Ernest Hemingway
:
Nhà văn,
con người và cõi sống
Phần I .- Hemingway : nhà
văn
Ernest HEMINGWAY
(1899-1961) là nhà văn Mỹ từng được giải văn học Nobel, nổi danh toàn cầu.
Nhưng tôi chỉ biết đến tên ông khoảng đầu thập niên 1960, khi Sài Gòn rầm rộ
cho ra mắt các bộ phim phỏng theo một số tác phẩm của ông như Le soleil
se lève aussi, L'adieu aux armes, Pour ce qui sonne le glas, Le vieil homme et
la mer... Nghĩ mình cũng dân sành điệu xi-nê chẳng thua ai nên hồi đó,
mỗi lần nghe quảng cáo có phim mới phỏng theo truyện của Hemingway, thế nào tôi
cũng phải đi coi bằng được, cho dù có phải đứng xếp hàng dài nghển cổ, thậm chi
có lúc còn phải thúc cùi chỏ để giành giật cho được tấm vé. Sở dĩ tôi chịu khó
bon chen đứng xếp hàng như vậy, không phải vì Hemingway mà vì phim nào có dính
dáng tới tên ông tôi đều thấy hay cả, nhất là phim nào cũng được sự của đóng
góp của các tài tử gạo cội quen thuộc thời bấy giờ. Tới khi biết ông được tặng
giải văn học Nobel (1954), tôi có tìm đọc một vài tựa sách của ông. Đọc để ra
điều ta đây có đọc, chứ thực tình tôi chẳng thấy có cuốn nào là hấp dẫn, so với
những điều được thấy trên màn bạc. Theo chương trình Pháp từ nhỏ, sau trung học
lên Đại Học lại tiếp tục theo ban cử nhân Pháp, tôi cứ đinh ninh văn chương
Pháp là " năm bờ oăn ", là " số dzách " và chỉ có thơ
của Lamartine, của Baudelaire, của Prévert, văn xuôi của V. Hugo, của Balzac, của
A. Malraux, của J.P Sartre, của A. Camus, của Saint-Exupéry... mới đáng đọc. Bởi
vậy khi thấy báo chí thời đó, hầu hết dành lời để ca ngợi tài ba của các nhà đạo
diễn hay tài diễn xuất của các ngôi sao màn bạc như Ingrid Bergman, Ava
Gardner, Gary Cooper, Tyrone Power... hơn là bàn về giá trị văn học nghệ thuật
của Hemingway, tôi vội hùa theo, không mảy may thắc mắc. Đây quả là một lầm lẫn
tai hại. Tai hại, bởi sự đồng tình dễ dãi ấy khiến tôi phải sống tù hãm trong
vòng kim cô kiềm toả của lầu son văn chương Pháp không biết bao lâu. Nếu không gặp
cơ trời run rủi khiến tôi phải tìm đọc " Paris est une fête "
(1), liệu còn có ngày tôi được mở mắt để nhìn ra chân trời văn học thế giới bao
la. Cuốn" Paris est une fête " đã cho tôi bài học là
nên đọc lại Hemingway, đọc nhiều lần, vừa đọc vừa tham khảo, có thế mới mong hiểu
ông được đúng hơn, được sâu hơn. Quả nhiên rằng, nhờ ngoan ngoãn biết nghe theo
lời dạy dỗ chỉ bảo và chịu khó đọc, tôi mới phát hiện ra một điều lý thú, ít ra
cũng đối với tôi. Đó là Hemingway sở dĩ thành danh, không chỉ nhờ vào thiên tài
(avoir du génie), mà vì ông coi việc theo đuổi nghiệp văn là một thiên chức
(une vocation), cũng như nhà tu đến với tôn giáo để nghe theo tiếng gọi của Đấng
thiêng liêng mình muốn tôn thờ. Có khác chăng là nhà tu chọn con đường thoát tục
và khổ hạnh để rao giảng chân lý cho đời theo tín ngưỡng ; còn nhà văn thiên chức,
với ông, là phải chọn con đường nhập thế, phải dám sống lăn lộn trong cõi đời để
quan sát, để tìm hiểu và nói lên những sự thật ở đời.
Nhưng tại sao Hemingway không chỉ có là nhà văn thiên tài (écrivain de génie)
mà còn là nhà văn thiên chức (écrivain de vocation)? Để trả lời, có lẽ chúng ta
cần trở về với những năm đầu ở tuổi trưởng thành của Hemingway và cũng là giai
đoạn ông chập chững bước vào nghiệp văn.
Vốn có khiếu viết văn lại
được thày dạy cũng như bạn bè khuyến khích, Hemingway đã có ý theo đuổi nghiệp
văn ngay từ thời trung học. Bởi thê ông đã không chọn ngành y để nối nghiệp cha
; mà ông cũng không chịu học tiếp trên đại học theo ý nguyện song thân, cho dù
đã có lần ghi tên theo ngành báo chí. Có thể nói Hemingway là một trong số ít
nhà văn Mỹ tạo nên sự nghiệp lẫy lừng mà không qua đào tạo đại học. Nhưng biết
đâu, đó mới chính là yếu tố giúp ông tạo được vị thế đặc biệt trên văn đàn. Tiếp
tục theo đại học có thể giúp ông thủ đắc một bút pháp kinh điển, thu thập được
những kiến thức cần thiết cho sự nghiệp viết văn đấy. Nhưng những kiến thức
khoa bảng ấy, dẫu hữu ích, cũng khiến ông khó tránh khỏi bị sa lầy vào bước
chân của những người đi trước. Hơn thế, mớ kiến thức thuần kinh điển có thể còn
là cái bẫy thúc đẩy ông sử dụng chúng làm thủ thuật sáng tác, nghĩa là dùng trí
tưởng tượng để thế cho những trải nghiệm trong cuộc sông. Ông không cho rằng chỉ
cần trưng ra tấm bằng của bất kỳ đại học nào như là bằng chứng đã có nhãn hiệu
cầu tòa để rồi tha hồ trổ tài viết lách. Với ông, trái lại, theo đuổi nghiệp
văn là phải biết dùng ngòi bút để nói lên được đời sống chân thật. Điều này có
nghĩa là nhà văn phải phản ánh trung thực những gì do chính mình cảm nhận được
về người thật, việc thật trong cuộc sống. Nói khác đi, nhà văn cần phải biết
gây dựng cho mình một vốn sống để lấy nó làm chất liệu sáng tạo. Bởi vậy sau
trung học, ông đã tính xin nhập ngũ như một số bạn học để được thỏa chí tang bồng
và học hỏi thêm ở trường đời. Nhưng phần vì một bên mắt yếu, phần không được
cha mẹ cho phép theo luật định, ông đành nhận làm việc cho tờ Kansas City Star
để được sống tự lập. Làm báo chưa đày một năm, có tin Hồng Thập Tự quốc tế đang
cần tuyển người lái xe tải thương, ông tình nguyện gia nhập và được gửi tới
công tác vùng biên giới Alpes nơi đang diễn ra những trận đánh ác liệt giữa
quân đội hai nước Ý và Áo. Tới Ý vừa tròn một tháng, ngày 8-7-1918, Hemingway
đã bi thương nơi đầu gối do vô số mảnh vụn của một trái cối. Được đưa về điều
trị tại một binh viện ở Milan, nới đây ông đã gặp mối tình đầu : đó là nữ y tá
người Mỹ gốc Ba Lan, Agnès von Kurowski hơn ông bảy tuổi . Nhưng mối tình một
chiều này không kéo dài quá thời gian ông dưỡng bịnh, bởi cảm tình người đẹp y
tá dành cho ông chỉ là sự thiện cảm đối với một bịnh nhân trẻ trung vui tính.
Tuy nhiên hình ảnh người đẹp vẫn đeo đuổi và Hemingway đã làm sống lại qua chân
dung nhân vật y tá Catherine Baker trong cuốn L'Adieu aux Armes .
Sau khi rời bệnh viện và trở về Mỹ, Hemingway không sống bao lâu với gia đình.
Bằng tiền trợ cấp phế binh, ông tới cư ngụ tại Chicago để được thoát ly với nếp
sống trưởng giả lề lối của cha mẹ. Nơi đây ông gặp Hadley Richardson hơn ông
tám tuổi. Nhưng không vì vậy, hoặc do ảnh hưởng mối tình đầu với cô y tá , nên
chỉ vài tháng sau Hadley đã trở thành người vợ đầu tiên của Hemingway. Thời
gian gần hai năm sống tại Chicago cũng là thời gian Hemingway chập chững bước
vào nghiệp văn. Đây mới chỉ là những bước đi dò dẫm với những sáng tác đầu tay,
phần nhiều với nội dung lính tráng, bút pháp thuộc loại tầm tầm chạy theo sở
thích thời thượng nên có bài được cho đăng, có bài không. Đang lúc ông tính
cùng vợ trở lại Ý thăm một vài nơi ông từng công tác để gây lại nguồn cảm hứng,
may mắn thay, ông được gặp nhà văn Sherwood Anderson. Nhận biết ra tài năng của
Hemingway, Anderson khuyên ông nên tới sống tại Paris, là môi trường sinh hoạt
thuận lợi cho bất cứ ai muốn theo đuổi nghiệp văn . Hơn thế, Anderson còn sẵn
sàng viết thơ giới thiệu ông với Gertrude Stein, chủ nhân một phòng triển lãm
tranh, và nhà thơ Erza Pound là hai khuôn mặt có uy tín trong giới văn nghệ sĩ
Mý tại Paris thời bấy giờ. Gặp dịp tờ Toronto Star đang cần một phóng viên thường
trực tại Âu châu, Hemingway đã không bỏ lỡ cơ hội. Thế là tháng 12 năm 1921,
Hemingway cùng vợ đặt chân lên đất Pháp, tới cư ngụ tại số 74 rue Cardinal
Lemoine thủ đô Paris, dấn thân vào một cuộc sống bần hàn thiếu thốn, nhưng lại
là giai đoạn học hỏi đày hứng khởi và hữu ich cho sự phát triển tài năng của
ông.
Trên đây là sơ lược giai
đoạn trưởng thành của Hemingway khi ông khởi sự bước vào nghiệp văn. Giai đoạn
không đầy năm năm, nhưng lại đánh dấu khúc ngoặc quan trọng cho sự nghiệp văn học
của ông. Quan trọng bởi ba sự kiện hay biến cố đã giúp ông rút ra được một vài
kinh nghiệm quí báu để vững vàng tiến bước trên hành trình văn học. Sự kiện cần
nêu trước tiên, ây là khi ông nhận làm việc cho tờ Kansas City Star. Biến cố thứ
hai là giai đoạn ông bị thương khi làm công tác tải thương tại Ý và phải nằm điều
trị tại Milan. Thời gian phục vụ tuy ngắn ngủi, nhưng những điều được chứng kiến
bằng tai nghe mắt thấy tại chiến trường đã giúp ông thay đổi được thế giới quan
và cái nhìn về bản chất chiến tranh và về thân phận con người trong chiến
tranh. Sau cùng là quyết đinh đến sống tại Paris như là lựa chọn môi trường
sinh hoạt thuận lợi cho việc phát triển tài năng và theo đuổi sư nghiệp văn
chương của ông.
Bài học đầu tiên ông rút
tỉa được chỉ sau một thời gian ngắn làm việc cho tờ Kansas City Star, ấy là tuy
cùng trong ngành nghề cầm bút nhưng có sự khác biệt giữa nhà văn và nhà báo.
Làm báo, dù là phóng viên hay biên tập, ít nhiều đều phải lệ thuộc vào chủ
trương đường lối của tờ báo nhằm phục vụ một thành phần độc giả nào đó. Để phát
triển hoặc tồn tại, tờ báo không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin, mà còn phải
biết chạy theo thị hiếu hay sở thích đối tượng độc giả của mình. Tin tức, thời
sự không những cần phải nóng bỏng, sốt dẻo, mà phần tường trình cũng phải biết
thêm mắm thêm muối để tăng phần hấp dẫn câu khách. Điều cần là phải biết cách
len lỏi đi sâu vào lòng quần chúng và chịu khó mày mò gãi cho đúng chỗ ngứa. Có
thế mới mong kiếm chác được thêm độc giả và, biết đâu, chẳng mấy chốc sẽ được
tôn lên hàng thần tượng siêu sao. Đây mới chỉ nói đến những cơ sở báo chí thuộc
loại thông tin đại chúng. Nói chi đến những cơ quan ngôn luận mang màu sắc quan
điểm lập trường chính trị. Nhà báo khi đó không chỉ cần biết luồn lách, mà đôi
khi còn phải chấp nhận uốn cong ngòi bút nữa. Nhưng Hemingway lại không muốn thứ
hào quang ảo ảnh ấy, tùy thuộc vào sở thích thời thượng của đám độc giả nhất thời,
sớm muộn rồi cũng tan biến như những đợt bọt biển trên bãi cát. Mà ông cũng
không muốn tên tuổi được lưu danh hậu thế nhờ vào mấy câu thơ thuộc loại "
ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ " kiểu Tố Hữu khóc rống lên để bày tỏ
lòng thương tiếc trùm đỏ hiếu sát Staline. Sớm ý thức được cạm bẫy này,
Hemingway đã tìm cách giữ mình, để không vì một vài lợi lộc giai đoạn, mà làm mất
đi cái liêm khiết của một nhà văn. Ông biết rằng một khi đã lỡ chạy theo bả
danh vọng rồi, nhà văn chân chính khó mà giữ được cái liêm khiết ấy, như sau
này có lần ông phát biểu với tờ Kansas City Times tháng 11 năm 1940:
" Cái liêm khiết của nhà văn, cũng như chữ trinh với cô gái hãy
còn tân í. Một khi lỡ bị mất rồi, khó đường lấy lại được lắm cơ (sic)."
(Nguyên tác :" L'intégrité d'un écrivain, c'est comme la virginité d'une
fille. S'il la perd, il ne la retrouvera pas. ".- Gérard de Cortanze :
"Hemingway à Cuba" Gallimard 2007 coll Folio 3663, p. 104) Câu
ví von này thốt ra bởi một nhà văn âu mỹ, kể thấy cũng hơi tức cười. Nhưng
chính vì vậy nó càng đáng nêu ra để cho thấy Hemingway chú trọng tới sự gìn giữ
cái liêm khiết của nhà văn như thế nào.
Để bảo toàn liêm khiết,
Hemingway cho rằng nhà văn có nghĩa vụ trước mắt là phải giữ gìn hoặc phục hồi
sự trong sạch cho chữ nghĩa. Điều ông tối kỵ là dùng lời đao to búa lớn để làm
oang oang cái vẫn còn rỗng tuếch, hoặc mỹ từ hoa hòe hoa sói để tìm cách tô son
trát phấn cho những cái vốn đã cũ mèm. Chỉ cần đọc chương đầu " Un bon
café, sur la place Saint-Michel " trong cuốn Paris est une
fête (Editions Gallimard 2015 – collect. Folio 5454) cũng đủ cho thấy
khi vừa đặt chân tới Paris, Hemingway đã tận tụy đánh vật với chuyện viết lách
như thế nào. Ông thận trọng cân nhắc từng lời từng chữ, vậy mà bài viết của ông
vẫn đôi khi bị trả lại khiến có lúc ông đành nhịn đói mò tới bảo tàng viện lấy
chuyện ngắm tranh thay bữa ăn và làm nguồn cảm hứng (chương " La
faim est une bonne discipline" Sđd). Không nản lòng ông vẫn hàng ngày
tới cái quán cà phê vô danh quen thuộc ngồi từ sáng tới hai, ba giờ trưa cặm cụi
viết, vừa viết vừa sửa. Sửa đi sửa lại, sửa để gọt rũa cho tới khi kiếm ra lời
ưng ý mới thôi. Nhờ thái độ quyết tâm khắc kỷ đó, cũng như bậc chân tu lấy khổ
hạnh làm nấc thang tới cõi niết bàn, ông đã tạo cho mình một văn phong bản lãnh
mà không phải bất cứ ngòi bút phàm tục nào cũng có được. Cần phải đọc, đọc nhiều
lần lời văn của Hemingway (như khuyến cáo của bà Danielle, một phụ nữ Paris) mới
thấy được cái bản lãnh trong chữ nghĩa ông. Cái bản lãnh ấy, có được, chính vì
ông biết cách phục hồi tiết hạnh cho chữ nghĩa đã bị không ít người đời biến
thành những cô gái thanh lâu do thói quen sử dụng chúng một cách tùy tiện bừa
bãi. Nói khác đi, cái bản lãnh chữ nghĩa nơi Hemingway là ở chỗ ông biết sử dụng
chúng bằng cái nhìn của Kim Trọng đối với Thúy Kiều sau khi biết tấm thân nàng
đã được tảy rửa bằng nước sông Tiền Đường. Và đó cũng là cái nhìn của Robert
Jordan đối với Maria trong cuốn Pour qui sonne le glas – (Gallimard,1961
colll. Folio 455, chap. 31) : Sau khi được Maria nhất quyết thuật lại chuyện
mình đã bị đám quân phát xít hành hạ làm nhục thân xác thô bạo như thê nào,
Jordan đã âu yêm hôn Maria, gọi nàng là con nai tơ nhỏ bé (mon petit chevreau)
và hứa sẽ cưới nàng sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Liên tưởng tới những hàng chữ
xuất hiện nhan nhản hàng ngày trên mạng, nhất là cái tít của một vài mẩu tin
thuộc loại " hot ", tôi nghĩ có lẽ chúng ta cũng muốn thấy có thêm những
cây viết mới biết phục hồi cái tiết hạnh cho chữ nghĩa và quí trọng tính lương
thiện của chữ nghĩa như phong cách xử sự mã thượng của Jordan với Maria trong
câu chuyện.
Nhưng chữ nghĩa dẫu sao
cũng chỉ là công cụ, là phương tiện truyền đạt. Điều cốt yếu là phải có cái gì
đáng nói để nêu lên. " Nước lã không vã nên hồ ", ta thường nghe nói.
Không phải chỉ với cây thớt bằng gỗ mun, con dao chế bằng thép tốt ( hay cái
laptop loại xịn mới ra lò) là có thể chế biến ra món ăn ngon được. Cũng cần phải
kiếm được loại thực phẩm hiếm quí chứ. Bởi vậy vừa xong chương trình trung học,
Hemingway đã như con ngựa non háu đá, chỉ muốn va chạm với đời, lấy cọ sát với
thực tế để có những bài học về kinh nghiệm sống. Chỉ những thứ đó mới là chất
liệu đích thực làm nên văn chương có giá trị. Bởi thế ta mới thấy Hemingway sống
năng động, sống xông xáo, không ngần ngại lao đầu vào những cuộc phiêu lưu mạo
hiểm để tìm đến những chân trời mới. Văn chương ông, từ l'Adieu aux
armes, qua Le soleil se lève aussi, Pour qui sonne le glas, tới Les
neiges de Kalimanjiro hay Le vieil homme et la mer, mỗi
cuốn một vẻ, đều mang nội dung phong phú đa dạng cũng vì lẽ đó.
Nhưng một tác phẩm nghệ
thuật thành đạt không chỉ trông cậy có vào nội dung. Nó cũng cần được diễn tả bằng
nghệ thuật nữa. Đó cũng là điều Hemingway ý thức được. Và đó cũng là lý do thúc
đảy ông sốt sắng nghe theo lời khuyên của Anderson cùng vợ tới sống tại Paris.
Tại thành phố được mệnh danh là kinh đô của văn hóa và nghệ thuật, các tài liệu
cũng như một vài chương của Paris est une fête đều
cho thấy, hàng ngày Hemingway đành để vợ con ở nhà , dành nguyên buổi sáng đến
một quán cà phê vô danh tại Place Saint-Michel ngồi cặm cụi sửa đi viết lại để
rèn luyện văn phong của mình. Thời giờ rảnh rỗi ông còn dành cho việc thăm viếng
bảo tàng viện ngắm tranh, hoặc tìm đọc các tác phẩm văn học Pháp cũng như quốc
tế để mở rộng tầm nhìn và tiếp thu những cái mới. Ta có thể đo lường tầm mức kiến
thức văn hóa của Hemingway qua những câu trích dẫn hay lời ám chỉ rải rác đó
đây trên các tác phẩm của ông. Nhưng nếu Hemingway có chịu khó bỏ công đọc nhiều,
không phải để phô trương kiến thức. Mục đích chính ông theo đuổi là học hỏi để
tiếp thu. Mà tiếp thu, với ông, không có nghĩa là cóp nhặt máy móc, lấy cái cũ
của người làm cái mới cho ta để hù hè bà con lối xóm. Tiếp thu, với ông, còn phải
là tìm hiểu tận tường cái hay cái lạ, tìm cách tiêu hóa nó, biến nó thành chất
bổ dưỡng tăng cường nội lực để từ đó xây dựng cho mình một mỹ quan mới, một mỹ
học mới. Tôi không ưa cái lối dùng lời khoa trương hoa mỹ. Mỗi lần gặp phải cái
tựa hùng hổ của một vài bản tin trên trang mạng là tôi muốn nổi da gà luôn.
Nhưng gặp trường hợp hãn hữu Hemingway, tôi không ngăn nổi ham muốn đặt cho kỹ
thuật sáng tác của ông cái tước hiệu " mỹ học trường phái hiện thực
Hemingway ". Chu choa. Nghe dễ sợ chưa ? Vậy chứ " mỹ học trường phái
hiện thực Hemingway " là cái con khỉ mốc gì mà sao cho nổ lớn quá sá dzậy
? Đọc lên, nghe muốn tản thần luôn.
Tuy cũng thuộc dòng chủ
nghĩa hiện thực, nhưng mỹ học Hemingway lại không cùng chung một nhánh với mỹ học
truyền thống tây phương trong quan niệm tiếp cận và phản ánh hiện thực.
Trước hết là về mặt xây dựng
nhân vật tiểu thuyết. Các nhân vật trong tiểu thuyết tây phương cuối thế kỷ 19
thường được tạo dựng thành những nhân vật mẫu mực điển hình. Ngay trang đầu hay
phần đầu cuốn sách, nhân vật người hùng đều được giới thiệu hay mô tả hầu như
trọn vẹn : từ vóc dáng tới tâm tính, từ trang phục tới điệu bộ nói năng. Thậm
chí đôi khi còn có sự tham dự của tác giả qua những nhận xét, giải thích hay
đánh giá nào đó. Và một khi xuất hiện rồi, chân dung các nhân vật ấy, từ đầu tới
cuối truyện, nhất là về mặt tâm lý, hầu như không mấy thay đổi. Đó là trường hợp
Monseigneur Myriel trong " Les misérables" của Victor
Hugo, hay Vautrin trong " Le père Goriot " của
Balzac. Đó cũng là trường hợp nhân vật Chí Phèo của Nam Cao hay Xuân tóc đỏ của
Vũ Trọng Phụng. Nhưng Hemingway lại cho rằng các nhân vật mẫu mực, khuôn thức
trong tiểu thuyết hiên thực truyền thống tây phương chỉ là những nhân vật được
tạo dựng cho tiểu thuyết, chứ không phải là những con người sống thực ngoài đời.
Một nhân vật trình bày theo kiểu Balzac hay Zola chỉ là cái hiện thực qua mô tả
hay tường thuật của người đứng ngoài quan sát và kể lại. Sự mô tả có chi tiết
đày đủ đến mấy, dẫu sao cũng chỉ là cái hiện thực của mặt nổi, của bề ngoài.
Còn bề dày cuộc sống, chiều sâu tâm hồn con người, làm sao có thể nói hết ngay
cho được. Chả thế mà các cụ nhà ta đã phải thốt rằng : " Sông sâu
còn có kẻ mò. Lòng người nham hiểm biết dò nơi nao ? " Nếu chịu
khó để ý và so sánh, ta sẽ thấy không có nhân vật nào, dù là chính hay phụ,
trong truyện của Hemingway lại được mô tả đày đủ chi tiết ngay từ đầu như trong
tiểu thuyết truyền thống tây phương cả. Thí dụ như Robert Jordan, nhân vật
chính trong Pour qui sonne le glas . Mới xuất hiện ngay trang
đầu, ta chỉ biết đó là một chàng trai đang nằm quan sát cây cầu mà y có nhiệm vụ
đánh sập, với người dẫn đường bên cạnh là ông già Anselmo. Mãi tới khi hắn đứng
dậy, ta mới biết đó là một chàng trai tóc vàng úa, mặt rám nắng, thân hình mảnh
khảnh, bận chiếc sơ mi đã cũ và chiếc quần nông dân. Vậy thôi. Ngoài ra không hề
một lời giới thiệu về thân thế, sự nghiệp, tâm tính của y. Sự khác biệt này là
do Hemingway không muốn dựng lên những nhân vật như trong tiểu thuyết truyền thống
tây phương. Trái lại, ông muốn dẫn đến ta những con người bằng xương bằng thịt
với cử chỉ, lời ăn tiếng nói mà phải qua nhiều lần tiếp xúc ta mới rõ được chân
tướng của họ. Điển hình là vai trò Pablo trong cuốn Pour qui
sonne le glas. (Ernest Hemingway, Gallimard édit. 1961 coll. Folio
466).
Nguyên là một lái buôn ngựa,
đứng về phe chính phủ cộng hòa dân cử chống lại nhóm quân phiệt phát xít nổi loạn
trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha (1936-1939), Pablo cầm đầu một nhóm dân quân ẩn
náu trong một hốc núi cheo leo hiểm trở thuộc vùng Ségovia phia bắc Madrid. Vừa
mới gặp Jordan, hắn đã lên mặt ta đây dân xếp sòng bằng cử chỉ hống hách, lời lẽ
trịch thượng. Nhưng khi được biết sứ mạng của Jordan là đánh sập cây cầu trong
khu vực, hắn đã lén lút tìm cách phá hoại bộ phận cho nổ mìn vi e ngại hành động
này sẽ làm lộ nơi trú ẩn, phương hại tới sự an toàn và công việc làm ăn của y
(ch.1). Âm mưu bại lộ, trong đêm sinh hoạt của nhóm dân quân trong hang, hắn tỏ
ra hèn nhát, không dám phản ứng trước hành động khiêu khích của Augustin, một
du kích quân. Tuy nhiên theo lời thuật lại của Pilar, vợ hắn, khi mới gia nhập
phe chính quyền, Pablo tỏ ra gan dạ, mưu lược nhưng tàn bạo, đặc biệt là trong
vụ tổ chức và khích động quần chúng tàn sát các viên chức thuộc bộ phận hành
chánh phát xít của thi trấn Avila hắn vừa chiếm được ( Sdd ch.10). Chót cùng,
Pablo đã để lộ bộ mặt hiểm độc bất nhân của y khi rủ nhóm Elias cùng tham gia
vào cuộc phá cầu. Sứ mạng thành công, về gần tới điểm hẹn, hắn đã không ngần ngại
hạ sát Elias và đồng bọn để cướp ngựa cho người của mình có đủ điều kiện trốn
chạy. Pablo gợi cho ta hình ảnh kẻ đi làm cách mạng thời cơ, do tham vọng cá
nhân hơn là cho lý tưởng đấu tranh. Khi cần, họ không ngần ngại loại bỏ những kẻ
đã từng chung lưng đấu cật với mình để củng cố địa vị quyền hành. Với những con
người như vậy ta khó dùng lời mô tả ngay cho hết được. Chỉ khi đặt họ trong những
trạng huống khác nhau, rồi qua phản ứng bằng lời lẽ, bằng hành động ta mới nắm
được chân tướng con người.
Một thí dụ khác : Pilar vợ
của Pablo. Với diện mạo xấu xí, vóc dáng tướng đàn ông, cử chỉ thô lỗ, ăn nói sỗ
sàng, mới gặp, ta tưởng Pilar với Pablo đúng là cá mè một lứa. Phải qua nhiều lần
tiếp xúc với ta mới thấy rằng đằng sau bộ mặt Chung Vô Diệm ấy, lại tỏa ra một
ma lực quyến rũ như vẻ đẹp man dại thu hút của thời hồng hoang. Chả thế mà trước
khi gặp Pablo, Pilar cũng đã có dăm ba mảnh tình trăng gió, kể cả với một tay
cao thủ đấu bò thiện nghệ. Nhưng bên trong con người thô kệch, đằng sau điệu bộ
hung hãn hầu như sống theo bản năng ấy, lại vẫn tồn tại nơi Pilar cái phẩm chất
nguyên thủy của con người nhân chi sơ tính bản thiện. Vừa gặp Jordan trong bộ
trang phục phong sương bạc màu, râu tóc còn lởm chởm nhưng khuôn mặt nom thanh
tú sạch nước cản lại là khách phương xa tới, đúng là dân của lạ thứ thiệt,
Pilar đinh bụng thế nào rồi cũng sẽ " cua ". Bởi vậy khi thấy Jordan
và Maria quấn quýt nhau, Pilar không dằn nổi bực tức và thăng thắn bộc lộ ghen
tuông với Maria. Nhưng sau khi nhận thấy mối tình giữa Maria và Jordan là thắm
thiết, là chân thật và trước cảnh ngộ của Maria cũng như số mệnh đọc được trên
bàn tay của Jordan, Pilar tỏ ra thông cảm và biết vị tha. Sau khi cùng tới gặp
nhóm El Sordo để thương lượng hợp tác trở về, khi đi ngang cánh rừng, Pilar đã
lặng lẽ tìm cách bỏ đi, để cho Maria và Jordan được tự do tình tự và cùng sống
những giây phút thần tiên tuyệt vời nhất trên đời (chương 12 & 13). Với những
nhân vật độc đáo đậm đặc cá tính thổ dân như vậy, ta khó dùng lời diễn tả để giới
thiệu trọn vẹn hoặc tạc thành nhân vật điển hình cho được. Chỉ bằng cách đặt họ
trong những trạng huống khác nhau, rồi qua phản ứng bằng lời lẽ, bằng hành động
ta mới nắm được chân tướng từng người.
Quan niệm vê hiện thực và
phương thức tạo dựng nhân vật như trên, Hemingway đã rút ra được từ bài học về
quan sát hiện tượng chuyển động của tảng đá băng (iceberg). Được nhìn một tảng
đá băng khổng lồ lặng lờ di chuyển trước mắt, ta không tránh khỏi cảm giác thán
phục trước cảnh tượng huy hoàng tráng lệ đó. Nhưng, cũng như cõi vô thức nơi
tích lũy các ẩn lực (pulsions) mới là nền tảng của sinh hoạt tâm lý theo phân
tâm học của Freud, hình ảnh tảng đá băng có đập vào mắt ta biết mấy, mới chỉ là
phần nổi và là phần nhỏ thôi. Cái giúp cho nó được chuyển động lại thuộc về phần
chìm và chiếm tới ba phần tư thể tích của toàn khối. Cũng như con người, khuôn
mặt cuộc sống cũng thế thôi. Những gì ta chỉ mới tai nghe mắt thấy, chắc gì đã
phản ánh đúng hiện thực ? Đó là điều Jordan học hỏi được, thời gian sống tại
khách sạn Gaylord ở Madrid, khi được cố vấn Nga tên Karkov, tiết lộ về hành
tung bí ẩn của một vài cán bộ cộng sản Nga được gài vào tổ chức chính quyền dân
cử Tây Ban Nha thời bấy giờ. (ch.18). Một vài tiết lộ của Karlov trong lúc chuyện
trò nổi hứng bất tử đã giúp Jordan được sáng mắt và lấy làm " hài lòng vì
được biết các sự kiện đã thực sự sảy ra thế nào, chứ không phải
theo ta tưởng là chúng đã diễn ra như vậy. (Il était
content de savoir comment les choses se passaient réellement, et
non comment elles étaient censées se passer. Sdd. Tr.
254) Nhờ bài học này và với ý định sẽ trở thành nhà văn, Jordan tự
nhủ sau khi hoàn thành sứ mạng " sẽ viết một cuốn sách và chỉ nói lên,
không phải những gì được thấy nghĩa là chỉ mới nhìn bằng
mắt nghe bằng tai ; mà còn phải là điều mình biết được
nghĩa là sau khi đã kiểm chứng hư thực ". (Eh bien, il écrirait un
livre quand ceci serait fini. Rien que sur ce qu'il connaissait vraiment
et sur ce qu'il savait." ( Sdd. Tr. 273). Và
Hemingway đã mượn lời tự nhủ của Jordan làm tôn chỉ viết văn cho mình. Bởi thế
Heminway mới cho rằng phương cách trình bày hiện thực của tiểu thuyết truyền thống
có phần nào giới hạn. Nó chỉ mô tả được hiện tượng tức là những gì được biểu hiện,
được phô bày trước mắt ta mà thôi. Còn phần chìm của nó, cũng như phần chìm của
một tảng đá băng, mắt ta không thấy được, phải biết vận dụng trí tưởng tượng hoặc
óc suy luận để hình dung . Nghệ thuật diễn tả của Hemingway, do đó, không đơn
giản như ta tưởng.
Ta không thể đọc các
trang sách ông như đọc một bản bạch văn. Đôi khi ta phải biết đọc văn ông giữa
hai hàng chữ như khi đọc một bài thơ tượng trưng, có thế mới thưởng thức được ý
vị của những câu văn tưởng bình thường, nhưng lại hàm súc ý nghĩa. Thí dụ như
hai đoạn văn ngắn sau đây đề cập tới cuộc đối diện giữa Barnes, nhân vật chính
và Georgette trong cuốn Le soleil se lève aussi. Thuộc loại
gái giang hồ thường lảng vảng trên đại lộ Opéra để kiếm mối, Georgette bữa đó
được Jake Barnes mời cặp kè cốt để rong chơi cuối tuần. Thọat đầu, khi mới cùng
Georgette ngồi giải khát tại một quán café terrasse, Barnes nhận xét :
" Cô ta thoáng mỉm cười và tôi hiểu tại sao cô giữ ý không muốn cười.
Khi khép miệng lại, cô ta khá xinh. " (" Elle ébaucha un sourire et
je vis pourquoi elle se faisait un devoir de ne pas rire. Quand elle fermait la
bouche, elle était plutôt jolie. " E. Hemingway, Le
soleil se lève aussi, Gallimard 2004, coll. Folio 221, p.28 ) Sau đó,
khi cùng Georgette ngồi ăn tại nhà hàng, Barnes để ý : " Chúng tôi
gọi một chai rượu khác và Georgette buông ra một câu bông đùa. Cô ta cười, để lộ
toàn bộ răng sâu, và chúng tôi tiếp tục cụng ly ". (" Nous primes une
autre bouteille de vin et Georgette lâcha une plaisanterie. Elle sourit, montra
toutes ses mauvaises dents, et nous trinquâmes. " Sđd, tr.29).
Thay vi dài lời để mô tả nhân vật, Hemingway chỉ cần nêu lên một vài phản ứng
nhỏ nhặt qua một vài câu văn ngắn gọn đó thôi, cũng đủ giúp ta hình dung được
tác phong của Georgette cũng như hoàn cảnh sống khó khăn nghèo hèn ra sao đằng
sau bộ đồ diêm dúa với phấn son lòe loẹt. Chúng ta đừng quên rắng câu truyện được
lồng trong khung cảnh ngay sau Đệ nhất thế chiến, khi mà đời sống tại Pháp, nói
chung, còn gặp khó khăn thiếu thốn về mặt vật chất. Nếu không để ý tới một vài
chi tiết nhỏ nhặt này, chúng ta sẽ khó thưởng thức hết được ý vị văn chương đặc
sắc của Hemingway. Cái ý vị đó không chỉ nằm trong một vài chi tiết nêu trên,
mà còn cả trong cách sắp câu nữa. Ta hãy đọc lại hai câu ở trích đoạn hai :
" Nous primes une autre bouteille de vin et Georgette lâcha une
plaisanterie. Elle sourit, montra toutes ses mauvaises dents, et nous
trinquâmes. " Nếu là tôi, tôi sẽ viết như sau vì cho hợp lý
hơn : " Nous primes une autre bouteille de vin. Georgette lâcha une
plaisanterie et sourit. Elle montra toutes ses mauvaises dents, et nous
trinquâmes ". Bởi vì, theo tôi nghĩ, động tác pha trò và động tác cười
luôn luôn đi đôi với nhau theo phản xạ thông thường, như khi ta bực bội trước
tiếng cười khoái trá của ai đó vừa mới chọc quê ta: Cười gì, cười hở mười cái
răng ấy à ! Vậy mà Hemingway lại tách rời hai động tác này ra, và đặt động tác
cười ở câu tiếp để liên hệ nó với động tác hở răng và cụng ly (trinquâmes). Chi
tiết nhỏ nhặt này, tưởng chẳng có gì quan trọng nếu ta đọc phớt qua cốt để mua
vui giải trí. Nhưng khi ta biết Le soleil se lève
aussi không thuần thuộc loại truyện kể, và mục đích của
Hemingway khi viết tác phẩm này là để nói về " thế hệ lãng phí "
hay" thế hệ lạc hướng đời " (" génération perdue ", chữ của
Gertrude Stein), tức là thế hệ trẻ sau Đệ nhất thế chiến bị mất niềm tin vào mọi
lý tưởng đấu tranh và chỉ muốn đi tìm quên lãng trong hơi men và các mục vui
chơi theo kiểu yêu cuồng sống vội. Có nắm được ý nghĩa nội dung cuốn sách ta mới
thưởng thức được ý vị văn chương của Hemingway qua cách sắp xêp đặt câu của
ông. Trong trích đoạn đầu, Georgette còn dè dặt vì chưa biết cái mối mình vừa bắt
được thuộc loại nào. Tới khi được Barnes mời đi ăn và thấy chai rượu gọi thêm
được mang ra, Georgette yên chí gặp được khách sộp, nên buông ra một câu bông
đùa. Sau câu buông đùa, Georgette bắt đầu quên giữ ý, mỗi lúc thêm vui vẻ cười
đùa, để lộ toàn bộ răng sâu. Về phần Barnes, trở thành liệt dương do trúng đạn
nơi sống lưng, nếu có mời Georgette đi chơi không phải vì cô ta là gái điếm, mà
muốn có người bàu bạn để bớt cô đơn, và lấy việc quan sát điệu bộ cử chỉ của
Georgette làm niềm khuây khỏa. Bằng cách sắp xếp các câu văn như trên, dụng ý của
Hemingway muốn nói lên cuộc sống vui chơi phù phiếm của " thế hệ lãng phí
" hay "thế hệ lạc hướng đời " . Ở ngoài nhìn vào, thấy hai người
vui vẻ cụng ly với nhau, ai mà chẳng cho là đôi tình nhân tâm đầu ý hợp chia sẻ
những giây phút hạnh phúc bên nhau. Họ đâu biết rằng bên trong lại tâm hồn mỗi
người một ngả, không thể cùng nhau hòa điệu. Cái tâm trạng vẫn quanh quẩn mãi
nơi Barnes, ngay cả khi được cùng người yêu là Brett trao đổi nụ hôn thắm thiết.
Nhưng sự quấn quít này, vẫn để lại nơi hai người cảm xúc đắng chát của một cái
gì còn giang dở, của một cái gì còn chưa toại nguyện qua mẩu đối thoại ngắn ngủi
giữa Brett và Barnes : " Jake ôi, Brett nói, lẽ ra chúng
ta đã có thể được hạnh phúc bên nhau biết mấy ! ... Ừ, phải đấy ! (Jake) nói.
Thôi cứ nghĩ như thế là tốt rồi " (Oh, Jake, dit Brett, nous aurions
pu être si heureux ensemble !... Eh oui ! dis-je. C'est toujours
agréable à penser ". (Sdd. Tr. 276) Cái dư vị đắng
chát ấy, Hemingway lại dùng làm lời kết cho câu chuyện như muốn gợi ý ta về cái
tâm trạng hoang mang của điều mà Certrude Stein gọi là " thế hệ lãng phí
". Do không tìm ra được lẽ sống nên lớp người này đành chôn vùi tuổi trẻ
trong men rượu, trong những điệu vũ cuồng loạn hay những cuộc vui chơi phù phiếm
ảo ảnh để tìm quên, tìm quên, tìm quên vô vọng, nhưng vẫn miệt mài tìm quên...
Bởi vì, dẫu sao, ngày mai trời lại vẫn sáng. Đoạn kết này liệu
có gợi cho ta điều gì? Phải chăng chứng liệt dương của Barnes còn là biểu tượng
cho sự bất lực của một thế trẻ đi tìm cho mình một lẽ sống, và cái vị chua cay
còn đọng lại trên môi sau nụ hôn nồng nàn cũng là biểu tượng cho sự bất lực của
một thế hệ trẻ trong nỗ lực đi tìm lối thoát bất kể mọi hình thức vui chơi giải
trí. Nếu quả đúng vậy, tôi nghĩ Hemingway hẳn phải có nuôi sẵn ý đồ từ trước,
chứ chẳng lẽ cứ hạ bút khơi khơi viết, rồi sau đó bốc thăm trúng đại cái tựa The
sun also rises hay Le soleil se lève aussi dể đặt tên
cho cuốn sách.
Trên đây là một vài nét
chủ yếu về điều mà tôi gọi là " mỹ học trường phái hiện thực Hemingway
". Ta có thể tóm lược mấy nét chủ yếu này vào hai điểm sau. Trước hết là
phục hồi sự trong sạch và tính lương thiện cho chữ nghĩa. Do quan tâm tới điều
này, Hemingway mới thường có những câu văn sắc gọn mà mỗi từ sử dụng đều được
chọn lựa tinh sảo để phản ánh trung thực điều nhà văn muốn nói lên. Thứ đến là
quan niệm về khảo sát và mô tả hiện thực. Theo Hemingway, hiện thực không phải
chỉ là những gì ta nhận biết được bằng giác quan mà thôi. Đó mới chỉ là bề mặt,
những biểu hiện của đời sống hàng ngày. Còn bề sâu nơi con người, của cuộc sống
lại như phần còn chìm sâu dưới đáy đại dương của tảng đá băng, ta phải vận dụng
trí tưởng tượng, óc xét đoán mới hình dung được trọn vẹn. Hai điểm mấu chốt
này, chính là cây chìa khóa mở động đào, giup ta biết cách rẽ mây để được soi tỏ
lối vào thâm cung tư tưởng Hemingway. Có thế, đọc Hemingway, ta mới thấy rằng
sách của ông không chỉ có là những truyện kể phiêu lưu mạo hiểm, tình tiết éo
le để đọc trong tinh thần mua vui giải trí, hay để cho các nhà đạo diễn tài ba
Holywood mượn làm sườn để dàn dựng lên những bộ phim tuyệt tác. Trái lại, bên
trong những tình huống éo le bi đát của các truyện kể, đằng sau mặt nổi của những
hình ảnh lôi cuốn hấp dẫn trên màn bạc, bề sâu mỗi cuốn sách của ông còn là một
thông điệp ý nghĩa phản ánh cái nhìn nhân bản sâu sắc của ông về con người, về
xã hội loài người và về thân phận con người trong các cơn lốc lịch sử. Đó là điều
chúng tôi mong sẽ nói lên được phần nào trong phần kế tiếp.
Phần hai .- Hemingway,
con người và cõi sống
Đến với Hemingway ta có
thể tìm thú vui thưởng ngoạn qua các tác phẩm của ông dưới nhiều hình thức. Hoặc
ta coi các trang sách của ông thuộc loại truyện kể phiêu lưu mạo hiểm hay ái
tình diễm lệ. Bằng cách tiếp cận này, Les neiges de Kilimandjirohay Le
vieil homme et la mer sẽ cho phép trí tưởng tượng ta được tự do bay bổng
đi chinh phục đỉnh tuyết Kilimanjaro trắng bóc, hay tới bàu bạn với ông già San
Diego một thân một mình lênh đênh trên chiếc thuyền nhỏ giữa biển cả sóng gió.
Với L'Adieu aux armes hay Pour qui sonne le glas,
trái lại, ta sẽ được dịp chia sẻ niềm đau cô đơn của Patrick Henry sau cái chết
của Catherine Baker với đứa con sơ sinh, hay cảm thông với tiếng khóc nức nở của
Maria trước sự hi sinh mã thượng của Robert Jordan, người nàng hết lòng yêu
thương. Những cảm xúc phiêu bạt hay yêu thương, dẫu sao, cũng chỉ đem lại cho
ta vui buồn chốc lát trong tinh thần đọc sách mua vui giải trí. Còn cái thực sự
làm nên giá trị văn học nơi Hemingway lại nằm trong ý nghĩa hàm súc ẩn dấu giữa
hai hàng chữ, như phần chìm khuất trong lòng đại dương mà ta phải lặn sâu mới
thấy được. Có đến với Hemingway bằng cách tiếp cận sau này, ta mới thấy rằng mỗi
tác phẩm của ông đều là kết quả của một trải nghiệm trong cuộc sống và mỗi tựa
đề chọn lựa còn là một thông điệp Hemingway muốn gửi gấm đến ta. Để bàn về sự
nghiệp văn học đa dạng phong phú của Hemingway, có lẽ phải cần tới hàng pho
sách, chưa chắc đã nói hết. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ đề cập tới hai
cuốn L'Adieu aux armes và Pour qui sonne le glasmà
thôi. Để cho thấy sách của Hemingway không chỉ thuộc loại truyện kể nhằm đáp ứng
nhu cầu giải trí. Trái lại, chúng còn là những tác phẩm có giá trị văn học cao
đem lại cho ta cái nhìn nhân bản và sáng suốt về hiện thực xã hội loài người.
Thoạt đọc hai tác phẩm kể
trên, ta có thể xếp Hemingway vào loại các nhà văn phản chiến. Thực ra,
Hemingway không hề là con người hiếu hòa hay phản chiến. Phản chiến có tính
cách phong trào hay cá thể. Như khi một cá nhân vì lý do riêng tư hay ý thức hệ
lên tiếng chống đối hay từ chối tham dự vào một cuộc chiến nào đó. Chẳng hạn
thái độ chống đối của Jane Fonda về sự tham dự của Mỹ vào chiến cuộc Việt Nam.
Hemingway, trái lại, không phải là nhà văn phản chiến : ông không ngại dấn thân
vào cuộc xung đột giữa Áo và Ý trong Đệ nhất thế chiến. Và nhờ có tham dự vào
cuộc chiến này ông mới mang tâm trạng chống chiến tranh. Chúng ta còn nhớ, vừa
xong trung học Hemingway đã có ý nhập ngũ để mong được đóng góp vào cuộc chiến
tại Âu châu bên cạnh liên minh Anh-Pháp-Ý, mà ông tin là phục vụ cho lý tưởng
tư do, dân chủ. Nhưng vì chưa đủ tuổi luật định, nên ông đành nhận làm lính tải
thương cho Hồng Thập Tự quốc tế. Chỉ sau một tháng có mặt trên chiến trường Ý,
ông mới trở thànhnhà văn mang tâm trạng chống chiến tranh.
Không được là lính tác
chiến, nhưng Hemingway lại tìm thấy ở cương vị lính tải thương nơi tiền tuyến một
vị thế ưu đãi để biết được hậu quả của chiến tranh và nỗi thiệt thòi mất mát của
con người, đúng ra là của nhữngcon người trong chiến tranh.
Lính tác chiến chỉ lo giành được chiến thắng hay thoát khỏi hòn tên mũi đạn, là
đã quá đủ. Chỉ có lính tải thương nơi tiền tuyến mới có điều kiện được thấy tận
mắt cảnh thịt rơi máu chảy của những thân hình co quắp, được nghe bằng tai những
tiếng rên la cầu cứu " Ôi ! Mẹ ôi, mẹ ôi ! (Oh ! Mamma, mamma mia
!) hoặc những tiếng rên xiết cầu khẩn vì không chịu nổi đớn đau "Lạy
Chúa, xin giải thoát cho con. Mẹ Maria ơi, hãy giải thoát cho con !" ( Dio
ti salvi, Maria. Dio ti salvi, Maria!" – L'Adieu aux armes -
Gallimard, 2013, coll. Folio 27, chap. Ĩ, p.57). Đó là những gì Hemingway học hỏi
được, không chỉ bằng tai nghe mắt thấy, mà còn bằng trả giá bản thân khi ông bi
thương nơi đầu gối do miểng đạn pháo cối. Nhờ được cọ sát với thực tế chiến trường,
lại với cặp mắt quan sát tinh tế và cảm quan bén nhọn, Hemingway đã rút được từ
thời gian công tác ngắn ngủi hai bài học bổ ích cho sự nghiệp văn học của ông.
Trước hết là tính chính đáng bề mặt của chiến tranh, hay đúng ra là những lý lẽ
người ta nêu ra và nhân danh chúng để gây hấn và xô đảy con người vào các cuộc
chém giết khốc liệt với kết quả thường là " nhất tướng công thành vạn xác
khô ". Tiếp đên, chiến tranh không phải là phương tiện hữu hiệu để giải
quyết mọi tranh chấp, mọi bất đồng, đặc biệt là về mặt ý thức hệ. Thay vì dẫn đến
một xã hội tiến bộ hơn, làm cho con người trở nên tốt đẹp hơn, chiến tranh thường
lại là guồng máy khổng lồ nghiền nát con người, đúng ra là những con
người bị cuốn hút vào chiến tranh. Đê trình bày quan điểm thực tiễn chống chiến
tranh của mình, Hemingway không cần nhiều lời giải thích, mà chỉ mượn vài mẩu đối
thoại tâm tình của người trong cuộc. Khi người ta phải trải qua những trạng huống
sống khắc nghiệt và có cơ hội tâm sự với nhau, thì dăm ba lời để trút bàu tâm sự
ấy có khả năng thuyết phục gấp mấy lần những bài diễn ngôn khoa trương hùng biện.
Có hai phần đối thoại trong L'Adieu aux armes đáng để ta chú
ý.
Trước hết là chương IX,
khi Patrick Henry nghe được mấy người lính dưới quyền tán gẫu với nhau về cuộc
chiến, trước khi một quả pháo rơi trúng hầm trú ẩn khiến một người lính thiệt mạng
và Henry bị thương. Gọi là tán gẫu chứ thực ra mỗi người đều biểu lộ tâm tình
chán ghét chiến tranh như nhau. Có đọc kỹ những lời họ cùng nhau tâm sự (Sdd.
ch.IX, tr. 50-53), ta mới thấy đằng sau những lời lẽ quê mùa mộc mạc, mấy người
lính ấy đã có tiếng nói của thiên lương (la voix du bon sens) về thực chất và
tác hại của cuộc chiến tranh do tham vọng của nhóm người chủ động gây nên. Kế đến
là phần tâm sự của cha tuyên úy (l'aumônier) khi đến thăm Henry (Sdd, ch. XI).
Vì là mục sư nên ông trở thành đối tượng chọc quê cho đám sĩ quan chỉ biết đánh
giặc rồi về bàn chuyện du hí để quên đời. Thông cảm với tình cảnh của họ, những
lời riễu cợt ấy không làm cho vị tuyên úy tức giận mà chỉ mỉm cười vị tha. Tuy
nhiên lần tới gặp Henry, ông lại tỏ ra mệt mỏi xuống tinh thần. Vai trò của
ông, cha tuyên úy, là phải kiếm lời ủy lạo và khích lệ binh sĩ. Nhưng trò chuyện
với Henry, ông lại để lộ tâm trạng mệt mỏi buồn nản, không mấy tin tưởng vào mục
tiêu chiến đấu và chỉ mong cuộc chiến sớm chấm dứt. Nhìn vị mục sư lủi thủi ra
về, Henry nhớ lại những gì ông nói về Abruzzes, quê hương ông. Đó là một mảnh đất
hiền hòa, người dân sống lễ độ, cư xử thân ái với nhau. Ban đêm không ai được
thổi sáo để tránh làm giao động những cô gái tới độ xuân thì. Dân tình cởi mở
hiếu khách, coi như một vinh dự nếu mời được bạn ở lại dùng bữa với họ. Hình ảnh
một mảnh đất hẻo lánh hài hòa nhưng đậm đà chất thơ thôn dã đã giúp Henry nhẹ
nhàng đi vào giấc ngủ... Đọc Hemingway, nếu ta chỉ quan tâm theo dõi câu chuyện
tình éo le gút mắc giữa Patrick Henry với Catherine Baker mà lơ là vài mẩu đối
thoại kể trên và đặc biệt là đoạn văn chót của chương XI, có thể ta đã bỏ lỡ cơ
hội thưởng thức ý vị văn chương nơi Hemingway.
Lý do dẫn đến chán ghét
chiến tranh nơi những người lính thường mà lới lẽ thô thiển không nói lên hết
được, hoặc mong mỏi thầm kín sớm thấy chấm dứt chiến tranh mà cha tuyên úy
không dám bộc lộ, Henry đã mượn lời của Henry nói lên giùm họ qua đoạn văn tuy
ngắn ngủi nhưng hàm súc trăn trở suy tư như sau : " Tôi luôn luôn bối
rối trước các lời nào là thiêng liêng, nào là vinh quang, nào
là hi sinh, hoặc thành ngữ " vô ích " (l'expression " en vain
")... Chúng tôi thường phải đứng nghe, đôi khi dưới mưa, những lời ấy, hầu
như không phải từ cửa miệng người nói, mà chỉ rặt những tiếng hô vang mà thôi.
Chúng tôi cũng được đọc những lời cổ võ đó trên những bích chương cũ rích còn
được dán chồng lên những bức chương khác. Tôi chẳng thấy gì là thiêng liêng cả,
và điều người ta gọi là vinh quang chẳng thấy gì là vinh quang, còn cái được gọi
là hí sinh thực ra cũng giống như những lò sát sinh tại Chicago, chỉ mỗi khác
biệt là những tảng thịt lại đem dành cho nghĩa trang. Có nhiều lời ta nghe khó
lọt tai cho nổi và, xét cho cùng, chỉ có một vài địa danh là còn giữ được phần
nào phẩm cách.Số tên của một vài đơn vị hay của một vài ngày tháng
nào đó cũng vậy. Chỉ những con số đó, cũng như một số địa danh mới đáng coi là
còn phẩm cách. Còn những từ ngữ trừu tượng như vinh quang,
danh dự, dũng cảm hay thần thánh đều trở thành trơ trẽn
(indécents), nếu đem sánh với cái tên cụ thể của các
ngôi làng, của những con lộ, con số của mấy trung đoàn hay của ngày tháng.
" (J'ai toujours été embarrassépar les mots sacré, glorieux,
sacrifice, et par l'expression " en vain "... Nous les avions
entendus debout, parfois sous la pluie, presque hors portée de l'ouïe, alors
que seuls les mots criés nous parvenaient. Nous les avions lus sur les proclamations
que les colleurs placardaient depuis longtemps sur d'autres proclamations. Je
n'avais rien vu de sacré, et ce qu'on appelait glorieux n'avait rien de gloire,
et les sacrifices ressemblaient aux abattoirs de Chicago avec cette différence
que la viande ne servait qu'à être enterrée. Il y avait beaucoup de mots qu'on
ne pouvait plus toléreret, enfin de compte, seuls les
noms des localités avaient conservé quelque dignité. Il en
était de même de certains numéros et de certaines dates. Avec les noms de
localités c'était tout ce qui avait encore un semblant de dignité. Les mots abstraits tels
que gloire, honneur, courage ou sainteté étaient indécents, comparés aux
noms concretsdes villages, aux numéros de routes, aux noms des
rivières, aux numéros des régiments, aux dates.- Sdd 177-178).
Đọc Hemingway, ta không
nên đọc vội vã theo kiểu đi ăn Mac Do, hay liếc mắt đọc như khi đọc tin nhắn
trên smartphone, trên laptop. Có thế ta mới không bỏ lỡ cơ hội được thưởng thức
ý vị văn chương của ông qua thủ pháp tiết kiệm lời nhưng giàu ý, dồi dào cảm
xúc. Để nói lên quan điểm chống chiến tranh của mình, Hemingway không cần tới
hàng trang giấy để biện minh thuyết phục. Trái lại, chỉ cần một vài hình ảnh cụ
thể với thủ thuật châm biếm trào lộng là đủ (les sacrifices ressemblaient
aux abattoirs..., dont la chair ne servait qu'à être enterrée). Ta hãy
tưởng tượng quang cảnh một khoảng đất lớn với những hàng lính đội ngũ chỉnh tề,
đôi khi dưới mưa, đứng nghe cấp chỉ huy trên bục có mái che, hùng hồn diễn thuyết
hay ban huấn lệnh. Nhưng vì khoảng đất trống trải hay vì tiếng mưa rào, nên lời
lẽ chẳng đến tai, họ đành chỉ biết, theo dấu hiệu, hô to các khẩu hiệu "
thiêng liêng ", " vinh quang ", " chiến thắng ",
" dũng cảm "... Cảnh tượng ấy với ngần ấy khẩu hiệu vẫn lập đi lập lại
không biết bao lần. Có khác chăng là mỗi lần lại thấy nhiều khuôn mặt mới để bổ
sung cho số lính cũ đã bị đem " nướng " trong các trận đánh ác liệt để
giành giật một quả đồi, một ngọn núi không biết bao lần đổi chủ mà kết quả chẳng
đi tới đâu, chỉ tội cho những người lính đã bị hi sinh vô ích (en
vain). Ngoài đời, ta cũng được đọc những lời lẽ cổ vũ tương tự trên những bức
chương rách nát dán chồng lên nhau, chẳng khác chi các tờ quảng cáo cho mấy loại
thuốc gia truyền chuyên trị bịnh hôi nách hay ghẻ cóc cả. Bởi vậy từ ngữ càng
mang ý nghĩa cao cả chừng nào, ta càng phải biết quí trọng và sử dụng thận trọng
chừng nấy. Để bảo toàn ý nghĩa thanh tao cho chúng, chỉ nên sử dụng trường hợp
cần thiết, chính đáng như trong Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo hay tiếng hô
vang " hi sinh ", " quyết chiến ", " quyết thắng
" của các bậc bô lão tại Hội nghị Diên Hồng. Còn đem sử dụng một cách tùy
tiện bừa bãi, chẳng mấy chốc ta khiến chúng mỗi lúc thêm giảm giá, mỗi lúc thêm
sa đọa chẳng khác gì chữ " yêu " thốt ra từ miệng lưỡi gã sở khanh,
hay câu mở miệng " Mô Phật " của mấy ông sư hổ mang hay mấy bậc
" cẳng " tu chuyên nghề buôn thần bán thánh.
Nhưng làm sao để xác định
dược một cuộc chiến là chính đáng, là có chính nghĩa, để phân định được ai là
chính ai là tà. ? Đây là câu hỏi gai góc, khó tìm ra câu trả lời, nhất là ở kỷ
nguyên tin học thuận lợi cho các chủ nghĩa, các ý thức hệ, các phe phái tôn
giáo đua nhau bành trướng như thời đại chúng ta. Bên nào cũng cũng cho mình là
có chính nghĩa, cũng giành phần lẽ phải về mình. Mà những kẻ tà tâm lại là những
kẻ thích giương cao lá cờ chính nghĩa hơn ai hết. Đó là trường hợp những kẻ mắc
chứng cuồng vĩ ôm mộng dược tôn lên hàng đại diễn viên lịch sử, những kẻ đầu cơ
chính trị hoặc những tập đoàn lái súng coi chiến tranh là một thị trường kinh
doanh lấy cái chết người khác làm cơ hội gây dựng sự nghiệp cơ đồ, mà hậu quả
khốc liệt vẫn là hủy diệt sự sống : môi trường, đô thị, di tích lịch sử, thậm
chí những cái được coi là tốt đẹp nhất cho đời sống con người : tình yêu, hạnh
phúc, tình gia đình, tình người... Hai cuộc Đệ nhất, Đệ nhị thế chiến không nói
làm chi, chỉ cần nhìn vào những cuộc chiến mới xảy ra và còn đang tiếp diễn :
Như cuộc chiến tại Ukraine do tham vọng bành trướng lãnh thổ của Poutine để tái
lập đế chế Nga hoàng trước đây. Hay cuộc chiến tại Trung Đông giữa Israel và
Palestine về giải đát Gaza. Quay sang phương Đông cũng chẳng thua kém gì. Trong
khi chu tịch nhà nước Trung Hoa Tập Cận Bình còn đang diễu võ dương oai tìm
cách làm chủ biển Đông, thì Kim Jung Un lãnh tụ Bắc Triều tiên cũng ôm mộng dược
làm thánh nhân như Tần Thủy Hoàng, Hitler, Staline, Mao Trạch Đông hay Pol Pot
: Trong khi người dân trong nước phải sống lầm than cực khổ trước nạn đói thường
trực đe dọa, bao nhiêu tiền của đều dồn vào việc chế tạo vũ khí nguyên tử để
lên cơ bắp chọc tức thiên hạ . Báo hại cho các hội viên Bảo An Liên Hiệp Quốc
lo sốt vó, hết bàn lại họp tìm cách can giải. Chỉ sợ thứ người học làm bạo chúa
đang nảy mầm (tyran en herbe) còn trẻ người non dạ ấy, trong lúc tinh nghịch, lỡ
bấm lầm một đầu đạn nguyên tử tới một quốc gia lân cận khiến có thể gây ra đại
họa thế chiến thứ ba. Khi đó không biết bao nhiêu con người vô tội sẽ bị thiệt
mạng oan uổng. Thế mới biết tư tưởng gia kiêm khoa học gia Blaise Pascal
(1623-1662) đã không bấm quẻ sai tí nào khi ông lên tiếng cảnh báo ngay từ đầu
thế kỷ 17 : " Con người không phải là thánh thần mà cũng không phải
là con thú. Bất hạnh thay kẻ nào muốn làm thánh thần, kẻ đó sẽ biến thành con
thú. " (L'homme n'est ni ange ni bête, et le malheur veut que qui veut
faire l'ange fait la bête " .Blaise Pascal, Pensées 358
– Classiques Garnier 1961, p.164).
Là nhà văn thiên chức,
Hemingway không cho mình có sứ mạng đem rao giảng một học
thuyết chân lý cho đời, mà chỉ nói lên những sự
thật biết được ở đời. Bởi vậy ông không mấy quan tâm tới việc xác định
thế nào là cuộc chiến có chính nghĩa hay không chính nghĩa. Vả lại theo ông,
chính hay tà thường do nhận định chủ quan, có thể thay đổi với thời gian, tùy
giai đoạn, đôi khi còn do tính toán lợi ích riêng tư. Bởi thế ta mới thấy diễn
tấn tuồng có kẻ đang hết lòng giúp ta nâng cao lá cờ tự do chính nghĩa, bỗng bỏ
rơi ta làm đồng minh tháo chạy. Cũng như trường hợp mấy kẻ ngày nào còn cùng ta
cất cao lời ca hẹn một ngày về, nay lại bỏ ta về trước, về một mình. Cũng chỉ để
hát hỏng thôi, nhưng vì tưởng có điều kiện được thêm no cơm ấm cật. Xét cho
cùng, lòng người có sớm đổi thay nay trắng may đen, thì cũng dễ hiểu thôi. Đời
mà. Chỉ tội cho hai chữ " chính nghĩa ", mới ngày nào còn trên lá cờ
phất phới tung bay, nay phải mang cái mùi khang khảng chỉ vì gió đã trở chiều.
Nhưng dù gì, ai muốn làm gì, thi các từ ngữ thanh cao ấy, trước sau vẫn là những
bông sen, " gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn ".
Vậy đó, chữ nghĩa với
Hemingway không chỉ có là phương tiện thông tin hay truyền đạt, mà còn là một
phong cách diễn tả nữa. Mỗi từ vựng, với ông, còn có đời sống tinh thần riêng.
Bởi vậy nhà văn không thể sử dụng chữ nghĩa nhất nhất theo từ điển được. Từ điển
chỉ là cẩm nang để học sinh tra cứu mỗi khi làm luận văn nộp cho ông thầy ; nó
cũng hữu ích cho một vài nhà làm văn hóa chỉ thích trưng tước vị đại học theo
nghĩa từ điển mà không chịu trau giồi thêm kiến thức, để cái miệng được bô bô,
nói cho thật kêu nghe sao thật nổ, mà không biết vì bên trong cái đầu hãy còn
nhiều khoảng trống. Nhà văn cũng cần tới từ điển, có khi còn cần tới hơn ai hết.
Nhưng nếu ông ta chi tra cứu từ điển để rồi cũng sử dụng chữ nghĩa đồng phục, đồng
loạt như mọi người, chẳng mấy chốc ông ta sẽ biến chúng thành những xác chết ướp
khô. Chỉ có nhà văn sáng tạo mới biết phả hơi thở đời sống vào chữ nghĩa, giúp
chúng từ một bộ xương khô khốc, trở nên có thân xác, có linh hồn để chúng được
hội nhập đời sống xã hội. Bản thân mọi chữ nghĩa đều hiền lành vô tội như lời
nói trẻ thơ đầu đời, hay như cái nhìn bỡ ngỡ của ông An Dong, bà E Và trước khi
cắn phải trái cám. Còn xấu đẹp, hay dở ra sao, một phần do phong cách người sử
dụng, phần còn lại do nơi bộ não người đọc. Không tin, cứ đi hỏi Bà Hồ Xuân
Hương thì biết. Còn muốn chắc ăn, ta hãy tạm lấy các từ " điêm thúi "
và " cao sang " làm thí dụ khảo sát. Mỗi lần nhắc tới " điếm
thúi ", chẳng cần tra từ điển, ai cũng hiểu từ đó muốn nói gì, chỉ định
ai. Còn từ " cao sang " thường chỉ dành cho những kẻ giàu sang, quyền
thế được coi là thuộc giai tầng thượng lưu xã hội. Nhưng có thực bao giờ chỉ ở
chốn thanh lâu mới có hạng người điếm thúi ? Và chỉ tại những khu biệt thự sang
trọng ta mới gặp toàn những kẻ được mô tả con nhà đài các kiêu sa ?
Giả dụ một cô gái nhà
nghèo, gia đình sống trên mảnh đất bị sức mạnh của đồng tiền hay thế lực trục
xuất để dựng lên những tòa biệt thự nguy nga hoành tráng. Vì muốn giúp cha mẹ
già có phương tiện sinh sống và nuôi bày em nhỏ, cô đành chấp nhận kết hôn với
một người nước ngoài. Chẳng may cô rơi vào một đường giây buôn người, nên trở
thành một gái thanh lâu. Vậy khi thấy cô, do nghề nghiệp, phải đóng vai lả lơi
với khách, ta có nên ném về phía cô cái nhìn thành kiến xã hội để bĩu môi chê
là đồ điếm thúi ? Trái lại, trước cảnh mấy cô chiêu cậu ấm ngày ngày ra vào tại
khu biệt thự sang trọng vừa được cất lên : Cô, cũn cỡn trong bộ đồ đúng mốt thời
trang ngoại nhập " thịt thừa vải thiếu ", nhưng lại điệu bộ " em
chã em chã " ra đều ta đây con nhà gia giáo nết na. Cậu, nghênh ngang bên
chiếc xe đắt tiền, điệu bộ ga lăng tây phương, cũng ra điều ta đây con nhà
giòng dõi được cho du học nên người văn minh tiến bộ. Học hỏi để trở thành những
Bill Gates Việt Nam, đem cái tinh hoa tiếp thu nới xứ người về đóng góp cho phát
triển đất nước và công bằng xã hội đâu không thấy ; chỉ thấy đua đòi chạy theo
mấy thói sống rởm khoe khoang phách lối, sao mà nhanh thế, sao mà tài thế. Họ
đâu biết rằng càng phô trương cái vỏ văn minh kiểu cách chừng nào, họ càng chứng
tỏ chưa trút bỏ được mặc cảm tự ti nhược tiểu chừng nấy. Bởi thế họ mới trâng
tráo đua nhau khoe tiền khoe của, chắc gì được gây dựng bằng công sức mồ hôi nước
mắt, hay chỉ bằng thủ đoạn lọc lừa hoặc mua chuộc quyền thế. Cứ tưởng được khoe
khoang như thê, trước cảnh đa số người dân lương thiện vẫn phải tất tả ngược
xuôi kiếm miếng ăn vi muốn trung thành với truyền thống dân tộc " đói cho
sạch, rách cho thơm ", là chứng tỏ ta đây đã thành công, vậy ắt là phải
thành nhân. Thành công ư, chưa chắc. Còn thành nhân đâu không thấy, chỉ thấy rặt
một bày vĩ nhân (từ " vĩ ", theo tôi hiểu, trong tiếng Hán hình như
còn có nghĩa là cái đuôi thì phải). Vậy mấy cậu ấm cô chiêu mô tả trên có đáng
gán cho từ ngữ " cao sang " không ? Hay biết đâu khu biệt thự họ vẫn
ra vào ấy lại chẳng là nơi chứa chấp không ít ổ " điếm thúi " ?
Có nắm được sự khác biệt
giữa chữ nghĩa như là phương tiện truyền đạt và chữ nghĩa như là một phong cách
diễn ta nêu trên, ta mới hiểu được tại sao Hemingway lại viết ra có lúc không
chịu nổi hay dung thứ nổi (tolérer) một số từ trừu tượng như danh dự, dũng cảm,
vinh quang hay chính nghĩa. " Tolérer ", theo từ
điển, có nghĩa là chấp nhận, chịu đựng hay dung thứ. Vậy mà tôi lại dịch nhóm từ
" ne plus tolérer " ra là " không
hửi nổi ". Dịch dung tục như vậy, không cốt chỉ để gây xốc,
mà vì muốn làm sáng tỏ quan điểm chống chiến tranh của ông. Bằng cách sử dụng
chữ nghĩa nêu trên, Hemingway không có ý chống đối mọi cuộc chiến tranh. Cái mà
ông không chịu nổi là chủ mưu của những kẻ núp sau ý nghĩa cao quý của các từ
ngữ đẹp đẽ để thực hiện ý đồ của mình. Bởi vậy, Hemingway không đánh giá con
người theo đường ranh phân định giữa chính và tà, : kẻ nào chung chiến tuyến với
ta đều là chính, luôn luôn được coi như trắng bóc ; kẻ nào đứng về phía địch chỉ
có thể là tà, ắt lúc nào cũng phải tối thui. Lối phân biệt chủ quan, triệt để
như vậy, lại thêm tầm nhìn bị giới hạn bởi nhũng cặp kính cận thị mang đủ loại
nhãn hiệu chủ nghĩa, ý thức hệ, tôn giáo cực đoan..., chẳng những không giải
quyết được gì, mà còn khiến cuộc chiến thêm dai dẳng, hận thù thêm chồng chất.
Do được cọ sát với thực tế chiến trường, Hemingway không đánh giá theo kiểu đó.
Chính hay tà, với ông, không do đường ranh phân định danh nghĩa, mà là ở cái
tâm, là do nơi lòng người. Bởi vậy Henry, trong L'Adieu aux armes,
mới có cái nhìn cảm thông và vị tha với Gino là người y được cử tới thay thế :
" Gino là con người yêu nước, do đó anh ta hay nói ra những điều
đôi khi phân cách chúng tôi ; nhưng anh ta là một con người dễ thương và tôi hiểu
được lòng yêu nước của anh. Anh ta sinh rađã là con người yêu nước.
" (Gino était un patriote, aussi disait-il des choses parfois nous
séparaient ; mais c'était un gentil garçon et je comprenais son
patriotisme. Il était né patriote. Sdd, tr. 178). Cái
nhìn tỉnh táo và vị tha ấy đã soi tỏ quan điểm chống chiến tranh của Hemingway
: Ông chỉ chống lại những cuộc chiến do mưu đồ vị kỷ của những kẻ chủ mưu gây
ra ; trái lại, ông dành thiện cảm cho những ai dấn thân vào cuộc chiến do thiện
tâm, thiện ý và tin tưởng vào nghĩa vụ cao quí của mình. Sự đánh giá khách quan
về chính, tà nơi con người, hay đúng ra nơi mỗi con người
trong chiến tranh sẽ được Hemingway trình bày cụ thể hơn qua một số nhân vật
trong Pour qui sonne le glas.
Pour qui sonne le
glas hay Chuông gọi hồn ai là câu chuyện về
Robert Jordan, một công dân Mỹ chuyên viên về châm ngòi nổ. Vì lý tưởng tự do
dân chủ, anh tình nguyện gia nhập đạo quân quốc tế chiến đấu bên cạnh chính phủ
Cộng Hòa Tây Ban Nha chống lại nhóm quân phiệt nổi loạn do Franco cầm đầu.
Jordan được giao phó nhiệm vụ đánh sập cây cầu trong vùng đồi núi hiểm trở
Ségovie nhằm chặn đường tiếp viện của quân phát xít. Công tác thực ra chẳng có
gì khó khăn nếu không có đòi hỏi ngặt nghèo sau : chỉ được đánh sập cây cầu khi
có tiếng máy bay quân chính phủ như là dấu hiệu cuộc tấn công bắt đầu. Để thi
hành sứ mạng, Jordan được sự tiếp tay của một nhóm nghĩa quân trên danh nghĩa
do Pablo cầm đầu, nhưng trên thực tế lại do cô vợ là Pilar chỉ huy. Thời gian
ba ngày sống cùng toán dân quân trong một hang đá hốc hiểm, Jordan làm quen với
một thiếu nữ tên Maria, cha mẹ đều bị quân phát xít phát hại. Mặc dù tấm thân
đã bi một bày lính phát xít làm hoen ố ; nhưng lời nói, cử chỉ của Maria chứng
tỏ một tâm hồn ngây thơ trong trắng đã chinh phục được Jordan. Là con người
phong sương dạn dầy nhưng tâm hồn mã thượng, Jordan hứa sẽ cưới Maria sau khi
hoàn thành nhiệm vụ. Cuộc tình duyên chỉ kéo dài được ba ngày vi sau khi đánh sập
cây cầu, Jordan bị thương không thể cùng đồng đội chạy trốn, nên quyết định hi
sinh một mình ở lại để cản đường quân phát xít truy lùng. Trước lời khuyên chân
thành của Jordan và cũng để đáp ứng nguyện vọng của người yêu, Maria đành nức nở
gạt nước mắt lên ngựa theo Pilar về nơi trú ẩn mới.
Trên đây là tóm lược nội
dung cuốn sách của Hemingway. Do kết cấu bi thảm của câu chuyện tình, lại diễn
ra trong một khung cảnh không gian giới hạn (một khu đồi núi hiểm trở), thời
gian giới hạn (ba ngày), Pour qui sonne le glas hội đủ yếu tố
để dựng nên một bi kịch cổ điển tây phương như của Corneille hay Racine. Nhưng
Hermingway lại mượn thể loại truyện kể để viết ra một cuốn sách dài ngót nghét
năm trăm trang. Có lẽ vì vậy lần đầu đọc, tôi chẳng thấy cuốn sách có gì dặc sắc
so với những hình ảnh ấn tượng được thấy trên màn bạc : nào là những pha phi ngựa
đuổi nhau bắn súng cắc chíu pằng pằng, nào là cảnh Jordan hối hả lo đánh sập
cây cầu trong khi đoàn chiến xa phát xít rầm rộ tiến tới. Rồi lại còn cảnh
Pablo tổ chức sách động quần chúng tham gia vào vụ sát hại các viên chức trong
guồng máy hành chánh phát xít bị bắt giữ nữa chứ.(1) Chu
choa, thấy mà ghê. Cảnh tượng này làm tôi nhớ tới những câu thơ sặc mùi gió
tanh mưa máu của Tố Hữu nhằm kêu gọi tận diệt điền chủ, cường hào ác bá trong
cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc. Đó là không kể bên cạnh đó, còn có những
pha tình tự yêu đương thắm thiết giữa Maria và Jordan trong khung cảnh đồi núi
âm u, chỉ kéo dài có ba ngày để rồi kết thúc oan khiên với những tiếng khóc nức
nở của Maria... Cũng vì vậy, khi ấy, tôi chỉ chú ý đọc những đoạn có liên quan
tới các xen ấn tượng được thấy trên màn bạc ; phần còn lại tôi chỉ đọc lướt
qua, có khi còn đọc theo kiểu nhảy cóc. Nay đọc lại, tôi mới thấy đọc theo kiểu
tôi hồi đó quả là thếu sót, quá hời hợt. Bởi vì những cảnh, những xen dù có hấp
dẫn đến mấy, cũng chỉ cho ta cái thú thưởng ngoạn một tác phẩm nghệ thuật thành
công. Còn giá trị cuốn sách về mặt văn chương, tư tưởng lại thuộc về phần nằm
trong lòng đại dương, mà ta phải chịu bỏ công ngụp lặn mới có cơ hội thưởng thức.
Phải đọc, chú ý đọc một số chương, một vài đoạn trong sách ít được nhà đạo diễn
khai thác, có khi còn bỏ qua vì cho là không lấy gì làm hấp dẫn để đưa lên màn
bạc. Nhưng đó mới là những chương, những đoạn nói lên quan điểm chống chiến
tranh của Hemingway, cũng như cái nhìn nhân bản, vị tha của ông về thân phận
con người, về những con người trong chiến tranh.
Đáng chú ý nhất, có lẽ phải
kể đến cái chương nói về ông già Anselmo trong vai khiêm tốn là kể dẫn đường
cho Jordan (ch.XV). Là một nông dân thất học, tuổi sấp sỉ thất tuần, đêm đó ông
có nhiệm vụ đứng gần cây cầu để quan sát và báo cáo mọi điều động của quân phát
xít. Một mình phải đứng rét run hàng giờ giữa cơn bão tuyết mà chẳng thấy động
tĩnh gì, đã có lúc ông tính bỏ về. Nhưng nghĩ lại, ông cho hành động như thế là
vô trách nhiệm, nên quyết định không rời vị trí quan sát. Trong khi chờ đợi,
ông nhìn về phía trạm canh ở giũa cây cầu với những người lính gác sinh hoạt
trong đó. Nhận ra họ đều là người cùng quê với mình, ông đâm bối rối khi nghĩ rằng
ngày mai những người lính ấy có thể phải chết do chính tay ông. Vốn chất phát
hiền lành lại là con chiên ngoan đạo, ông cảm thấy áy náy khi phải hành động
sát nhân, vì như vậy là trái với điều răn trong Kinh thánh. Hơn thế, ông thầm
nghĩ : " Những kẻ đó không phải là phát xít .Ta họ gọi vậy, nhưng
họ không phải là vậy. Họ cũng chỉ là những kẻ khốn khó như ta. Lẽ ra họ không
nên chống lại ta, và nghĩ tới phải chém giết, ta chẳng thích thú gì...Họ không
thể đào ngũ vì, khi ấy, người ta sẽ xử bắn gia đình họ. "(Ces hommes-là ne
sont pas des fascistes. Je les appelle comme çà, mais ils ne le sont pas. Ce
sont des pauvres gens comme nous. Ils n'auraient jamais dû combattre contre
nous et je n'aime pas l'idée de tuer...Ils ne peuvent pas déserter parce que,
alors, on fusillerait leurs familles ". Sdd, tr. 217). Nhưng tin
tưởng công việc mình làm là một đóng góp cho lợi ích chung, ông tự nguyện sau
này sẽ làm lễ sám hối để chuộc lỗi. Chương này (XV), trước đây tôi đọc lơ là vì
chẳng thấy có gì hấp dẫn. Nay đọc lại, tôi mới thấy nó là một trong những
chương đặc sắc nhất, ý vị nhất đem lại cho tôi nhiều thích thú. Thích thú, trước
hết cho chính bản thân. Tôi, con người trái tim đã từ lâu sỏi đá cái đầu lại
cũng đã đầy sạn mất rồi, tôi như bỗng được làm cuộc hành hương về nguồn trước
những ưu tư trăn trở đầy cảm thông của một ông già phúc hậu ; cũng như cái lần
tôi bị lúng túng trước thắc mắc tưởng là ngớ ngẩn của đứa bé còn nhân chi sơ
tính bản thiện. Thích thú, bởi ý vị văn chương trong lời lẽ đạm bạc không pha dầu
chế mỡ Hemingway dùng để phản ánh đúng trầm ngâm suy tư của một ông già quê mùa
thất học. Thích thú bởi cái nhìn vị tha ăm ắp tình người của ông già Anselmo đã
soi tỏ cho tôi quan điểm chống chiến tranh của Hemingway, đồng thời giúp tôi
nhìn ra giá trị văn học nhân bản trong tác phẩm của ông. Và tôi mới hiểu được tại
sao ông lại chọn cho cuốn sách cái tựa Pour qui sonne le glas cũng
như ý nghĩa thông điệp ông có ý gửi đến ta.
Khởi thủy, Hemingway có ý
viết một cuốn sách để chỉ nói về những gì ông ghi nhận được trong thời gian làm
phóng viên cho tờ North American Newpaper Alliance về cuộc nội
chiến Tây Ban Nha (1937-39). Bởi vậy ông chỉ muốn thuật lại những gì nhận biết
được về những con người độc đáo, với những phong cách sống dị thường đậm đặc bản
sắc địa phương như Pilar, Maria, Anselmo, El Sordo, thậm chí cả Pablo nữa. Bởi
vậy ông đã có ý chọn cho cuốn sách cái tựa The Undiscovery Country (Miền
đất xa lạ). Nhưng khi viết dược quá nửa, tới chương XXXIII, tình cờ ông đọc
được đoạn văn như sau trong bài giảng của John Donne (1572-1631), một mục sư
người Anh : " Nul Homme n'est une Isle complète
en soy-même, tout homme est un morceau de Continent, une part du tout... ; la
mort de tout homme me diminue, parce que je suis solidaire du Genre Humain.
Ainsi donc, n'envoie jamais demander : pour qui sonne le glas, il sonne pour
toi. " (Không Người nào có thể coi mình là một ốc
đảo, mỗi Người trong chúng ta đều là một mảnh đất của cùng một Lục địa, một
phần của tổng thể..., cái chết của bất kỳ ai đều là một mất mát cho tôi, bởi vì
tôi thuộc Loài Người.Vậy đừng cho người đi hỏi : chuông gọi hồn ai
đấy : nó còn là cho chính ngươi đó ".) Đoạn văn này đã làm
Hemingway thay đổi ý định sáng tác ban đầu, và ông không ngần ngại dùng nó làm
lời dẫn nhập cho cuốn sách của mình. Hơn thê, ông còn mượn lời của John
Donne Pour qui sonne le glas dùng làm tựa sách, thay thế cho
cái tựa The Undiscovery Country dự kiến. Duy có điều khác biệt,
lời của John Donne là lời giảng của một mục sư nhằm nhắc nhở tình đoàn kết,
tình thương yêu đùm bọc con người với nhau trong tinh thần bác ái tôn giáo :
Cùng một chủng loại, chúng ta không thể chỉ mưu cầu hạnh phúc riêng tư, mà phải
biết sống san sẻ, lấy cái vui của mình làm cái vui cho người khác, lấy cái đau
khổ mất mát của người khác làm cái đau khổ mất mát của chính mình. Không phải
là nhà truyền giáo, chỉ là nhà văn muốn nói lên sự thật, viết ra những sự thật
được biết, Hemingway lại có ý mượn lời của Jonh Donne để chỉ nhắc nhở ta về
tình người, kêu gọi ta cần có thái độ cảm thông, vị tha giữa con người với con
người trong chiến tranh, cho dù họ không đồng quan điểm, không cùng chung chính
kiến với ta. Từ những gì chính mình dược ta nghe mắt thấy qua từng trường hợp cụ
thể một, ông muốn lưu ý ta rằng, trong bất kỳ cuộc xung đột nào, đằng sau bộ
quân phục khác màu, nhũng người lính đối địch cũng là những con người như ta,
là người chồng, người cha, người con, người anh, người em như ta. Đó là thái độ
cảm thông vủa Henry với Gino trong L'Adieu aux armes, lòng trắc
ẩn của ông già Anselmo với những người lính phát xít trong Pour qui
sonne le glas. Bởi vì, biết đâu viên đạn mà ta tưởng chỉ dành cho kẻ
thù, lại nhắm vào người có thể là bạn ta, như vào chính bản thân ta. Đó là ý
nghĩa ẩn dụ của đoạn kết trong cuốn Pour qui sonne le glas, mà
Hemingway chủ ý gợi lên cho ta : Trước khi tử thương do đạn pháo cối của quân
phát xít, viên đạn cuối cùng Jordan dành cho địch, trớ trêu thay, lại để bắn hạ
trung úy Berrando, một sĩ quan giàu nhân tính biết thương lính, binh vực, che
chở cho người lính dưới quyền khỏi phải hi sinh vô ích trước đòi hỏi kiêu căng
hợm hĩnh của viên đại úy Moro (Sdd. ch.XXVII, tr. 341- 343).
Thế nhưng Hemingway không
chỉ mượn lời giảng của mục sư John Donne cốt nhắc nhở ta cần có thái độ cảm
thông, vị tha với những con người tự nguyện dấn thân hay bị lôi cuốn ngoài ý muốn
vào mọi cuộc xung đột vũ trang. Khi chọn nhóm từ Pour qui sonne le
glas làm tựa cho cuốn sách, ông còn muốn mượn ngụ ý của
John Donne để biến câu truyện ái tình phiêu lưu mạo hiểm ấy thành một bản anh
hùng ca cho thời đại chúng ta. Bản anh hùng ca thời đại, câu truyện kể về hoạt
động phá hoại lén lút của một nhóm du kích tại một vùng đồi núi cheo leo chẳng
ai thèm biết tên ? Bản anh hùng ca thời đại với nhân vật anh hùng sử thi cái
nhóm người vô danh tiểu tốt ấy, kẻ sống thì chạy trón lui trón lủi, còn kẻ chết
thì hi sinh lãng nhách chẳng đem lại chút thành công cơm cháo gì ? Vâng, chính
mẩu tin chiến sự vụn vặt ấy, với dúm người thuộc loại tép riu, lau sậy ấy, mới
chính là những yếu tố đáng cho Hemingway khai thác để viết lên một bản anh hùng
ca. Bản anh hùng ca của thời đại chúng ta, hay đúng hơn là để dành cho thế hệ
chúng ta.
Đã qua rồi, thời kỳ trí
tưởng tượng loài người ở buổi sơ khai còn cần đến những câu truyện thần kỳ với
những anh hùng huyền thoại như Ulysse trong Iliade của Homère, hay Phù Đổng
Thiên Vương trong lịch sử dựng nước ta, để khơi dậy ý niệm quốc gia và nuôi dưỡng
tinh thần yêu nước. Cũng đã qua rồi, và cần phải cho qua luôn, thời kỳ của mấy
anh hùng sử thi cận đại và hiện đại với câu chuyện về những nhân vật người hùng
khổng lồ chân đất thó đem thân mình bịt lỗ châu mai, làm tắc họng súng địch để
đồng đội tạo chiến công hiển hách. Hoặc câu chuyện mấy anh du kích, nhờ quyết
tâm, chỉ với súng trường cũng bắn hạ được chiến đấu cơ phản lực của địch. Những
câu chuyện thần thoại dựng đứng ấy, viết theo toa đặt hàng chỉ có tác dụng phục
vụ cho tham vọng hoang tưởng của những kẻ ôm mộng cải tạo thế giới : Nhân danh
một thế giới thiên đường, một xã hội công bằng lý tưởng, họ hô hào phải đập cái
cũ để xây dựng cái mới, nhưng thực chất lại là một xã hội ngày càng vô cảm với
hai giai tầng xã hội giàu, nghèo phân ranh rõ rệt như hai đường thẳng song song
không muốn thấy nhau để khỏi phải lưu tâm tới nhau. Bài học hai trận Thế chiến
vừa qua, rồi hiểm họa về một cuộc chiến tranh nguyên tử thứ ba có thể xảy
ra, tưởng cũng đủ để chúng ta được thấm đòn trước những lời gào thét đòi
cải tạo thê giới ấy. Có thấm đòn ta mới hiểu tại sao, trong L'Adieu aux
armes, Hemingway lại viết ra có lúc ông không " hửi nổi
" (ne plus tolérer)một số từ ngữ thanh cao trừu tượng ; trái lại, chỉ
có tên " cụ thể "của một vài địa danh, con số "
cụ thể " của một vài đơn vị, của một vài ngày tháng, với ông, mới
giữ được phần nào phẩm cách. Và có biết thấm đòn ta mới nhận thức được tại sao
vấn đề cấp bách của thời đại chúng ta, của thế hệ chúng ta không phải là cải tạo
thế giới mà là giữ cho thế giới khỏi bị tan rã, như Camus đã
lên tiếng kêu gọi thế hệ ông : "Hẳn là mỗi thế hệ đều cho mình sứ mạng
phải tái tạo thế giới. Thế nhưng thế hệ của tôi lại biết rằng nó sẽ không làm
thế. Nhiệm vụ của nó có lẽ, vì thế, lại cao cả hơn : đó là giữ cho thế giới khỏi
bị tan rã" (Chaque génération, sans doute, se
croit vouée à refaire le monde. La mienne sait pourtant qu'elle ne le fera pas.
Mais sa tâche sera peut-être plus grande.Elle consiste à empêcher que le monde ne
se défasse.A. Camus .- . Essais, Discours du 10 Décembre 1957, Bibliothèque
de la Pléïade, Gallimard 1965, p. 1073).(2) Lời
kêu gọi này, Camus tưởng chỉ dành cho thế hệ ông, thế hệ lớn lên và trưởng
thành qua hai Đại thế chiến với những hậu quả khốc liệt của chúng, ai ngờ lại
có giá trị thời sự hơn bao giờ hết.
Giữ cho thê giới khỏi bị
tan rã, nhiệm vụ xem ra có vẻ tầm thường hèn mọn làm
sao, so với sứ mạng rêu rao của những kẻ ôm mộng cải tạo thế giới. Nhưng trước
những gì đang diễn ra tại Trung Đông như cuộc thánh chiến giữa hai hệ phái Hồi
giáo chiite và sunnite dẫn đến hủy hoại cả tâm hồn lẫn cơ sở vật chất, trước những
tìm tòi tiến bộ khoa học nhằm phục vụ hạnh phúc thực sự cho con người thì ít,
mà mưu cầu tìm kiếm lợi nhuận thì nhiều, dẫn đến nguy cơ hủy hoại môi trường,
thậm chí còn dẫn đến nguy cơ đe dọa cuộc sống thế gian, ta mới thấy lời kêu gọi
của Camus là sáng suốt, không chỉ dành cho thế hệ ông, mà còn cho cả chúng ta nữa.
Mà để hoàn thành nhiệm vụ hèn mọn tầm thường này, ta đừng trông mong gì ở những
kẻ tự xưng người cầm lái vĩ đại, những kẻ ôm mộng tạc tượng lịch sử cho mình.
Nhiệm vụ hèn mọn, tầm thường nhưng rất cao cả ấy, như nhận xét xác đáng của
Camus, ta lại chỉ thấy ở những con người bình thường thuộc loại tép riu, những
thân phận lau sậy bèo bọt nhưng lại vô cùng cao cả bởi vì, như Pascal đã sáng
suốt đánh giá, đó là những cây sậy biết suy tưởng (roseau pensant)(4).
Ta có thể thêm rằng là những cây sậy còn có trái tim. Đó là nhưng con người như
ông già Anselmo quê mùa , thất học nhưng phúc hậu. Như El Sordo tha thiết với
cái đẹp tự nhiên của thê gian này : Biết rằng mình không thoát khỏi cái chết
khi máy bay phát xít tới oanh tạc, El Sordo, không lo tới chuyện phải hi sinh,
mà chỉ luyến tiếc phải giã từ cuộc sống thế gian với những cảnh đẹp thiên nhiên
quyến rũ : " Chết không có nghĩa gì hết, và ý nghĩ không gợi lên
trong hắn hình ảnh khiếp đảm nào trong đầu. Nhưng sống, là để được thấy cánh đồng
lúa đong đưa lưng đồi lộng gió. Sống, là được thấy con chim ưng bay lượn trên
trời... Sống, là được hai chân kẹp lưng ngựa, khẩu cạc bin trong túi da, mắt hướng
về phía quả đồi, về phía thung lũng với con suối cây xanh bóng mát, và bên kia
thung lũng, vẫn là đồi nối tiếp đồi trùng trùng điệp điệp. "(Mourir
n'était rien et il n'en avait aucune peinture terrifiante dans l'esprit. Mais
vivre, c'était un champ de blé balancé dans le vent au flanc d'un coteau.
Vivre, c'était un faucon dans le ciel... Vivre, c'était un cheval entre les
jambes ,une carabine dans les fontes, et une colline, et une vallée, et un
ruisseau bordé d'arbres et l'autre bord de la vallée avec, au loin, d'autres
collines. Sdd. ch. XXVII, tr.337). Và như Robert Jordan, nhân vật người
hùng (3) :
Biết mình bị thương nơi hai đầu gối, không thể ngồi trên lưng ngựa để cùng đồng
đội chạy trốn, Jordan quyết định hi sinh ở lại để cản đường truy lùng của quân
phát xít. Tuy hãi hùng với ý nghĩ phải giã từ cõi thế, Jordan đã tìm được an ủi
trong mãn nguyện tự hào : " Ta đã chiến đầu từ một năm nay cho điều
ta tin tưởng. Nếu chúng ta chiến thắng tại đây, chúng ta sẽ dành được chiến thắng
cùng khắp. Thế giới này đẹp đẽ và đáng để ta chiến đấu cho nó. Và ta hãi hùng
phải giã từ nó. (Je combats depuis un an maintenant, pour ce en quoi je crois.
Si nous sommes vainqueurs ici, nous serons vainqueurs partout. Le monde est
beau et vaut la peine qu'on se batte pour lui et j'ai horeur de le
quitter. Sdd. ch. XLIII, tr. 495)
" Giữ cho thế giới
này khỏi bị tan rã ", phải chăng là cái thế giới
còn có tình người chưa bị những toan tính tham lam ích kỷ hủy hoại hủy diệt,
cái thế giới còn có những ông già Anselmo quê mùa thất học, nhưng giàu tình người,
giàu lòng vị tha, muốn được coi kẻ cầm súng đối diện là bạn chứ không phải là
thù ? " Giữ cho thế giới này khỏi bị tan rã ", phải chăng
là cái thế giới còn giữ được những cảnh đẹp thiên nhiên khiến El Sordo phải luyến
tiếc khi biết phải giã từ nó ? Vâng, " giữ cho thế giới này khỏi bị
tan rã ", chính là cái thế giới của những con người thuộc về đời
sống thế gian, cái thế giới mà Jordan có " may mắn " được sống ba
ngày vừa qua (Tu as une vie aussi bonne que possible grâce à ces
derniers jours ".- Sdd, tr.495). Chỉ cần ba ngày được tiếp xúc với đời
sống chân thật tại một vùng đồi núi hoang dã, bên cạnh những con người như
Pilar, như Anselmo, như El Sordo, thậm chí cả với Pablo, và nhất là ba ngày được
sống tình yêu trọn vẹn bên cạnh Maria... Ngần ấy thứ cũng đủ giúp Jordan nhìn
ra ý nghĩa cuộc sống thế gian, và sẵn sàng hi sinh, không phải để thay đổi nó
theo lời rêu rao về một thiên đường hoang tưởng của những chủ nghĩa, những ý thức
hệ, những hệ phái tôn giáo cực đoan... Không, Jordan sẵn sành hi sinh không phải
để chạy theo những thiên đường hoang tưởng đó, mà chỉ để mong sao gìn giữ cái
thế giới của ba ngày hạnh phúc thế gian ấy khỏi bị tan rã, và đóng góp vào cải
thiện nó mà thôi. Phải chăng đó mới chính là những yếu tố để Hemingway muốn biến Pour
qui sonne le glas thành một bản anh hùng ca thời đại ? Nếu quả đúng vậy,
ta có thể coi Hemingway là một nhà văn tiên phong có những bước chân đi trước cả "
Les Justes "(5) của
Camus, trước cả lời nhà văn Pháp lên tiếng kêu gọi tại Stockholm. Và phải chăng
cũng chính giá trị văn học nhân bản ấy nơi ông mới là yếu tố khiến Hàn Lâm Viện
Stockholm quyết định trao tặng giải văn học Nobel 1954 cho ông, chứ không phải
riêng vì trong các sách của ông có những pha gay cấn cụp lạc như phi ngưạ đuổi
nhau bắn súng cắc chíu pằng pằng ?
Trên đây là phần trong
bài viết được gửi đi trước đây. Hôm nay, khi đọc lại, tôi mới thấy bài viết đã
không nhắc nhở gì tới cuốn Le vieil homme et la mer . Với
tôi, đây là một lỗi lầm sai sót lớn. Thực ra, Le vieil et la mer không
phải là một truyện kể nội dung nhạt nhẽo chán phèo, lời lẽ chẳng chút văn vẻ mà
lại tầm thường ta dùng trao đổi trong cuộc sống hàng ngày, như ta tưởng. Trái lại,
có chú ý đọc, ta mới nhận thức được rằng câu chuyện ông già Santiago, sau ba
ngày lênh đênh trên biển cả lại phải vật lộn với các bầy cá bám sát để rỉa thịt
con kình ngư ông đã câu được. Kết quả là khi về tới bến, chỉ còn lại có một bộ
xương trắng hếu trước cặp mắt ái nghiệp của bạn đồng nghiệp hay cái nhìn riễu cợt
của một vài du khách. Nhưng với Hemingway, đây lại là một bài học sáng giá mang
ý nghĩa biểu tượng : Cuộc đời chỉ có ý nghĩa khi ta có một mục tiêu đấu tranh để
vươn lên. Kết quả ra sao, không quan trọng. Chỉ có nỗ lực không ngừng để vượt
qua mọi gian nan trở ngại, để không chịu bỏ cuộc vì nản lòng. Đó chính là bài học
ông già Santiago muốn nhắn nhủ chúng ta khi ông thầm nhủ : Con người có thể bị
đánh bại ( hủy diệt), nhưng không bao giờ chịu khuất phục (hay buông tay đầu
hàng) : (L' homme ne doit jamais s' avouer vaincu... Un
homme peut-être détruit, mais pas vaincu. Folio edit 1952, p. 121). Và
trong cuộc chiến đấu vươn lên không mệt mỏi này, bằng tình người, bằng sự cảm
thông, bằng sự tương thân, tương ái mà cậu bé Manolin đã dành cho ông, giúp ông
tìm lại được giấc ngủ an bình, không để bị rơi vào tâm trạng tuyệt vọng. Câu
truyện ngụ mang ý tưởng biểu tượng làm ta liên tưởng tới nhân vật huyền thoại
Sisyphe đã được thuật lại trong cuốn Le mythe de Sisyphe của Camus
: Vì ăn cắp lủa thiêng để đem lại sự sống cho thế gian, Sisyphe đã bị
các thần linh trừng phạt bằng cách buộc Sisyphe phải vần một tảng đá nặng từ
chân núi lên tới đỉnh một ngọn núi cao. Do sức nặng của nó, nên khi vần được
lên tới đỉnh núi rồi thì tảng đá lại lăn trở lại xuống chân núi. Cứ thế, cứ thế
Sísyphe phải làm công việc mệt nhọc vô ích này. Các thần linh cho rằng đây là
hình phạt ác nghiệt nhất vi sẽ dồn Sisyphe tới chân tường tuyệt vọng. Họ đâu có
ngờ rằng Síyphe lại lấy việc thành công đẩy tảng đá lên tới đỉnh núi làm niềm
vui chiến thắng vì đã đánh bại được ý đồ trả thù thâm độc của các thần
linh. " Ta phải tưởng tượng Sisyphe có hạnh phúc " ( Il faut
imaginer Sisyphe heureux). Đó là lời kết của Camus cho bài tiểu luận Le
Mythe de Sisyphe của ông.
Nhưng không phải chi có
Sisyphe trong câu truyện thần thoại Hy Lạp, hay chi là sản phẩm của hư cấu như
ông già đánh cá Santiago trong cuốn truyện kể của E, Hemingway. Trong một chừng
mực nào đó, ta có thể coi cuộc đời và sự nghiệp của Hemingway cũng là một bản
anh hùng ca thời đại. Chỉ có khác một điều là khi phấn đấu vượt qua được trở ngại
để thành công lên tới đỉnh cao của danh vọng và tiền bạc, Hemingway lại tự kết
liễu đời mình bằng một viên đạn. Tại sao vậy?
Muốn có câu trả lời xác
đáng, ta cần theo dõi tiến trình từ học hỏi tại Paris để mở rộng kiến thức và
trau giồi cho mình một văn phong của Hemingway đến khi thành công với các tác
phẩm của ông. Không chỉ vừa lòng với kiến thức và văn phong thủ đắc, Hemingway
cho rằng một nhà văn chân chính phải lấy vốn sống của mình làm chất liệu sáng
tác, theo đúng phương châm sống rồi mới viết, chứ không phải viết để mà
sống.Bởi vậy sự thành công văn học của ông đều là kết quả của những gì ông
rút ra được từ những trải nghiệm ông đã sống qua. Tới đây, ta có thể nói
Hemingway xứng đáng là người hùng cho một bản anh hùng ca thời đại. Nhưng khi gặt
hái được thành công với giải văn học Nobel 1954 đưa ông tới đỉnh cao danh vọng
và giàu sang rồi, Hemingway lại mỗi lúc một rời bỏ vai người hùng để trở về làm
kẻ phàm phu tục tử như bất cứ ai. Chả thế mà ông đã rất lấy làm hãnh diện hợm
hĩnh khoe khoang tấm huy chương bạc chính phủ Ý tặng thưởng tưởng rằng ông bị
thương vì đã xông pha nơi trận tuyến để cứu giúp đồng đội bị thương, rồi mới ngất
đi. Thật ra ông chỉ bị thương khi làm công tác phát bánh kẹo cho binh sĩ dưới
giao thông hào mà thôi. Rồi tới khi thành danh tiền bạc vào như nước, Hemingway
mới biến doanh trại mua trước đây ở gần La Havane, thủ đô Cuba, thành một dinh thự
hoành tráng đặt tên la Finca Vigia làm nơi đón khách viếng thăm đủ
mọi thành phần. Từ những ngôi sao màn bạc tiếng tăm như Ingrid Berman, Ava
Gadner, Tyrone Power, Gary Cooper ... tới khách ngưỡng mộ cũng như phóng viên đủ
loại.
Khỏi phải nói, đây là thời
gian sống say sưa bù khú với những buổi tiệc tùng đình đám tưng bừng. Ở ngoài
nhìn vào, thấy Hemingway sống hưởng lạc trong khung cảnh xa hoa vương giả ấy,
ai mà chẳng thèm. Nhưng phải ở trong chăn mới biết trong chăn có rận. Họ đâu biết
rằng, càng ngập ngụa trong hơi men đình đám chừng nào, mỗi lần tỉnh giấc
Hemingway lại thêm một lần rơi vào chán chường tuyệt vọng. Chán chường tuyệt vọng,
do thương tích bịnh hoạn lại thêm tác hại của thức đêm rượu chè, Hemingway cảm
thấy cơ thể ngày một mỏi mệt, sinh lực mỗi lúc thêm kiệt quệ như cái đồng hồ tới
lúc hết pin : cây kim đang chạy đều, vừa chỉ đùng sáu giờ rưỡi bỗng khựng lại
không nhúc nhích thêm được nữa. Họa vô đơn chí : thân xác bỗng dưng cụt vòi làm
cái đầu cũng đâm tịt ngòi theo. Do sức khỏe không cho phép tung hoành ngang dọc
như xưa, Hemingway không tìm ra được nguồn cảm hứng sáng tác. Mà ông cũng không
thể làm theo lời dạy khôn của một vài người ông quen biết : Dại gì đi đó đi
đây. Cứ ở nhà rờ tí vợ, rồi dùng bộ nhớ và óc tưởng tượng để tha hồ phóng tác, ấy
mới là người khôn. Là nhà văn thiên chức, không phải để rao giảng một
lý thuyết chân lý cho đời, mà chỉ để nói lên những sự thật biết
được ở đời, ông thấy không thể viết lách theo kiểu đó được. Để tìm
khuây khỏa, Hemingway bèn quay ra thú chơi mèo. Nghe nói trong nhà ông có lúc
tá túc tới cả trăm con mèo lận. Nhưng mèo đây là mèo thứ thiệt biết kêu meo
meo, chứ không phải như mấy con mèo để các bà vợ rình đánh ghen đó nghen.
Nhưng tiệc tùng nào chả tới
lúc phải tàn canh, xoa lông mèo riết rồi cũng có lúc chán. Mỗi lần say sưa thức
tỉnh, lại một lần Hemingway thêm chán chường cuộc sống phù du ảo ảnh trong
khung cảnh giàu sang tù túng ấy. Quanh đi quẩn lại vấn từng ấy tiệc tùng, vẫn
ngần ấy khuôn mặt ; người thân chí tình thì ít, vo ve tiếng đám ruồi bu thì nhiều.
Và ông đâm tiếc nuối " cái thuở ban đầu lưu luyến ấy ". Cái thuở ông
cùng người vợ đầu tên Hadley tới sống vô danh trong căn phòng chật hẹp thiếu tiện
nghi số 74 đường Cardinal Lemoine tại Paris. Tiếc nuối, vì ông nhận thức được
đó mới là thời kỳ sống vàng son huy hoàng thực sự. Vàng son, bởi vì có gì quí
giá trên đời bằng tình yêu của một người hết lòng tận tụy cho mình. Huy hoàng,
bởi vì có nguồn vui sống nào bằng niềm tin phấn khởi trước viễn ảnh một tương
lai rực rỡ đang vẫy tay mời gọi. Đó mới chính là cái thực sự giàu sang, cái thực
sự hạnh phúc trong bần hàn, mà biểu tượng là hình ảnh Hadley được ông gợi lên
trìu mến : " Nàng có khuôn mặt được tạc khả ái, và đôi mắt nàng và
nụ cười nàng rạng ngời tưởng chừng các dự tính của tôi đều là những món quà tôi
đem tặng nàng ". (Elle avait un visage joliment modelé, et ses yeux et son
sourire s'illuminaient comme si mes projets étaient autant de cadeaux que je
lui présentais ".- Paris est une fête.- Folio 5454, Gallimard 2011,
p.48).
Chả lẽ cứ sống mãi trong
tiếc nuối với chán chường tuyệt vọng hay sao ? Bởi thế cái gì phải đến đã đến :
một sớm mai đẹp trời (2-7-1961), trong lúc chợt bừng tỉnh khi vừa thức giấc,
Hemingway đã tự kết liễu đời mình bằng một phát súng săn, như để thực hiện
phương châm sống của một nhân vật trong Pour qui sonne le glas, và
chắc ông cũng muốn mượn làm lời trăn trối : " Thà chết đứng còn
hơn sống quì " (Il vaut mieux mourir debout que vivre à genoux . –
Sdd. tr. 332). Vậy đó. Dẫu có là nhà văn thiên chức, thiên tài, con người
Hemingway cũng không thoát khỏi vòng hệ lụy tham, sân, si ; cũng nếm đủ mùi ca
ngâm hỉ, nộ, ái ố, và cũng trải qua đủ bốn giai đoạn sinh, não, bịnh,
tử như bất kỳ thập loại chúng sinh nào phải (hay được ?) sống trầm luân hệ lụy
trong cõi thế gian ta bà. Chữ nãoở đây xin hiểu theo nghĩa phiền
não, ảo não như trong từ điển, chứ không phải chữ lão do tôi đọc ngọng mà viết
thành não đâu nhá.
Kết -
Chết là hết chuyện ! Đành
rằng là thế. Nhưng ở đời, đôi khi có những điều ta nghe tưởng vậy, té ra chưa hẳn
đã là vậy. Bởi vì phàm ở đời, cái gì dù có là gì hay chẳng ra gì, thì ở cái gì
cũng còn lại chút gì đó. Bởi vậy vì thế cho nên, cuộc đời Hemingway có ra sao,
thì nhà văn Hemingway cũng đáng cho ta nheo mắt dòm. Và để kết thúc bài viết
này, tôi xin mượn lời của chính Hemingway viết vể Paris để nói về ông như sau :
Không thể có bài nhận định hoàn tất nào về Hemingway cho được. Những ai có đọc
Hemingway đều tìm ra cho mình những cảm nhận thích thú riêng. Hemingway rất
đáng cho ta đọc. Và nhà văn Hemingway sẵn sàng đãi ngộ những ai có lòng đến với
ông.
(Bắt đấu hạ bút viết ngày
30-4-2017. Viết xong, đọc lại để bổ sung và sửa đổi cho hoàn chỉnh ngày
22-10-2023)
Nguyễn Bảo Hưng
--------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo
:
- Ernest Hemingway : Œuvres
romanesques, Tome I et II, Bibliothèque de la Pléïade , Gallimard
1966.
- Luce Michel : Ernest
Hemingway à vingt ans, Edition Au diable vert 2011.
- Gérard de Cortanze : Hemingway
à Cuba, Le Chêne, 1997 (Folio No 3663)
- Jérome Charyn : Hemingway,
portrait de l'artiste en guerrier blessé – Découvertes Gallimard
1999
Chú thích :
(1).Vì
muổn đảm nhiệm thiên chức nhà văn của mình là nói lên những sự thật được biết,
nên cảnh mô tả cuộc tàn sát này đã bị bộ máy tuyên truyền xô viết thời đó cực lực
chỉ trích và nghi ngờ Hemingway là người của CIA gài vào để bêu xấu quân chính
phủ Cộng Hòa Tây Ban Nha, được Liên Xô ngấm ngầm yểm trợ. Trong khi đó
Hemingway lại bị chính quyền Mỹ lúc đó nghi ngờ là thiên cộng và ghi vào sổ đen
để theo dõi vi hầu hết các nhân vật trong cuốn sách lại được mô tả như là những
con người lương thiện đấu tranh cho lý tưởng tự do dân chủ ( Hemingway, Bibliothèque
de la Pléiade, tome II, Gallimard 1969, pp. 1670-1671)
(2).Trích
đoạn trên đây được lấy từ bản diến văn thứ nhất đọc ngày 10-12-1957 tại tòa Đô
chính Stockholm nhân dịp bế mạc lễ trao giải thưởng Nobel. Bên cạnh vấn đề trước
mắt đặt ra cho thời đại chúng ta, Camus còn nêu ra hai khó khăn chủ yếu của nhà
văn để đảm nhiệm chức năng của mình như sau : " Le rôle de
l'écrivain, du même coup, ne se sépare pas de devoirs dificiles. Par
définition, il ne peut se permettre aujourd'hui au service de ceux qui font
l'histoire ; il est au service de ceux qui la subissent... Puisque sa vocation
est de réunir le plus grand nombre possible, elle ne peut s'accommoder du
mensonge et de la servitude qui, là où ils règnent, font proliférer les
solitudes. Quelques soient nos infirmités personnelles, la noblesse de notre
métier s'enracinera toujours dans deux engagements difficiles à maintenir : le
refus de mentir sur ce que l'on sait et la résistance à l'oppression.".- Sddd.
Tr.1072. (Vai trò của nhà văn, do đó, không thể tách khỏi các nghĩa vụ khó
khăn. Ông ta không thể dùng ngòi bút để phục vụ những kẻ muốn làm ra lịch
sử : ông ta phải đứng về phía những người chịu đựnglịch sử...Cũng
vì chức năng của ông ta là tập hợp được càng đông người cảng tốt, chức năng đó
không cho phép ông ta được dối trá hay tòng phục, bởi vì hai điều này, bất kỳ
nơi nào chúng ngự trị, sẽ làm nảy nở nỗi cô đơn. Dẫu mỗi (nhà văn) chúng ta có
khuyết tật ra sao, thì chức năng cao quí của nghề nghiệp vẫn là phải xây dựng
trên hai cam kết khó mà giữ được : Đó là không dối trá về
sự thật được biết và chống đối lại áp bức.In dsdaajm do tôi, NBH) Đối
chiếu phát biểu trên của Camus với nội dung ý nghĩa của hai cuốn L'Adieu
aux armes (1929) và Pour qui sonne le glas, liệu ta
có thể coi Hemingway là nhà văn mở đường cho Camus hay không ?
(3).
Nếu như các nhân vật khác trong truyện có thể phần nào là nhân vật hư cấu, thì
Jordan, nhân vật người hùng, đã được phỏng theo một nhân vật có thật ngoài đời
; Đó là Robert Merriman công dân Mỹ, giáo sư kinh tế chính trị học tại
Berkeley, từng đảm nhiệm chức tham mưu trưởng Lữ đoàn Quốc tế 15 trước khi tử
trận trên bờ sông Ebre năm 1938 (La Pléiade, t.II, p 1970)
(4)." L'homme
n'est qu'un roseau, le plus faible de la nature ; mais c'est un roseau pensant.
Il ne faut pas que l'univers entier s'arme pour l'écraser : une vapeur, une
goutte d'eau suffit pour le tuer. Mais, quand l'univers l'écraserait, l'homme
serait encore plus noble que ce qui le tue, parce qu'il sait qu'il meurt, et
l'avantage que l'univers a sur lui ; l'univers n'en sait rien.
" Blaise Pascal : Pensées, Classiques Garnier,
1961, p.162) (Con người chỉ là một cây sậy, sinh vật yếu ớt nhất trong thiên
nhiên ; nhưng là một cây sậy biết suy tưởng. Không cần cả một vũ trụ trang bị để
đè bẹp nó : một làn hơi, một giọt nước cũng đủ. Nhưng, dẫu cho vũ trụ có đè bẹp
được nó, con người lại cao cả hơn kẻ đã diệt nó, bởi vì con người biết được
mình phải chết, trong khi vũ trụ lại chẳng biết gì về ưu thế của mình đối với
con người"). Tư tưởng này của Pascal phải chăng có thể minh chứng được
bằng những suy tư của Anselmo, của El Sordo, của Jordan trước khi chết?
(5).Mời
coi bài "Đọc lại Camus, nhà văn nhân bản" của người
viết đã được phổ biến trên một số diễn đàn hải ngoại.
Nguyễn Bảo Hưng
Theo http://chimvie3.free.fr/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét