Bằng chứng về thói tự thị
của một người hay chữ lỏng
Nhân đọc đoạn văn bà Thụy Khê phê bình tôi trong sách Phê bình văn học thế kỷ XX, NXB Hội Nhà văn, 2017.
Cuốn sách Phê
bình văn học thế kỷ XX của Thụy Khuê, NXB Hội Nhà văn 2017, là một cuốn
sách được đón chào rôm rả. Tôi được tặng một cuốn, đọc qua các bài viết về trường
phái hình thức Nga và về Bakhtin, tôi biết bà chưa nắm vấn đề. Tôi cũng không hứng
thú bàn về cuốn sách này. Nhưng ở chương 4, bàn về “Phê bình phân tâm học của
Freud”, bà có nhã ý phê bình và dạy tôi một bài học. Toàn văn đoạn bà phê bình
tôi như sau:
“Nhưng đáng buồn nhất là
hiện tượng hiểu sai phân tâm học Freud, hiểu sai phê bình phân tâm học của
Freud, mặc dù có sự cảnh báo của Nguyễn Văn Trung, vẫn kéo dài đến ngày nay và
có vẻ còn tô đậm hơn, đưa tới những tuyên bố sai lầm về tình hình phê bình phân
tâm học của Tây phương, như lời sau đây của Trần Đình Sử:
“Phê bình phân tâm học
là một trường phái phê bình rất thịnh hành ở phương Tây ở nửa đầu thế kỉ XX. Sức
ảnh hưởng của nó đối với phê bình văn học phương Tây đương thời có thể nói
không phương pháp phê bình văn học nào sánh được. Cội nguồn của nó không ngoài
phân tâm học của bác sĩ người Áo S. Freud và của nhà tâm lí học phân tích người
Thụy Sĩ là K. Jung (…) Hai lí thuyết này thực sự đã trở thành làn sóng mạnh mẽ,
cuốn theo cả phong trào phê bình văn học phương Tây, làm xuất hiện nhiều tên tuổi
nổi tiếng như Ch. Baudouin, Ch. Mauron, P. Guiraud, G. Bachelard… Theo nhận xét
của P. Guiraud thì “không một nhà phê bình văn học hay nghiên cứu phong cách học
hiện đại nào có tầm cỡ mà không chịu ảnh hưởng của phân tâm học, cũng như lí
thuyết mẫu cổ của Jung thì đó là chỗ dựa của toàn bộ nền phê bình chủ đề học hiện
đại. Từ L. Spitzer đến G. Bachelard (…)”. Quả đúng như thế. Ngay J. P. Sartre
khi nghiên cứu sự hình thành cá tính sáng tạo của Flaubert với phương pháp “vận
động thường xuyên từ tác phẩm đến con người và từ con người đến tác phẩm”, ông
đã chú ý đến lịch sử phát triển thần kinh của nhà văn, mà đặc biệt là cái vô thức
thời thơ ấu” (Trần Đình Sử, “Đỗ Lai Thúy và bút pháp của sự ham muốn”,
in trong tập sách cùng tên, NXB Tri Thức, Hà Nội, 2009, tr.7-8)
Không hiểu tại sao chỉ một
đoạn văn ngắn như vậy mà lại chứa nhiều cái sai như vậy?
Thực ra, phê bình phân
tâm của Freud chưa bao giờ có ảnh hưởng đến độ không phương pháp phê
bình văn học nào sánh được, vì có mấy ai biết đến những bài phê bình của
Freud mà chúng tôi vừa giới thiệu ở trên đâu, trừ một số rất ít người nghiên cứu
văn học.
Baudouin và Mauron, tuy
được coi là hai nhà phê bình phân tâm, cũng không làm việc theo lối Freud, mà họ
chỉ ghép một số khái niệm của Freud, hòa với những lập thuyết khác, để hình
thành lý thuyết văn học của họ và họ cũng không có ảnh hưởng gì lớn trong phê
bình văn học thế kỉ XX.
Spitzer không dính líu gì
đến phân tâm học (xem chương 10, Leo Spitzer).
Tuy phê bình phân
tâm vật chất của Bachelard và phê bình phân tâm hiện
sinh của Sartre, đều có chữ phân tâm, nhưng cũng không
dính dáng gì đến Freud cả, chữ phân tâm này chỉ có nghĩa
là phân tích cặn kẽ (xem chương 13 và 14, về Sartre và
Bachelard).
Riêng Sartre, sự phủ nhận vô
thức của Freud, đã rành rành trong cuốn Hữu thể và Vô thể,
mà chúng tôi vưà trình bày ở trên.
Qua những điều này, ta có
thể rút ra bài học: thà rằng ta không viết gì về Freud, còn hơn là ta viết mà
không đọc ông, hoặc viết theo những những điều “nghe nói”, hoặc trích những tác
giả không rành rẽ vấn đề. Làm như vậy rất hại cho cho những bạn đọc trẻ, bởi vì
ta hướng họ theo những lầm lạc của ta. Sự lầm lẫn về Freud, từ những năm 40 của
thế kỉ trước, tưởng đã đến lúc nên được chấm dứt.” (Phê bình văn học thế kỉ
XX, 2017, tr. 133-134). Đó là toàn văn đoạn bà Thụy Khuê phê bình tôi trong
sách của bà.
Bây giờ tôi xin nêu ý kiến
của tôi.
Trong đoạn văn trên, tôi
chỉ nói về một vấn đề: ảnh hưởng của phân tâm học (cả Freud và
K. Jung) đối với phê bình văn học, chứ không bàn gì liên quan tới bản chất tư
tưởng của Freud, về phê bình của Freud. Tôi không quan tâm, bởi tôi không đi
theo hướng phân tâm học. Sở dĩ tôi đề cập ảnh hưởng này bởi vì tôi đang nói tới
phê bình của Đỗ Lai Thúy. Phân tâm học đã trở thành một trào lưu nghiên cứu,
phê bình văn học của thế kỉ XX, không ai là không thừa nhận. Vào thời điểm đầu
thế kỉ XX thì đúng là không có phương pháp nào sánh được. Cho đến nay, không một
sách nào nói về phê bình văn học thế kỉ XX mà không nhắc đến phê bình phân tâm
học. Từ sách Nhập môn lí luận văn học (University of Minnesota
Press, 1983) của Terry Eagleton đến sách Phê bình văn học thế kỉ
XX (La Critique littéraire au XXe siècle, Belfond, 1987) của
Jean-Yves Tadié năm 1987 và tất cả các sách khác về lịch sử phê bình văn học thế
kỉ XX. Để nói cho gọn, tôi đã lấy ý kiến của Pierre Guiraud mà tôi đã trích rất
dài và có ghi xuất xứ hẳn hoi. Câu đó đã cho thấy phân tâm học đương thời (kể cả
Freud và Jung), từ đầu thế kỉ cho đến những năm 60, 70 không phương pháp phê
bình văn học nào sánh được và trở thành trường phái từ năm 1939. Và từ đấy cũng
đã lan sang nước ta. Xin trích thêm một câu nữa của bà A. Clancier, người
nghiên cứu vai trò của phân tâm học trong phê bình văn học: “Freud đã mở ra những
con đường mới trước phê bình văn học” và bà khẳng định: “về thực chất, hầu
như không còn một nhà phê bình văn học nào mà ít hoặc nhiều không bị
tác động bởi những phát hiện của Freud, mặc dù tác động này không phải
bao giờ cũng trực tiếp, và không phải bao giờ cũng được họ thừa nhận.” (A.
Clancier, Psychanalyse et critique littéraire, Privat, 1973, p. 30,
TĐS nhấn mạnh). Thử hỏi có phương pháp phê bình văn học nào mà thu hút được hầu
hết sự quan tâm của các nhà phê bình văn học đến như vậy? Đến Roland Barthes
trong bài Phê bình là gì (“Qu’est-ce que la critique?”,
trong Essais critiques, Seuil, 1964, pp. 252-257) cũng đã nói: “Có
dòng phê bình phân tâm theo tư tưởng Freud mà đại biểu ưu tú nhất ở Pháp hiện
nay ai cũng thấy là Charles Mauron (những công trình về Racine và Mallarmé).
Nhưng ở đây, giống như phê bình mac-xit, có hiệu quả hơn cả lại hoá ra là nhánh
phân tâm học “ngoại biên” của G. Bachelard”.
Ảnh hưởng ở đây có trực
tiếp, gián tiếp, công khai hoặc không công khai, ít hoặc nhiều. Hiểu đúng là chịu
ảnh hưởng, mà hiểu sai cũng là ảnh hưởng. Tiếp nhận nguyên xi là ảnh hưởng, mà
biến hóa thêm thắt cũng là ảnh hưởng.
Để chứng minh là tôi sai,
bà Thụy Khuê nói rằng trên thế giới rất ít người đọc các bài phê bình của Freud
bà đã giới thiệu. Đó thực là một ngộ nhận lớn. Có ai thực sự nghiên cứu phân
tâm học mà không đọc? Xin bà cho biết chứng cứ?
Để chứng minh tôi sai, bà
cho rằng ông Pierre Guiraud mà tôi trích dẫn là “người không rành rẽ.” Nhưng
xin bà đừng dìm người khác ý kiến với mình, cả Guiraud lẫn Lancier đều được giới
thiệu và nêu tên trong cuốn Phê bình văn học thế kỉ XX của
Jean-Yves Tadié (1987) như là những tác giả phê bình thế kỉ XX. Ông P. Guiraud
là người nghiên cứu phong cách học theo lối thống kê học, là người nêu ra cách
tìm từ chìa khóa để xác định phong cách nhà văn, còn Lancier là người đầu tiên
hệ thống hóa và nghiên cứu về trường phái phân tâm học. Không phải ai cũng được
nhắc tên trong cuốn sách của Tadié đâu. Giữa bà Thụy Khuê và hai nhà học giả
Pháp, dĩ nhiên tôi tin họ hơn bà. Bà Thụy Khuê phủ nhận ý kiến của Guiraud và của
tôi, thì tất nhiên bà phải phủ nhận hết những ai mà tôi đã nêu tên là có chịu ảnh
hưởng của phân tâm học Freud.
Kì cục nhất là Ch.
Baudouin và Ch. Mauron là hai nhà phân tâm học rất nổi tiếng, mà trên kia R.
Barthes đã khen công trình của Ch. Mauron về Racine và Mallarmé, thì bà Thụy
Khuê lại phủ nhận họ là người chịu ảnh hưởng của Freud. Bà lập luận: “Baudouin
và Mauron, tuy được coi là hai nhà phê bình phân tâm, cũng không làm việc theo
lối Freud, mà họ chỉ ghép một số khái niệm của Freud, hòa với những lập thuyết
khác, để hình thành lý thuyết văn học của họ và họ cũng không có ảnh hưởng gì lớn
trong phê bình văn học thế kỉ XX.” Ý của câu này là gì? Là họ không chiụ ảnh hưởng
của Freud chăng? Cách giải thích của bà Thụy Khuê chứng tỏ bà không hiểu thế
nào là ảnh hưởng. Có phải chỉ chuyên học một món Freud mới là chịu ảnh hưởng
đâu, có một chút Freud rồi pha thêm cái khác vẫn là chịu ảnh hưởng. Vậy
tôi nói có sai đâu?
Điều nhận định của bà Thụy
Khuê hoàn toàn trái với Tadié. Hãy giở sách của ông này, ở chương về phân tâm học,
thì sau Freud là đến các mục viết về hai ông này, mỗi ông một mục riêng, đủ thấy
vị trí của họ trong phân tâm học.
Vậy các ông Léo Spitzer
và Gaston Bachelard có chịu ảnh hưởng của phân tâm học không? Rất tiếc khi
trích dẫn lại đoạn văn của tôi, bà Thụy Khuê không biết vì lí do gì mà đã cắt bỏ
đi một đoạn quan trọng của P. Guiraud giải thích vấn đề này như sau: “Từ L.
Spitzer đến G. Bachelard phong cách học phát sinh ít nhiều đều công khai thừa
nhận mối liên hệ của mình đối với phân tâm học, đồng thời phê bình phân tâm học
của Ch. Mauron hoàn toàn dựa trên các mô hình phân tâm học được biểu hiện một
cách lộ liễu.” Câu này cho thấy Spitzer và Bachelard đã thừa nhận có liên hệ ít
nhiều với phân tâm học. Chắc chắn Guiraud có căn cứ khi viết điều này, và ông ấy
sẽ chịu trách nhiệm. Trên kia Roland Barthes cũng đã nói Bachelard là “phân tâm
học ngoại vi”. Trong sách Phân tâm học về lửa (La
Psychanalyse du feu, Gallimard, 1949), Bachelard đã dùng chữ “phân tâm học”
và chữ “mặc cảm”, ông còn viết “mặc cảm Promethéus là mặc cảm Oedipe về mặt
tinh thần” đều là chữ của Freud cả. Theo quan điểm của tôi, trong khoa học,
dùng một chữ của người ta cũng là chịu ảnh hưởng của người ta. Trong khoa học
các nhận định thường thay đổi theo thời gian là lẽ thường, đâu phải lúc nào
cũng chỉ có một chân lí duy nhất, theo kiểu, hễ bà Thụy Khuê đúng, thì ai khác
với bà đều sai? Nếu bà Thụy Khuê có ý kiến khác thì xin mời tranh luận ông với
P. Guiraud trên diễn đàn Pháp. Tôi là người nghiên cứu ở Việt Nam, tôi lại
không chuyên về phân tâm học thì tôi sử dụng tư liệu gián tiếp cũng là chuyện
bình thường.
Vây J.-P. Sartre có chịu ảnh
hưởng của phân tâm học không? Trong bài về Đỗ Lai Thúy tôi đã viết: “J. P.
Sartre khi nghiên cứu sự hình thành cá tính sáng tạo của G. Flaubert với phương
pháp “vận động thường xuyên từ tác phẩm đến con người và từ con người đến tác
phẩm”, ông đã chú ý đến lịch sử phát triển thần kinh của nhà văn, mà đặc biệt
là cái vô thức thời thơ ấu.” Đây là tôi lấy ý kiến của nhà nghiên cứu Nga Z. I.
Khovanskaya trong sách Phân tích tác phẩm văn học trong ngữ văn Pháp hiện
đại (Nxb Đại học, M. 1980, tr. 48). Ở đây đề cập đến tác phẩm L’Idiot
de la famille của Sartre viết vào những năm cuối đời, lúc này ông đã yếu,
đề cập đến ngày thơ ấu của nhà văn G. Flaubert. Bà Thụy Khuê phủ nhận điều này
bằng cách chứng minh rằng trong triết học Sartre đã phủ nhận vô thức. Tôi cho rằng
trong triết học có thể là thế, mà trong nghiên cứu văn học không hẳn như thế.
Con người ta rất phức tạp. Tôi chưa thấy bà Thụy Khuê phân tích tác phẩm này để
bác bỏ, cho nên có thể coi lời phê bình của bà là vô hiệu.
Việc bà Thụy Khuê phủ nhận
hết những người chịu ảnh hưởng của Freud mà tôi nêu sẽ dẫn đến điều gì? Khi bà
cố tình phủ nhận hết những ai chịu ảnh hưởng của Freud thì tất nhiên là sẽ
không có trường phái phân tâm học nào hết mà chỉ có trơ trọi một ông Freud. Những
người Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đã hiểu sai Freud, đến chúng tôi sau này cũng
hiểu sai hết, mà hiểu sai nặng hơn! Chỉ một mình bà Thụy Khê hiểu đúng. (Nhưng
ai đảm bảo bà Khuê hiểu đúng? Qua lối tư duy khoa học ở chương 4 này, thì tôi
hoài nghi khả năng hiểu của bà.) Và do đó trên thế giới, theo cách hiểu của bà,
không hề có trào lưu phê bình phân tâm học, mà chỉ có “Phê bình phân tâm học
của Freud” mà thôi. Đó chính là cái tên của chương 4 trong cuốn sách đồ sộ
của bà Thụy Khuê viết về phê bình văn học thế kỉ XX! Tên chương này thể hiện nhận
thức sai lầm phi khoa học của bà về phê bình phân tâm học. Bởi vì Freud trước hết
là nhà phân tâm học, bác sĩ tâm thần học, ông chưa bao giờ là nhà phê bình văn
học thực sự. Ông nghiên cứu văn học chủ yếu để minh họa cho lí thuyết phân tâm
của ông. Còn các nhà phê bình văn học phân tâm học thì khác, họ vận dụng một số
nguyên lí của ông để giải quyết các vấn đề của bản thân văn học. Đáng lẽ phải
viết về họ thì bà lại bỏ hết họ đi.
Bà còn viết: “Phê bình
phân tâm học của Freud, thực ra, chỉ là môt khuynh hướng rất nhỏ trong phê bình
văn học, nay đã lỗi thời, nhưng vì tên tuổi của Freud và vì hai chữ phân tâm,
nó đã được một số tác giả khuếch trương lên.” Nhận định này hoàn toàn sai.
Ngoài Pháp ra, bà không biết đến các tác giả phân tâm học của các nước khác
trên thế giới. Nhận định của bà trái ngược hết so với các nhà lí luận lớn
trên thế giới. Bà không hiểu khi tiếp nhận Freud, hiểu đúng cũng là chịu ảnh hưởng,
mà hiểu sai cũng là chịu ảnh hưởng. Bà có biết không đọc trực tiếp Freud cũng vẫn
chịu ảnh hưởng của Freud không? Bà có biết lí thuyết nó “du hành” và biến đổi
không?
Hiểu sai cũng không ảnh
hưởng gì, miễn là có sáng tạo, trong khi bà chỉ chăm chăm tìm cách hiểu đúng!
Chỉ có hiểu đúng Freud thì mới chịu ảnh hưởng của ông ta! Đó là cách hiểu kì cục.
Cho nên, chỉ nêu phê bình phân tâm học của Freud là vô nghĩa. Trên thế giới
không có ai đặt một cái nhan đề chương như thế. Nên nhớ rằng sở dĩ Freud được
nhắc đến là vì ông gây ảnh hưởng cho hàng loạt nhà phê bình khác. K. Jung phản
đối Freud cũng là người chịu ảnh hưởng của Freud. Jacques Lacan cũng chịu ảnh
hưởng của Freud. Các nhà phê bình nữ quyền luận như Julia Kristeva, Hélène
Cixous cũng đều chịu ảnh hưởng của Freud. Cả Harold Bloom, cả Jacques Derrida đều
chịu ảnh hưởng của Freud. Phê bình phân tâm học không chỉ có ở Pháp, mà còn có
cả ở Anh, ở Mĩ, ở Nhật và nhiều nước khác trên thế giới. Hẳn bà Thụy Khuê không
biết năm 1924 ở Nhật Bản có sách Biểu tượng của đau khổ của
Kuriyagawa Hakuson (1880-1923), viết theo tư tưởng của Freud, văn học là giấc
mơ ban ngày? Hẳn bà không biết tác phẩm Hamlet và Oedipus của
Ernest Jones ở Anh năm 1954? Và có lẽ bà cũng không biết quyển Postmodern
Psychoanalysis của Norman N. Holland ở Mĩ năm 1990? Thế cho nên bà mới
nói nó là “một khuynh hướng rất nhỏ”. Tư tưởng phân tâm học luôn được hiểu theo
các bình diện mới, cho nên nó không lỗi thời. Người ta không chỉ nghiên cứu về
động cơ sáng tác, cá tính tác giả, mà còn nghiên cứu tác phẩm, nghiên cứu người
đọc. Ấy thế mà khi viết về phê bình văn học thế kỉ XX mà chỉ nói đến phê bình
phân tâm học của một mình S. Freud, phủ nhận cả trào lưu phê bình phân
tâm học trên thế giới thì thử hỏi có khoa học hay không?
Vậy đó, bà Thụy Khuê phê
bình tôi rất nặng nề, tôi không lấy làm điều, bởi tôi gặp lối phê bình này nhiều
lắm rồi. Nhưng chính bà mới là người hiểu sai vấn đề khoa học. Qua việc bà phê
bình tôi, chẳng những không nói được tôi sai, ngược lại đã bộc lộ trình độ hiểu
biết rất hạn chế của bà. Chẳng những thế, bà còn có tham vọng lên tiếng dạy
chúng tôi về thái độ khoa học. Tôi coi đây là một bằng chứng về thói tự thị vô
lối của một kẻ không tự biết mình.
Bà Thụy Khuê viết cuốn
sách này vì thấy “phê bình trong nước còn phôi thai”, muốn đóng góp (dạy) cho lớp
trẻ (và cả lớp già như tôi) ở trong nước. Cuối cuốn sách này, còn có lời giới
thiệu không thể nhiệt tình hơn của nhà văn Tạ Duy Anh: “Đây có lẽ là cuốn sách
mà những người yêu văn học nước nhà chờ đợi từ lâu. Thụy Khuê, tên bà đã là một
đảm bảo bằng vàng về sự nghiêm túc…, có khả năng phi thường trong việc truyền đạt,
diễn giải kiến thức… Tôi tin rằng đây là cuốn sách công phu nhất, đầy đủ nhất,
có hệ thống nhất…”. Nhà văn của chúng ta tin rất mực chân thành và đáng yêu và
đáng kính trọng nữa. Ông tin những điều tốt đẹp. Nhưng sự đời giữa niềm tin và
sự thật nhiều khi khác nhau trời vực.
Tôi thuộc nhà phê bình “phôi thai ở trong nước”, xin góp một ý nhỏ để bạn đọc thấy “cái đảm bảo bằng vàng của cái tên Thụy Khuê” nó thực ra là thế nào. Chỉ trong một chương sách thôi, ta đã thấy bà thiếu công phu, thiếu nghiêm túc (khi trích dẫn tôi bà đã phạm ba lỗi, bỏ sót ý cơ bản, tự tiện thay đổi dấu phẩy, dấu chấm[*]), thiếu kiến thức, thiếu hệ thống, thiếu hiểu biết. Bà không hiểu trường phái phê bình phân tâm học, không hiểu thế nào là ảnh hưởng lí thuyết, không biết thế nào là hiểu đúng, hiểu sai trong nghiên cứu văn học. Toàn cuốn sách của bà tràn ngập các thuật ngữ triết học và văn học mà người ta chỉ sử dụng trước năm 1975 ở miền Nam. Người đọc chớ lầm là thuật ngữ mới. Mong bạn đọc già trẻ tỉnh táo.
Chú thích:
[*] Chẳng hạn về việc tùy tiện thay đổi dấu phẩy, dấu chấm. Nguyên văn tôi viết: “Theo nhận xét của P. Guiraud thì “Không một nhà phê bình văn học hay nghiên cứu phong cách học hiện đại nào có tầm cỡ mà không chịu ảnh hưởng của phân tâm học, còn như lí thuyết mẫu cổ của Jung thì đó là chỗ dựa của toàn bộ nền phê bình chủ đề học hiện đại. Từ L. Spitzer đến G. Bachelard phong cách học phát sinh ít nhiều đều công khai thừa nhận mối liên hệ của mình đối với phân tâm học, đồng thời phê bình phân tâm học của Ch. Mauron hoàn toàn dựa trên các mô hình phân tâm học được biểu hiện một cách lộ liễu.” Thụy Khuê cắt bỏ “phong cách học phát sinh ít nhiều đều công khai thừa nhận mối liên hệ của mình đối với phân tâm học, đồng thời phê bình phân tâm học của Ch. Mauron hoàn toàn dựa trên các mô hình phân tâm học được biểu hiện một cách lộ liễu” và thay dấu chấm cuối câu thứ nhất bằng dấu phẩy, biến “Từ L. Spitzer đến G. Bachelard” của câu thứ hai trở thành phần phụ cho câu thứ nhất, khiến nội dung tôi viết bị thay đổi hẳn.
Hà Nội, 24/9/2021
Trần Đình Sử
Nguồn: Vanvn.vn/
Theo https://vanhocsaigon.com/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét