Khi văn chương viết về dịch bệnh
Lịch sử nhân loại cho đến
ngày nay đã có bao nhiêu trận đại dịch bệnh có quy mô trên toàn thế giới? Đó là
câu hỏi không dễ trả lời bởi vì từ khi loài người có văn tự, có các nhà viết sử,
thì các sự kiện mới được ghi lại trên giấy trắng mực đen.
Tuy nhiên có thể kể đến một
vài trận đại dịch bệnh nổi tiếng như đại dịch bệnh Justinian (541 – 542) với
căn bệnh dịch hạch đã tàn phá đế quốc Byzantine, lúc đó đang kiếm soát một lãnh
thổ rộng lớn trải dài từ Trung Đông đến Tây Âu. Trận đại dịch này được đặt theo
tên của hoàng đế Byzantine thời bất giờ là Justinian. Đại dịch bệnh này ước
tính đã làm chết 1/2% dân số thế giới thời bấy giờ, khoảng 50 triệu người. Một
trận đại dịch khác làm rung chuyển cả lục địa châu Âu và châu Á trong suốt thế
kỷ XIV, mà đỉnh điểm là từ năm 1346 – 1351, được đặt tên là “Cái chết đen”,
cũng là căn bệnh dịch hạch, ước tính có thể đã giết chết từ 75 đến 200 triệu
người. Thế kỷ XVII ở Châu Mỹ xuất hiện đại dịch bệnh đậu mùa, ước tính giết chết
20 triệu người, chiếm 90% dân số của châu lục này. Thế kỷ XIX có đại dịch cúm
trong hai năm 1889 – 1890 đã lây lan khắp toàn cầu, làm khoảng 1 triệu người
thiệt mạng. Trong thế kỷ XX, đại dịch bệnh cúm Tây Ban Nha (1918 – 1920) đã làm
500 triệu người nhiễm bệnh và trên 50 triệu người thiệt mạng. Bước sang thế kỷ
XXI, những trận dịch như SARS (2002 – 2003), dịch cúm A H1N1, dịch Ebola… tuy
có làm nhân loại cảnh giác và báo động, nhưng ở thời điểm hiện tại, trong thời
đại mà chúng ta đang sống, nhân loại phải đối mặt với trận đại dịch nguy hiểm
có lẽ là nguy hiểm nhất do virus SARS-CoV-2 mà con số thống kê chính thức cho đến
hôm nay là hơn khoảng 200 triệu người bị nhiễm bệnh và hơn 4 triệu người thiệt
mạng. Dù ngày nay khoa học đã phát triển hơn rất nhiều so với ngày trước, nhưng
với sự đông đúc của dân số thế giới, với sự giao thương trong thời đại toàn cầu
hóa, đại dịch này nhanh chóng lan tràn và ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của
con người trên trái đất. Những nguy hiểm, những cách phòng ngừa, sự chạy đua
tìm vaccine, cùng với những tác động tiêu cực lên mọi phương diện của đời sống
con người và xã hội… của đại dịch, chúng ta đều có thể thấy hiển hiện mỗi ngày
trên các phương tiện truyền thông đại chúng, trên mạng internet…
Mỗi trận đại dịch được ghi chép lại thường là nhờ những người viết sử. Những sử gia chính là những người giúp cho các thế hệ sau biết rằng nhân loại đã sống, đã đấu tranh, đã chết chóc… như thế nào qua các trận đại dịch. Qua ghi chép của các sử gia, các trận đại dịch hiện lên qua các nguyên nhân, các địa danh, qua số người nhiễm bệnh, số người chết và những hậu quả khốc liệt. Nhưng có những điều mà các sử gia không thể làm được, đó là lột tả tâm tư, tình cảm, số phận, nói lên khát vọng được sống cũng như nỗi tuyệt vọng khi mất mát người thân, nói lên tình yêu thương, sự hy sinh, lòng dũng cảm của con người khi đấu tranh chống lại dịch bệnh. Những điều đó chỉ có các nhà văn, các nhà thơ, những con người với tâm hồn dễ rung cảm, với sự quan sát tinh tế không chỉ của khối óc mà còn của trái tim mới có thể làm được qua những trang viết.
CHỦ ĐỀ DỊCH BỆNH TRONG
VĂN CHƯƠNG THẾ GIỚI
Những trận đại dịch trong
lịch sử nhân loại đã trở thành đề tài sáng tác của nhiều nhà văn. Có khi họ chọn
cách phản ánh trực tiếp, có khi họ chỉ lấy đó làm cảm hứng sáng tạo. Bởi vì những
trận đại dịch không đơn thuần chỉ là dịch bệnh, là nguy hiểm, là sự chết chóc,
mà điều quan trọng hơn cả, trận đại dịch sẽ là sự bộc lộ mọi khía cạnh tính
cách của con người khi đối mặt với tai họa, qua đó vẽ nên chân dung của một thời
đại. Hơn thế nữa, nhà văn xây dựng nhiều tầng ý nghĩa vào trong tác phẩm, gửi gắm
vào tác phẩm cách nhìn nhận cũng như quan niệm của mình về ý nghĩa cuộc sống, đặt
trong bối cảnh đại dịch. Nhiều nhà văn trên thế giới đã viết và để lại cho
chúng ta nhiều tác phẩm văn chương nổi tiếng với đề tài dịch bệnh.
Tuy không trực tiếp viết
về dịch bệnh nhưng tác phẩm “Decameron” (Mười ngày) của nhà
văn Italia Giovanni Boccaccio (1313 – 1375) đã mượn lý do dịch bệnh để dẫn dắt
vào tác phẩm. Tác phẩm được hoàn thành năm 1353, sau này trở thành một tác phẩm
kinh điển của văn học Italia và thế giới. Mở đầu bằng nguyên nhân vì phải né
tránh căn bệnh dịch hạch ở thành phố Firenze (còn gọi là Florence trong tiếng
Anh và tiếng Pháp), 3 chàng trai và 7 cô gái đã lui về ở ẩn trong một tòa lâu
đài ở vùng nông thôn. Để giải trí, họ đã lần lượt kể 100 câu chuyện cho nhau
nghe trong vòng mười ngày. Dịch bệnh chỉ là cái cớ để cho Boccaccio thể hiện
tinh thần nhân văn, đề cao giá trị con người của thời Phục Hưng trong tác phẩm.
Những câu chuyện trong tác phẩm “Mười ngày” với những nội dung
phong phú như: miêu tả các mối tình vượt lên trên lễ giáo, đả phá giai cấp quý
tộc phong kiến, đả phá Giáo hội Công giáo, đề cao vai trò của tầng lớp thương
nhân… đã khiến cho tác phẩm được nhà văn hóa Hữu Ngọc đánh giá trong “Lời nói đầu”
của bản dịch tiếng Việt: “Mười ngày” được coi là “Tấn tuồng
đời” đầu tiên trong văn học châu Âu và được nhiều nhà văn thế kỷ sau bắt chước.
Boccaccio có công xây dựng văn xuôi và văn học Ý, mở đầu truyền thống truyện ngắn
hiện thực ở châu Âu.” (Giovanni Boccaccio. “Mười ngày”. Thiều Quang,
Đào Mai Quyên dịch. NXB Văn học, 2000. Lời nói đầu của Hữu Ngọc).
Daniel Defoe (1660 –
1731), tên thật là Daniel Foe, là nhà văn, nhà báo, nhà kinh tế học xuất sắc
người Anh. Chúng ta biết nhiều đến tên tuổi của ông qua cuốn tiểu thuyết phiêu
lưu nổi tiếng “Robinson Crusoe” (xuất bản năm 1719), nhưng có
lẽ ít ai biết rằng Daniel Defoe đã viết một tác phẩm về căn bệnh dịch hạch từng
tàn phá thành phố London vào năm 1665 – 1666, làm chết khoảng 100.000 ngàn người,
chiếm khoảng 15% dân số London lúc đó. Tác phẩm có tên là “A Journal Of The
Plague Year” (Nhật ký năm dịch hạch), được xuất bản lần đầu năm 1722, do
tác giả viết dựa trên những ghi chép của một người chú, tên là Henry Foe sống
trong thời gian căn bệnh dịch hạch hoành hành ở London. Do vậy tác phẩm được
đánh giá là có tính chân thực cao. Nhân vật chính là một người đàn ông đã quyết
định ở lại London trong thời kỳ dịch bệnh và chọn cách quan sát tất cả mọi chuyện
diễn ra xung quanh mình. Nhà văn khiêm tốn kết thúc tác phẩm bằng những
câu: “I can go no farther here. I should be counted censorious,
and perhaps unjust, if I should enter into the unpleasing work of reflecting,
whatever cause there was for it, upon the unthankfulness and return of all
manner of wickedness among us, which I was so much an eye-witness of myself. I
shall conclude the account of this calamitous yeartherefore with a coarse but
sincere stanza of my own, which I placed at the end of my ordinary memorandums
the same year they were written:
A dreadful plague in
London was
In the year sixty-five,
Which swept an hundred
thousand souls
Away; yet I alive!” (Daniel
Defoe. “A Journal Of The Plague Year”.
Ebook. https://www.gutenberg.org/ebooks/376. Trang 670, 671. Truy cập ngày
18.11.2020)
(Tạm dịch: Tôi không thể
đi xa hơn ở đây. Tôi được coi là người nghiêm túc và có lẽ sẽ không công bằng nếu
như tôi không làm công việc phản ánh lại sự thật, dù rằng nó chẳng dễ dàng gì.
Bởi vì tôi đã chứng kiến những điều không thể tưởng tượng nổi, cũng như sự trở
lại độc ác của dịch bệnh đối với chúng ta, do đó tôi sẽ kết thúc những lời tường
thuật về năm tai họa này bằng một khổ thơ có lẽ hơi thô nhưng là sự chân thành
của riêng tôi, mà tôi luôn đặt ở cuối những bản ghi chép của tôi:
Một trận dịch hạch đáng sợ
ở London
Vào năm sáu mươi lăm
Đã cuốn trôi trăm ngàn
linh hồn
Đi xa; vậy mà tôi còn sống!)
Tác phẩm “Nhật ký
năm dịch hạch” của Daniel Defoe có thể được xem là tác phẩm văn chương
vào hàng sớm nhất trên thế giới lấy đề tài từ dịch bệnh và trực tiếp miêu tả dịch
bệnh. Chính tác phẩm này đã khiến cho nhà văn nổi tiếng người Colombia được giải
Nobel năm 1982 Gabriel Garcia Marquez chắp bút chuyển thể thành kịch bản bộ
phim Mexico cùng tên của đạo diễn Felipe Cazals. Cuốn tiểu thuyết này cũng gợi
nên cảm hứng cho hai cuốn tiểu thuyết khác thời hiện đại. Năm 1988, cuốn tiểu
thuyết gần như lấy cùng tên gọi “Journal Of The Plague Years” (Nhật
ký những năm dịch hạch) mang tính chất châm biếm của Normand Spinrad kể về căn
bệnh AIDS ra đời. Năm 1999 xuất hiện cuốn tiểu thuyết “Plague Journal” (Nhật
ký bệnh dịch hạch) của Michael D. O’Brien, trong đó nhân vật chính tự nói đùa
mình là một Daniel Defoe của thời hiện đại.
Mary Shelley (1797 –
1851) là nhà văn nữ người Anh nổi tiếng không chỉ vì là vợ của nhà thơ lãng mạn
Percy Bysshe Shelley mà còn vì là người sáng tạo ra một nhân vật đi vào lịch sử
văn hóa đại chúng: quái nhân Frankenstein và được coi là một trong những người
mở đầu cho dòng văn học kinh dị. Nhưng một tác phẩm được đánh giá là không kém
phần xuất sắc của bà chính là tiểu thuyết giả tưởng “The Last Man” (Người
đàn ông sống sót cuối cùng) xuất bản năm 1826, kể về một trận đại dịch lan khắp
thế giới làm cho nhân loại diệt vong vào năm 2092, tức là vào thế kỷ XXI. Trong
trận đại dịch ấy, nhân vật chính là một học giả, vốn xuất thân là một người
chăn cừu, cũng là người sống sót cuối cùng của nhân loại đã quyết định viết một
cuốn sách dành tặng cho những người đã khuất, cho dù anh ta hiểu rằng không còn
độc giả nào có thể đọc nó nữa. Có thể thấy Mary Shelley đã có những tiên cảm và
dự báo phi thường về trận đại dịch của nhân loại 200 năm sau. Nếu với tác phẩm “Frankenstein”, nữ
nhà văn đã miêu tả sự ra đời của một quái nhân nhờ vào sự chắp nối các bộ phận
cơ thể con người và chính điều đó đã dẫn đến thảm kịch, thì với tác phẩm “Người
đàn ông sống sót cuối cùng”, bà đã nói đến sự đổ vỡ của cả một nền văn minh
toàn cầu, bị chia rẽ, tan rã bởi dịch bệnh. Có lẽ lời cảnh báo của Mary Shelley
vẫn mang tính thời sự nóng bỏng trong thời đại của chúng ta.
Tiếp sau Mary Shelley có
thể kể đến một nhà văn người Mỹ cũng nổi tiếng không kém với những tác phẩm có
tính chất kinh dị và trinh thám. Đó là Allan Edgar Poe (1809 – 1949). Truyện ngắn “The
Mask Of The Red Death” (Mặt nạ tử thần đỏ) miêu tả sự rùng rợn của căn
bệnh dịch đã khiến cho không chỉ người nghèo chết mà người giàu có, thượng lưu
cũng không tránh khỏi. Tử thần đỏ xuất hiện trong buổi dạ hội xa hoa, linh đình
của giới nhà giàu và lấy đi mạng sống của từng người. Trước dịch bệnh, chúng
sinh đều bình đẳng.
Đầu thế kỷ XX nhà văn Mỹ
Jack London (1876 – 1916), rất thành công với những tác phẩm như “Tiếng
gọi nơi hoang dã”, “Tình yêu cuộc sống”, “Nanh trắng”, “Sói biển”… Những
thành công này khiến người ta ít chú ý đến một tác phẩm tiểu thuyết viết về dịch
bệnh của nhà văn, mang nhan đề là “The Scarlet Plague” (Dịch bệnh
màu đỏ), xuất bản năm 1912, cũng mang tính tiên tri đúng với thời đại của chúng
ta ngày nay. Tiểu thuyết kể về trận đại dịch bắt đầu từ năm 2013, xóa sạch phần
lớn dân số trên thế giới, từ người giàu đến người nghèo, từ đất nước hùng cường
đến đất nước lạc hậu. Một vị giáo sư từng dạy ở đại học Berkeley vì nhờ trốn
trong khoa Hóa khi bệnh dịch bùng phát và trở nên miễn dịch. Tác phẩm kể về thời
điểm năm 2073, khi nền văn minh tiên tiến không còn, vị giáo sư trở thành một
ông già chăn cừu, mặc tấm áo da thú, vừa kể cho những cậu bé sống hoang dã, nói
bằng ngôn ngữ gần giống loài thú, nghe câu chuyện về dịch bệnh, vừa ngậm ngùi
ngắm nhìn thành phố San Francisco ngày xưa đông đúc nhộn nhịp nay trở thành nơi
chó sói sinh sống cùng với những con người trở lại thời tiền sử man rợ. Thế
nhưng trong tuyệt vọng vẫn có những niềm hy vọng. Vị cựu giáo sư đã quyết định
dành phần đời còn lại của mình để trở thành người thủ thư lưu giữ những cuốn
sách, dù ông là người biết đọc duy nhất còn sống, với niềm tin tưởng mãnh liệt
rằng một ngày nào đó, loài người sẽ lại học cách đọc lần nữa. Tiểu thuyết “Dịch
bệnh màu đỏ” của Jack London còn chứa đựng những chi tiết tiên tri
chính xác làm độc giả ngày nay giật mình, chẳng hạn ông viết rằng đến năm 2010,
trái đất có tám tỉ người.
Năm 1947 kiệt tác tiểu
thuyết “La Peste” (tiếng Pháp) hay “The Plague” (tiếng
Anh) (Dịch hạch) của nhà văn, nhà triết học hiện sinh người Pháp gốc Algeria
Albert Camus (1913 – 1960) ra đời, gây ra một tiếng vang lớn trên thế giới.
Đúng 10 năm sau, năm 1957, Albert Camus được giải Nobel văn chương bởi vì những
tác phẩm của ông được đánh giá là đã đưa ra ánh sáng những vấn đề lương tâm và
phẩm giá của con người trong thời đại mà ông đang sống. Có một số nhà nghiên cứu
cho rằng tác phẩm là sự phản ánh chiến tranh thế giới thứ hai vừa chấm dứt, một
cuộc chiến giống như một đại dịch gieo rắc bóng đen xuống toàn nhân loại. Nhưng
không chỉ dừng ở đó, tác phẩm thông qua trận dịch hạch ở Oran, một thành phố
bên bờ Địa Trung Hải của Algeria, đã khắc họa cuộc đấu tranh của những con người
chống lại dịch bệnh, với chân dung đa dạng của những con người. Khi đối mặt với
dịch bệnh họ làm gì? Có người hoang mang, sợ hãi, tuyệt vọng; có người tìm những
thú vui để lãng quên sự lo âu; có người tìm cách kiếm lợi trong đại dịch khi
thành phố bị phong tỏa; nhưng cũng có những con người như bác sĩ Rieux, linh mục
Paneloux, nhà báo Rambert… đã tìm mọi cách để cứu giúp con người trong dịch bệnh.
Cuối cùng dịch bệnh được đẩy lui, tuy nhiên tinh thần cảnh giác của con người vẫn
còn đó. Với tinh thần triết học hiện sinh, “Dịch hạch” cũng là
nơi để Albert Camus đưa ra những lý giải của mình bằng văn chương những khái niệm
của chủ nghĩa hiện sinh như “sự hư vô”, “cái phi lý của cuộc đời”, “sự xa lạ của
tha nhân”, “sự dấn thân của con người”… Cho đến ngày nay, khi đọc lại “Dịch
hạch”, chúng ta vẫn tâm đắc với câu viết của Albert Camus ở gần cuối tác phẩm: “Bài
học rút ra được giữa lúc gặp tai họa là trong con người, có nhiều điều đáng
khâm phục hơn là đáng khinh ghét.” (Albert Camus. Dịch hạch.
Nguyễn Trọng Định dịch. NXB Văn học, Hà Nội, 2002, trang 428).
Năm 1982, nhà văn
Colombia Gabriel Garcia Marquez (1927 – 2014) đạt giải Nobel văn chương, đến
năm 1985 ông cho xuất bản tác phẩm “Love In The Time Of Cholera” (Tình
yêu thời thổ tả) và tiếp tục gây được tiếng vang. Cuốn sách được dựng thành
phim năm 2007 do nam diễn viên nổi tiếng người Tây Ban Nha Javier Bardem và nữ
diễn viên người Ý Giovanna Mezzogiorno thủ vai.Tiểu thuyết kể về một đôi tình
nhân già Florentino và Fermina vốn yêu nhau từ thời trẻ nhưng không lấy được
nhau vì những định kiến xã hội. Ở độ tuổi ngoài bảy mươi, họ gặp lại nhau, nối
lại tình yêu nhưng vẫn không vượt qua những định kiến, để rồi cùng nhau lên một
con tàu có cắm lá cờ vàng, dấu hiệu có người mắc bệnh thổ tả, chạy tới chạy lui
trên dòng sông không có bến đậu. “Tình yêu thời thổ tả” sử dụng
căn bệnh dịch tả như là những điểm nhấn trong tác phẩm, tạo ra sự tiến triển của
cốt truyện và cũng dùng căn bệnh này như một ẩn dụ để kết thúc tác phẩm. Tác phẩm
từng được tờ thời báo “The New York Times” đánh giá là một
trong những thiên tình sử đẹp nhất mọi thời đại với nhận định cùng với vở kịch “Romeo
và Juliet” của đại văn hào Anh William Shakespeare, thì “Tình
yêu thời thổ tả” là câu chuyện tình lớn nhất cho đến nay được kể ra.
Nói về một tình yêu tưởng là có hậu sau rất nhiều những thăng trầm, biến cố
trong cuộc đời của hai nhân vật chính, nhưng cuối cùng, họ vẫn phải nhờ vào căn
bệnh dịch tả để che chở cho quyền được yêu, được sống với nhau. Rõ ràng đây là
một bi kịch khi mà đến cuối đời, cùng với tình yêu, họ vẫn phải đối diện với sự
bất an, vô định và phải tìm cách chạy trốn thực tại như hơn năm mươi năm về trước.
Mười năm sau khi tác phẩm “Tình
yêu thời thổ tả” của Marquez ra đời, nhà văn Bồ Đào Nha José Saramango
(1922 – 2010) cho xuất bản tác phẩm “Blindness” (Mù lòa) vào năm
1995. Năm 1998, ông đạt giải Nobel văn chương và năm 2008, tác phẩm này được
chuyển thể thành phim với những ngôi sao tên tuổi như Julianne Moore, Mark
Ruffalo… Lấy bối cảnh căn bệnh dịch mù lòa xảy ra đến với mọi người trong một
thành phố, nhà văn miêu tả một xã hội hiện đại với một giọng điệu siêu thực, đa
nghĩa, hài hước và đầy ẩn dụ. Khi mà con người làm mọi cách để sinh tồn khi nền
văn minh sụp đổ, không từ một tội ác nào, thì nhân vật nữ chính, vợ ông ác sĩ
nhãn khoa, người duy nhất không bị mù trở thành điểm sáng trên cái nền đen tối
của khung cảnh xã hội. Bà đã đứng ra giúp đỡ, lèo lái một nhóm người để chống lại
cái ác, cái xấu, nhân danh tình yêu thương và sự đồng cảm. Lời đề từ của tác phẩm
là “Nếu ngươi có thể thấy, hãy nhìn. Nếu ngươi có thể nhìn, hãy quan
sát” chính là sự tóm tắt những triết lý mà Saramango muốn nói với độc
giả. Từ thấy đến nhìn và từ nhìn đến quan sát, đó không chỉ là thái độ mà còn
là nhận thức của con người đối với thực tại quanh mình, cũng là sự thể hiện
tinh thần nhân bản của con người.
Trong thế kỷ XX còn rất
nhiều tác phẩm của các nhà văn viết về đề tài dịch bệnh. Có thể kể đến những
tác phẩm nổi tiếng như “Pale Horse, Pale Rider” (Ngựa nhợt nhạt,
kỵ sĩ nhợt nhạt) xuất bản năm 1939 của nhà văn nữ Katherine Anne Porter viết về
dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918; “The Andromeda Strain” (Vi khuẩn
từ chòm sao Tiên Nữ) xuất bản năm 1969 của Michael Crichton, tác giả viết truyện
giả tưởng, phiêu lưu nổi tiếng của Mỹ; “The Stand” (Chiến đấu)
xuất bản năm 1978 của ông vua truyện kinh dị người Mỹ Stephen King; “Beauty
Salon” (Thẩm mỹ viện) của Mario Bellatin xuất bản năm 1994… Gần đây
cùng với sự bùng nổ của đại dịch SARS-CoV-2, nhiều người nhắc đến cuốn tiểu
thuyết viễn tưởng kinh dị “The Eyes Of Darkness” (Đôi mắt của
bóng tối) của nhà văn Dean Koontz người Mỹ xuất bản năm 1981. Nội dung cuốn tiểu
thuyết kể về một loại virus trở thành vũ khí sinh học, có xuất xứ từ Vũ Hán,
Trung Quốc, được đặt tên là Wuhan-400. Cũng nhân dịp đại dịch này, nhiều tờ
báo, trang web nước ngoài đã liệt kê các danh sách bình chọn 37, 20, 16, 8, 7,
5… tác phẩm hay nhất viết về dịch bệnh từ xưa đến nay.
Trong những năm đầu thế kỷ
XXI, đề tài dịch bệnh vẫn là một đề tài thu hút các nhà văn từ phương Tây đến
phương Đông. Năm 2005, nhà văn Trung Quốc Diêm Liên Khoa cho xuất bản cuốn tiểu
thuyết “Đinh Trang mộng”, được dịch ra tiếng Việt năm 2019, được
xem là tiểu thuyết viết về bệnh AIDS đầu tiên của Trung Quốc. Hậu quả của việc
bán máu tràn lan, vô tổ chức, mất vệ sinh để thoát nghèo là căn bệnh AIDS lây
nhiễm lan tràn, trở thành thảm họa của dân chúng trong vùng. Nhưng tai họa
không phải xuất phát từ căn bệnh AIDS mà tai họa xuất phát từ sự tha hóa nhân
tính con người. Tác phẩm lột trần “quốc dân tính” Trung Hoa, điều mà nhà văn Lỗ
Tấn từng nói đến gần một trăm năm trước. Chính vì khắc họa rõ nét bộ mặt “người
Trung Quốc xấu xí” mà Diêm Liên Khoa đã phải rơi lệ và xin lỗi bạn đọc vì kể
cho họ nghe một câu chuyện quá đỗi buồn thảm và đau đớn.
Năm 2010, nhà văn nữ Hàn
Quốc Pyun Hye Young cho xuất bản tác phẩm “Tro tàn sắc đỏ”, đã
được dịch ở Việt Nam năm 2017. Nội dung tiểu thuyết kể về sự mắc kẹt và bế tắc
của một công dân không có tên được cử sang công tác ở một nước C nào đó và chìm
vào sự cách ly dài không lối thoát, trong dịch bệnh, chuột và rác rưởi. Anh ta
nhận ra sự vô nghĩa, mơ hồ của cuộc đời mình. Phảng phất ảnh hưởng của nhà văn
Frank Kafka trên từng trang viết khi nhân vật không có tên, quốc gia anh ta đến
chỉ là một chữ cái C ẩn dụ và kiểu nhân vật “vô tăm tích” với chính dòng chảy
cuộc sống. Jeong You Jeong, một nhà văn nữ Hàn Quốc khác viết tác phẩm “28” xuất
bản năm 2013, kể về 28 ngày thành phố Hwa Yang lây lan và chiến đấu với bệnh dịch
mắt đỏ gây chết người, lây nhiễm chéo từ chó sang người rồi từ người sang chó.
Cuốn tiểu thuyết không chỉ đề cập đến số phận con người mà còn đề cập đến những
con chó, nguồn lây nhiễm và cũng là nạn nhân của dịch bệnh, qua đó không chỉ
làm người đọc xót xa trước sự vô nhân đạo của con người mà còn làm nhói lòng những
người yêu động vật.
Trong những năm gần đây
còn có thể kể đến các tác phẩm như “The Last Town On Earth” (Thị
trấn cuối cùng trên trái đất) của Thomas Mullen xuất bản năm 2006, nói về đại dịch
cúm năm 1918; “Nemesis” (Báo ứng) của nhà văn Mỹ Phillip Roth
xuất bản năm 2010 viết về dịch sốt bại liệt; “Year One” (Năm
thứ nhất) của Nora Robert xuất bản năm 2017 nói về dịch bệnh và sự đào thoát của
con người ra khỏi thành phố New York… Đặc biệt trong thời gian làm đại sứ
Italia tại Việt Nam từ năm 2010 – 2015, nhà ngoại giao, nhà văn Lorenzo
Angeloni đã viết tác phẩm “Vùng cách ly” được dịch ra tiếng Việt
năm 2017, nói về dịch bệnh SARS lấy cảm hứng từ những ngày ông chứng kiến thực
tế ở bệnh viện Việt – Pháp ở Hà Nội chống chọi với dịch bệnh này năm 2003. Đặc
biệt tác phẩm “Nhật ký Vũ Hán” của nhà văn nữ Trung Quốc
Phương Phương kể chân thực những ngày thành phố Vũ Hán bị phong tỏa, đã tạo ra
những luồng dư luận trái chiều ở Trung Quốc khi bà công bố nhật ký trên mạng xã
hội Weibo và sau đó cho xuất bản ở nước ngoài bằng nhiều ngôn ngữ như Anh,
Pháp, Đức… Hiện nay “Nhật ký Vũ Hán” của nhà văn Phương Phương
bị chặn trên các trang mạng Trung Quốc và bị cấm công bố. Tuy nhiên ở Việt Nam
đã dịch tác phẩm “Vũ Hán – Nhật ký phong thành” của nhà văn nữ
Trung Quốc Quách Tinh, cũng có nội dung kể về 76 ngày Vũ Hán bị phong tỏa.
Như vậy, điểm qua sơ lược
một số tác phẩm văn học nổi tiếng viết về dịch bệnh, chúng ta đều nhận thấy các
tác phẩm này đều có những điểm chung: đó là phản ánh thực tại và tương lai khốc
liệt, nguy hiểm của con người khi dịch bệnh hoành hành, từ đó cất lên tiếng nói
cảnh báo cho nhân loại hãy cảnh giác trước những tai họa và tìm cách phòng ngừa
trước khi quá muộn để cứu vớt nền văn minh không bị đổ vỡ. Nhưng sâu xa hơn,
thông qua những số phận con người vùng vẫy trong đại dịch, các nhà văn gửi gắm
vào đó nhiều thông điệp có ý nghĩa về giá trị đạo đức, về nhân cách, về tình
yêu thương, sự dũng cảm của những cá nhân, từ đó nhấn mạnh sự quan trọng của
tinh thần nhân văn và sự nhân đạo, điều sẽ cứu vớt con người trong đại dịch.
NHÀ VĂN VIỆT NAM VIẾT GÌ
TRONG THỜI ĐẠI DỊCH BỆNH?
Phải nói ngay rằng thời
gian dịch bệnh kéo dài cũng là một cơ hội cho các tác giả chuyên và không
chuyên sáng tác văn chương. Chúng ta thấy rằng riêng về thơ, đã xuất hiện không
biết bao nhiêu tác phẩm, đặc biệt là những tác phẩm được lan truyền trên mạng
xã hội Facebook, gây ra nhiều cuộc tranh luận về chất lượng của chúng. Những
người sáng tác thuộc nhiều thành phần đa dạng với nhiều nghề nghiệp khác nhau,
từ có danh đến vô danh, từ những lãnh đạo cho đến người dân thường, và thường
thì gây tranh luận sôi nổi xung quanh chuyện hay/dở.
Thực tế cho thấy rằng thời
gian qua, đã có những tác phẩm của các tác giả Việt Nam viết về đại dịch
SARS-CoV-2. Nhưng phải nhận xét rất không vui là dường như chưa có nhiều tác giả
đã thành danh từ lâu viết về đề tài này. Đây có lẽ là cơ hội để cho nhiều tác
giả mới xuất hiện và với khả năng chuyên môn của mình, từ sự trải nghiệm thực tế
của bản thân, họ đã cho xuất bản những cuốn sách có nội dung thu hút độc giả.
Có thể kể đến cuốn sách ký họa “Con đã về nhà – I’m home” của
một du học sinh tại Anh là Nguyễn Tăng Quang, in những bức họa tác giả vẽ trong
thời gian cách ly. Sách in bằng song ngữ Anh – Việt, kèm những chú thích
chi tiết với giọng điệu hài hước, dễ thương, tạo không khí tích cực cho người đọc.
Tác giả trẻ Dy Khoa cho ra mắt cuốn sách mang tính chất tự truyện “Đi
qua hai mùa dịch” kể về chính những trải nghiệm của bản thân khi 11
năm trước anh từng là bệnh nhân nhiễm cúm A H1N1 và đang trải qua những ngày
cách ly xã hội bởi đại dịch SARS-CoV-2. Tương tự như vậy là cuốn “Nhật
ký mùa dịch”, tập hợp những bài viết của những con người có thật đang đối mặt
với đại dịch. Họ là các bác sĩ Phan Minh Phương, Trang Phương Trinh, nhà văn
Trung Sỹ, đại tá – nhà báo Nguyễn Tuấn, nữ người mẫu Võ Hoàng Yến… và rất nhiều
người là các y bác sĩ, du học sinh, công dân Việt Nam trở về nước, những bậc phụ
huynh có con sống trong vùng dịch, những người đang kẹt ở nước ngoài chưa về được…
Hiện nay sách mới có định dạng ebook và phát hành trên iPub, chưa phát hành
phiên bản sách giấy.
Cũng mang tính chất tự
thuật nhưng chất chứa nhiều cảm xúc là cuốn sách “Cùng bay về tâm dịch” của
Trương Văn Dân và nhiều tác giả. Nhà văn Trương Văn Dân là người đã kịp rời Việt
Nam trên chuyến bay gần như cuối cùng và đi vòng vèo 2 ngày mới về đến thành phố
Milano nước Ý, nơi tâm dịch bùng phát dữ dội nhất, nhưng cũng là nơi có người vợ
Ý Elena Pucillo đang chờ. Tình yêu có sức mạnh phi thường vượt qua dịch bệnh và
chính tình yêu ấy đã trở thành nguồn cảm hứng cho hai vợ chồng nhà văn Trương
Văn Dân, Elena Pucillo và bạn bè cùng viết nên những lời kể chuyện và tâm tình
trong mùa dịch.
Một cuốn sách mang tính
chất tự truyện là tác phẩm “Mắt kẹt” của Phương Thu Thủy, kể về
những ngày mắc kẹt trên đất Mỹ không về Việt Nam được. Cho đến nay đã 9 tháng,
cô gái ấy vẫn còn ở lại Mỹ. “Mắc kẹt” là những lời tự sự chân
thành ấm áp về tình người cũng như những lời kể về một nước Mỹ hùng mạnh, đa
văn hóa, đa dân tộc, nay oằn mình chống chọi với dịch bệnh. Tuy là “mắc kẹt”
nhưng chính nhờ những ngày “mắc kẹt” này mà tầm mắt của tác giả được rộng mở
thêm nhiều, được đón nhận tình yêu thương, sự trìu mến, cũng như học được thêm
tinh thần lạc quan, sự thích nghi với hoàn cảnh.
Trái ngược với tác phẩm “Mắc
kẹt” của một tác giả trẻ kể về những ngày mắc kẹt trên đất Mỹ, TS tâm
lý học Cù Thu Hương cho ra mắt tác phẩm “Paris + 14” kể về những
ngày đất nước Pháp chao đảo trong dịch bệnh và quyết định quay về Việt Nam của
chị để được tận hưởng bầu không khí ấm áp, bảo bọc của quê hương. Tác phẩm
không chỉ nói về nước Pháp mà còn kể về 14 ngày cách ly tại Việt Nam với những
gì mắt thấy tai nghe sinh động của hiện thực cuộc sống
Kỷ lục trong việc sáng
tác có lẽ thuộc về tác giả Bùi Quang Thắng với tác phẩm “Những ngày
cách ly”, một tiểu thuyết hư cấu có lẽ là duy nhất cho đến nay có đề tài
nói về dịch bệnh SARS-CoV-2. Tác giả cho biết đã viết và hoàn thành cuốn tiểu
thuyết này trong 12 ngày. Nội dung tác phẩm xoay quanh câu chuyện gia đình ông
bà Trương và con gái Hoàng Cúc cùng nhiều nhân vật khác. Tác giả đặt ra vấn đề:
các nhân vật đã đối mặt với những ngày cách ly như thế nào, đã suy nghĩ, chiêm
nghiệm và nhận ra những gì là cần thiết với họ khi phải đối mặt với những thử
thách chưa từng trải qua?
Tác giả Đinh Hồng Hải với
tác phẩm mang màu sắc bút ký “Thiên đường và địa ngục – Ghi chép trong
đại dịch Coronavirus” kể về những suy nghĩ và cảm nhận của bản thân
trong những ngày trải qua dịch bệnh với điểm nhìn quy chiếu từ nước Mỹ và thực
tế đời sống ở Hà Nội. Tác phẩm cung cấp nhiều tư liệu giá trị nhưng lối viết
không hề khô khan mà ngược lại giàu chất suy ngẫm, làm cho người đọc thấy dễ
dàng đồng cảm.
Một cuốn sách gần đây gây
tiếng vang là tác phẩm “Để yên cho bác sĩ “hiền” – Nhật
ký Covid và những chuyện chưa kể” của bác sĩ Ngô Đức Hùng,
thường được các công dân mạng biết đến dưới biệt danh “bác sĩ Húng Ngò”. Bằng lối
kể chuyện duyên dáng, hóm hỉnh, nhân hậu nhưng đậm chất khoa học, bác sĩ Ngô Đức
Hùng đã thu hút được một lượng lớn độc giả yêu thích lối viết và những kiến thức
khoa học của anh cùng với những mẩu chuyện tưởng là bên lề nhưng lại mang ít
nhiều ý nghĩa nào đó trong thời đại dịch bệnh này.
Viết về dịch bệnh không
chỉ có những tác giả và tác phẩm này, mà còn có nhiều tác giả và tác phẩm khác.
Tuy nhiên, những tác phẩm nêu ở trên được công chúng chú ý hơn cả. Mặt khác,
nhiều đơn vị, cơ quan, tờ báo… nhanh nhạy đã tổ chức các cuộc thi viết về dịch
bệnh do virus SARS-CoV-2. Báo “Quân đội nhân dân” tổ chức mở
chuyên mục “Nhật ký Đối mặt Covid-19” và phát động Cuộc thi viết “Nhật ký Đối mặt
Covid-19” trên báo “Quân đội nhân dân Điện tử” và báo in hằng ngày.
Cuộc thi có nội dung kể về những tấm gương người thật, việc thật trong mùa dịch
bệnh. Ban Dân vận Thành ủy TPHCM phối hợp Ban Tuyên giáo Thành ủy tổ chức Cuộc
thi viết “Tình người nơi tuyến đầu phòng, chống dịch Covid-19”. Báo “Thanh
niên” tổ chức Cuộc thi viết “Vượt qua Covid-19”. Công ty sách Nhã Nam
tổ chức cuộc thi viết “Ở nhà kể chuyện Covid”… và còn rất nhiều cuộc thi ở các
cấp độ diễn ra trên khắp Việt Nam. Do vậy chúng ta có quyền trông chờ vào những
tác phẩm sẽ ra đời và phản ánh được mọi phương diện của một giai đoạn dịch bệnh
khắc nghiệt trong thời đại chúng ta.
Trong khi đó, văn học dân
gian đương đại lại phát triển vô cùng rầm rộ theo kiểu phong trào với hàng loạt
những câu chuyện vui, nhại thơ, nhại vè, nhại tiếng hề chèo: “Loa, loa, loa,
loa/ Chiềng làng chiềng chạ/ Thượng hạ tây đông/ Phụ nữ đàn
ông/ Đồng lòng chống dịch/ Tạm dừng sở thích/ Đừng đi du lịch/
Hãy ở một nơi/ Đừng ra khỏi ngõ/ Ở đâu
yên đó/ Đừng có đi xa/ Vi rút cô na/ Vô
nhà thì khốn”… hay những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao mới
như “Phát xít như Covid”, “Nghe tiếng ho lo hơn nghe tiếng súng”, “Tiếng
hát át tiếng ho”; “Chống giặc thì phải xông pha/ Chống dịch
thì phải ngồi nhà nhớ không?”, những bài hịch như “Hịch
toàn quốc kháng dịch Covid” và những câu ca dao có tính ỡm ờ thanh tục như:
Chưa đi chưa biết
Vân Đồn
Đi thì phải nhớ dùng
cồn mà xoa
Những nơi lắm bướm nhiều
hoa
Nhớ mang một lọ mà xoa
cái cồn
Nhà văn dấp dính tâm
hồn
Chỗ nào cũng nhớ dùng
cồn mà xoa.
Mạng xã hội cũng là cơ hội
để cho những sáng tác văn học dân gian đương đại bùng bổ nhưng bên cạnh đó nền
văn học viết mang tính chính thống của chúng ta còn chậm một bước khi chưa có
nhiều tác phẩm phản ánh kịp thời đại dịch và được độc giả đón nhận. Trong khi
đó sự sinh sôi nảy nở của phong trào thơ ca, đặc biệt là trên mạng xã hội của rất
nhiều cây bút không chuyên, dù viết hay hay là dở đều gây được sự thích thú,
chú ý của đông đảo công chúng. Mặt khác, các lĩnh vực nghệ thuật như nhiếp ảnh,
hội họa, âm nhạc… đều gây được gây được tiếng vang với nhiều tác phẩm ấn tượng,
thu hút sự quan tâm của công chúng. Trong tình hình ấy, chúng ta không thể đặt
ra câu hỏi: Các nhà văn, nhà thơ đang ở đâu? Họ có đang nung nấu và viết ra những
sáng tác phản ánh được giai đoạn đặc biệt này của lịch sử không?
Câu trả lời ấy tôi xin
dành cho những nhà văn, nhà thơ Việt Nam, những người còn đang và sẽ sáng tác,
dù là chuyên nghiệp hay không chuyên.
8/10/2021
Hà Thanh Vân
Theo
https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét