Ưu thế của chữ quốc ngữ đối
với chữ vuông biểu ý
Phần 1
Dưới bài viết "Tại
sao Việt Nam cải cách thành công chữ viết, Trung Quốc thì không?" của Tác
giả: Nguyễn Hải Hoành đăng trên Facebook của Hùng nguyen Dang (https://www.facebook.com/hung.nguyendang.1048/posts/1462006070667326) comment
của fbk Quyen Vinh đặt câu hỏi:Quyen Vinh Việt Nam
có "đũa thần" chữ viết biểu âm, OK. Tàu "cải cách không thành
công", ở lại với chữ viết biểu ý, OK. Xin các giáo sư hãy dành thời gian
nghiên cứu thêm: Vì sao với chữ viết biểu ý mà Tàu trở thành "nền kinh tế
thứ hai thế giới", tệ hại hơn là trở thành "mối de dọa bành trướng
toàn cầu". Còn với "ưu thế tuyệt vời" của quốc ngữ-la tinh, khoa
học kỹ thuật nước ta giờ đang ở đâu trên bảng xếp hạng. Và quan trọng hơn nữa ,
quý vị cần nghiên cứu thêm một vấn đề nhạy cảm mà không mấy ai để ý: Đứt gãy
truyền thông văn tự dân tộc (con cháu không đọc được trực tiếp di sản viết của
tổ tiên mấy nghìn năm) đã gây tổn thương như thế nào cho đời sống tinh thần/văn
hóa người Việt?*Những câu hỏi của
facebooker Quyen Vinh đặt ra để "xin các vị Giáo sư dành thời gian nghiên
cứu thêm," nhưng có lẽ không vị giáo sư nào cần "nghiên cứu
thêm" để trả lời cho bạn - mà có lẽ cũng không có vị giáo sư nào có hứng
thú trả lời một câu hỏi như thế đâu.Comment của anh Quyen
Vinh gồm ba câu hỏi chính:1. Vì sao với chữ viết biểu
ý mà Tàu trở thành "nền kinh tế thứ hai thế giới", tệ hại hơn là trở
thành "mối de dọa bành trướng toàn cầu".2. với "ưu thế tuyệt
vời" của quốc ngữ-la tinh, khoa học kỹ thuật nước ta giờ đang ở đâu trên bảng
xếp hạng.3. Đứt gãy truyền thông
văn tự dân tộc (con cháu không đọc được trực tiếp di sản viết của tổ tiên mấy
nghìn năm) đã gây tổn thương như thế nào cho đời sống tinh thần/văn hóa người
Việt?Về câu hỏi thứ nhất:Hiện tượng Tàu trở thành
"nền kinh tế thứ hai thế giới" và "mối đe dọa bành trướng toàn cầu"
mới chỉ xảy ra từ vài thập niên gần đây thôi. Chỉ sau khi Mỹ "bắt tay
" với Tàu vào năm 1972, trong chiến lược của Mỹ, giúp Tàu thoát khỏi tình
trạng "Đông Á bệnh phu," nhằm làm đối trọng và tiến tới phá vỡ Liên
bang Xô Viết, đầu não của chủ nghĩa Cộng sản, thì nước Tàu mới có cơ hội ăn nên
làm raNhưng lúc đó nền kinh tế
của Tàu vẫn còn ở tình trang gần như tự cấp tự túc, kiểu "tự cày ruộng mà
ăn, đào giếng mà uống" như thời... Nghiêu Thuấn, và thua xa các nền kinh tế
hiện đại và phát triển của các quốc gia "tí hon" chung quanh như Nhật,
Hàn, Đài Loan, và thậm chí thua cả Singapore, cho nên ngoài khối thịt của
"biển người," Tàu chưa là cái đinh gì hết.Mỹ phải kéo dậy nền kinh
tế của Tàu, giúp Tàu có cơ hội giao thương với toàn thế giới với cái vốn ban đầu
là sức bắp thịt giá rẻ của hơn một tỷ dân làm thuê, vừa lợi dụng cái thị trường
tiêu thụ với sức mua của hơn một tỷ dân. Từ đó dần dân Tàu trở thành công xưởng
sản xuất của thế giới.Chỉ làm thuê với giá nhân
công rẻ mạt, nhưng với sự "cần kiệm ăn mắm mút giòi" thì muôn năm Tàu
chỉ đủ ăn thôi, không thể nào phát triển được bằng người - vì các nước Tây
phương phát triển đã bỏ xa Tàu hàng nhiều thế kỷ. Để "đi tắt đón đầu,"
Tàu bèn giở bí kíp gia truyền nhiều ngàn năm lịch sử là... ăn cắp các phát
minh, sáng kiến công nghệ kỹ thuật của phương Tây, một mặt chế tạo đủ mặt hàng
nhái hàng dỏm với giá rẻ tung ra tràn ngập thế giới. Mặt khác Tàu ra sức hiện đại
hóa sức mạnh quân sự (cũng bằng công nghệ kỹ thuật sao chép của phương Tây) trước
sự hờ hững (vì những lý do nào đó) của nhiều đời Tổng thống Mỹ.Nếu kể từ cái mốc năm
1972, chỉ chưa tới 50 năm mà Tàu gần bắt kịp sự phát triển của phương Tây,
ngoài ăn cắp phát minh sáng kiến, khối thịt đông dân của họ cũng là một yếu tố
đáng kẻ. Nói một ví dụ thế này cho dễ hiểu:Giả dụ Việt Nam muốn xây
một cái cầu với phí tổn một trăm triệu đồng. Mỗi người dân góp một đồng, chúng
ta chỉ mới có được 90 triệu đồng. Trong lúc đó, nếu mỗi người Tàu cũng góp một
đồng để xây một công trình tương tự, họ có gần một tỷ rưởi đồng. Tức là họ có
thể làm mười lăm lần nhiều hơn ta. Thế thì phải mất gần năm mươi năm để trở
thành "nền kinh tế thứ hai trên thế giới" chỉ đứng sau nước Mỹ hơn ba
trăm triệu dân" là như vậy đó, chớ không phải nhờ "ở lại" với
cái thứ văn tự khối vuông biểu ý của họ đâu! Với bản tính dân tộc tàn bạo và giảo
hoạt (như lịch sử đã chứng minh), nếu không bị sức nặng ì ạch của loại chữ
vuông kềm giữ, có lẽ họ đã tiến nhanh, và vượt qua Mỹ để đứng đầu thế giới từ...
khuya. Thật may cho nhân loại.Tưởng cũng cần nói thêm:
Đừng nghĩ với vị trí nền kinh tế hàng nhì thế giới, Trung quốc là một nước giàu
có chỉ thua kém... Mỹ. Cái gọi là Nền kinh tế thứ hai thế giới là căn cứ trên tổng
khối lượng quốc gia, tương tự như kiểu mỗi đầu người góp một đồng, mà một tỷ rưởi
người góp được một tỷ rưởi đồng như nói trên, chớ bình quân lợi tức hàng năm của
Trung Quốc năm 2017 chỉ có 8.827 đô la/đầu người, xếp thứ 72 trên 186 nước trên
bảng xếp hạng của Ngân hàng Thế giới năm 2017. Với vị trí này, Trung Quốc kém
thua cả những nước "vô danh" như Nauru (thứ 71), một đảo quốc thuộc
Nam Thái Bình Dương với diện tích 21 kilômét vuông, dân số 9.378 người, hoặc
Saint Lucia (thứ 67), một quốc đảo núi lửa trong Đại Tây dương với dân số hơn
60 ngàn người, mà lợi tức /đầu người năm 2017 của họ là 9,715 đô la. Xếp hàng đầu
trong danh sách này là Luxembourg với lợi tức bình quân đầu người năm 2017 là
104,103 đô la.SO SÁNH DÂN SỐ, GDP, VÀ LỢI
TỨC BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI GIỮA HOA KỲ VÀ TRUNG QUỐC:
|
HOA KỲ |
TRUNG QUỐC |
|
Dân số: 331.018.566
(2020) |
1.439.372.387 (2020) |
|
GDP: 20,54 nghìn tỷ USD
(2018) |
13,61 nghìn tỷ usd
(2018) |
|
Bình quân/người:
62.794,59 USD (2018) |
8.759 USD (2018) |
Cứ xem các clip Youtube
người Tàu giành giựt đồ ăn trong các nhà hàng, tắm rửa ở các công viên, xả rác
và phóng uế ở những nơi công cộng khi họ đi du lịch trên thế giới cũng có thể
hình dung được sự giàu có và trình độ văn minh của họ.
Có lẽ bạn Quyen Vinh muốn
hỏi loại chữ vuông chứa đựng tri thức quý báu của các "thánh hiền" với
lịch sử văn minh 5000 năm làm sao lại cản trở sự tiến bộ của người Tàu được?
Bạn là người Việt, ngày đầu
tiên bạn làm quen với Internet, trở ngại duy nhất của bạn là ngôn ngữ. Mạng
Internet toàn tiếng Anh. Bạn chỉ phải học tiếng Anh thôi.
Người Tàu thì không thuận
tiện như vậy. Trước khi học tiếng Anh như chúng ta - họ cũng phải học tiếng Anh
để giao tiếp với thế giới - người Tàu phải vất vả làm quen với một hệ thống chữ
viết mới là chữ cái La tinh a b c... trước đã. Bạn nhận ra chữ khối vuông truyền
thống đã là một trở ngại đối với họ như thế nào chưa? Từ một hệ thống chữ viết
hàng dọc từ trên xuống dưới, rồi từ phải sang trái, bước sang một hệ thống chữ
viết hoàn toàn khác, được viết hàng ngang từ trái sang phải, lại không mang
hình thù gợi ý gì hết, là một sự chuyển đổi lạ lùng lắm chớ. Bây giờ người Tàu
đã có mạng Baidu toàn chữ Tàu cho người Trung quốc, nhưng dù số người dùng lên
đến một tỷ thì cũng chỉ loanh quanh có một nước Tàu thôi, mà thế giới có đến
hơn hai trăm quốc gia và vùng lãnh thổ, và tất cả kho tàng tri thức văn hóa
nhân loại được chứa trên mạng phần lớn bằng hệ chữ La tinh.
Có nhiều người Tàu thông
thái đã nhìn thấy sự hạn chế nặng nề của chữ viết truyền thống, nên từ rất sớm
(có lẽ cuối thế kỷ 19) họ đã lên tiếng kêu gọi cải cách chữ viết, thoát khỏi chữ
vuông biểu ý, tiến tới dùng chữ biểu âm. Ngay sau khi chiếm được toàn bộ nước
Tàu, Mao Trạch Đông cũng nhiều lần nỗ lực cảỉ cách theo hướng đó với hàng chục
chương trình, kế hoạch mà... không tới đâu, cuối cùng đành bỏ cuộc, bằng lòng
"ở lại" với loại chữ vuông giản thể - chỉ là bớt số nét vẽ, giúp dễ
viết hơn một chút thôi chớ sức ỳ của ngôn ngữ đâu vẫn còn đó.
Nếu có một phép mầu nào
khiến cho người Tàu thoát khỏi vòng kim cô chữ vuông biểu ý để chế ra được chữ
ghi âm, tức khắc tri thức của một tỷ rưởi dân Tàu bùng nổ với những điều mới mẻ
hiện đại mà họ mới học được của nhân loại cộng với bản tính gian và ác của dân
Tàu, tôi e rằng nước Mỹ sẽ tụt hạng trong một thời gian ngắn, chớ không đợi 50
năm đâu. Nhưng tôi cũng tin là phép màu đó không bao giờ có.
Tạm kết luận phần này với
câu hỏi thứ nhất của Quyen Vinh: Không phải "với chữ viết biểu ý mà Tàu trở
thành "nền kinh tế thứ hai thế giới" như bạn nghĩ. Và tuy là nền kinh
tế thứ hai thế giới, Tàu vẫn là một quốc gia nghèo.
Phần 2
Trong comment của anh
Quyen Vinh, với ý thứ 2 anh hỏi: "với "ưu thế tuyệt vời" của quốc
ngữ-la tinh, khoa học kỹ thuật nước ta giờ đang ở đâu trên bảng xếp hạng?"
anh đặt bốn từ "ưu thế tuyệt vời" trong ngoặc kép, chắc là không phải
để nhấn mạnh cái "ưu thế tuyệt vời" của chữ quốc ngữ, hay để cười cợt,
biếm nhẽ, mà chỉ tỏ ra hoài nghi. Tức là anh không tin chữ quốc ngữ-la tinh của
chúng ta có ưu thế gì cả - chưa nói đến "ưu thế tuyệt vời."
Mà chữ quốc ngữ ghi âm bằng
mẫu tự La tinh thì có ưu thế gì? Và ưu thế đối với cái gì?
Trước hết có lẽ nên xóa bỏ
sự nghi ngờ của anh và khẳng định với anh "ưu thế" của chữ quốc ngữ-Latinh
đối với chữ Hán và chữ Nôm.
Hàng ngàn năm trước cho đến
khi tiếng Việt được (các nhà truyền giáo Tây phương) ghi âm bằng mẫu tự Latinh,
người Việt dùng chữ Hán làm phương tiện ghi chép, và dùng nó để sáng tạo ra loại
chữ riêng ghi âm tiếng Việt: đó là chữ Nôm.
Học chữ Hán là rất khó;
đã vậy phải rất giỏi chữ Hán mới viết và đọc được chữ Nôm, nên cái khó của chữ
Nôm được nhân lên nhiều lần. Vì vậy số người biết chữ trong nước rất ít. Số liệu
trên Wikipedia cho biết:
"Khoa thi Hương năm
Quý Mão 1903 có hơn 10.000 sĩ tử dự thí. Đến năm Bính Ngọ triều Thành Thái 1906
thì hơn sáu nghìn khóa sinh dự thí ở Nam Định. Đến năm Nhâm Tý triều Duy Tân
1912 thì chỉ còn 1.330 người đi thi, phản ảnh sự tàn lụi của Nho học ở Việt
Nam, và theo đó khoa cử cũng chấm dứt"
Dân số Việt nam vào đầu
thế kỷ XX ước chừng vào khoảng 20 triệu người. Giả sử cứ 10 người đi học, có một
người đi thi, thì số người đi học và biết chữ (Nho) vào năm 1903 ước chừng là
100.000 người, tức là có khoảng 0,05% dân số biết chữ. Sau 2000 năm tiếp xúc với
chữ Hán, triều đình sử dụng chữ Hán như văn tự chính thức, người đi học thì học
chữ Hán, mà số người biết chữ Hán trong nước chỉ có ngần ấy, trong đó số người
viết và đọc được chữ Nôm, tiếng nói của dân tộc mình, càng ít hơn.
Kể từ khi Hàn Thuyên
(Nguyễn Thuyên) viết bài văn tế cá sấu bằng chữ Nôm vào đời nhà Trần, thế kỷ
XIII, cho đến kỳ thi nho học cuối cùng vào năm 1919 là khoảng 800 năm. Trong
tám thể kỷ ấy đã có được bao nhiêu tác phẩm văn học viết bằng chữ Nôm? Và trong
hơn một trăm năm nay, kể từ ngày Thống đốc Nam Kỳ Marie Gustave Hector Ohier ký
nghị định bắt buộc dân Nam kỳ dùng chữ quốc ngữ với chữ cái La tinh thay thế chữ
Nho, đến nay chúng ta có bao nhiều tác phẩm viết bằng chữ quốc ngữ được xuất bản?
Đó không phải là ưu thế tuyệt vời của chữ quốc ngữ sao?
Khi cuốn Từ Điển Việt Bồ
La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) của giáo sĩ Alexandre Rhodes
ra đời vào năm 1651 thì thứ tiếng Việt ký âm bằng mẫu tự La tinh, sau này trở
thành chữ quốc ngữ, còn đang trong dạng phôi thai, và vẫn còn giới hạn trong
các nhà thờ và chủng viện đạo Công giáo, không phổ biến ra ngoài, do sự chống đối
của giới nho sĩ,. Vậy mà đến năm 1865, nghĩa là chỉ hơn hai trăm năm sau, dân
Nam Kỳ đã có một tờ báo chữ quốc ngữ (lúc bấy giờ gọi là "chữ Tây quốc ngữ")
là tờ Gia Định Báo, phát hành đầu tiên vào ngày 15.4.1865.
Gần bốn năm sau đó, ngày
22/2/1869, Thống đốc Nam Kỳ là Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier, ký nghị định
bắt buộc dùng chữ quốc ngữ bằng chữ cái Latinh thay thế chữ Nho trong các công
văn của chính quyền ở Nam Kỳ.
Ngày 6/4/1878, Thống đốc
Nam Kỳ, lần này là Chuẩn đô đốc Louis Charles Georges Jules Lafont, ký Nghị định
82 ấn định "Kể từ mồng một Tháng Giêng năm 1882 tất cả văn kiện chánh thức,
nghị định, quyết định, lịnh, án tòa, chỉ thị... sẽ viết, ký tên và công bố bằng
chữ Quốc ngữ.
Đến lúc này nhiều người
đã thấy cần phải học chữ quốc ngữ. Tuy vậy, chữ viết mới vẫn bị các nhà nho thủ
cựu phản đối quyết liệt. Vào tháng 9, năm 1931, ông Hồ Duy Kiên, một thành viên
lão thành trong Hội đồng thuộc địa Nam kỳ, đưa ra nhận xét rằng thứ tiếng Việt
này như một thổ ngữ mường mọi, phải mất năm trăm năm hoặc thậm chí một ngàn năm
nữa mới đạt được trình độ như tiếng Pháp. (David G. Marr, Vietnamese
tradition on trial, 1920-1945, University of California Press, 1981
edition)
Hồ Duy Kiên không tin tưởng
tiếng Việt, dù đã có chữ viết mới cùng hệ La tinh như tiếng Pháp, sẽ có được sự
phát triển nào để bắt kịp thứ ngôn ngữ văn minh như tiếng Pháp.
Chính trong năm 1931 này
Hội Khai Trí Tiến Đức cho xuất bản bộ Việt Nam Từ Điển, và năm sau, 1932, sự xuất
hiện của Tự Lực Văn Đoàn, mà tác phẩm của họ với văn chương trong sáng đẹp đẽ,
xác nhận chữ quốc ngữ với mẫu tự La tinh không kém khả năng phô diễn của tiếng
Pháp.
Từ Từ điển Việt Bồ
La (1651) đến Việt Nam Từ điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (1931)
là khoảng thời gian 280 năm, nhưng từ Nghị định đầu tiên của Thống đốc Nam Kỳ
Marie Gustave Hector Ohier đến cuốn Ðại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình Tịnh
Paulus Của (1895) chỉ là 26 năm, và đến khi Tự Lực Văn Ðoàn ra đời (1932) là 63
năm. Chỉ trong một thời gian ngắn ngủi như thế chữ quốc ngữ đã đưa tiếng Việt đến
bước phát triển thần kỳ so với chữ Hán và chữ Nôm. Đáng lẽ lúc bấy giờ ông Hồ
Duy Kiên phải nhận ra đó là một ưu thế, có thể nói là tuyệt vời của chữ quốc ngữ,
chớ không phải đợi đến năm trăm năm hay một ngàn năm nữa.
Trong tác phẩm Văn
phạm và Ngôn ngữ Việt Nam của hai tác giả Tu Dinh và Vo Cao (bản in lần thứ
3 của SEACAEF, California, 2008) ghi nhận tiếng Việt có 930 từ đơn (tác giả gọi
là "chữ chiếc") nguyên âm, và 26.970 từ đơn phụ âm. Số từ này kết hợp
với nhau thành 403.527.744 từ đôi (tác giả gọi là "chữ đôi") quốc ngữ,
mà theo tác giả, nếu in hết số từ này ra giấy "và đóng thành những cuốn
sách bằng với tự điển Le Petit Larouse Illustré, mỗi cuốn có 1.885 trang,
số cuốn sách để chứa trữ lượng chữ đôi quốc ngữ sẽ là 824 cuốn!"
Tuy lượng chữ nhiều như vậy,
nhưng số chữ thực sự được dùng chỉ chiếm một phần rất nhỏ, và con số hàng trăm
triệu chữ chưa được dùng đến được tác giả gọi là "chữ chờ." Bất cứ một
người Việt nào "biết đọc biết viết" cũng có thể viết ra những "chữ
chờ" đó mà chỉ cần miệng mình phát âm được chớ không cần phải thấy trước
hay học trước chữ đó. Có lẽ đây là một trong những lý do vì sao người Việt ít
dùng từ điển tiếng Việt. Nếu các từ điển Anh, Mỹ phải in lại hàng năm với số lượng
lớn, từ điển tiếng Việt chỉ in vài ngàn bản phải bán nhiều năm mới hết.
Chữ quốc ngữ ghi âm chính
xác tiếng Việt, nói sao viết vậy, viết sao đọc vậy, giúp cho tiếng Việt được dễ
học, dễ viết, và học được rất nhanh. Nếu với chữ Hán người học chỉ đọc và viết
được chữ nào mình đã học; những chữ chưa học đến thì không đọc được, cũng không
viết được, thì với chữ quốc ngữ người ta viết được tất cả chữ nào miệng mình có
thể phát âm.
Chữ quốc ngữ ghi âm chính
xác đến nỗi nếu người ta viết sai thì do họ nói sai. Ví dụ, nếu người ta viết
"nặn xuống đái đại dương," hay nếu người ta viết "Ốc nuộc, Tiết
nuộc, Chứng Cút nộn, Lem Trua dán, Cháo Chai, Chà đá..." thì do người viết
đã phát âm sai như thế.
Có lẽ tiếng Việt chỉ có một
từ duy nhất mà chữ viết không theo âm đọc. Đó là chữ QUỐC, trong khi âm đọc là
QUẤC. Sự sai biệt này chỉ mới có về sau, chớ cuốn Tự vị của Huình Tịnh Paulus Của
(xuất bản 1895) đã ghi rõ Đại Nam QUẤC Âm Tự Vị.
Không có sự sai biệt
trong âm đọc và chữ viết cũng là một ưu thế tuyệt vời của chữ Quốc ngữ.
Nên biết tiếng Anh không
có được sự ăn khóp trong chữ viết và phát âm như tiếng Việt. Mà đó là một trong
những trở ngại cho người học tiếng Anh. Ví dụ, chỉ để ghi âm một âm /ai/ (như
"ai" trong tiếng Việt), người ta phải dùng nhiều tổ hợp các chữ cái
như thế này: aye, by, buy, die, hi, Thai, height, và guide.
Chữ quốc ngữ giúp người
Việt học mau biết đọc biết viết. Nếu hồi đầu thế kỷ XX, chỉ có khoảng 0,05% người
Việt "biết chữ" (bấy giờ là chữ Hán-Nho), và đến thập niên 30 - 40 chỉ
có khoảng 10 - 15% người Việt biết chữ quốc ngữ, thì ngay từ những thập niên 60
- 70 thế kỷ trước số người mù chữ còn lại rất ít, có thể coi như không có. Đó
cũng là một ưu thế tuyệt vời của chữ quốc ngữ mà so với suốt hai ngàn năm học
chữ Hán (Nho) số người biết chữ đã không bao giờ đạt được 10% dân số.
Ưu thế quan trọng hơn hết
của chữ Quốc ngữ là giúp dân tộc Việt Nam thoát khỏi văn tự Hán 100%, điều này
làm cho nhiều người Tàu rất cay cú.
Có lần, tiến sĩ Nguyễn Hải
Hoành nhắc lại khoảng 100 năm trước, Hồ Thích, một trong những học giả Trung quốc
quan trọng mà ngày trước các nhà cách mạng Việt Nam thường nhắc nhở và đề cao,
từng chế giễu chữ quốc ngữ của ta: "Chữ viết Việt Nam hiện nay xem ra giống
như chữ Pháp bị nước mưa xối tan ra, giống như phiên bản Latinh của chữ hình
vuông, vừa không thanh thoát cũng chẳng mỹ quan."
Hồ Thích cho rằng chữ quốc
ngữ của người Việt Nam vừa không giống chữ Hán, không giống chữ Nôm (đã đành!)
lại không giống chữ Pháp, mà cũng không giống cả chữ La tinh, "nghĩa là
không đâu vào đâu, chẳng ra cái giống gì."
Còn Quý Tiễn Lâm, một học
giả Tàu được người Tàu tôn là Học giới Bắc Đẩu cũng chê chữ quốc ngữ: "Chữ
viết của Việt nam sau khi phiên âm, đầu đội mão, chân mang giầy trông rất buồn
cười." ("Việt Nam văn tự bính âm hóa chi hậu, đầu đái mạo tử, cước
xuyên hài tử, ngận hoạt kê" - theo Ts Nguyễn Hải Hoành).
Ông học giả Tàu này coi
các dấu nguyên âm và dấu giọng của chữ quốc ngữ như đội mũ mang giầy. Cũng hay
đấy. Nhưng ông học giả Tàu chỉ rê đuốc vào chân người mà không rê vào chân
mình: Tiếng Việt có sáu thanh (giọng) nên chữ quốc ngữ- Latinh dùng năm dấu sắc
huyền nặng hỏi ngã. Tiếng Tàu có 4 thanh, nên chữ bính âm của Tàu (nghĩa là
cũng phiên âm bằng mẫu tự La tinh) cũng mang các dấu tương tự. Chỉ có điều họ
không có dấu nặng. Trong bài viết "Chữ quốc ngữ và hội chứng nhảy cừu"
(http://www.art2all.net/tho/tho_tk/chuquocnguvahoichungnhaycuu.htm) tôi ví chữ
bính âm của Tàu không có dấu nặng cũng giống các ông bà Táo quân mặc áo đội mũ
mà không mặc quần, chớ đẹp đẽ gì hơn đâu! Họ cũng nhiều phen tìm cách La tinh
hóa để thoát ra khỏi hệ chữ viết nặng nề rối rắm của mình nhưng không thành
công được như người Việt, mà lại đi chê thành tích "thoát Trung" tuyệt
vời về mặt văn tự của người Việt.
Năm 1942, học giả Hoàng
Xuân Hãn cho xuất bản cuốn sách Danh Từ Khoa Học dùng cho các ngành
Toán, Lý, Hóa, Cơ và Thiên văn, tức là tiếng Việt với chữ quốc ngữ - Latinh
không chỉ ghi được các ý tưởng về văn học, triết học, tôn giáo, nghệ thuật...
mà còn có thể đề cập và giảng dạy cả các ngành khoa học của nhân loại hiện đại
một cách đầy đủ và chính xác.
Ngay sau khi thiết lập chế
độ Việt Nam Cộng Hòa, chính phủ Ngô Đình Diệm gạt bỏ tiếng Pháp ra khỏi các
giáo trình giảng dạy ở đại học. Tất cả các ngành học đều được dạy và học bằng
tiếng Việt. Ta thấy sao? Ta thấy khả năng của tiếng Việt với chữ Quốc ngữ hệ
Latinh là ngang tầm với khả năng diễn giảng của tiếng Pháp ở mọi ngành và mọi cấp
độ tri thức. Nếu bạn nào nói miền Bắc Việt Nam dưới chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa cũng đã làm như thế, tức là bạn đã hiểu và cùng xác nhận ưu thế của chữ quốc
ngữ rồi đó.
Anh Quyen Vinh hỏi:
"với "ưu thế tuyệt vời" của quốc ngữ-la tinh, khoa học kỹ thuật
nước ta giờ đang ở đâu trên bảng xếp hạng?"
Bảng xếp hạng nào? Chữ quốc
ngữ là phương tiện giúp người Việt tiếp cận tri thức của nhân loại, trong đó có
các tri thức khoa học, và phát biểu tư tưởng của mình một cách thông suốt trong
tất cả các lãnh vực tri thức nhân văn và khoa học, đưa mình hòa đồng vào cùng một
tầm mức với nhân loại, và để cả nhân loại hiểu mình. Còn trình độ khoa học kỹ
thuật cụ thể thì cần có nhiều yếu tố khác: văn hóa, kinh tế, và chính trị. Nhất
là chính trị, khi nó giữ vai trò thống soái, điều khiển hướng phát triển của tất
cả văn hóa, kinh tế và khoa học kỹ thuật.
Từ những năm 1960, thủ tướng
Singapore Lý Quang Diệu mơ ước Singapore được bằng như Sài Gòn. Hơn nửa thế kỷ
sau, các nhà lãnh đạo của ta xem Singapore như một mục đích cao mà nước ta mơ ước
đạt tới. Trong suốt nửa thế kỷ đó ta vẫn dùng chữ quốc ngữ chớ có dùng chữ viết
nào khác đâu. Chỉ có thể chế chính trị là khác.
Vào những năm 60 của thế
kỷ trước, hàng loạt quốc gia nghèo khó hơn miền Nam Việt Nam đưa quân lính của
họ đến Việt Nam làm lính đánh thuê và, như chánh quyền miền Bắc hồi đó tuyên
truyền, "làm bia đỡ đạn cho Mỹ." Chỉ hai thập niên sau khi chiến
tranh Việt nam chấm dứt, đất nước họ thành rồng thành cọp về kinh tế, còn Việt
Nam vẫn tiếp tục chạy đi khắp thế giới xin viện trợ, xin vay ODA, và xuất khẩu
người sang làm thuê cho họ cho đến nay. Trong thời gian đó ta cũng vẫn dùng chữ
quốc ngữ. Mà đâu phải vì ta đoạn tuyệt với văn tự khối vuông của người Tàu chuyển
sang dùng chữ viết với mẫu tự La tinh nên phải chịu thua thiệt như thế đâu. Đó
là do thể chế chính trị. Có vô số ví dụ như thế.
Thế thì câu hỏi của bạn
Quyen Vinh là một câu hỏi đố không... khéo lắm.
Phần 3
Cả ba câu hỏi trong
comment của anh Quyen Vinh đều nhất quán một điều: anh tiếc nuối văn tự cổ Hán
Nôm, như một sự hoài cổ, với tâm trạng của người thủ cựu, tiếc nhớ một kỷ niệm,
và dường như không có nhận định chủ ý nào chắc chắn và rõ ràng. Về chuyện chữ
Hán - Nôm bị đẩy lùi vào dĩ vãng, anh viết:
"Và quan trọng hơn nữa,
quý vị cần nghiên cứu thêm một vấn đề nhạy cảm mà không mấy ai để ý: Đứt gãy
truyền thông văn tự dân tộc (con cháu không đọc được trực tiếp di sản viết của
tổ tiên mấy nghìn năm) đã gây tổn thương như thế nào cho đời sống tinh thần/văn
hóa người Việt?"
Có lẽ phải nói ngay cho
anh Quyen Vinh yên lòng: Không phải là "không mấy ai để ý," nhưng
cũng không có một sự đứt gãy truyền thống nào xảy ra do sự "chuyển đổi"
chữ viết này cả! Sự thay đổi chữ viết đúng là một sự kiện lớn, nhưng tự nó
không gây ra sự đứt gãy nào hết. Chữ viết là một phương tiện lưu trữ văn hóa
nhưng không phải hễ đổi phương tiện lưu trữ thì văn hóa mất đi. (Sự "đứt
gãy," nếu có như anh cảm nhận được, nó xảy ra ở chỗ khác, và vào lúc
khác).
Chữ Hán là một loại văn tự
thiếu chặt chẽ và có phần... phi logic. Nhiều bậc thâm nho lắm khi bối rối
không biết nên dừng lại ở đâu cho hợp lý trên một câu văn vừa đọc. Chữ Hán
không có cấu trúc câu rõ ràng, hoặc người viết dành cho người đọc... quyền chấm
câu. Người đọc muốn dứt câu ở chỗ nào tùy theo cách hiểu cá nhân của mình nên
không ít khi câu văn bị hiểu sai lạc, mỗi người hiểu một cách. Đã vậy, do
phương tiện và kỹ thuật khắc chữ trên xương thú và tre nứa vào thời thượng cổ,
cấu trúc câu chữ Hán được "nén" tối đa, càng ít chữ mà mang được nhiều
nội dung càng tốt, nên nhiều lúc câu văn thành ra thiếu sự minh bạch và tối
nghĩa.
Nhà nhân chủng học người
Anh nổi tiếng Jack Goody của đại học Cambridge có lần tuyên bố rằng chữ viết của
Trung Quốc (...) là một hệ thống chữ viết bị hạn chế, không có khả năng diễn đạt
trọn vẹn các ý tưởng, và cản trở áp dụng các tiêu chuẩn của logic thông thường.
(Jack Goody and Ian Watt, The Consequences of Literacy, Cambridge University
Press.)
Chỉ với một ví dụ nhỏ này
thôi để thấy chữ Hán thiếu logic và tính chặt chẽ đến mức nào:
Đạo Đức Kinh được coi là
tác phẩm triết học uyên áo của Lão tử, được nhiều thế hệ học giả Trung quốc
đánh giá rất cao, nhưng chỉ một câu mở đầu gồm vỏn vẹn 6 chữ: "Đạo khả đạo
phi thường đạo" mà suốt hơn hai ngàn năm qua các nhà nghiên cứu còn chưa
thống nhất với nhau về cách hiểu. Mỗi người giải thích một cách cao siêu. Và
cách nào cũng... thuyết phục!
Các học giả người Việt
xưa dùng chữ Hán để tạo thành chữ Nôm cũng gây ra không ít sự phức tạp cho người
đọc. Văn tự là một hệ thống hình vẽ có quy ước. Chữ Nôm cũng vậy, nhưng đôi khi
người viết có những quyết định chủ quan khiến người đọc về sau bối rối.
Chẳng hạn, khi khảo dị
Truyện Kiều, (bản Liễu Văn Đường Nghệ An, 1866), với câu thứ 8: "Phong
tình cổ lục còn truyền sử xanh," ông Nguyễn Quảng Tuân thấy hai chữ lâu
nay quen được đọc là "cổ lục" với chữ cổ (固)
được viết bằng hai chữ Hán: chữ cổ 古 trong chữ vi (固),
nên suy luận chữ đó không có âm đọc là cổ. Ông giải thích, nếu từ đó là "cổ"
thì chữ Hán đã có sẵn chữ 古 (cổ), người viết cứ việc
dùng (nguyên tắc tá âm), việc gì phải đặt chữ cổ古
vào trong chữ vi cho thành chữ 固.
Vì vậy, ông Nguyễn Quảng Tuân cho chữ đó phải được đọc là CÓ.
Phong tình Có lục còn
truyền sử xanh
Có lẽ vì chữ "có lục"
nghe... không quen tai và có phần lấn cấn, nên từng có người phiên âm cả hai chữ
nôm này thành ... có lúc:
Phong tình CÓ LÚC còn
truyền sử xanh.
Cả hai giải thuyết, có lục và có
lúc, dường như đều chưa cái nào thuyết phục.
Trước đây có lần trên báo
chí xảy ra sự tranh luận về hai chữ "một trương" ở cuối câu Kiều 32:
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm
một trương.
Vì có người căn cứ vào một
bản in chữ Nôm nào đó mà chữ 没
(một) trong 没 張 (một trương) được viết tắt và không có dấu chấm thủy,
thành ra chữ
(ngải), nên đề nghị đọc câu
Kiều đó là:
"Nghề riêng ăn đứt Hồ
cầm NGẢI trương."
Hoặc các câu Kiều số 44
và 50 trong bản Kinh đời Tự Đức 1870, được đọc tuần tự:
"Lễ là tảo mộ, hội
là đạp thanh"
Và:
" Thoi vàng vó rắc
tro tiền giấy bay"
Nhưng ở bản Liễu Văn Đường
nói trên, một số chữ trong hai câu đó được đọc khác:
"Lễ là tảo mộ GỌI là
đạp thanh"
Và:
"Thoi vàng BÚA rắc,
tro TÀN giấy bay."
Vân vân.
Ta thấy chữ Nôm cũng
"chữ Tác chữ Tộ" như vậy đó.
Chữ Nôm tuy ghi âm ngôn
ngữ dân tộc, nhưng vốn đã rất khó khăn mới học được mà các quy định sáng tạo lỏng
lẻo, cách viết và đọc không nhất quán. Đã vậy hầu hết giới có học ngày xưa tôn
sùng chữ Hán là "chữ thánh hiền," coi thường tiếng nói của dân tộc,
quan niệm chữ Nôm là nôm na mách qué, chỉ là trò tiêu khiển của một số người
tài hoa, và không được giới nho học đánh giá cao. Dù chữ Nôm từng được một vị
hoàng đế là vua Lê Thánh Tông, và các danh thần như Nguyễn Bỉnh Khiêm Nguyễn
Trãi sử dụng làm thơ văn gọi là thơ văn quốc âm, vẫn có một số nhà nho không
bao giờ "hạ mình" làm thơ văn nôm na mách qué. Ngay bản thân Nguyễn
Du cũng cho tác phẩm của mình chẳng qua "mua vui cũng được một vài trống
canh."
Có người sáng tác xong
thì giấu không cho ai biết, hoặc không ký tên. Sở dĩ có nhiều truyện thơ Nôm
khuyết danh là vì vậy. Thậm chí cuối thế kỷ XVIII vua Quang Trung khuyến khích
dùng chữ Nôm làm văn tự chính thức của triều đình, nhưng chữ Nôm vẫn trong tình
trạng "đồ chơi bình dân" giới hạn trong một số các nhà nho mà không
thể phát triển rộng rãi để trở thành một dòng văn học chính của dân tộc.
Dòng văn học chính của
dân tộc là chữ Hán được đọc theo âm Hán Việt và được người Việt gọi là chữ Nho.
Trải qua nhiều cuộc chiến tranh hủy diệt của giặc phương Bắc, với những sự cướp
bóc và phá hủy văn hóa có chủ ý của giặc Tàu, tài sản văn học chữ Nho của ta
tích lũy qua hàng ngàn năm cũng không còn gì đáng kể ngoài một số các bộ sử chỉ
mới được viết lại từ đời nhà Trần sau ba lần đánh bại quân Nguyên Mông, và một
ít thơ văn vụn vặt. Hịch tướng sĩ và Bình Ngô Đại Cáo thường
được kể là các áng hùng văn trong vốn văn hóa dân tộc, nhưng chúng cũng chỉ là
những bài văn ngắn, chớ không có tác phầm đồ sộ nào, cả trong khảo cứu và sáng
tác.
Sự khó khăn của các loại
văn tự ô vuông biểu ý là vậy đó. Khó trong học và hiểu; khó trong sử dụng để
sáng tác, nghiên cứu, viết lách. Chính những khó khăn này đã kềm hãm sự phát
triển của tinh thần dân tộc ta hàng nghìn năm. Dù vậy nhất đán vất bỏ đi
cũng... tiếc. Sự tiếc nuối đó chỉ là thứ tình cảm thủ cựu, người ta không muốn
rời bỏ một thói quen.
Câu hỏi của anh Quyen
Vinh bộc lộ tính thủ cựu, vì anh chỉ nói về sự "Đứt gãy truyền thống văn
tự dân tộc." Giá như anh nói đến Truyền thống văn học hay văn hóa của
ta chắc là anh đã gặp sự cảm thông nhiều hơn.
Chữ quốc ngữ được tiếp nhận
và phát triển thành dòng văn học chính trong nền văn hóa và tri thức của dân tộc
đã không hề loại bỏ quá trình văn học Hán Nôm, cũng không tạo ra sự đứt gãy nào
đến độ làm tổn thương "cho đời sống tinh thần văn hóa người Việt" như
anh Quyen Vinh lo cả. Trái lại chính chữ quốc ngữ đã "nâng đỡ" sự tồn
tại của dòng văn học Hán Nôm! Ngay từ những thập niên đầu thế kỷ XX người ta đã
bắt đầu dịch các tư liệu văn học Hán Nôm ra chữ quốc ngữ. Công việc đó vẫn còn
tiến hành cho tới nay. Các bộ sử chính yếu của dân tộc và nhiều tác phẩm quan
trọng khác đã có thể đọc được từ bản dịch chữ quốc ngữ. Các tác phẩm Hán Nôm đã
dịch ra quốc ngữ vẫn tiếp tục được nghiên cứu. Ở trên tôi có nhắc đến ông Nguyễn
Quảng Tuân, đó là một trong những nhà nghiên cứu Hán Nôm uyên bác của Việt Nam,
vừa qua đời vào năm ngoái (2019)
Lệnh của Thống đốc Nam kỳ
buộc dân Nam kỳ dùng chữ quốc ngữ trong các công văn chính phủ thay chữ Nho, dễ
khiến nhiều người sau này xúc động với cảm giác bị cưỡng bách phải dùng loại chữ
mới của thực dân trái với "truyền thống," nhưng đó chỉ là một lệnh
hành chánh, có thể không gây ảnh hưởng gì lắm cho đời sống của người dân thời
đó, nếu họ không muốn theo. Vì qua hàng ngàn năm triều đình các đời vua ta dùng
chữ Hán như văn tự chính thức mà người dân Việt vẫn nuôi dưỡng dòng văn học dân
gian truyền miệng bằng tiếng Việt chớ có nói... tiếng Tàu bao giờ đâu! Nếu chữ
quốc ngữ phổ biến nhanh chóng và phát triển mạnh mẽ là vì nó dễ học, dễ viết.
Chỉ cần học vài tháng đã có thể ... đánh vần đọc báo được rồi.
Ban đầu các nhà nho thủ cựu
quyết liệt chống đối chữ quốc ngữ. Thật ra, sự chống đối của họ phát xuất từ
lòng yêu nước. Họ cho chữ quốc ngữ, mà lúc đầu được gọi là "chữ Tây quốc
ngữ," là sản phẩm của Tây. Hễ cái gì của Tây, những kẻ cướp nước, thì họ
chống. Tuy như thế là thiển cận, nhưng tình tự đó của họ là rất cảm động.
Dù sao, chính nhờ lớp nho
sĩ này chúng ta có một thời gian quá độ cho sự chuyển tiếp nên đã không xảy ra
một sự xung đột văn tự nào, càng không có sự đứt gãy văn hóa nào cả. Người Việt
hăm hở tiếp nhận chữ quốc ngữ, nhưng không bỏ rơi di sản văn hóa của tiền nhân.
Người Pháp mở trường dạy
thông ngôn và đào tạo nhân viên công chức cho chính quyền thuộc địa, và tuy nền
giáo dục thuộc địa hướng theo văn hóa Pháp, không đánh giá cao văn hóa bản xứ,
nhưng do họ sử dụng các trí thức bản xứ theo tây học, mà những nhà giáo thời đó
trong tâm hồn họ vẫn còn đậm đà tinh thần và văn hóa dân tộc, nên những cuốn
sách Giáo Khoa Thư sơ cấp do lớp trí thức này soạn ra cho trẻ con học từ những
năm 30 của thế kỷ trước bây giờ người ta còn in lại và còn người tìm đọc để thưởng
thức - và không ít người tiếc nuối. Như thế đủ biết sự tiếp nhận chữ quốc ngữ
ngay cả trong thời kỳ Pháp thuộc đã rất thuận lợi, không những không gây ra một
cơn sốc văn hoá nào mà chữ quốc ngữ đã góp công bảo tồn phần nào tinh thần văn
hóa dân tộc, nâng cao dân trí, tạo thêm thuận lợi cho việc cả nước đánh đuổi thực
dân Pháp về sau.
Anh Quyen Vinh có nói đến
nỗi lo "con cháu không đọc được trực tiếp di sản viết của tổ tiên mấy
nghìn năm." Trong comment của anh đây là một nỗi lo chính đáng, và đáng
trân trọng.
Theo xu hướng phát triển
của lịch sử, ngay từ khi đất nước bị Pháp đô hộ, nhiều người không còn tha thiết
với cái học cử tử nữa. Đến đầu thế kỷ XX, ông Tú Xương đã nhận thấy "mười
người đi học chín người thôi" khi số thí sinh trong khoa thi Hương năm Quý
Mão 1903 có hơn 10.000 mà đến khoa thi năm Nhâm Tý triều Duy Tân 1912 chỉ còn
hơn 1300 người đi thi; các nho sĩ dần dần "vất bút lông đi sắm bút
chi," đến lúc vua Đồng Khánh buộc phải bãi bỏ các kỳ thi Nho học. Những
người có trách nhiệm điều hành đất nước và có tinh thần dân tộc đã rất sáng
suôt, nhìn thấy trước một tương lai trong vài mươi năm tới sẽ không còn được mấy
người (nếu không muốn nói là sẽ không còn ai) đọc được các thư tịch chữ Hán Nôm
vốn còn lại khá ít oi, để soi sáng lịch sử dân tộc và một quá khứ văn học của
tiền nhân, nên họ đã sớm có kế hoạch lâu dài ở cấp quốc gia, chớ không phải là
"không mấy ai để ý" như anh Quyen Vinh nói.
Nếu biết rằng, trong 9
văn bằng cử nhân giáo khoa và 3 văn bằng cử nhân chuyên khoa, được đào tạo tại
trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn trước năm 1975, có một bằng Cử nhân giáo khoa
văn chương Việt Hán, chắc anh Quyen Vinh hiểu chuyện tiếp nối và giữ gìn truyền
thống dân tộc đã được những người có trách nhiệm với đất nước thực hiện chu đáo
trong tinh thần Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng. Sinh viên phải học và thi đậu
năm chứng chỉ để lấy bằng cử nhân Giáo khoa Văn chương Việt Hán, trong đó có
các chứng chỉ Dự bị Hán văn, chứng chỉ Văn chương quốc âm, và chứng chỉ văn
chương Việt Hán. Từ niên khóa 1965-1966, trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn còn có
cả Văn bằng Cao học (bây giờ gọi là Thạc sĩ) về Văn chương Việt Hán. Đó là những
người sẽ "đọc được trực tiếp di sản viết của tiền nhân," tiếp tục
nghiên cứu và giảng dạy văn học Hán Nôm cho các thế hệ sau.
Ngoài ra, ở 2 cấp Trung học
- Trung học đệ Nhất cấp, và Trung học đệ Nhị cấp, hàng tuần học sinh có giờ học
cổ văn. Đệ Nhất cấp học Truyện Trê Cóc, Lục súc tranh công... để "bồi
dưỡng" thêm trí tưởng tượng cho các học sinh trẻ con các lớp Đệ Thất, Đệ Lục,
và một số bài thơ "quốc âm" cổ. Đệ Nhị cấp học Truyện Kiều,
Chinh Phụ Ngâm khúc, Cung Oán Ngâm Khúc vân vân, vừa để giữ gìn những cảm
xúc có tính dân tộc và tính thẩm mỹ của nền văn học cổ, vừa để có hiểu biết về
vốn từ Hán Việt trong ngôn ngữ dân tộc. (Thời VNCH có lẽ không mấy khi nghe một
người nào nói sai tiếng Việt như ta bắt gặp nhan nhản hiện nay!) Nền giáo dục của
VNCH đã có chương trình cụ thể giữ cho truyền thống văn hóa dân tộc không bị
mai một hay đứt gãy.
Tháng 4 năm 1977, trường
Đại học Văn khoa được nhập vào trường Đại học Khoa học để lập thành trường Đại
học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 30 tháng 3 năm 1996, trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn được thành lập là một trong những thành viên của Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Chắc là phần Văn Khoa của Trương Đại học
Văn Khoa Sài Gòn xưa được đưa vào trường Đại học Khoa Học Xã hội Nhân Văn.
Tôi không biết ở trường Đại
học Khoa Học Xã hội Nhân Văn sinh viên được học những gì, nhưng hàng ngày đọc
báo thấy nhà báo - được đào tạo chính quy từ các trường lớp báo chí - viết sai
tiếng Việt rất nhiều. Chẳng hạn người ta đã viết tiếng Việt như thế này:
"Người thầy gật đầu
và nói với tôi "Thầy cảm phục tinh thần của em. Em là người có chứng
kiến và dám sống cho chứng kiến của mình."
Hay:
"10 thói quen của
nam giới khiến phụ nữ phản cảm nhất"
Hay:
"Ford phải ra lệnh triệu
hồi hơn 10 vạn xe ở thị trường Bắc Mỹ..."
Vân vân...
Và tôi ngờ có lẽ họ không
được học gì về văn chương Việt Hán, tức không có cơ hội học từ Hán Việt mà dường
như ngày trước nhà văn Nhượng Tống cho là chiếm đến 60 phần trăm trong ngôn ngữ
của Việt Nam. Người Việt không được học tiếng Việt thì cái gọi là "giữ gìn
sự trong sáng của tiếng Việt" chỉ là chuyện nói chơi.
Có lẽ đó là một trong những
dấu hiệu của sự "đứt gẫy"nào đó chăng?
Sự "đứt gẫy truyền
thống văn tự" đã không xảy ra khi người Việt tiếp nhận chữ quốc ngữ với ký
tự La tinh để thay cho chữ Hán và chữ Nôm, nhưng dường như có một sự đứt gãy
nào đó trong truyền thống văn hóa dân tộc mà không vì chữ quốc ngữ với mẫu tự
La tinh.
PS. Ý kiến của Giáo sư
Nguyễn Huệ Chi:
Nguyễn Huệ Chi: Nói đứt
gãy có phần hợp lý đấy bạn Thiếu Khanh. Hiện nay trong kho sách Hán Nôm của cha
ông còn biết bao nhiêu tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt hết đâu. Phải có cả
một đội ngũ thật vững vàng đảm đương công việc chuyển ngữ ấy và phải làm rất thận
trọng, nghiêm túc để chuyển đạt cho được mọi giá trị của quá khứ sang cho thế hệ
hôm nay một cách trọn vẹn, làm cho văn hóa được tiếp nhận/tiếp nối liên tục, đó
chẳng phải đang là một vấn nạn là gì.
Thiếu Khanh: Thưa giáo sư
Nguyễn Huệ Chi, tôi cũng cảm thấy bi quan với tình trạng kho văn liệu Hán Nôm
quốc gia chưa được khai thác hết mà giới nghiên cứu uyên bác trong lãnh vực này
(trong đó có giáo sư) ngày một hiếm đi. Dù sao, tình trạng này chỉ là sự ngưng
đọng (stagnation) chớ không phải hay chưa phải một sự đứt gẫy (interruption). Sự
ngưng đọng ngoài ý muốn này là do "ngoại cảnh" mang lại, chớ không phải
hệ quả tất nhiên của sự chuyển đổi chữ viết vào những thế kỷ trước, và chắc chắn
là ngoài dự kiến của các nhà hoạch định giáo dục thời đó. Tuy nhiên, con đường
hầm đã quá dài mà chưa thấy le lói một dấu hiệu nào ở cuối đường hầm báo sự xuất
hiện của các nhà giáo dục có tài năng với nền tảng dân tộc vững chắc (the
advent of talented educators with a steady national platform) thì e rằng sự
ngưng đọng quá lâu sẽ mặc nhiên biến thành sự đứt gẫy đáng tiếc mà một thế hệ
nào đó về sau muốn phục hồi hay tiếp nối sẽ rất khó khăn.
Nguyễn Huệ Chi: Thiếu
Khanh Đúng vậy đó bạn.
Thiếu Khanh
Theo http://chimviet.free.fr/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét