Tự sự nhỏ về một
người thầy lớn - GS. Lê Đình Kỵ
Tôi nhớ... một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng
lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy Thầy.
Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II
năm thứ nhất. Thầy đi chầm chậm, lâu lâu lại dừng bước để chờ một phụ nữ trẻ đi
sau có hai bím tóc buông dài. Một anh trong ban cán sự lớp - những người đứng
tuổi “thạo chuyện” hơn bọn trẻ đưa tay về phía Thầy và reo lên: “Thầy Lê Đình Kỵ
kìa. Thầy Lê Đình Kỵ và vợ thầy đấy!”. Chúng tôi nhìn theo. Tôi thầm so sánh: vợ
thầy trẻ hơn thầy nhiều. Sau này, từ nơi sơ tán trở về Hà Nội, có dịp lên thăm
Thầy trong một căn phòng nhỏ tại tầng 3, nhà C1 - Ký túc xá Mễ Trì, tôi mới biết
vợ Thầy tên là Long, tôi gọi là cô Long - và hai bím tóc dài cũng không còn…
GS.NGND Lê Đình Kỵ
Giảng dạy lý luận văn học ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội,
Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM (nay là Trường đại học KHXH&NV TP.HCM).
1958 - 1998: Trong 40 năm giảng dạy và nghiên cứu văn học,
giáo sư đã tham gia đào tạo nhiều thế hệ sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu
sinh...
Là tác giả nhiều công trình có giá trị: Phương pháp nghệ thuật
(1962, NXB Giáo Dục), Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực (1970, NXB Khoa Học Xã
Hội), Thơ Tố Hữu (1979, NXB Đại Học và THCN), Thơ mới - những bước thăng trầm
(1988, NXB TP. Hồ Chí Minh), Vấn đề chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam
(1998, NXB Giáo Dục)
Tôi nhớ, dáng Thầy thấp đậm, gương mặt ưu tư, trầm lặng. Thầy
nói năng nhỏ nhẹ cứ như vừa nói vừa tự lắng nghe mình. Thầy ít cười nhưng khi
cười lại rất tươi, ánh mắt xa xăm, lấp lánh... Theo chân bạn bè, thỉnh thoảng
tôi lên thăm Thầy và lặng lẽ quan sát. Trước thì không rõ, nhưng từ khi biết Thầy
- cả thời sinh viên và sau này là cán bộ giảng dạy - tôi thấy “châu tuần” quanh
Thầy không phải là các hoa khôi, những bóng hồng xinh tươi trong nữ sinh viên
mà là một “đám đười ươi thi sĩ” của khoa với những nét lập dị từ trang phục,
dáng điệu đến “phát ngôn”. Thầy đón tiếp họ cởi mở, thân mật, và họ cũng nói
năng với Thầy hào hứng say sưa và “rất dân chủ”. Họ đọc thơ, lúc mắt lim dim, đắm
đuối, lúc thầm thì, có lúc lại gào lên, khoa chân múa tay như diễn viên đang
vào vai trên sân khấu. Thầy chăm chú lắng nghe và “chịu trận” một cách vui vẻ.
Tôi nhớ, mãi đến năm thứ 4 chúng tôi mới được học chuyên đề: Truyện
Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du - một chuyên đề đã được in thành
sách, rất hấp dẫn, nói một cách giản dị là đọc đi đọc lại vẫn không thấy chán.
Đó là cảm tưởng chung của rất nhiều người, không chỉ đối với “dân văn”. Chị
Sinh - tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế kế hoạch, vợ thầy Lê Chí Dũng - thời
đó là cán bộ giảng dạy trẻ của khoa Ngữ văn cùng thế hệ với thầy Lê Chí Quế, thầy
Nguyễn Thiện Giáp, thầy Đinh Xuân Dũng... là một “fan” như thế. Vì thầy Dũng là
giáo viên chủ nhiệm, lại là đồng hương Quảng Bình nên thỉnh thoảng tôi xuống
nhà Thầy chơi. Có lần tôi thấy chị Sinh cầm trên tay cuốn Truyện Kiều và
chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, vừa đọc, chị vừa khen nức nở: “Thu ơi, sao
anh Kỵ viết hay thế! Chị đọc nhiều lần rồi, càng đọc càng thích. Sách anh Dũng
chị đọc có chỗ không hiểu… Còn sách anh Kỵ, chị đọc đến đâu, hiểu và thấy hay đến
đó (nếu thầy Lê Chí Dũng yêu kính có đọc những dòng này, rất mong Thầy bỏ qua
cho em). Anh Kỵ tài thật”. Đang hào hứng, bất chợt chị bâng khuâng, giọng trầm
hẳn xuống: “Lương anh Kỵ bây giờ là mỗi tuần có thể mua một con gà để cải thiện
em nhỉ?”...
Bên cạnh chuyên luận nổi tiếng một thời đó, Thầy còn viết
giáo trình lý luận văn học: Phương pháp nghệ thuật - 1962, Cơ sở
lý luận văn học - 1971, 1984, viết tiểu luận phê bình, nghiên cứu văn học: Đường
vào thơ, 1969, Thơ với Xuân Diệu, Hoài Thanh, Chế Lan Viên, 1988, Thơ
mới - những bước thăng trầm, 1989... Sở trường và ưu thế của Thầy là
nghiên cứu, phê bình thơ. Viết về tác giả nào, dù già hay trẻ, dù đã thành danh
hay mới chập chững trình làng; Từ Tố Hữu đến Phạm Tiến Duật, từ Chế Lan Viên đến
Thái Giang, từ Tế Hanh đến Lưu Quang Vũ... (Đường vào thơ), Thầy đều toàn tâm
toàn ý, viết với tất cả suy nghĩ và tình cảm, cả sự sáng tỏ của tư duy và nhạy
cảm của trực giác. Các công trình của Thầy luôn mang tính phát hiện bởi lối viết
tài hoa, tinh tế mà vô cùng sâu sắc. Đặc biệt, thông qua những chân dung tiêu
biểu như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Chế
Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê... (Thơ mới - Những bước thăng trầm).
Giáo sư Lê Đình Kỵ đã làm sống lại một thời đại thi ca rực rỡ, có một không hai
trong dòng chảy của thơ Việt thế kỷ XX.
GS. Lê Đình Kỵ và học trò
Tôi nhớ, thầy Lê Đình Kỵ sống rất chân thật, giản dị, xa lạ với
những gì là hình thức, màu mè, phù phiếm. Tuy ngắn ngủi nhưng thời gian mới
ở lại khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, được Thầy tận tình chỉ bảo,
tôi chập chững bước những bước đầu tiên để vào cái nghề mà bây giờ tôi rất yêu
nhưng hồi đó chỉ thấy sợ. Buổi dự giờ đầu tiên để lấy ý kiến nhận xét về bài giảng
của tôi là sự hiện diện của những tên tuổi lớn: GS. Hoàng Như Mai, GS. Lê Đình
Kỵ, GS. Phan Cự Đệ, GS. Hà Minh Đức… Từ trên bục giảng nhìn xuống, tôi “tim đập
chân run”, nói năng ngập ngừng, ấp úng. Sau giờ giảng thầy Hoàng Như Mai nói nhỏ
với thầy Kỵ: “Nógiảng bài mà cứ như trò nói với thầy”! Tôi thầm bái phục sự
tinh tường của thầy Hoàng Như Mai. Quả thật lúc đó, tôi quên cả nội dung bài giảng,
quên lớp lang trình tự mình định trình bày, thậm chí là quên cả mấy chục sinh
viên đang ngồi trước mặt (trong đó có khá đông các anh lớn tuổi từ chiến trường
trở về mà thường ngày tôi rất “nể”) chỉ thấy những chiếc bóng sừng sững của các
thầy… Nhưng các thầy kính yêu của tôi đều là những “tấm lòng cao cả”, đã cho
tôi những góp ý chân tình, quí báu, giúp tôi tự tin hơn trước con đường dài đầy
gian nan mà mình phải vượt qua. Thầy Kỵ đã động viên và dặn dò tôi rất nhiều,
Thầy chỉ cho tôi cách đọc và ghi chép tư liệu, cách phải “đi cả hai chân” là giảng
dạy và nghiên cứu, cụ thể là vừa phải đầu tư cho bài giảng trên lớp, vừa phải bắt
tay vào việc viết phê bình nghiên cứu. Thầy đặc biệt lưu ý và nhiều lần nhắc đi
nhắc lại với tôi rằng: “Cậu phải nhớ là viết phê bình thơ rất khó, nhưng cái
khó nhất là phải giấu lý luận đi, để nó tan vào trong cảm thụ phân tích” và nói
thêm: “Không gì vô duyên bằng viết phê bình thơ mà lý luận cứ lộ hết cả ra, khô
khan, cứng nhắc…”. Những gì tôi có được trong những công trình nghiên cứu, những
tiểu luận phê bình về sau đều bắt nguồn từ những bài học nhập môn quí giá, từ
những kinh nghiệm và “triết lý” sâu sắc đó của Thầy. Sự quan tâm, chỉ bảo của
Thầy thường không “đao to búa lớn” mà vẫn chứa đựng cả ý nghĩa lý luận và thực
tiễn. Và quan trọng hơn cả là nó giúp cho người nghiên cứu có được sự lựa chọn
phù hợp. Sâu xa hơn, đó là mỹ học của nghiên cứu phê bình thơ và là cách ứng xử
có văn hoá, là cách “chơi đẹp” đối với thơ ca nói riêng và văn học nói chung.
Vì mải mê với công việc và dường như những lúc tôi lên nhà đều
bắt gặp Thầy đang cặm cụi trên một chiếc bàn viết la liệt sách vở, tài liệu
tham khảo (nhưng vẫn khoa học và có “lô gíc riêng” theo cách giải thích của Thầy
khi gặp phải những ai thắc mắc về sự bừa bộn đó) nên Thầy thường rất bận, những
lúc phải lo cơm nước cũng chính là khoảng thời gian rỗi rãi để “giải trí” (cũng
theo cách nói vui của Thầy), mặc dầu vậy, Thầy vẫn không tiếc thời giờ để đàm đạo
về chuyên môn, về những tác giả tác phẩm mà Thầy quan tâm. Những lúc đó trông
Thầy sinh động, sôi nổi hẳn lên, vẻ đăm chiêu, tư lự được thay thế bằng những nụ
cười thoải mái.
Trong một lần trò chuyện như thế, tôi nhắc đến bản tham luận
khoa học có tên: Tuổi trẻ, cách mạng và thơ catrong đó có một đoạn văn sống
động, có nét có màu mô tả không gian nghệ thuật Trường Sơn - cái nôi trưởng
thành của thế hệ các nhà thơ chống Mỹ cứu nước mà tôi rất thuộc: “Trường Sơn
trong mưa ngàn thác lũ, trong nắng lửa gió Lào, trong bom gào đạn rú…”. Nghe
xong, Thầy tỉnh bơ: “À, mình “ăn cắp” của một “tay” sinh viên là công an vũ
trang đang học năm cuối ở khoa ấy mà, mình làm sao viết nổi… Phải sống chết với
Trường Sơn mới viết được thế chứ”. Tôi hiểu đó chỉ là một cách nói, và chính sự
thật lòng đến tận đáy của Thầy khiến câu chuyện càng lúc càng thú vị, chân
tình. Không chỉ riêng tôi mà rất nhiều người đều có chung cảm nghĩ là nói chuyện
với thầy Lê Đình Kỵ không phải rào trước đón sau, không phải giữ ý, cân nhắc từng
câu, từng lời. Theo thời gian, những cuộc chuyện trò đó luôn gợi lại một quãng
đời ấm áp, vô tư. Đó là những kỷ niệm tôi không bao giờ quên.
Tôi nhớ, khi nhận đề tài nghiên cứu sinh về “Thơ Xuân Diệu
trước Cách mạng tháng 8/1945, qua Thơ thơ và Gửi hương cho gió”, từ Sài Gòn xa
xôi, Thầy gửi cho tôi mấy cuốn sách (trong đó Thơ mới - những bước thăng
trầm và Thơ với Xuân Diệu, Hoài Thanh, Chế Lan Viên đã trở thành
công cụ cần thiết để tôi đọc và nghiền ngẫm) và lại dặn dò, nhắc nhở tôi là phải
đào sâu suy nghĩ, không được lặp lại người khác, phải tìm ra màu sắc riêng của
“cái tôi Xuân Diệu” và sự khác biệt giữa thiên nhiên - tâm hồn trong Thơ mới với
thiên nhiên - đất nước trong thơ ca cách mạng sau 1945. Biết tôi được GS. Hà
Minh Đức nhận hướng dẫn luận án, Thầy chia sẻ: “Vậy là quá tốt. Anh Đức rất am
hiểu về lĩnh vực này. Đề tài hay nhưng không dễ viết, phải cố gắng rất nhiều”.
Trước ngày bảo vệ chính thức, tôi gửi bản tóm tắt luận án nhờ Thầy đọc và hồi hộp
chờ đợi những đánh giá đầy sức nặng từ một chuyên gia hàng đầu về Thơ mới. Và
thật không ngờ, Thầy đọc rất nhanh và gửi ra cho tôi một bản nhận xét qua hình
thức chuyển Fax với những lời khen tặng đầy ưu ái, khích lệ. Điều đó trên cả sự
mong đợi bởi với tôi, được Thầy đọc là đã quý, đâu dám nghĩ là Thầy còn viết cả
nhận xét cho mình. Tôi gọi điện và nghẹn ngào cám ơn Thầy. Thầy tỏ ra rất vui về
thành quả bước đầu của cô học trò cũ. Rồi Thầy lại hỏi tôi có được mấy bài tạp
chí rồi, nên trích đăng dần một vài phần của luận án trước lúc in thành sách
chuyên khảo. Ngoài ra, còn phải viết thêm nhiều nữa bởi vì dù muốn dù không, đã
ở cương vị giảng dạy đại học thì xong luận án Phó tiến sĩ (hồi đó chưa gọi là
Tiến sĩ) thì phải chuẩn bị cho hồ sơ Phó giáo sư… Giờ đây, ngồi đọc lại bản nhận
xét đề ngày 24/10/1995 với những dòng chữ viết tay nhỏ xíu, nghiêng nghiêng mà
tôi nâng niu, gìn giữ mấy chục năm nay như một kỷ vật quý giá và nhớ lại những
lời chỉ bảo đó của Thầy, mắt tôi nhoà lệ. Tôi mang ơn Thầy quá nhiều mà chưa một
lần báo đáp...
Lẽ ra là tôi có một cơ hội. Đó là dịp Nhà Xuất bản Giáo dục
có chương trình làm tuyển tập cho các giáo sư, chị Nguyễn Thị Bé, Trưởng ban
Văn của nhà xuất bản có nhã ý mời tôi đứng ra tập hợp bản thảo, tuyển chọn và
viết lời giới thiệu cho cuốn sách lớn nhất đó của đời Thầy. Tôi nhận lời ngay
vì đó là một dịp quý để tri ân Thầy. Nhưng sau đó, vì những lý do rất chính
đáng, cuốn sách được thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc đó, quả tình tôi
rất lấy làm tiếc và buồn, nhưng xét thật khách quan, tôi thấy các anh chị ở
Khoa Ngữ văn, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG TP.HCM chắc chắn sẽ làm rất tốt bởi họ
có nhiều quan hệ gần gũi, đang sống cùng và hiểu Thầy hơn. Thế rồi, tôi không
bao giờ còn được nhìn thấy Thầy lần nữa. Vào một ngày tháng 10/2009, Thầy đã lặng
lẽ từ biệt cõi thế để đi về thế giới bên kia...
Trong suy nghĩ của tôi, thầy Lê Đình Kỵ là một nhà khoa học mẫu
mực: kết hợp được sự uyên bác, lịch lãm của trí tuệ với độ sâu lắng, tinh tế của
cảm xúc, giữa tư duy sắc sảo với độ nhạy bén của trực giác. Trong tình cảm của
tôi: Thầy là một bậc sư phụ có trái tim lớn, nhân từ, độ lượng và bao dung. Mỗi
lần nhớ về Thầy, tôi như được sống lại trong tình thầy trò cao quí mà nồng hậu,
dịu dàng. Đó là khoảng trời bình lặng, đầy ắp tình đời, tình người, một mảng ký
ức không phai mờ luôn trở đi trở lại và toả ấm trong tôi.
Có lẽ vì sống thiên về nội tâm nên bài giảng của thầy “đạm chứ
không nồng”, hoặc Thầy cố dẫn dắt người nghe - sinh viên vào chiều sâu của nội
dung vấn đề mà ít quan tâm đến sự sôi nổi, hoặc một cái gì đó hơi thiên về hình
thức của đối tượng sinh viên “trẻ tuổi và trẻ lòng”, nhiều khi chỉ chú ý đến
cách ăn mặc, điệu bộ của Thầy hơn là nghe giảng. Học môn của thầy Kỵ, nếu tập
trung lắng nghe, mở rộng “tầm đón đợi”, sẽ gặt hái được rất nhiều điều bổ ích,
mới lạ. Chẳng hạn, khi giảng Truyện Kiều, đến đoạn Nguyễn Du mô tả cặp đôi
“quốc sắc thiên tài” là Kim Trọng và Thúy Kiều gặp gỡ, tự tình, đến câu
thơ: Kẻ nhìn tận mặt người e cúi đầu,Thầy dừng lại rất lâu để cắt nghĩa,
lý giải cho hết cái hay, cái khéo của Nguyễn Du trong việc khắc hoạ bức chân
dung một cặp tình nhân say nhau đến độ đắm đuối (có dấu hiệu “Xem trong âu yếm
có chiều lả lơi”). Theo Thầy, một người con gái đoan trang khi ngồi đối diện với
người đang si mê mình, thì khi người nam đã “cúi nhìn tận mặt” thì người nữ phải
“e cúi đầu” chứ lúc ấy mà lại “trừng trừng nhìn lên” thì chẳng ra làm sao! Cho
đến bây giờ, tôi vẫn chưa quên những lời phân tích hài hước nhẹ nhàng mà thấm
thía đó của Thầy. Và tôi “ngộ” ra rằng: đúng là Nguyễn Du đã chọn cho nhân vật
Thúy Kiều ở những khoảng khắc thời gian đó và trong không gian tình tự đôi lứa
đó một tư thế rất duyên dáng, rất đậm màu Á Đông.
Dạo tháng 12/1976, nhờ sự thu xếp của giáo sư ngôn ngữ Nguyễn
Lai, lúc đó đang giảng dạy tại một trường đại học ở Cộng hoà Dân chủ Đức, Thầy
có một chuyến xuất ngoại trong khoảng thời gian không đầy một tháng. Lúc đó tôi
vừa kết hôn và đang gặp khó khăn về chỗ ở. Thầy gọi tôi lên và nói: “Đời người
chỉ có một lần. Cậu lên nhà mình mà ở cho sáng sủa, rộng rãi. Mình đi Đức chừng
ba tuần. Trong thời gian đó chắc ký túc xá và phòng hành chính sẽ thu xếp xong
chuyện nhà cửa cho cậu”. Tôi hết sức bất ngờ, chỉ biết cúi đầu cảm ơn Thầy để dấu
những giọt nước mắt sắp trào ra... Ở Đức về, nhìn lại căn phòng, Thầy cám ơn
tôi đã dọn dẹp, lau chùi đồ đạc hộ Thầy. Cúi xuống gậm giường, Thầy chợt nói: “Ồ,
cậu giặt hộ mình bộ quần áo rồi à? Lần trước đi miền Nam mình cũng ngâm vào chậu
một bộ như thế, đến lúc lấy ra thì đã mục bủn cả rồi”. (Lúc này, Cô Long đã
chuyển vào Sài Gòn, Thầy sống ở Hà Nội một mình). Thầy kể là sang Đức có mua được
mấy chục chiếc nan hoa, mừng lắm vì mặt hàng này trong nước rất khan hiếm,
nhưng không ngờ nó lại là nan hoa xe thiếu nhi (hình như hồi đó chưa gọi là xe
mi-ni), mà mình lại không có loại xe này. Đoạn, Thầy lấy một quả “táo tây” hồng
hào, thơm nức, cẩn thận bổ ra làm nhiều miếng, đặt vào một chiếc đĩa với lời mời
“giàu chất thơ” và “rất có cánh”: “Mời cậu, một chút hương vị từ Xêbêria xa
xôi…”. Đó là thứ trái cây cao cấp nhất mà tôi được thưởng thức vào thời điểm ấy.
Và cho tới bây giờ, tôi chưa thấy có một quả táo nào thơm ngon đến thế!
Lý Hoài Thu




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét