dâu. Ngày sau đón cô dâu về nhà chồng, để rồi trong niềm vui bất tận, chú rể
cùng cô dâu trồng cây vía trong vườn nhà, báo với thần đất, hồn rừng về ngày trọng
hỷ. Vừa sáng qua thôi, anh Avừ đội mâm xôi hồng phủ khăn điều sang
nhà tôi, dưới ban thờ anh lầm rầm khấn:
"....Hỡi trời cao,
ơi đất dày, hỡi tổ tiên họ Sùng, con xin cúi đầu lạy ba lạy, xin ông bà chứng
cho bụng con yêu thương em Mỵ Phua lớn như dãy núi cả đầu bản, dài như con suối
chảy mãi không dừng....".
Mọi người trong họ, ngoài
bản tấm tắc khen: "Thằng Avừ là cái cây cao, bóng lớn, Mỵ Phua thật tốt
phúc". Thế mà bây giờ sao không thấy anh? Dường như đám khách
nhà trai mắt ai cũng có ngấn nước, vẻ mặt buồn lắm, họ cố dấu chuyện gì đó
thì phải. Nhưng rồi không có rể, đến giờ lành, giờ tốt tôi phải theo chân họ
nhà trai về bên ấy thôi. Hai họ xem giờ rồi, cái phận tôi khổ thì phải chịu vậy.
Ở vùng này, đám cưới có bao giờ như thế này đâu? Cái buồn, tủi trong tôi cứ thế
theo nước mắt trào ra ướt đầm váy, áo, tràn xuống cả lưng ngựa. Từ khoảng không
đâu đó trong rừng chợt ngân lên tiếng kèn lá trầm buồn như trách móc, giận hờn.
Tiếng kèn quấn lấy tôi, đuổi theo đoàn người về bên kia núi.
Không biết tôi đã lả đi,
mềm oặt người, ngất lịm biết mấy mươi lần rồi? Cũng không biết vành khăn trắng
oan nghiệt ai đã thắt lên đầu tôi? Có lẽ nào ngày cưới là ngày đại tang?
Cô dâu lại trở thành góa phụ? Chưa trọn ngày làm vợ đã đã đưa chồng vào cõi âm
cách biệt. Mắt tôi vô hồn, trống rỗng nhìn cây thanh táo trở linh hồn anh. Tôi
kiệt sức không còn khóc được nữa.
Trưa hôm ấy, trời nắng
nhuộm vàng núi rừng. Thế mà chiều đến, cái lúc anh Avừ từ nhà tôi trở về, mây
đen ùn ùn kéo tới nuốt chửng mặt trời, sấm nổ chát chúa, lửa trời dội vào núi
sáng lòa và mưa ào ào trút nước. Năm nay mùa mưa sao đến sớm thế? Anh Avừ cùng
phù rể Sùng Cháng cúi rạp người trên lưng ngựa đội mưa gió mà về. Phải đi nhanh
còn lo việc đám ở nhà chứ. Bố mẹ đi xuống đất lạnh cùng tổ tiên rồi, nhà
chỉ có một mình thôi. Ông chú, bà cô cũng già quá, chỉ ngồi tiếp khách đã mệt,
ngày mai đón dâu còn nhiều việc phải làm lắm. Nghĩ thế cái chân không chần chừ
nữa, phải đi thôi. Về đến khe núi đầu bản Nà Mạy là về gần nhà rồi. Bỗng
nhiên trời đất tối sầm, những tiếng nổ lớn như là núi vỡ, đất lở ùng ục sôi
lên, tụi ngựa giật mình hoảng sợ tung vó hất hai người xuống lòng khe. Rồi đất
đá, cây cối sầm sập đổ ập xuống. Tai họa bất thường của núi hoang, rừng thẳm
đã chôn vùi sự sống của hai người trai trẻ trong mưa gió bão bùng. Trời vẫn
gào thét dội nước xuống.
Đêm hun hút lạnh. Căn nhà
đầy ắp sự hoang vắng. Hoang vắng đến tận cùng. Trống không đến tận cùng. Tôi
không tin nổi sao anh Avừ nỡ bỏ tôi mà đi. Tôi muốn theo anh vào lòng đất lạnh
kia mà không thể. Tôi còn gánh nặng với tổ tiên, ông bà dòng họ Thào. Đã lấy chồng
phải theo nhà chồng. Suốt đời này, kiếp này tôi là con dâu nhà họ Thào rồi. Ban
thờ kia không để nhang lạnh, khói tàn được.
Tôi ngồi trong bóng tối
không biết đã bao lâu rồi? Mặc cho tụi chuột chí chóe cắn đuổi nhau, có lúc
chúng đâm sầm cả vào tôi. Trong đêm tôi tưởng như anh đang ở đâu đó, rất gần
tôi thôi. Người già bảo ban ngày là của trần gian, ban đêm là của âm thế.
Tôi ở mãi trong bóng tối là ở gần anh. Dường như anh đang trở về bên tôi, bởi
có làn gió rất lạnh phả vào người. Tôi thủ thỉ trò chuyện với anh, rồi thiếp đi
chìm vào cõi miên man... Từ trong hư vô mịt mù sương khói, anh Avừ bước đến bên
tôi, anh không mặc bộ tà pủ vải chàm, anh mặc quần áo màu trắng, cả khuôn mặt
anh cũng trắng bợt bạt, anh dắt tôi đi nhẹ như gió lướt, tới triền núi mênh
mang nở tràn hoa tím. Cái sắc tím đau đáu, bí ẩn ấy đã tạo khoảng trống ly
biệt giữa chúng tôi. Giờ tôi mới hiểu sao ngày cưới tôi hoa Bjooc tháy lại nở
nhiều như thế. Hồn vía tôi lúc tan vào anh trong cõi âm ẩn hiện, lúc trôi nổi
trên bến bờ dương gian... Cho tới lúc tôi giật mình tỉnh dậy thì người tôi xanh
rớt màu lá, tóc rụng tơi tả như có ai cầm dao cạo từng mảng.
Tôi rút mình ra khỏi bến
lú của cõi âm để trở về là nhờ tiếng kèn lá. Tiếng kèn mênh mang, réo rắt bay bổng
trong gió lay tôi dậy, nâng tôi đứng lên, dắt tôi đi... Rồi kèn nhẩn nha, thủ
thỉ khuyên nhủ tôi nén chặt cái đau vào đáy sâu ký ức để mà sống trọn đạo làm
người dâu hiếu thảo. Lúc này thì tôi chợt giật mình, cái hôm về nhà chồng tôi
chưa kịp trồng cây vía. Cây vía tôi chọn là cây lê, nó vẫn đứng nép mình run rẩy
trong góc sân kia, lá nó rũ xuống đến tội nghiệp. Tôi không thể để cây chết,
tôi phải trồng nó xuống, đem lại sự hồi sinh cho nó, cho tôi và cho cả hồn anh.
Lệ bản ở đây là thế. Mỗi
đám cưới cô dâu, chú rể phải trồng một cây vía. Cây tốt là vợ chồng hòa
thuận yêu thương nhau. Cây còi cọc là vợ chồng xích mích, sống không hạnh phúc.
Không phải hỏi, cứ nhìn vào vườn cây trái thì biết. Nhà có cây vía vàng lá là
có chuyện rồi, phải tháo gỡ thôi. Đã nên vợ, nên chồng thì bảo nhau mà làm ăn,
có không hợp, không thích nhau vẫn phải lựa tính nết mà ăn ở với nhau thôi,
không bỏ nhau được. Đàn bà có chồng rồi phải thờ cái ma nhà chồng đến hết đời.
Mới đấy mà cây lê
này gắn với đời làm dâu của tôi đã gần mười mùa lá rụng, lá lại xanh, nó tỏa
bóng che mát khoảng sân trước cửa nhà. Có điều, biết bao ngày nối ngày, năm qua
năm, cây lê không chịu nẩy hoa, kết trái. Người bản nhìn cây vía của tôi dấu
đi tiếng thở dài. Tôi không buồn, cây vía của tôi cõng phần hồn chồng tôi ở đấy.
Những lúc có chuyện phải lo nghĩ tôi lại dựa vào gốc cây để tìm hơi ấm, nguồn
an ủi của anh, rồi như có phép lạ, mọi chuyện lại yên lành qua đi. Nhưng, chuyện
người trai bao năm thổi kèn lá thì anh không giúp được tôi rồi. Mỗi mùa trăng về,
tôi lại cuống lên như lạc rừng không tìm thấy lối ra.
Đêm khuya, bản chìm trong
thâm u, cô tịch. Trăng vẫn mải miết trôi giữa vòm trời ngập bụi phấn vàng. Tiếng
kèn lá dường như không biết mỏi, nó chảy miên man trong lòng thung lũng, tràn
qua bờ đá, lọt qua cửa, lách qua phên liếp, thủ thỉ da diết trong gian nhà trống
vắng của tôi. Tiếng kèn hôm nay lạ lắm, nó không trầm buồn như mọi hôm mà gấp
gáp, thúc giục. Từng nhịp, từng chuỗi âm thanh hối hả, vội vã như vó ngựa phi
trên đường đá, đủ nói lên người trai kia muốn gắn cuộc đời anh vào tôi, muốn đổi
tất cả chỉ để lấy đôi mắt đen thăm thẳm của tôi. Anh không muốn cuộc sống của
tôi lụi cụi quạnh hiu. Cái bếp nhà tôi đã đến lúc phải có ngọn lửa nhỏ sưởi
ấm rồi. Giấc ngủ của tôi không thể có nhiều mụn vá như thế nữa, anh không trói
buộc tôi phải về nhà anh, anh ở lại đây với tôi thôi, cùng tôi chăm lo mộ phần,
giỗ tết dòng họ Thào, anh không sợ mang tiếng, anh sợ tôi khổ thôi...
Tiếng kèn lá như ôm ấp,
ve vuốt, làm cho cơ thể tròn căng của tôi nhức nhối, rạo rực, bồn chồn và bừng
bừng trỗi dậy bản năng khao khát, ham muốn được dâng hiến, được cho và được nhận.
Bầu ngực tôi căng cứng, hổn hển sau lần váy mỏng. Người tôi nóng hầm hập như muốn
bốc lửa, tôi vật vã, quằn quoại, chấp chới theo dòng âm thanh thúc giục đang
trào dâng của kèn lá. Tiếng kèn bây giờ đã ở ngay ngoài ngõ nhà tôi rồi. Tôi muốn
nói với anh đừng có thổi kèn nữa, tôi không chịu nổi, nhưng cái miệng tôi khô cứng,
bỏng rát không nói được. Tôi biết cơ thể trinh nguyên, ăm ắp, tròn đầy hai mươi
sáu tuổi của tôi đang nổi loạn. Xót xa, đau đớn thay cho phận bạc của tôi, gần
chục năm làm vợ vẫn là con gái. Tôi chưa biết mùi mồ hôi của người đàn ông,
chưa một lần được bàn tay thô giáp, chai sần của họ vỗ về, chưa biết cái đau đến
tận cùng và đê mê đến tận cùng của đêm đầu làm vợ...
Bao năm qua, sao tôi có
thể sống mà thân xác vật vờ như cái bóng. Cái bóng biết làm, biết ăn. Một
mình thui thủi, tồn tại có mà như không. Tôi cười, tôi nói mà hồn tôi thì lang
thang đi tìm nửa cuộc đời của mình ở cõi âm lạnh giá. Và không biết từ thủa
nào, tôi bỗng sợ những mùa trăng. Bởi, mùa trăng về là tiếng kèn lá lại kéo tôi
trở về thực tại với cuộc sống, trong tôi lại trỗi dậy nỗi khát vọng, đam
mê mãnh liệt, để rồi sau những đêm vật vã, cuồng si, tôi ao ước có đứa trẻ
bi bô gọi... "Nỉa ơi".
Đêm nay, giống như bao
đêm trăng đã qua, tôi vắt kiệt sức mình trong ham muốn tột cùng được ai đó
bù đắp, lấp đầy khoảng trống vắng, để tôi được làm vợ, làm mẹ, để tôi biết vị
ngọt ngào của trái cấm và biết cái hạnh phúc đầm ấm của cuộc sống gia đình. Giờ
thì tôi đang đứng chơi vơi giữa hiện tại và quá khứ, giữa cái có và không,
giữa hư ảo và thực tế, giữa tình yêu và bổn phận... tôi không thể chông chênh
mãi như thế này, tôi muốn cởi nút trói cho phận làm dâu quạnh hiu của tôi. Dẫu
rằng, chuyện này người bản sẽ cười chê, đơm đặt, đàm tiếu, dè bỉu...nhưng rồi mọi
người sẽ hiểu ra thôi, họ không cười tôi mãi được. Còn ban thờ dòng họ Thào này
nữa, phải có người kế tiếp mà lo nhang khói nữa, nghĩ thế, tự nhiên tôi thấy
như trút đi gánh nặng của quá khứ và nhẹ nhõm thanh thản trôi vào giữa đất trời
nghiêng ngả.
Trời đang rạng dần, thế là tôi đã qua đêm trắng thao thức, trăng vàng đang nhẹ lướt vào lòng núi, đó đây rộn lên tiếng hót lảnh lót của bầy chim. Ô kìa! Trước sân nhà, cây vía của tôi bỗng trổ hoa trái mùa. Những chùm hoa trắng mỏng manh, tinh khiết đang rung rinh trước gió. Dưới gốc cây, người trai mặc bộ tà pủ dựa vào mà ngủ, trên môi anh vẫn ngậm nhành lá rừng ướt đẫm sương đêm, như thể anh vừa chợp mắt thiếp đi trước khi ngân dài lời kèn bay bổng, vấn vít.
Bùi Thị Như Lan
Theo
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét