Về với chốn thiền môn
Huyền Không Sơn Thượng, một ngày tháng 3...
Ngay chính người Huế cũng có rất nhiều người chưa biết, chưa
từng đặt chân đến Huyền Không Sơn Thượng. Nhiều người còn nhầm lẫn giữa Huyền
Không Sơn Thượng với Huyền Không Sơn Trung. Tôi cũng đã từng như họ. Một lần,
nghe có người trầm trồ: Huyền Không Sơn Thượng đẹp và thâm u lắm, tôi và người
nhà nhân một chuyến đi thăm mộ đã quyết tâm tìm đến thăm chùa.
Lần ấy, ngược Kim Long, ngang qua chùa Thiên Mụ, chúng tôi đến
bên cầu Xước Dũ. Loanh quanh hỏi han một hồi rồi tìm đến được chùa Huyền Không
nhưng đến nơi mới biết đây mới chỉ là Huyền Không Sơn Trung! Từ đây, muốn đến
Huyền Không Sơn Thượng phải đi chừng gần 7, 8 cây số sâu vào phía núi đồi phía
Tây mới tới nơi. Thăm Huyền Không Sơn Trung xong thì đã quá trưa, nhìn vào phía
núi, theo hướng tay chỉ dẫn của một chú điệu, thấy bầu trời mây tím giăng đầy,
chúng tôi đã ngần ngại vì sợ những cơn mưa giông bất chợt của các buổi chiều hè
xứ Huế, nên đành quay về, hẹn lại một dịp khác.
Sau đó, niềm mong muốn được biết đến một ngôi chùa được mọi
người khen tặng danh xưng: "Ngôi chùa yêu thơ ca", "Ngôi chùa của
các bức thư pháp đậm sắc thiền", chúng tôi đã lại làm một chuyến
"hành hương" khác, cũng trong chính mùa hè năm đó. Đi bằng xe máy,
khá là vất vả. Phần vì chưa quen đường, vừa đi vừa hỏi nên thấy như xa tít mù tận
chân trời. Đến nơi rồi, bao nhiêu mệt mỏi chợt tan biến, đọng lại trong tâm can
là một cảm giác mến yêu, thú vị vì cảnh sắc và mùi thiền giản dị nơi đây...
Năm nay nữa là đã hơn 5 năm rồi tôi mới được một lần trở lại...
Rời đường tránh Huế, xe rẽ vào lối ngược lên núi Chằm. Qua những
làng quê xanh tươi cây lá, những cánh đồng lúa đang trải rộng một màu xanh non
tơ, những đoạn đường rải nhựa, bê tông và đường đất đỏ... càng gần đến Huyền
Không Sơn Thượng, đường càng nhỏ hẹp hơn, đồi núi càng gần hơn trong tầm mắt của
khách hành hương. Khi những phiến đá nhỏ dựng ven đường hiện ra với dòng chữ
thư pháp ghi tên Huyền Không Sơn Thượng đập vào mắt mọi người-đó là lúc bắt đầu
tiến vào con đường độc đạo dẫn đến chốn thiền môn Huyền Không Sơn Thượng. Bước
xuống xe, giữa cái vị lạnh ngọt của mùa xuân, một vùng núi ảo mờ trong sương
tháng 3 trời Huế mở ra trước mắt chúng tôi. Không dưng tất cả đều im lặng. Có lẽ
mọi người đều chung một tâm cảm: cảm giác lâng lâng, nhè nhẹ từ đâu bỗng dưng
tràn tới, chiếm lĩnh hồn người...
Một không gian yên tĩnh mà không thâm u; một chốn tu hành,
thiền tự mà không xa xôi, lạ lẫm, ngược lại: hiền hoà, quen thuộc, gần gũi và gợi
lên một cảm giác ấm áp đang nhen lên từng chút một trong lòng người...
Tất cả những công trình kiến trúc ở Huyền Không Sơn Thượng
không mang dáng vẻ nguy nga đồ sộ, không hào nhoáng phô trương như một số cảnh
chùa, thiền viện nơi khác mà trái lại: nhỏ nhắn, đơn sơ, thân thiện từ chất
liệu đến kích cỡ và thiết kế, trang trí, bố trí...
So với lần đầu tiên tôi đặt chân đến Huyền Không Sơn Thượng-cách
đây chừng 5 năm thì cảnh sắc cũng đã có nhiều thay đổi nhưng những thay đổi đó
chỉ mang tính bổ sung mà không hề làm người ta bất giác thấy mình trở thành người
lạ với một nơi chốn đã quen.
Vẫn những bức thư pháp quốc ngữ viết trên đá, mành tre, cột gỗ,
bảng gỗ, trên giấy dó rải rác ở các lối đi, vách nhà, hiên chùa. Vẫn những giàn, chậu hoa phong lan, hoa dân dã, hoa leo bao bọc quanh các ngôi nhà gỗ, tre
nho nhỏ, hiền lành, thoáng mát hay bên các hòn non bộ nhỏ nhắn, xinh xinh...
Những hồ nước trồng đầy hoa súng tím, những tảng đá thô bố
trí đơn lẻ hay thành từng cụm nhỏ ven đường và nhiều lắm tre, trúc, mai, tùng,
liễu... như ở các khu nhà vườn truyền thống của Huế, bao quanh ngôi chùa, cốc,
đình, nhà giảng...
Lòng như yên lắng lại, bao nhộn nhạo đời thường phút chốc được
gạn lọc để chỉ còn lại những tinh khôi.
Càng về trưa, khách đến với Huyền Không Sơn Thượng càng đông
nhưng không gian vẫn êm ả lạ. Tiếng nói cười có lao xao nhưng lại lạc vào đâu
đó trong những rừng thông bao bọc quanh núi, hay ai đến đây cũng đều có ý thức
đi khẽ, nói nhẹ? Một cảm giác được vui, được chia sẻ trong một trạng thái âm thầm
lan toả từ nhau mà không cần quá nhiều lời hình như đã được những người đến với
Huyền Không Sơn Thượng tiếp nhận một cách bất giác, bất chợt? Hình như thế, tôi
cảm nhận thế...
Huyền Không Sơn Thượng được khai sơn từ năm 1989, bởi một nhà
sư thuộc hệ phái Nam tông, xuất thân từ ngôi tổ đình Huyền Không ở gần Thiên Mụ:
Thượng toạ Giới Đức được mọi người biết nhiều với cái tên hiệu nổi tiếng Minh Đức
Triều Tâm Ảnh.
Qua sách vở, tôi được biết chùa toạ lạc dưới chân núi Hòn Vượn,
thuộc vùng núi được gọi tên là Chầm của xã Hương Hồ, huyện Hương Trà (TT Huế).
Tôi cũng biết tiếng của nhà sư-nhà thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh từ lâu, cũng đã từng
gặp được Thượng toạ Giới Đức cách đây hơn 30 năm-hồi người còn tu ở Huyền
Không-trong một lần đến làm lễ trai tăng, cầu siêu và cầu an tại gia đình
chồng tôi ở Huế-cùng với Cố Trưởng lão Thượng toạ Thích Hộ Nhẫn.
Ngày đó nhà sư còn rất trẻ. Đã lâu không được gặp nên hôm
qua, khi được gặp và trò chuyện cùng vị trụ trì của Huyền
Không Sơn Thượng trong cốc gỗ nhỏ toạ lạc bên tả của ngôi chùa chính Huyền
Không Sơn Thượng, tôi không còn nhận ra được hình ảnh nhà sư trẻ tuổi ngày nào.
Tuổi tác xem ra cũng ngự cả trên người tu hành, dù họ sống và hành đạo
trên một phương châm nhẹ nhàng, an lạc của tôn giáo. Tuy vậy, tôi vẫn nhìn thấy
ở người một tâm thế ung dung, tự tại, của một thiền sư, mà nếu chỉ đơn thuần là
"nhà thơ" không thôi thì sẽ không có cái vẻ nhẹ nhàng, thanh thoát đến
thế!
Cũng trong lần đến Huyền Không này, đoàn chúng tôi nhận được
từ nơi đây một niềm vui nho nhỏ, hay hay...
Trong ngôi chính điện của chùa, mỗi khách hành hương, được thắp
hương và thầm khấn trong thâm tâm những điều sâu kín, một cách thành khẩn,
nghiêm trang sau đó, quỳ xuống, mở nắp một chiếc hộp lớn trước đặt bên dưới bệ
thờ Phật, bốc nhận một thẻ thăm. Thẻ thăm ở đây không đầy vẻ thần bí và gợi cảm
giác bất an như ở các chốn thờ tự khác, cả hình thức lẫn nội dung, mà có vẻ gì
đó cũng nhẹ nhàng, thuần khiết như một niềm vui. Với hình thức là một miếng giấy
bìa cứng nhỏ hình chủ nhật có thể đặt gọn trong lòng bàn tay, phía sau có in
hình hoa hoặc hình của ngôi chùa, mặt trước, in một câu thơ viết bằng thư
pháp... Câu thơ là một câu bất kỳ, tôi cũng không rõ xuất xứ và quên hỏi là được
trích từ đâu. Dòng chữ ghi trên cái biển nhỏ trước hộp giấy có ghi câu: tự bốc,
tự ngẫm, tự suy...
Cũng như mọi người, tôi bỏ vào thùng phước thiện một món tiền
nhỏ, rồi thắp hương và quỳ xuống nguyện cầu trước tượng Phật. Điều cầu nguyện
chỉ mình tôi biết, trong đó, có cả điều luôn làm tôi day dứt và suy nghĩ triền
miên từ lâu nay... Trong đó cũng có cả điều tôi mong ước-còn hơn cả mong ước mà
là cả một sự khát khao: bằng cách nào để luôn tìm được sự yên ổn, cân bằng của
cuộc sống nội tâm... Từ sâu thẳm của tâm hồn mình, tôi luôn ước mong điều đó
hơn tất cả, bởi vì có nó, tôi mới có được sự thanh thản, sự hứng khởi và nhờ thế
mới có cả niềm vui, sự an lành... Câu thơ tôi rút được từ trong chiếc hộp đó là
một câu thơ mà tôi chưa từng đọc thấy ở đâu, bao giờ:
Nghĩa còn trái quả xuân thu
Đời thường hoa nở cho dù nắng mưa
Tự ngẫm: thấy nó đúng là đáp ứng với điều đã thầm khấn nguyện.
Quả là một sự huyền diệu ngẫu nhiên. Đã định chỉ "tự ngẫm" nhưng nghe
mách: "Có nhà sư trẻ ở đây, nếu nhờ giúp giải lá thăm, sẽ nói
cho mình nghe ý nghĩa của câu thơ, hay lắm", chúng tôi kéo nhau đi tìm nhà
sư trẻ ấy một cách hú hoạ, tình cờ lại gặp. Nhà sư trẻ đang trên đường tìm bắt
lại chú khỉ con tuột xích chạy rong trong sân, nghe tôi hỏi thăm dã mời chúng
tôi ghé lại bên nhà khách chờ trong giây lát. Sau khi đã yên vị chú khỉ trên một
đôn đá giữa sân, nhà sư trẻ trở lại gian nhà khách và tiếp chuyện cùng chúng
tôi.
Cầm lá thăm tôi bắt được trên tay, nhà sư trẻ nhìn thẳng vào
mắt tôi và bắt đầu giải thích-mà theo tôi đó là lời thuyết pháp nhà Phật, mượn
lá thăm ngẫu nhiên để gửi đến những khách hành hương muốn được lắng nghe từ nơi
chốn thiền môn những giải toả tâm tình... Tôi thích lời mở đầu của nhà sư:
"Trước hết, tôi xin được trình bày cùng quý vị rằng: đây hoàn toàn không
phải là chuyện mê tín dị đoan mà đơn thuần chỉ là một niềm vui nho nhỏ mà nhà
chùa chúng tôi muốn gửi đến cho mỗi khách viếng cảnh chùa". Và nhẹ nhàng
nhà sư nói tiếp với chúng tôi về "định mệnh" của mỗi đời người đều
không do bất kỳ ai quyết định, bất kỳ một quyền lực nào, kể cả siêu nhiên mà chỉ
duy nhất do chính mỗi con người trong chúng ta tự quyết định lấy. Mỗi lá thăm
mà chúng tôi cầm trên tay như một chút duyên ngẫu nhiên mà chúng tôi "nhặt"
lên được và nó cho phép mỗi chúng tôi dừng lại một chút để suy ngẫm về chính
mình, “lời giải” cũng chỉ là một sự gợi mở chứ không là một sự phán quyết... Từ
sự giải thích của nhà sư trẻ, tôi ngẫm rộng ra: đây hoàn toàn như là một khoảnh
khắc để trao đổi tâm tình trong mối tương giao, tương ngộ của một cơ duyên
chăng?
Câu mở đầu của nhà sư dành cho tôi là một sự khẳng định: đây
là một câu thơ tốt. Nhà sư nói nhiều về lá thăm của tôi nhưng tôi nhớ nhất là mấy
câu khẳng định này: "chị là một người đôn hậu", "một người sống
thiên về lối sống tinh thần và đã xác định được một niềm vui tinh thần để tự
cân bằng lấy cuộc sống của chính mình, dù cuộc đời có lúc nắng, lúc
mưa...", "một người khá lạc quan", "luôn biết tự cân bằng lấy
niềm vui, nỗi buồn riêng", "một người chín chắn và có bản lĩnh sống-cái
mà không phải cứ hễ ai sống lâu, lớn tuổi đều có thể có được". Có một điều
tôi không chắc: liệu nhà sư này có dựa hoàn toàn vào câu thơ trong lá thăm tôi
bắt được hay còn nhìn vào nhân tướng, vào đôi mắt của người đối diện để có những
chiêm nghiệm kia? Dẫu sao cũng thật vui vì được lắng nghe những lời này từ một
nhà sư trẻ chỉ vừa mới gặp lần đầu trong đời. Và dẫu sao cũng có một kỷ
niệm cho chuyến đi đến Huyền Không Sơn Thượng lần này: lần đầu tiên trong đời
tôi bốc một lá thăm, một quẻ xăm mà không hề gợn lên cái cảm giác ghét thói mê
tín và rợn rợn gai ốc khi thấy người khác làm như vậy.
Người đến rồi đi, chốn thiền môn vẫn đứng lại với núi rừng.
Mười mấy nhà tu hành vẫn nhẫn nại trong chốn tu tập mái ngói đơn sơ vách nhỏ
gió lùa. Ngày ngày họ vẫn lao động thật sự bằng chính đôi tay, khối óc để cho
Huyền Không Sơn Thượng mỗi năm một đẹp hơn trong dáng vẻ tao nhã, nên
thơ.
Từ lần đến đầu tiên cho mãi hôm nay, tôi cũng như nhiều người
đã từng đến đây, chưa hề thấy một vẻ gì cách biệt giữa Phật và chúng sinh, giữa
tăng và đạo hữu, cũng như chưa từng thấy bợn chút "mùi trần" mà nhiều
cảnh chùa khác đôi khi có bị làm vẩn đục bởi cuộc sống vật chất vây
quanh...
Các bóng khoác y vàng vẫn thoăn thoắt đi qua sân, vẫn cắm cúi
với những công việc lao động hằng ngày sau những giờ tụng niệm, tu tập. Trên
khuôn mặt các nhà sư vẫn là vẻ niềm nở, dung dị, lịch thiệp như vốn có với
mọi khách hành hương theo mùa mà đến. Tất cả cái dáng vẻ "thiền động"
ấy đã làm toát lên vẻ đẹp thuần khiết của ánh đạo vàng mà không cần bất cứ
một sự đồ sộ nguy nga nào tô điểm thêm lên…
Và tôi như cảm nhận được vì sao mọi người thích tìm đến chốn
này, dù không chỉ một lần: ta có thể tìm thấy chính ta trong một không gian rộng
mở, tự tại mà chẳng cần a dua, tự thân chứ không cần giáo huấn, tự tìm và tự ngộ
qua cây cỏ, thiên nhiên, qua lòng yêu thương vạn vật, cỏ cây và với ngay cả một
ngọn gió lùa qua vách lá...
31/10/2014
Từ Nguyên








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét