Một nữ lưu xứ Huế với Truyện Kiều
Bút danh Ninh Giang Thu
Cúc (NGTC) có lẽ đã quen thuộc với bạn đọc miền Nam từ năm đầu thập kỷ sáu mươi
thế kỷ XX. Miền đất sông Hương núi Ngự đã góp phần hun đúc, nuôi dưỡng hồn thơ,
mạch văn của tác giả và mảnh đất Quy Nhơn, Bình Định là nơi chị cống hiến hết
mình với lao động nghệ thuật, nghiên cứu, biên khảo và sáng tác. Những trang viết
của chị đầy lòng nhân ái, khiêm cung của người phụ nữ Huế cùng với tinh thần từ
bi của người thấm nhuần triết lý Phật giáo. Chúng tôi gọi chị là “Con nhà Phật”.
Với số lượng tác phẩm đã
xuất bản rất phong phú về nhiều thể loại là những con số biết nói, minh chứng
cho sự nghiệp cầm bút bằng tất cả lòng nhiệt tình, sự đam mê cháy bỏng với văn
chương trong sáu mươi năm cầm bút. Ngay cả khi có vấn đề về sức khỏe như thời
điểm hiện tại chị vẫn lao động sáng tạo không ngừng nghỉ. Những bài viết của chị
sâu sắc và ý nghĩa, thấm đẫm tình người và giàu giá trị nhân văn. Viết - suy
cho cùng là một hình thức trao đi sốt sắng chân tình, không vụ lợi. Đằng sau những
con chữ “rút ruột như tằm nhả tơ” ấy là cả một tấm lòng bao dung, sẻ chia dành
cho đời, cho người với tất cả chân tình, thiết tha ẩn trong sự giản dị, khiêm
nhường. Các sáng tác của chị giàu chất trữ tình trong thơ, phong phú súc tích
dày dặn trong truyện, tiểu luận phê bình. Ngọt ngào tinh tế khi viết tản văn.
Những bài thơ viết về các danh nhân lịch sử đã làm cho người đọc bồi hồi xúc động
vì tình cảm, sự ngưỡng mộ, biết ơn của hậu thế dành cho các bậc tiền bối. Đặc
biệt những nhận định văn học của chị về Truyện Kiều rất đáng suy ngẫm.
Truyện Kiều ra đời đã hơn
hai thế kỷ của đại thi hào Nguyễn Du đã làm say mê bao trái tim người đọc nhiều
thế hệ kể cả trong và ngoài nước và đã có rất nhiều cây bút phê bình, thưởng
lãm hướng đến áng thơ tuyệt tác này. Hãy cùng khám phá tác phẩm vừa mới xuất bản
của một nữ lưu xứ Huế viết về Truyện Kiều có tựa đề: Đọc Kiều thương khách viễn
phương, NXB Văn hóa Văn nghệ quý II năm 2019.
Tác phẩm với giọng văn giản
dị, dễ hiểu và rất lôi cuốn, trình bày khúc chiết, mạch lạc những nhận định rất
đáng suy ngẫm với tình thần cầu thị. Đặc biệt đối với truyện Kiều: “đã từng học
và đọc Truyện Kiều đến thuộc lòng bằng tất cả niềm yêu quý với tác phẩm và sự
trân quý dành cho đại thi hào Nguyễn Du”.
Theo chị, Truyện Kiều là
một sáng tác vĩ đại của Nguyễn Tiên Điền chứ không phải là tác phẩm chuyển thể
từ tiểu thuyết văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân có tên gọi là Kim Vân Kiều Truyện.
Nguyễn Du chỉ mượn nhân vật, bối cảnh, tình tiết của đất nước Trung Hoa, triều
đại nhà Minh để chuyển tải nỗi niềm chìm đắm đau thương tranh giành đoạt lợi
tương tàn tương sát của xã hội Việt Nam thời Lê mạt. Cuốn sách là một ấn phẩm
nhỏ xinh dày 280 trang với hai phần trình bày:
Phần 1: Lời ngỏ và những
bài viết về truyện Kiều và sáu bài thơ vịnh các nhân vật trong truyện Kiều cùng
lời kết cho tác phẩm.
Phần 2: Phần phụ lục “Mấy
dòng sử thi” với những bài thơ vịnh về một số danh nhân lịch sử đã có công
trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước của dân tộc.
Qua tác phẩm chúng ta thấy
tác giả NGTC tỏ ra rất am tường văn học sử, bối cảnh thời cuộc tác phẩm ra đời,
am hiểu lịch sử và văn học qua các thời kỳ. Vì vậy chị có cái nhìn thấu đáo khi
viết về tác giả tác phẩm nói chung và truyện Kiều nói riêng.
Chị đã lao động tận tụy
và nghiêm túc để “rút sợi tơ lòng “cống hiến cho độc giả những nhận định văn học
chửng chạc và tâm huyết của một người cầm bút đầy trách nhiệm.
“Tôi đã đến với Đoạn trường
tân thanh của cụ Nguyễn Tiên Điền bằng tất cả niềm quý kính”. Chị đã đọc Kiều
suốt bao năm tháng với tấm lòng ngưỡng mộ thi tài. Chị “Muốn làm một cái gì đó
để bày tỏ lòng ngưỡng mộ như một nén hương lòng dâng lên người thiên cổ đã để lại
cho đời thiên tuyệt bút”.
Bằng những dòng tóm tắt
hàm súc, đủ ý chị viết về tác gia: Nguyễn Du là con trai thứ bảy của xuân quận
công Nguyễn Nghiễm và phu nhân Trần Thị Tần- Người phụ nữ mỹ miều xứ Kinh Bắc.
Cậu ấm Du sống trong nhung lụa nhưng hạnh phúc không mỉm cười lâu hơn với cậu,
vừa lên mười tuổi, nỗi bất hạnh lớn ập đến là thân sinh Nguyễn Nghiễm qua đời
và hai năm sau phu nhân Trần Thị Tần cũng theo chồng về thiên cổ, bỏ lại bốn
anh em Nguyễn Du côi cút, đành nương tựa vào người anh cả khác mẹ là tả Thị
Lang bộ hình kiêm hợp trấn xứ Sơn Tây. Hoạn lộ của người anh Nguyễn Khản gập ghềnh
biến động. Tuy vậy Nguyễn Du vẫn được anh cho ăn học tử tế, thi đậu tam trường
(tú tài). Nguyễn Du có mối tình đầu với cô thôn nữ đẹp như trăng mười sáu và có
giọng hát trong veo như sương mai. Họ yêu nhau nồng nàn. Những dòng thơ viết
khi Kim Kiều hò hẹn:
“Tiên thề cùng thảo một
chương
Tóc mây một món dao vàng chia đôi
Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai miệng một lời song song”
Cũng chính là nói về mối
tình đầu của Nguyễn Du và cô thôn nữ.
Chị cho rằng 3254 câu lục
bát mượt như nhung và thơm hương ngọc lan dịu nhẹ toàn tập là từng khúc ruột
mang thương tích trầm kha, nhức nhối của thời đại, của mỗi cá nhân tất nhiên có
cả tác gia Truyện Kiều.
Nguyễn Du sinh ra cuối thế
kỷ XVIII - thời cuộc đầy biến động. Ông sớm nổi trôi chiêm nghiệm những thăng
trầm giông bão của xã hội và cuộc đời riêng. Trải qua những mất mát tang thương
của tan vỡ, đổi thay và ly loạn.
Khi ông theo gương cha
đem trí lực phụng sự nhà Lê với một chức quan nhỏ thời Lê mạt. Lê triều sụp đổ.
Ông làm thân bèo dạt mây trôi vì biến thiên của lịch sử khi thì ở quê vợ Thái
Bình khi “lẳng lặng phiêu bồng sương khói khắp miền non lĩnh Sông Lam đằng đẳng
mười năm ngỏ hầu tìm quên thế sự. Vì vậy có nhiều ức đoán của các nhà nghiên cứu
là Đoạn trường tân thanh ra đời trong giai đoạn này. Những ức đoán, khẳng định,
phủ quyết về sự ra đời của tác phẩm vẫn còn là một bí ẩn…”
NGTC đưa ra những nhận định
phủ quyết tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh không thể ra đời trong giai đoạn này:
“Những tháng năm bất đắc dĩ phải chơi trò tiêu dao vui thú yên hà ở độ tuổi
ngoài ba mươi (36), liệu có hội đủ chất liệu, sự trải nghiệm qua những trò đời
đen bạc để viết nên “ những điều trông thấy”. Dẫu có ít nhiều trải nghiệm nhưng
chưa đủ độ chín muồi của dâu bể cuộc đời để viết nên Đoạn trường tân thanh! Chỉ
có thể sau khi được nhà Nguyễn mời ra làm quan khi tuổi đã xế chiều với tâm trạng
“hàng thần lơ láo” khủng hoảng tâm lý, ốm đau bệnh tật”. “Ba xuân mang bệnh
nghèo không thuốc”, rồi chứng kiến những bất cập, mặt trái, hệ lụy của đời sống
quan trường “không bệnh mà vẫn phải lom khom”. Những thương ghét, đố kị dèm pha
của người đời ở đâu cũng có, thời nào cũng không tránh khỏi. Khi đi sứ Trung
Hoa, ông đã tìm thăm những di tích lịch sử để khóc thương, quý trọng những nhân
vật lịch sử của đất nước Trung Hoa. Cảm thương số phận nhi nữ tài hoa bạc mệnh
(Độc Tiểu Thanh ký- Nguyễn Du). Tất cả những trải nghiệm thăng trầm của chính
cuộc đời mình cùng với những biến cố của thế sự trong và ngoài nước, ông đã
tích lũy vốn sống, cảm xúc qua bao nỗi đoạn trường đầy chiêm nghiệm suy tư dồn
nén để chắt lọc, lắng đọng, bật ra những trang thơ còn mãi với thời gian. Đi
qua hai thế kỷ Truyện Kiều của Nguyễn Du là tiếng nói nhân văn của một tâm hồn
nghệ sỹ lớn với tài năng sáng tạo phi thường từ “những điều trông thấy” Nguyễn
Du mới có kiệt tác truyện Kiều để lại một gia tài văn học đồ sộ cho hậu thế. Vì
vậy Truyện Kiều ra đời trong khoảng 1814 là ý kiến đầy thuyết phục. Ninh Giang
Thu Cúc đã tìm đọc nhiều tư liệu để mong hé lộ phần nào về thời điểm ra đời của
tác phẩm Truyện Kiều: Hoàng Xuân Hãn cho rằng “Đoạn Trường Tân Thanh được viết
khoảng năm 1814- 1820 (Theo nguồn gốc văn Kiều - Hoàng Xuân Hãn trang 30- Hai
trăm năm nghiên cứu bàn luận truyện Kiều- Lê Xuân Lít).Tác giả Lê Quế cũng cho
rằng Truyện Kiều được viết vào năm 1814 (So sánh dị bản Truyện Kiều, NXB Văn Học
2006).
Nguyễn Du đã ký thác nỗi
niềm của mình hay nói cách khác là chân dung của Nguyễn Du được thể hiện qua bốn
nhân vật trong truyện: “Bốn gương mặt, bốn tính cách và những bi kịch của mỗi
người cộng lại thành chân dung của Nguyễn Du”: số phận tài hoa mà bị nhiều khổ ải,
lên thác xuống ghềnh qua nhân vật Thúy Kiều, hình ảnh một công tử lịch lãm,
phong vận thông minh hơn người qua nhân vật Kim Trọng, Tứ Vô Lượng Tâm của nhà
Phật qua nhân vật khách viễn phương, thể hiện chí làm trai qua nhân vật Từ Hải.
Và mối tình thuở xuân xanh với cô thôn nữ được tái hiện qua mối tình Kim Kiều.
Tác phẩm Đọc Kiều thương
khách viễn phương là những dòng cảm xúc rất chân thành của tác giả NGTC với
Truyện Kiều mà hơn hết là đại thi hào Nguyễn Du người đã “tái sinh lại các nhân
vật bất tử, điển hình là Thúy Kiều- người phụ nữ tài sắc vẹn toàn…” phải chịu
nhiều đày ải trầm luân của kiếp người. NGTC thương cho nàng Kiều tài hoa bạc mệnh
bao nhiêu thì có cái nhìn nghiêm khắc với các nhân vật phản diện bấy nhiêu.
Nói về Hoạn Thư và mối
nhân duyên của Hoạn Thư - Thúc Sinh.Tác giả đưa ra những luận điểm, dẫn chứng để
phân tích và kết luận là Hoạn Thư không phải ghen vì yêu. Bởi vì cuộc hôn nhân
này không “Duyên đằng thuận nẻo gió đưa” khi mà không môn đăng hộ đối theo quan
điểm thời bấy giờ. Lấy chồng rồi Hoạn Thư không về nhà chồng làm vợ hiền dâu thảo
mà vẫn ở trong phủ đệ của nhà mình. Vợ chồng gì mà cả năm mới gặp nhau một lần.
Đối với Hoạn Thư, Thúc sinh sợ nhiều hơn yêu. Hoạn Thư luôn tỏ ra thế bề trên đối
với Thúc Sinh mặc dù xã hội phong kiến luôn trọng nam khinh nữ. Tác giả NGTC đặt
vấn đề “Không yêu sao lại ghen? Và lý giải ghen để chứng tỏ uy quyền, ghen để
thỏa mãn sự chiếm hữu. Mẹ của Hoạn Thư và Hoạn Thư thay nhau hành hạ Thúy Kiều:
“Trúc côn ra sức đập vào
Thịt nào chẳng nát, gan nào chẳng kinh”
Và:
“Làm cho cho mệt cho mê
Làm cho đau đớn ê chề cho coi”
Nguyễn Du viết: “Người
ngoài cười nụ, người trong khóc thầm” nhưng theo NGTC giọt khóc thầm ấy
không chân tình. Gã vẫn chẳng việc gì, tan tiệc vào chung phòng với vợ để Kiều
“tựa bóng đèn chong canh dài." Theo cái nhìn nhân ái của trái tim nữ giới
chị cho rằng cả hai người phụ nữ đó đều đáng thương, đều là nạn nhân của kẻ
chơi bời, nói ngông, ba hoa: “Trăm điều hãy cứ trông vào một ta” nhưng khi tai
họa đến Thúc sinh phủi tay: “Liệu mà cao chạy xa bay/ Ái ân ta có ngần này mà
thôi”. Tính chất phi trượng phu càng bộc lộ khi được Kiều gọi đến để báo ân,
báo oán “Mặt như chàm đổ mình dường dẻ run”.
Hoạn Thư là nhân vật phản
diện, kẻ đã góp phần làm “cánh hoa Kiều” tan tác hơn, mà NGTC vẫn có cái nhìn độ
lượng: “sau khi lòng tự tôn đã thỏa, cơn tam bành lục tặc đã được vỗ về yên giấc
thì lòng nhân hậu, thiện lương của người đàn bà đã trở về …”. Hoạn Thư cho Kiều
ra chép kinh ở quan âm các, giúp đỡ tư trang cho Kiều hộ thân ngầm mở cửa cho
Kiều thoát khỏi vòng kiểm soát của nhà họ Hoạn. Đó cũng là “mầm thiện” mà Nguyễn
Du đem đến cho Hoạn Thư. Thúc Sinh hèn nhát, bất tài, ăn chơi giá áo túi cơm, động
đến việc gì là co vòi thất thủ. Thúc Sinh luôn là người có lợi. Thay vì trách
phạt kẻ bạc tình thì được Kiều tặng ”Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân? Tạ lòng để xứng
báo ân gọi là“, vừa được chiêm ngưỡng “dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên” hơn
một năm trời, khi bị lộ, vợ cũng chỉ hành hạ người làm bé. Thúc Sinh chẳng bị
gì. Theo chị “Bản chất nhân hậu bao dung luôn là tố chất của đàn bà”.
“MỘT VÀI THẰNG CON CON SAU CHÂN NGỰA CỦA KIM TRỌNG”
Theo NGTC trẻ em phải được chăm sóc nuôi dạy ăn học, vậy mà chỉ để sai vặt; hầu
hạ cho người lớn như pha trà, đấm bóp, ôm tráp, mang vác những vật dụng phục vụ,
chạy theo chân ngựa cậu chủ. Chị còn nghĩ là chúng đói bụng và khát nước nữa đấy!
Thật là một tấm lòng nhân hậu của một nữ giới cầm bút giàu lòng trắc ẩn.
Nói đến tình chị duyên em hay sự hi sinh thầm lặng của Thúy Vân theo đề nghị của
chị mình để chắp mối tơ duyên với chàng Kim. Trong khi một số người trước đây
cho rằng Thúy Vân hời hợt vô cảm trước biến cố của gia đình. NGTC tỏ ra không đồng
tình với nhà thơ Vương Trọng: “Nhà có chuyện coi như người ngoại cuộc/ Vẫn ăn
no ngủ kỹ như không”. Mặc dù “Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai” nhưng Kim Trọng
và Thúy Kiều đã chọn nhau ngay cuộc gặp gỡ đầu tiên, rồi hai người đã thề non hẹn
biển.
“Sánh vai về chốn thư hiên
Góp lời phong nguyêt nặng nguyền non sông”
Nhận người yêu của chị giao cho: “Tôi chắc Thúy vân cũng chẳng sung sướng gì
khi phải chấp nhận một biện pháp tình thế do Thúy Kiều áp đặt”. Kiều bán mình
chuộc cha thì Thúy Vân cũng là vật thế thân cho Kim Trọng. Thúy Vân và Kim Trọng
không yêu nhau. Hôn nhân mà không dựa trên nền tảng của tình yêu mới thấy khổ
tâm biết chừng nào!
NGTC yêu mến và cảm tạ đức hi sinh của Kiều đã đành, tác giả vẫn dành sự quý mến
vì đức hi sinh thầm lặng cho đạo nghĩa của Thúy Vân.
QUAN CHỨC VÀ VƯƠNG ĐẠO
NGTC chỉ ra rằng trong xã hội quân chủ thời thịnh trị; mọi người thượng tôn
pháp luật. Với quan niệm “Sĩ nông công thương” thì trí thức vẫn được đặt lên
hàng đầu. Bởi vì họ chăm lo học hành đỗ đạt làm quan phụng sự đất nước, chăm lo
hạnh phúc của muôn dân, góp phần làm cho xã hội yên bình. Khi rũ áo từ quan hay
hưu quan thì mở trường dạy học truyền con chữ cho thế hệ mai sau.
Các bậc sỹ phu thanh liêm quả là đáng kính, nhưng ở nước ta thời loạn thì sao?
Có thể “thượng bất chính hạ tác loạn” vì vậy từ vua quan quân, đâu đâu cũng có
tham nhũng bất công. Công lý ở đâu khi chỉ vì lời vu oan giá họa của thằng bán
tơ mà đẩy một gia đình thiện lương tan nát. Đồng tiền lên ngôi đổi trắng thay
đen “Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”. Mọi việc đều có thể giải quyết được nếu
có tiền “Tiền lưng đã có việc gì chẳng xong”. Một xã hội từ những kẻ quyền cao
chức trọng như quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến không chiêu hàng được Từ Hải
một cách đường đường chính chính mà phải dùng mưu ma chước quỷ. Những cửa hàng
buôn phấn bán người mọc lên như nấm thì làm gì có “Bốn phương phẳng lặng hai
kinh vững vàng”. Theo chị đây là cụm từ giao đãi, ngụy trang cho sự an toàn của
tác phẩm “viết là phải lách” là nỗi khổ tâm của người cầm bút chân chính từ xưa
cho đến nay.
Cuối bài chị có câu cảm thán: “Ôi vương đạo biết tìm đâu?” Đó là điều rất đáng
suy ngẫm. Bằng vốn sống trên sáu mươi năm cầm bút và chứng kiến bao biến thiên
của lịch sử và thực tế xảy ra trong cuộc sống thường ngày thì tác giả vẫn khẳng
định “Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh… tồn tại trong mọi thời đại”. Chúng tôi là
kẻ sinh sau đẻ muộn so với tuổi đời của chị, vốn sống chúng tôi chưa nhiều
nhưng tôi vẫn khẳng định đó là một đúc kết hoàn toàn có cơ sở.
“VÀI VẾT XƯỚC NHỎ TRONG KHỐI NGỌC LỚN: TRUYỆN KIỀU”
Tác giả nêu ra việc Kiều đã được sư bà Giác Duyên đưa về thảo am:
“Một nhà chung chạ sớm trưa
Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng”
Bối cảnh sống chung của sư bà Giác Duyên và Kiều rất yên vui thanh tịnh sao
Nguyễn Tiên Điền lại hạ bút bằng từ “chung chạ” e không hợp với văn cảnh chăng?
Bởi người ta thường hiểu nghĩa chung chạ dành cho trường hợp xấu, bất minh, thiếu
rạch ròi… Theo ngôn ngữ hiện đại thì chị thắc mắc như vậy là hoàn toàn có lý
(Xem từ điển Tiếng Việt hiện nay). Nhưng chúng tôi đồng ý với Doãn Lê là “Ngôn
ngữ là một thực thể linh động, ý nghĩa có thể thay đổi theo thời gian và không
gian”. Từ trong những áng văn thơ cổ có một số từ nay đã biến nghĩa. Ví dụ
trong cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan viết năm 1941 (Hội Nhà văn xuất bản
quý IV năm 2000) bài viết về Phạm Quỳnh trang 135, 136 “Ông thường dùng bốn chữ
nho đi liền một hơi trong một câu: Ví dụ “Vũ hám phong trần” thì nói nôm ngay
là “Mưa dập gió lay” có phải vừa thông thường vừa dễ nghe hơn không. Đó là những
điều khuyết điểm mà đối với một văn gia nào, người ta cũng có thể tìm ra được.
Nó là cái tật của người có duyên nợ với văn chương không lấy gì làm quan hệ”.
Vũ Ngọc Phan dùng từ “quan hệ” thì lẽ ra phải dùng từ quan trọng mới đúng theo
ngôn ngữ hiện nay. Không chỉ Vũ Ngọc Phan mà tôi còn thấy các nhà nhà văn, thơ
đầu thế kỷ hai mươi vẫn dùng với nghĩa như là từ “quan trọng” hiện nay vậy. Như
vậy chưa đầy một thế kỷ kể từ khi chữ quốc ngữ ra đời, nay có nhiều từ đã biến
nghĩa, được thay thế bằng từ khác có sức biểu đạt chính xác hơn. Vì vậy Truyện
Kiều viết cách thời đại chúng ta hơn hai trăm năm thì từ “Chung chạ” có thể vẫn
được xem là nghĩa tốt hoặc nghĩa trung tính, tốt xấu tùy ngữ cảnh. Với tài trí
như cụ Nguyễn thì không thể có sự thiếu cân nhắc trong việc dùng từ được. Vì vậy
tôi cũng đồng ý với ý kiến Doãn Lê là trong lúc chờ đợi các nhà nghiên cứu
chúng ta “tạm hiểu “chung chạ” theo nghĩa trung tính.
2/ Sự “bề trên” của Hoạn Thư đối với Thúc Sinh cũng không đúng trong xã hội thời
ấy. Theo tinh thần nho giáo thì bối cảnh xã hội lúc bấy giờ chị đưa ra thắc mắc
ấy là đúng. Nhưng có lẽ “Nguyễn Du đã muốn người Phụ nữ thoát khỏi chế độ gia
trưởng phong kiến” (GS Hà Huy Giáp) trọng nam khinh nữ chăng? Thời đó “Cha mẹ đặt
đâu con ngồi đấy” chứ làm gì có chuyện “Cọc đi tìm trâu” Thúy Kiều: “Xăm xăm
băng lối vườn khuya một mình” Quả thật đây là quan niệm mới đầy tính hiện đại.
Trai gái yêu nhau, ai tỏ tình trước đều được cả. Câu “tam tòng tứ đức đã đến
lúc không còn phù hợp nữa. Phải chăng Nguyễn Du muồn đòi quyền bình đẳng cho nữ
giới. Cuộc hôn phối của Hoạn Thư và Thúc Sinh không môn đăng hộ đối. Hoạn Thư
là con của một vị quan quyền. Còn Thúc Sinh xuất thân tầng lớp buôn bán. Tầng lớp
này theo quan niệm “sỹ nông công thương” thì được đặt cuối cùng. Lái buôn muốn
quan hệ móc nối với các vị có chức có quyền để dễ dàng trong các phi vụ làm ăn…
Đó là mục đích và sự lợi dụng lẫn nhau thời nào cũng có. Hoạn Thư lấy chồng
không theo chồng như mọi cô dâu khác. Khi gia đình chồng có tang cũng không về
chịu tang: “Tiểu thư trông mặt hỏi tra? Mới về có việc chi mà động dong”, “Sinh
rằng hiếu phục vừa xong/ Suy lòng trắc dĩ đau lòng chung thiên” Rồi Hoạn Thư
ban cho thúc sinh lời khen: “Khen rằng hiếu tử đã nên”. Thúc sinh buôn bán làm
ăn xa, lại chời bời vụng trộm bên ngoài. Vậy đối với Hoạn Thư Thúc Sinh xuất
thân tầng lớp dưới lại không đáng mặt đàn ông cho lắm. Gã còn có lỗi lớn với vợ
nữa nên trước uy thế của gia đình vợ, Thúc Sinh không khỏi sợ hãi …
Ở trang 95 NGTC nêu: “Một cuộc ân oán mang tính thù hận cá nhân, có gì mà Từ Hải
phải quan trọng hóa sự việc và phung phí nhân lực đến vậy “Ba quân chỉ ngọn cờ
đào? Đạo ra Vô Tích đạo vào Lâm Truy”. Chúng tôi xin đồng ý với chị.
Còn nhiều điều hấp dẫn trong cuốn sách với những bài phân tích lý thú, sáu bài
thơ vịnh về các nhân vật trong truyện Kiều… và những thắc mắc khác. Kính mời bạn
đọc hãy đến với Đọc Kiều thương khách viễn phương của tác giả NGTC.
Trở lại với chủ đề chính về tác giả Truyện Kiều “Nguyễn Du đã đưa ngôn ngữ Việt
nam đến chỗ tuyệt đỉnh siêu việt và tiếng nói việt Nam chính là trường sở linh
nghiệm nhất của dân tộc tính, Việt tính. Nguyễn Du không chỉ là một bậc đại thi
hào mà còn là một bậc đại hiền triết”. Nguyễn Du xứng đáng là “một trong ba nhà
thơ vĩ đại nhất của nhân loại cùng với Hoelderlin và Walt Whitman là ba thiên
tài lớn nhất của nền thi ca nhân loại trong hai ngàn năm hoang vu trên mặt đất”.
(Phạm Công Thiện - Nguyễn Du đại thi hào dân tộc).
Nguyễn Du và Truyện Kiều vẫn mãi là ma lực huyền diệu và bí ẩn, hấp dẫn người đọc
và nghiên cứu. Càng đi sâu khám phá càng phát hiện ra những điều mới lạ và thú
vị. Theo Phạm Công Thiện thì chúng ta “chỉ thấy được sự vĩ đại phi thường của
Nguyễn Du khi nào chúng ta đã có khả năng đi vào nơi sâu thẳm của của văn
chương và văn hóa thế giới”. Đó là điều mà người đọc và nghiên cứu không ngừng
khát khao vươn tới. Chúng ta trân trọng những đóng góp tâm huyết của tác giả
Ninh Giang Thu Cúc, gợi mở thêm một hướng tiếp cận tác phẩm giữa người đọc với
Truyện Kiều.
Xin cảm ơn chị với “giọt nước mắt muộn màng” của hậu thế dành cho thiên tài Nguyễn Du, góp phần kích thích niềm say mê khai thác thưởng lãm Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) của độc giả nhiều thế hệ.
Huế, 13/9/2019
Hoàng Thị Bích Hà
Theo https://www.art2all.net/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét