Mùa Xuân trong cõi thơ Bùi Giáng
Bước vào cõi thơ Bùi
Giáng là bước vào cảnh rừng khuya tịch mịch, sơn cùng thủy tận. Người đứng lạc
lõng nhìn khối đen mờ hỗn độn chưa biết về đâu, thì vầng trăng khuya cô tịch bỗng
hé chút niềm riêng, rạng chiếu cả một thời Xuân sắc.
Đã qua đã tới đã về
Tết từ bao bận Tết đề huề
đi
Đi về đi ở đi đi
Đi là đi biệt từ khi chưa
về (1)
Một bài thơ Xuân lạ lùng!
Người làm thơ cứ như nhảy chân sáo trong thơ. Rất bông đùa, hóm hỉnh mà lại triết
lý đến không ngờ. Qua tới đi về, cứ như mùa Xuân đang lượn lờ trước mắt chúng
ta. Thế mà nó đã đi, đi biệt khi tất cả chúng ta chưa kịp thấy nó về. Hay nói
cách khác, mùa Xuân vẫn mãi đi về giữa đất trời lớn rộng, trong khi lòng người
quá nhiều bận rộn nên chưa kịp thấy hết nhịp điệu đến đi phiêu bồng của một cõi
Nguyên Xuân.
Những nhành mai sớm sương
bên lá
Những nhành liễu chiều
gió bên cây
Cũng lay lắt bởi đời Xuân
em ạ
Thế nên chi anh cũng viết
dòng này.
(Những nhành mai)
Mùa Xuân hẹn giữa ngàn
mai
Nguyên hình nữ chúa trên
ngày phù du
(Nausicaa)
Đang choáng ngợp giữa cỏ
cây kỳ ảo, chợt nghe ra một lời chào thân thiết và thanh tân đến lạ thường:
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa Xuân phía trước miên
trường phía sau.
(Chào Nguyên Xuân)
Xin chào nhau? Lạ! Ai
quen biết đâu mà chào? Ồ không! Chẳng phải chúng ta đang cùng đi trên bước đường
gập ghềnh sỏi đá “Lộ trường nhơn khốn kiểng lô tê” (Tô Đông Pha) đó
sao?
Chẳng phải cuộc trăm năm
là cuộc giã từ cõi mộng miên trường để tìm về bến bờ chân phúc đó sao? Lời lẽ
nào khơi mở nguồn cơn giúp người tỉnh mộng? Dấu hỏi nào ngấn tích chiêu sa để gọi
mời chúa Xuân về ngự yên bình trên ánh chiều vàng vọt Đông phương?
Thưa rằng nói nữa là
sai
Mùa Xuân đang đợi bước ai
đi vào
Hỏi rằng: Đất trích chiêm
bao
Sá gì ngẫu nhĩ mà chào
đón nhau.
(Chào Nguyên Xuân)
Bùi Giáng xé nát trang
thơ triết lý, Bùi Giáng thổi tan lớp mây mờ hý luận, xốc tay người hỏi dắt đến
bên mép rìa thực tại, dõng dạc thưa:
Thưa rằng: Ly biệt mai
sau
Là trùng ngộ giữa hương
màu Nguyên Xuân.
Đọc thơ của Bùi Giáng là
bước vào một thế giới kỳ lạ trong nền thi ca Việt Nam - đặc biệt là tập Mưa nguồn.
Ở trong đó dù nói gì, nói với ai và ở đâu, ta cũng thấy ngàn ngập một cõi miền
kỳ diệu, linh thánh, đa âm sắc và lộng lẫy đến kỳ cùng. Có thể nói, “Nguyên
Xuân” là suối nguồn chảy mãi và nhuần thắm cả hơn 60 tác phẩm viết và dịch sau
đó của Bùi Giáng. Và đặc biệt hơn nữa, nó cũng là chất liệu làm nên một “huyền
thoại Bùi Giáng” - kẻ tự hủy toàn triệt để sống trọn vẹn với thi ca, với hương
màu “Nguyên Xuân” chất ngất giữa cuộc bình sinh hãn hữu này.
Bùi Giáng là kẻ lữ hành
cô độc suốt cả xưa sau. Từ một kẻ mục tử lùa bò vào rừng sim trái chín, như một
hài nhi hồn nhiên nhìn đất trời cây cỏ, sông núi trăng sao, người chợt thấy:
Cũng vô lý như lần kia dưới
lá
Con chim bay bỏ lại nhánh
khô cành
Đời đã mất tự bao giờ giữa
dạ
Khi lỡ nhìn viễn tượng
lúc đầu xanh.
(Hư vô và vĩnh viễn)
Từ sự ngỡ ngàng phiêu hốt,
thi nhân bỗng nhận ra, bỗng nhớ lại, như tự một kiếp xa xưa nào, con người đã ở
trong thế giới này ra đi, đi mãi, tưởng chừng đã hun hút miền xa, thì chợt nhận
ra thế giới ấy vẫn hiện hữu giữa cỏ hoa hồn du mục, giữa cô thôn sớm tối đi về:
Sực nhớ rằng đây rừng rú
thẳm
Là quê thân thiết biết
bao chừng
(Người về)
Như đứa cùng tử trong
kinh Pháp Hoa được trở về nơi cố quận, thi nhân loáng thoáng thấy:
Xưa kia tôi đã có lần
Và bây giờ đã đôi phần
tôi quên
Viết thơ là trở lại
bên
Con người thôn nữ răng
đen hai hàng
(Ca dao)
Như một sự nuối tiếc, một
sự phản tỉnh hồn nhiên đến lạ lẫm, thi nhân kể:
Rồi tôi lớn đi vào đời
chân bước
Cỏ mùa Xuân bị dẫm nát
không hay
Chợt có lúc hai chân dừng
một lượt
Người đi đâu, xưa chính ở
chỗ này.
(Chỗ này)
Bắt đầu từ đó, thi nhân
choáng ngợp giữa trời Xuân huyền ảo. Thì ra, thế giới ba ngàn này vẫn lung linh
lấp lánh như tự bao giờ vẫn vậy. Chỉ ở đây thôi, khi con người nhận ra được “Nhất
thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh” (Kinh Kim Cang), thì sẽ trực nhận
được hương màu “Nguyên Xuân” dào dạt.
“Trời đất tụ về chung một
góc
Một năm nào đời đứng lại
nghe Xuân
Về trong thu sương huyễn ải
vô chừng
Đứng một mình thơ dại ngó
mông lung.
Em nghe không, em nghe
nhé, nghe cùng
(Trời Nam Việt)
Thi nhân hoàn toàn không
dắt ta vào mộng, thi nhân chỉ kể lại những gì chính mình thấy. Vẫn những hình ảnh
trời mây lá cỏ, nhưng kỳ lạ vô cùng:
Ánh sáng xa đâu gió cây
mù mịt trăng trời vòng cửa khép tiếng sóng vỗ ngoài linh hồn lạc bước người em
người chị người bạn người thù ngồi lại bên nhau (…)
Mùa Xuân bữa trước mùa
Xuân bữa sau mùa Xuân bốn bên trong hiện tại vây hãm tấn công đời hạnh phúc lạnh
như băng không làm sao nhúc nhích.
Nắm hai bàn tay lại khi một
trời sao đỏ lấm tấm đập cánh bay qua…
(Bờ Xuân)
Nhìn thấy đó, cũng chỉ là
giây phút cảm ngộ tuyệt vời của vô thức. Thi nhân quyết không làm kẻ đứng
ngoài. Đây là phút giây quan trọng nhất của lộ trình đi về cõi trực tâm. Hố thẳm
gọi mời một bước nhảy - một bước nhảy nghìn trùng diệu tưởng sẽ thu về trong
gang tấc nếu không có sự lưỡng lự của ý thức nhị nguyên. Thi nhân nhìn lại:
Bờ cõi dựng Xuân xanh em
còn đó
Bến đào nguyên anh khoác
áo khinh cừu
(Những nhành mai)
Thế giới bây giờ không
còn xa cách nữa. Thi nhân tắm mình trong một nguồn sáng ảo hiệu. Thấp thoáng những
bàn tay, với vòng tay của, mười ngón tay măng; thấp thoáng những bước
chân, một dấu chân bước của, một bàn chân bé con. Lạ lẫm quá! Cát
xa bờ tơ chỉ rối chiêm bao. Tiên thiên quá! Vòm nguyên tiêu rơi rụng
giữa trăng rằm. Lãng đãng quá! Múa vi vu vì hẹn với trăng ngàn.
Ngôn từ không còn đủ dung tích để ôm trọn nguồn ánh sáng tinh diệu. Thi nhân phải
mượn những ngôn từ đại thể, uyên mặc, như Nguyên hình nữa chúa, Bờ cõi thanh
tân, Đài vũ trụ… để xin mở một lần màu thiên thanh của (Màu
thiên thanh) Rừng cô tịch ngóng nội đồng trổ hoa. Hồn bỏ lại mộng thừa
trong thớ đất, anh nhìn em trong suốt giữa xương da (Màu Xuân).
|
|
Còn sơ nguyện mộng sau tà áo xanh.
Hỏi tên rằng biển xanh dâu,
Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa,
Gọi tên rằng một hai ba,
Đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm.
Máu lệ và xương da, hình hài và thân thể, tất cả được phụng hiến một cách trọn vẹn, đầm đìa sương khói, lãng đãng chiêm bao nhưng vẫn tĩnh tại vô ngần, nguyên tuyền rất mực. Muốn thấy nó một cách thường hằng thì phải sống thường trực từ cội nguồn căn để. Mạnh Tử nói: “Dục thường thường kiến chi cố nguyên nguyên nhi lai” là vậy! Bùi Giáng đã hớp tận ngụm suổi đầu nguồn, lẫm liệt và tàn khốc từ đời sống phiêu bồng tận hiến; đã rong chơi ngoài vạn dặm, bầu bạn với cỏ hoa, thương hết thảy dế giun sâu bọ, cánh bướm, cánh chuồn chuồn. Ông sống thực, thực đến nỗi xót xa, bi tráng.
Xin chào nhau giữa con đường, con đường của tóc tơ lau lách, máu lệ xương da, của cảo thơm lần giở, của phong tình cổ lục xưa sau. Kể từ Socrate đến Heidegger, văn hóa phương Tây chẳng biết có cõi nào kỳ dị như cõi thơ Bùi Giáng không? Kể từ thời đại sử thi Mahabharata, Ramayana đến Rabindranath Tagore, từ Lý Bạch, Tô Đông Pha đến Nguyễn Du, Tản Đà, Hàn Mặc Tử, Quách Thoại, thi ca phương Đông không biết đã có thế giới nào đìu hiu phiêu hốt đến dường ấy chưa? Đã có những cõi thơ nào ngời những nhịp cầu tương ứng luân lưu như vậy chưa?
Điều đặc biệt là thế giới ấy không hề siêu thực, mà trái lại rất hiện thực. Một thứ hiện thực ảo (Realistic vision), không phải dạng “mặt trời cắt cổ” của Apolinaire, không phải kiểu “xử thế nhước đại mộng, hà vi lao kỳ sinh” của Lý Bạch. Xuân là Xuân của Ngày trống rỗng không gian trôi vào cõi, nghe mùa Xuân không đổ lục bên hường (Xuân giữa ngọ); Xuân là Xuân của Đồng ruộng cũ màu trôi trong cỏ nhặt, dưới bình minh rạ xám gốc trơ phơi (Người đi đâu).
Bùi Giáng cùng nường Thúy du Xuân trong hội Đạp thanh, nhưng thi nhân đã khóc ngang ngửa mộng, đã xót xa thân sầu chảy máu bên xương, đã chấp nhận ngàn lần trong thổn thức, đã bàng hoàng hốt hoảng những đêm đêm, đã cam chịu cuồng si để sáng suốt, và đui mù cho thỏa dạ yêu em. Tận hiến đến hơi thở cuối cùng, để ngắm được hoa đào của Linh Vân (2), ngắm được nhành mai sân trước của Mãn Giác (3), nghe được tiếng sỏi vang bờ trúc của Hương Nghiêm (4), nghe được tiếng vượn trầm của Tuệ Trung Thượng sĩ (5), “tiếng nước ôi chao” của Basho (6)… Mùa Xuân đã hiện về trọn vẹn, uyên nguyên trên từng giọt trăng hòa tan giữa biển lòng bát ngát.
Và đó cũng là sứ mệnh của thi ca. “Sa mạc hồi khan thanh cấm nguyệt” - Nguyễn Du đã mở trang hồng phạm; “Hồng sơn sơn hạ quế giang thâm" - Bùi Giáng vẫn còn trang thơ thắm lại cõi trời hồng. Thi ca Việt Nam sẽ vút lên tiếng sáo diều thánh thót giữa đất trời lồng lộng Đông Tây, du dương trước thềm thế kỷ XXI. Riêng Bùi Giáng vẫn cứ lặng lẽ, thủy chung và ẩn mật tuyệt trù:
Gió lay lắt bốn phương về dồn tụ
Bụi thu mờ ai phủi với hai tay.
Chú thích:
(1) Tất cả những chữ in nghiêng không nằm trong ngoặc kép trong bài này đều là thơ trích từ tập "Mưa nguồn" của Bùi Giáng.
(2) Linh Vân (?-?), Thiền sư Trung Quốc, sống vào đời Đường, nhân thấy hoa đào nở mà ngộ đạo.
(3) Mãn Giác (1052-1069), Thiền sư Việt Nam, sống vào đời Lý, nổi tiếng với bài kệ "Cáo tật thị chúng".
(4) Hương Nghiêm (?-898), Thiền sư Trung Quốc, nhân nghe tiếng sỏi văng vào bụi trúc mà hốt nhiên đại ngộ.
(5) Tuệ Trung Thượng sĩ, Thiền sư Việt Nam, sống vào đời Trần. Bùi Giáng từng dịch hai câu thơ của Tuệ Trung:
“Nhân gian tận kiến thiên sơn điểu.
Thùy thính cô viên đề xứ thâm”
thành
“Nhân gian đều thấy ngàn non sáng,
Ai lắng nghe ra tiếng vượn trầm”.
(6) Basho, Thiền sư thi sĩ nổi tiếng của Nhật Bản, chuyên làm thơ Hài cú (Haiku), trong đó có bài “Con ếch”:
Một vũng lầy hiu hắt,
Một con ếch nhảy vào,
Và tiếng nước ôi chao!
(Tuệ Sỹ dịch)
Xuân
Chểnh mảng mùa Xuân vẫn tới gần
Muôn nghìn hồng tía quá thanh tân
Sắp về lũ lượt thân cùng thể
Sẽ đến huy hoàng mỹ với nhân
Thân thiết như hồn thanh thiếu nữ
Thuần nhiên tợ mộng tuyết băng tâm
Người từ xa lắc về thăm viếng
Xuân sắc quê hương đẹp quá chừng.
Bao giờ
Bằng bút chì đen
Tôi chép bài thơ
Trên tường vôi trắng
Bằng bút chì trắng
Tôi chép bài thơ
Trên lá lục hồng
Bằng cục than hồng
Tôi đốt bài thơ
Từng phút từng giờ
Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe cười khóc có ngờ chi không?
8/2/2018
Nhất Thanh
Theo https://phatgiao.org.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét