Trên sông hoàng hôn
Chương 1
Gởi anh chị NGỌC-SƠN
với lòng biết ơn của
một người em
NGỌC-LINH
1
TỪ trong eo bến Cái Bè,
Năm Súng đẩy mạnh mái chèo, con đò lướt ra sông Cửu Long, hướng mũi về phía vàm
Cái Muối.
Trời không gió, nắng nhạt
màu phơn phớt trên giòng nước phẳng lặng mênh mông, làm tăng thêm vẻ buồn nhè
nhẹ của buổi chiều. Giòng sông rộng, hàng cây bên kia bờ chỉ còn là một vệt
xanh ngã màu xám, kéo dài đến tận vùng xa chỗ chân trời chụp xuống.
Ngồi bên chân ông lái,
nhin mái chèo khuấy nước, Thọ cảm thấy yên tâm, không còn sợ trễ chuyến đò chiều.
Năm Súng nhìn chàng mỉm cười, đôi mắt bộc lộ vẻ thương yêu.
Khi nãy vừa xuống xe,
chàng còn bỡ ngỡ, thì ông Năm hiện ra, khiến Thọ có cảm giác nhẹ nhàng của người
vừa thoát khỏi sự phức tạp giữa đám đông. Chàng theo Năm Súng xuống đò không
coi ông là người chèo đò mướn, mà chỉ vui thích được đi chung với người thân
trên một khoảng sông để về nhà.
Thọ chợt hỏi:
— Độ nầy làng mình, sao
chú?
Năm Súng đẩy mạnh tay
chèo, đôi mắt nhìn xa xôi. Ông đáp:
— Buồn lắm!
Giọng ông nhỏ lại rồi dứt
hẳn khi ý nghĩ triền miên. Thọ nhìn ông, nhìn khách đồng hành trên chuyến đò mà
không nhớ mặt một ai. Mọi người yên lặng như giòng sông yên lặng dưới chiều tà.
Chàng lại hỏi:
— Chú không đi câu nữa
sao?
— Câu lưới gì bây giờ
cũng không sống nổi! Ban ngày câu không đủ ăn, còn ban đêm thì nguy lắm. Thằng
Mạnh ở Ngả Tư Kinh, tháng rồi đi câu tôm ngoài vàm, bị tàu Tây bắn chết. Mấy
ngày sau xác nó tấp vào bến chợ Đồng Phú.
Thọ ngồi im, đôi mắt sụp
xuống, trên trán mấy làn nhăn nổi vòng, đôi môi chàng cong lại.
Năm Súng tiếp:
— Tàu ‘‘đầu bằng’’ hễ thấy
đèn là bắn càn. Có ai đám câu lưới gì nữa đâu!
Hoàng hôn buông xuống, vạn
vật mờ dần. Những rặng cây xa trở nên mờ mịt thành những vệt đen mờ như sắp
chìm đi trong ngấn nước. Vàm Cái Muối bắt đầu hiện ra trước mũi con đò.
Ngôi đình làng ngày xưa
là chốn tôn nghiêm thờ phụng, bây giờ sụp đổ vì những quả đại bác tàn phá. Những
chiếc cột còn trơ lại, đeo trên đầu kèo, xụ xuống trông thật điêu tàn hoang phế.
Thọ ngồi nhìn ngôi đình
xơ xác với đôi mắt u hoài. Chàng cảm thấy tang thương gieo rắc đâu đây, trong
khi ông Năm Súng và khách đi đò nhìn nó với vẻ thản nhiên. Họ đã quen cảnh tàn
phá chua xót, nên ngôi đình làng không còn đủ gây cho họ sự xức động như đối với
kẻ ít thấy cảnh sụp đổ, chia lìa.
Thọ lại hỏi:
— Sao không sửa đình
làng, chú Năm?
— Làm gì đủ gạch ngói.
Tây ngoài bót cho lính cạy hết gạch trong đình về xây lô cốt. Mấy ổng còn lấy
thêm mớ cột, kèo về chụm lửa.
Mọi người đều im lặng,
khi con đò lướt trên giòng nước, xuôi về bến chợ. Hai bên bờ sông, những ngôi
nhà ẩn hiện sau những tàn cây, lấp lánh ánh đèn. Thỉnh thoảng một vài mái ngói
lù lù vượt lên giữa cây lá xám đen, dưói ánh sáng lờ mờ còn sót lại, khiến Thọ
nghĩ đến sự sung túc của quê hương mình thời xa xưa, một sự sung túc được nuôi
nấng trong cảnh u tối vô tư của người thụ hưởng.
Đâu đó có tiếng hát ru
con, gieo âm điệu buồn man mác. Ngoài chiếc đò về muộn lần lần tiến về bến chợ,
trên sông không còn xuồng ghe nào lai vãng. Thời ly loạn bóng đêm gây sự không
lành cho mọi người, nên cứ chập tối là chẳng ai buồn đi đâu nữa!
Tiếng súng lẻ loi từ phía
đồn Tây vọng lại, âm thanh khô khan ghê rợn như nhắc mọi người nhớ: mình đang sống
giữa thời binh biến, phải mau trở về nhà vì nơi đó yên ổn hơn ngoài trời.
Đò cặp bến, hành khách lần
lượt bước lên cầu, Thọ cũng xách cặp từ giã ông Năm Súng. Ông ta hỏi chàng một
câu mà Thọ chưa biết trả lời ra sao:
— Cậu về chơi chừng nào
đi?
Câu hỏi hết sức chân
thành vì trong thời ly loạn ít có thanh niên nào dám sống lẩn quẩn ở những làng
mạc hẻo lánh. Có lộn xộn gì, chính họ là những nạn nhân đầu tiên. Thọ đáp:
— Chưa biết chú Năm?
Không chừng tôi ở nhà luôn.
Ông Năm trố mắt nhìn
chàng, không tin gia đình Thọ tính như vậy. Nhà có tiền sao không ở Sài gòn học,
về đây làm gì?
Thọ chậm rãi leo lên cầu
thang. Chàng đặt va li xuống, đứng lặng nhìn bến chợ đìu hiu, giữa lúc ngày đi
đêm đến. Những hàng quán quanh xóm chợ e dè mở cửa, bán vớt vát trong buổi đầu
hôm và sẵn sàng đóng ập cửa lại, nếu có động tịnh gì. Những ngọn đèn dầu trong
quán lờ mờ không đủ ánh sáng soi rõ con đường đất khô trắng chạy dài dưới hai
hàng cây trứng cá.
Thọ còn nhớ được tiệm thuốc
bắc của chú Sanh và quán nước của ‘‘anh Hai hủ tiếu’’. Nhà nhóm chợ bị đốt năm
nào, chỉ còn trơ lại cái nền không, cỏ mọc um tùm. Vài gian nhà mới cất nối dài
theo xóm chợ lần dần khoảng đất trống trước sân trường học cũ, bây giờ chỉ còn
trơ lại cây cồng tàn rộng xum xuê.
Thọ cất bước đi, lòng
chàng bỗng dưng buồn rười rượi, nhớ đến những kỷ niệm vui buồn của thời thơ ấu.
Chân chàng bước nhẹ nhàng trên đường đất, không tạo thành tiếng động, không gây
sự chú ý của mọi người trong các hàng quán. Thọ chỉ mong thế. Chàng muốn trở về
trong sự im lặng để tránh bớt những cặp mắt tò mò và những câu thăm hỏi khó trả
lời của người quen thuộc, dù đó là những câu chân thành mộc mạc.
Trong cảnh đêm gần như
yên lặng, bỗng nổi lên một điệu đàn, khiến Thọ nhớ đến tiếng đàn đặc biệt của
người Tàu, từ trên cửa sổ một ngôi nhà nào đó, trong Chợ-Lớn, nằm giữa hai dãy
lầu cao, khi chàng là khách bộ hành độc nhứt nện gót giày trên hè phố, trong
đêm khuya.
Tiếng đàn rất hòa hợp với
cảnh đìu hiu của bến vắng, từ trong ngôi nhà ở cuối xóm chợ phát ra. Ánh sáng
ngọn đèn giữa nhà lùa bóng tối ra khỏi hàng ba và ở chỗ tranh sáng đó, một ông
già Tàu ngồi dựa trên chiếc ghế mây, ôm cây đàn nguyệt, tay khảy vào dây, tay nắn
phím mà mắt nhìn vào chốn xa xôi nào.
Thọ không có cảm tưởng
ông ta đánh đàn mà đang làm một cử động cho qua thì giờ. Chàng không chắc ông
có ý niệm gì về thời gian đang xoay chuyển! Trong nhà, năm ba đứa trẻ nằm dài
trên bộ ván tập đọc, xí xô, xí xào lấn át tiếng nhau. Gần đó, một cô gái mặc áo
ngắn tay, bó sát vào thân, đang cắm cúi dọn ly tách và những chai rượu, chai nước
giải khát trên bàn. Mái tóc cắt ngắn vừa phủ khuất cổ nàng, đong đưa qua lại,
theo nhịp cử động của đôi tay.
Chắc là gia đình một người
Tàu mới đến lập nghiệp! Thọ nghĩ như vậy nhưng không chú ý đến sự đó nữa, khi
chàng vừa nghe tiếng chim bồ câu gụ trên mái ngói nhà mình.
Thọ nhìn ánh đèn trong
sân nhà, lòng nao nao cảm xúc. Chàng đã hình dung thấy sự êm ấm dịu dàng bên bà
mẹ hiền từ, bên cô em gái ngây thơ, trong bầu không khí tươi vui dưới mái gia
đình đoàn tụ.
Thọ nằm yên trên giường,
ánh trăng lùa qua cửa sổ, ngã xuống đất, chiếm một khoảng vuông nhỏ trong
phòng. Khó mà ngủ yên được đối với một kẻ đi xa vừa mới trở về quê. Chàng ra
ngoài, bắc ghế trước sân, ngồi cho mát. Trăng sáng phủ xuống vạn vật màu tươi dịu.
Hoa cỏ cây lá ướt đẵm sương đêm. Trước sân, những đóa cúc vàng nở sớm, phô
hương sắc giữa đám lá xanh đen ươn ướt sương; những đóa vành vành trắng tinh,
đượm đầy thân cây, thoang thoảng hương thơm.
Dưới thềm nhà có tiếng dế
thanh tao nổi lên gây cho Thọ sự xúc động bồi hồi. Tiếng dế gợi cho chàng nhớ lại
ngày xưa, thuở còn thơ ấu. Chàng rất thích con dế lửa có cánh vàng hực hỡ mà một
đêm nào chàng bắt được ở một kẽ nứt dưới thềm gạch trước nhà. Kẽ nứt ấy được lấy
hồ trét lại, nhưng Thọ đã lén cạy ra, và hy vọng con dế cánh vàng khác lại đến,
để chàng bắt nhốt vào hộp.
Ngày nay, chắc không còn
ai buồn săn sóc đến thềm gạch, mà chàng cũng không còn nỡ bắt con dế đang ung
dung gáy dưới kẽ thềm.
Thọ rời khỏi chiếc ghế,
nhón gót đến gần bực thềm khòm sát xuống tìm xem kẽ hở ngày xưa có còn chăng?
Có tiếng động phía sau
lưng, Thọ giựt mình quay lại. Dung vừa hiện ra ở bực cửa tươi cười. Tóc nàng
lòa xòa xuống vừng trán càng làm nổi bật đôi mắt trong sáng dịu hiền.
Dung khẽ hỏi anh:
— Anh chưa ngủ sao? Ở Sài
gòn chắc hay thức khuya lắm nên dạo nầy anh ốm hơn trước.
Thọ nhìn em cảm động. Giọng
nói của Dung êm dịu lạ thường, bộc lộ hết tình thương sâu kín trong lòng cô em
gái, lúc nào cũng nghĩ đến sức khỏe của anh.
Chàng bước đến bên Dung
nói:
— Anh thường ngủ sớm chớ.
Đêm nay máới trở về, tâm hồn anh như trải qua một cơn thay đổi: giữa sự ồn ào
phức tạp của thị thành và sự yên lặng gần như cái chết chóc ở thôn quê. Anh hơi
bỡ ngỡ trước sự sống mới mẻ.
Thọ ngừng lại nhìn em rồi
tiếp:
— Thêm vào đó những kỷ niệm
của thời thơ dại đã qua và niềm vui đoàn tụ dưới mái gia đình bắt buộc anh suy
nghĩ vẩn vơ, không thể nào ngủ được. Chưa bao giờ anh sung sướng như đêm nay.
Dung bật cười:
— Vậy mà mẹ cứ sợ anh
không thể sống nổi ở nhà.
Bầu trời bỗng dưng tối sầm
lại vì ánh trăng bị
mây che khuất. Cảnh vật
chìm trong bóng tối lờ mờ.
Dung bỗng nghiêm giọng hỏi:
— Độ rày ở Sài gòn, anh
làm gì đến nỗi anh Hai phải lo sợ, thơ nào gởi về cũng than phiền với mẹ. Mẹ buồn
lắm và định bắt anh ở nhà luôn.
Thọ không đáp, ngước nhìn
mảnh trăng đang từ từ ra khỏi đám mây. Dung cảm thấy câu nói của mình hơi dư vì
nàng thừa hiểu hành động của anh ra sao rồi.
Nàng đã đọc những bức thơ
từ Sài gòn gởi về cho mẹ, nên biết Thọ thường cùng bạn bè làm những việc có thể
bị bắt lúc nào không biết. Vì vậy mà Thọ mới bị anh Hai đưa về quê để trốn
tránh.
Thình lình, Thọ nói:
— Hơi đâu mẹ nghe anh
Hai? Lúc nào, ảnh lại chẳng muốn sống an thân.
Biết anh buồn nhiều về
chuyện đó, Dung mỉm cười, đưa câu chuyện sang hướng khác:
— Anh còn nhớ chị Mai
hông?
Thọ nhìn em như tìm hiểu.
Đương không, Dung nhắc đến một cô gái trong làng khiến Thọ ngạc nhiên và không
khỏi nghi ngờ có chuyện gì đó?
Chàng hỏi:
— Cô Mai, con ông Hội Đồng
Thành ở Phước Định hả?
— Em tưởng anh đã quên! Mẹ
định hỏi cưới chị ấy cho anh đó.
— Bậy nà! Đừng nói chơi,
đến tay ông bà Hội lại mích lòng.
Dung thản nhiên tiếp:
— Không! Em nói thật.
Chính anh Hai cũng muốn hỏi chị Mai cho anh.
Thọ ngồi im. Bỗng dưng
chàng nhớ đến hình ảnh cô gái nhỏ mặc áo bà ba trắng, thường ngồi câu dưới mé
sông trước nhà, trong những buổi hoàng hôn. Mỗi lần, thấy bóng chàng ở xa xa,
nàng đã cúi gầm mặt xuống không dám ngẩng lên. Bây giờ thì Mai hẳn lớn rồi và
chàng chắc không còn thái độ như xưa nữa.
Dung nói:
— Trong thơ gởi về cho mẹ,
anh Hai bảo nên cưới vợ để cầm chân anh. Có phải khi người ta có vợ rồi thì
không còn muốn làm gì nữa hả anh?
— Em ngớ ngẩn thật. Anh
cưới vợ lần nào đâu mà biết.
Hai anh em nhìn nhau cười.
Giọng cười trong trẻo của Dung làm xao động bầu không khí trong đêm khuya.
Nàng chợt im bặt, nhìn
con đường đất trống trơn thẳng về phía chợ rồi bảo Thọ:
— Đi ngủ anh. Dưới nầy,
đêm khuya, không nên ở ngoài trời.
Thọ theo em vào nhà. Khi
lên giường nằm, chàng bỗng nghe văng vẳng tiếng đàn nguyệt bên kia nhà ai rời rạc,
buông lơi mà từ nãy giờ, chàng không chú ý.
Thọ định bụng hỏi Dung về
cái gia đình người Tàu xa lạ kia, nhưng rồi lại quên khuấy đi mất.
Bảy giờ hơn, ánh nắng mới
hiện ra khi trận mưa từ khuya kéo dài đến sáng mới dứt!
Từ trên mái ngói, nước
mưa còn rỉ lại, thỉnh thoảng nhểu xuống từng giọt, gây thành tiếng động nhỏ
trên vũng nước ngoài hiên.
Trời mưa buổi sáng ở thôn
quê không làm cho người vui được, nhứt là kẻ mới đi xa về. Thọ nhìn trời nặng
trĩu màu ướt át mà lòng bâng khuâng buồn. Chàng với tay lấy cây đàn và tìm
khuây khỏa trong tiếng nhạc. Tiếng đàn của chàng cũng nặng trĩu nỗi niềm như những
làn mây xám xậm, chầm chậm kéo lê thê ngoài trời và đến khi nắng bừng lên ấm
áp, tràn vào cửa sổ thì Thọ buông đàn đứng dậy, chống tay lên thành cửa nhìn
ra. Lòng chàng rạng rỡ lên như màu nắng sáng.
Thọ nhìn về phía chợ, chỗ
những gian nhà mới cất, đột nhiên đôi mắt chàng bắt gặp đôi mắt một kẻ khác
đang nhìn trộm.
Đôi mắt long lanh sáng
ngó Thọ nửa như tò mò, nửa như cảm mến. Đôi mắt sáng đẹp dịu dàng trên gương mặt
thùy mị sâu kín, của cô gái Trung-Hoa mà đêm hôm trở về làng, chàng thoáng thấy
trong gian nhà có tiếng đàn nguyệt.
Người thiếu nữ Trung-Hoa
đứng bên trong khung cửa không chấn song, nhìn qua cửa phòng Thọ lúc nào không
biết, bỗng dưng bị chàng bắt gặp. Thiếu nữ hơi e thẹn, ngước nhìn trời như
tránh đôi mắt của chàng, nhưng cái nhìn ngắn ngủi vừa qua đủ gây xúc cảm tự
nhiên trong lòng Thọ... Chàng chưa bao giờ thấy một đôi mắt sáng, linh động ẩn
chứa nhiều nỗi niềm như vậy, trong những đôi mắt đẹp mà chàng đã gặp trên đường
đời.
Thọ có cảm tưởng nếu
không có phút bắt chợt tình cờ kia, có lẽ cả đời chàng không làm sao tìm thấy
đôi mắt linh động, phát lộ nỗi niềm, trên gương mặt người thiếu nữ Trung-Hoa, vốn
sâu kín gần như lãnh đạm.
Thọ có cảm giác như mình
là người bị truyền cảm bởi người thiếu nữ xa lạ. Chàng phân vân không hiểu vì
đâu nàng trao cho mình cái nhìn ấy, nhưng chàng cũng cảm nhận lờ mờ là nàng có
chút cảm tình với mình.
Nắng tươi đẹp tràn ngập
xuống làm cho toàn thân thiếu nữ sáng hẳn lên, trong khung cửa. Gương mặt nàng
trắng hơi dài, má hồng thắm tự nhiên, miệng cười tươi, mắt sáng long lanh dưới
đôi mi nhỏ cong vòng nguyệt. Mái tóc đen huyền cắt ngắn vừa chấm đến vai lòa
xòa xuống má, phơ phất trên vừng trán hơi cao như che giấu sự hiểu biết của
nàng.
Một con chim tự đâu đáp
xuống cành cây lá rậm bên cửa sổ nhà nàng, cất cao giọng hót gieo âm thanh lảnh
lót thanh tao trong bầu không khí êm dịu của vườn quê.
Thọ và người thiếu nữ
Trung-Hoa như hòa hợp tâm hồn trong cảnh êm đềm tươi sáng. Có một sự gì là lạ
gây cho họ nhiều cảm giác kỳ thú nhẹ nhàng.
Dung từ trước sân, vừa bước
đến hông nhà, chỗ phòng ngủ của anh, trên tay cầm mấy cành hoa huệ trắng tinh,
mới cắt. Nàng mang hoa vào phòng ngủ cho Thọ.
Nhưng đến đây, Dung bắt
chợt Thọ và Hà Anh, cô bạn gái Trung-Hoa bên cạnh nhà, đang bỡ ngỡ nhìn nhau
trong sự cảm thông vừa thoáng hiện. Nàng cúi đầu bước qua mau, như muốn để yên
cho hai người trong giờ phút giao cảm ấy.
Thọ và Hà Anh đều thấy
Dung mỉm cười, đôi má núng đồng tiền rất duyên dáng, nọ cười đó như có ẩn ý trước
sự bỡ ngỡ của hai người.
Hà Anh e thẹn, cúi đầu
nhìn xuống rồi quay vào trong. Bóng nàng lẩn trong gian buồng mờ mờ tối.
Thọ cũng hơi ngượng đối với
em vì vô tình Dung bắt gặp mình tò mò nhìn một thiếu nữ lạ; nhưng đôi mắt linh
động của cô gái láng giềng kia gây cho chàng nhiều sự chú ý. Chàng phải hỏi
Dung về thân thế của cô ta. Nàng sống với ai và đã đến đây từ bao giờ?
Dung đã đi thẳng ra nhà
sau, cắt hoa huệ cắm vào bình. Thọ bước theo em định gợi chuyện. Nhưng khi thấy
Dung quay lại, nét mặt hí hởn như sắp cười mà vừa làm bộ nghiêm khiến Thọ khó
chịu. Chàng có cảm tưởng như Dung định phá mình về chuyện lúc nãy.
Thọ đển gần em, Dung vẫn
chậm rãi cắt những cành hoa huệ trắng, không tỏ vẻ gì chú ý đến sự có mặt của
anh, Thọ thấy khó khăn khi mở lời hỏi Dung. Câu nào định nói ra chàng cũng đều
cho là không được tự nhiên và ngại Dung sẽ cho mình quá tò mò.
Dung thình lình nhìn vào
mặt anh, rồi đem bình hoa lên thẳng nhà trên.
Thọ mỉm cười và nghĩ là
mình không nên tò mò như vậy. Dung trở xuống nhà dưới thì anh mình không còn ở
đó nữa. Nàng bước ra vườn sau. Bây giờ ánh nắng đã lên cao, rực rỡ trên cây cỏ,
lá, hoa. Những vũng nước đọng như biến thành hơi khói mỏng bốc lên tan hòa
trong không khí. Bên cạnh vườn nhà nàng, có tiếng hát nho nhỏ lẫn với tiếng động
của hai mảnh vải ướt chạm vào nhau. Dung nhìn sang và mỉm cười khi thấy Hà Anh
ngồi giặt áo dưới cầu ao, Nàng cọ những mảnh vải vào mặt ván làm bọt xà bông
tung lên thành những quả bong bóng xanh đỏ dưới ánh sáng mặt ười.
Hà-Anh hôm nay có gì sung
sướng hơn mọi ngày và đây là lần đầu tiên, Dung thấy bạn vui vẻ, hồn nhiên.
Nàng vừa làm việc vừa hát bài ca, ca ngợi ái tình...
Tiếng chim se sẻ chiu
chích gọi nhau trên hàng cây sua đũa bên hông nhà, gợi thêm sự cô tịch trong buổi
chiều vắng lặng. Thọ ngồi trong phòng thẫn thờ nhìn lên nền trời xanh thẳm thỉnh
thoảng vài con cò trắng bay ngang, hướng về phía đình làng. Một nỗi buồn vô căn
cứ như xâm chiếm tâm hồn. Chàng thấy trong lòng như thiếu thốn một sự gì. Bỗng
dưng Thọ liếc nhìn sang bên kia song cửa sổ sơn màu xanh tối mà buổi sớm mai
chàng đã bắt gặp một đôi mắt đẹp. Bên trong khung cửa lờ mờ không phân biệt được
vật gì nhưng chắc chắn là không có bóng người thiếu nữ Trung-Hoa. Tiếng chân ai
nhè nhẹ bước vào phòng khiến Thọ quay đầu nhìn lại. Dung hiện ra, dịu dàng
trong ánh mắt, trong nụ cười tươi trẻ hồn nhiên.
Nàng hỏi Thọ:
— Anh đang nghĩ gì đó? Nhớ
cô ta hả?
Thọ nghiêm trang đáp:
— Em trẻ con quá! Ai đi
nhớ một người chỉ thoáng thấy một lần.
Dung đưa ngón tay lên môi
cắn chặt, cho khỏi bật tiếng cười. Đôi mắt nàng sáng hẳn lên. Nhưng chỉ một
phút nàng lại cười thành tiếng.
Thọ ngạc nhiên hỏi:
— Em cười gì vậy?
— Em cười anh! Không ai hạch
hỏi mà đã khai. Người anh thoáng thấy là ai vậy?
Thọ lúng túng và biết
mình hở hênh bị Dung trêu chọc, chàng đáp:
— Em hay xoi bói anh quá.
Có lẽ em sắp nói những gì mà buổi sáng chưa kịp nói phải không?
Dung tinh nghịch hỏi lại:
— Có chuyện gì đâu?
Thọ ngó em, không đáp.
Dung cứ tưởng anh mình sẽ hỏi những điều muốn biết, nhưng Thọ vẫn im lặng. Sự
đó khiến Dung náo nức. Nàng không thể trầm tĩnh như anh được.
Lòng nàng hồn nhiên sáng
sủa, không bận chút gì u ẩn. Nàng cần trút hết những ý nghĩ vui buồn với người
thân thích:
— Anh nghĩ sao về sự thay
đổi ở làng mình?
— Anh chưa ra khỏi nhà
làm sao biết được?
Rồi Thọ mỉm cười, tiếp:
— Có điều anh thấy trước
mặt nhà mình có gia đình người hàng xóm mới, mà anh đoán là người Tàu.
Dung cũng cười, nụ cười
tinh nghịch. Nàng hỏi thình lình:
— Chỉ có vậy thôi?
— Chớ còn gì nữa?
— Vậy mà em tưởng anh muốn
biết nhiều điều khác về họ?
Thọ nhìn lảng đi và nói:
— Đêm hôm về, anh nghe tiếng
đàn nguyệt bên nhà đó. Tiếng đàn quen thuộc của người Trung-Hoa.
— Người đánh đàn là cha
chị Hà Anh.
Thọ hỏi liền:
— Hà Anh nào?
Dung dịu giọng đáp:
— Một cô gái khôn ngoan,
có học và rất hiền lành.
Tự nhiên lòng Thọ trở nên
nhẹ nhàng. Chàng gật đầu:
— Anh cũng nghĩ vậy.
Nắng chiều đã tắt hẳn
trên các ngọn cây, hoàng hôn buồn tím ngắt. Những hàng quán đằng phía chợ đã
lên đèn. Bóng tối lan dần, lan dần phủ kín bờ sông.
Trong khung cửa gian nhà
kế cận, ánh đèn vụt cháy, Hà Anh hiện ra bên cạnh chiếc bàn con, đôi mắt sáng
long lanh. Thọ thầm nghĩ đôi mắt của nàng dễ gây cảm tình với bất cứ ai chỉ
thoáng gặp một lần. Vừa chợt thấy nàng, Thọ đã quay đi nơi khác. Chàng không muốn
Dung nghĩ ngợi nhiều về chàng và cô gái Trung-Hoa kia. Nhưng đôi mắt của Hà Anh
vẫn làm cho chàng phải lưu ý...
Chàng quay sang em:
— Họ về đây bao lâu rồi?
Dung đáp:
— Gần một năm. Họ có đất
bên Cái Sơn nên về đây để được thâu huê lợi. Nếu ở xa họ hết còn quyền lợi.
Thọ lại hỏi:
— Nhưng sao không cất nhà
bên Cái Sơn cho gần?
Dung mở to đôi mắt nhìn
anh:
— Bên ấy không đóng bót,
Tây đi bố hà rầm làm sao dám ở!
— Trước kia họ ở đâu?
— Cha Hà Anh có phố ở Chợ-lớn,
nhưng bây giờ không còn nữa. Ông ấy ghiền thuốc phiện mà hết sạch đó?
— Sao em rõ chuyện của họ
nhiều vậy?
Dung liền đáp:
— Hà Anh là bạn thân của
em. Chúng em vẫn thường tâm sự với nhau.
Thọ hỏi khéo em:
— Em thân với người
Trung-Hoa dễ dàng như vậy à? Họ khó tánh và lãnh đạm với mọi người.
— Anh lầm, họ vốn kín đáo
nhưng cũng giàu tình cảm như ai vậy. Nhìn bề ngoài khó hiểu được họ. Hà Anh dễ
thương và tốt lắm. Chị ấy mến em.
— Anh thật không ngờ.
Dung giải thích:
— Anh nghĩ, chúng em gần
trạc tuổi, lại cô độc như nhau, làm sao không tha thiết với nhau được.
Thọ gật đầu rồi nhìn qua
nhà Hà Anh, bảo em:
— Nhà cô ấy đông trẻ con
quá.
— Em của chị ấy đó. Hà
Anh phải lo lắng cho chúng từng chút vì bà mẹ đã qua đời.
Thọ buộc miệng nói:
— Tội nghiệp!
Dung thấy Thọ thốt ra hai
tiếng tội nghiệp bằng tất cả sự thành thật đối với bạn mình, chớ không phải nói
lấy lệ. Nàng nhìn anh và gương mặt buồn buồn của Thọ làm nàng không vui.
Dung nói:
— Thôi đi ăn cơm anh. Ở đời
mỗi người mỗi cảnh mà.
Thọ đứng lên. Chàng vói
tay khép cửa sổ và Dung nghe anh lẩm bẩm một mình:
— Tội nghiệp!
Dung cảm thấy anh mình
thay đổi hơn những năm về trước và nàng không làm sao hiểu ngay được sự thay đổi
ấy.
Chương 2
THỌ qua khỏi con lộ đá, nối
liền Chợ Lách - Vĩnh Long là vào ấp Phước Định, một ấp nhỏ sung túc nhứt của
làng Bình Hòa Phước.
Đường làng nhỏ hẹp xuyên
qua những vườn dừa đơm trái và bị đứt khoảng bởi những mương nhỏ có cầu khỉ nối
liền.
Mỗi khi trời mưa xuống,
những cây cầu khỉ nầy đều trơn nhớt. Có lần Thọ bị trợt chân nhào xuống mương,
nên chàng nhớ mãi.
Ở xóm Phước Định có rất
nhiều nhà khá giả. Dọc bên đường những nóc ngói đỏ, mọc rải rác trong những khu
vườn rợp bóng cây.
Nhà ông Hội Đồng ở tận cuối
xóm gần bờ sông Cái, đất ở cù lao bồi nầy đều thuộc về ông. Hàng rào me keo trước
sân nhà kéo dài gần bảy tám trăm thước, thường được cắt xén cẩn thận, nhưng bây
giờ đã bỏ phế, nhiều chỗ cành lớn mọc chồm ra đường hay từng khoảng bị chặt bỏ
trống.
Chiếc cầu ván trước cổng
nhà, chỗ Thọ đã bắt gặp Mai ngồi câu cá dưới chiều tà, bây giờ chỉ còn sót lại
vài cột trụ xiêu vẹo. Điêu tàn như thấp thoáng đâu đây, gợi lòng người nhìn cảnh
cũ chút niềm chua xót.
Thọ đứng trước cổng nhìn
con đường lót gạch tàu thẳng vào cửa chính của tòa nhà nền đúc, cất theo lối cổ
mà qua những năm xa cách, chàng vẫn thấy như xưa. Thọ nhớ nhà này có hai con
chó hung tợn, nên chàng chần chờ chưa dám vào. Cảnh yên lặng khiến Thọ có cảm
tưởng mọi người yên lành trong giấc nghỉ trưa. Chàng e ngại mình đi thăm ông bà
Hội Đồng không nhằm lúc. Không một bóng người và hai con chó kia cũng vắng dạng.
Thọ còn đang bỡ ngỡ không
biết có nên vào hay không thì ở cửa cái tòa nhà, một thiếu nữ chợt hiện ra.
Nàng nhìn phía cổng hơi ngập ngừng rồi bước về phía Thọ. Dáng nàng uyển chuyển
dịu dàng, mái tóc đen huyền buông xõa thòng quá tầm lưng, đong đưa qua lại theo
nhịp bước.
Thọ kêu lên nho nhỏ:
— Mai!
Thật không ngờ! Mai đổi
khác hơn mấy năm về trước rất nhiều. Nàng không còn là cô gái bé bỏng ngồi câu
cá dưới bờ sông mà mỗi lần gặp Thọ lại e thẹn cúi đầu, dù đã quen biết.
Bây giờ, Mai là một thiếu
nữ đang tuổi dậy thì, đẹp dịu dàng như một đóa hoa tươi thắm vừa chớm nở giữa
ruộng đồng.
Mai đến trước mặt Thọ cúi
chào. Nàng cố giữ vẻ bình tĩnh, nhưng Thọ cũng nhận thấy sự ngạc nhiên hiện lên
trong đôi mắt nàng.
Thọ chào nàng và hỏi:
— Hai bác có nhà không cô
Mai?
Đôi mắt thiếu nữ sáng lên
niềm vui. Nàng không giấu được vẻ luống cuống khi đáp lời Thọ:
— Dạ, ba má em đi Đồng
Phú hồi sáng.
Thọ thất vọng nói:
— Tiếc quá! Lâu ngày đến
thăm lại gặp lúc hai bác đi vắng.
Mai nhìn xuống để giấu nụ
cười tự nhiên rồi hỏi:
— Anh mới về hả anh Thọ?
— Tôi về mấy hôm nay. Bận
nhiều việc chưa kịp đến thăm hai bác. Thật lỗi quá!
Mai nghiêm trang mời Thọ:
— Anh vào nhà chơi, lát nữa
chắc ba má em về.
Thọ đã định cáo từ để hôm
khác trở qua, nhưng rồi chàng lại muốn nấn ná trò chuyện với Mai, người mà mẹ
chàng định hỏi cưới cho chàng. Thọ muốn hiểu nàng thêm, dù trong lòng chưa có
ý-niệm gì về cuộc hôn nhân đó. Chàng gật đầu rồi theo Mai.
Sự nhận xét đầu tiên của
Tnọ đối vái Mai là nàng lởn lên, đẹp hơn trưác. vẻ hồn nhiên tươi trẻ của Mai
chắc chắn sẽ an ủi được những tâm hồn buồn nàn vì Sự phức tạp của ẹuộc đời. Ờ
nàng, Thọ tlm thấy được sự tinh khiết, trắng trong cửa một đóa hoa vừa hé nụ
khoe sắc hương. Thọ không thấy lòng mình rung động sâu xa trước vẻ đẹp hồn
nhiên ấy xong chàng phải nhận là mình có cảm tình khi đổi diện với nàng.
Vào tới trong nhà, Mai mời
Thọ ngồi. Nàng gọi chị ở pha trà đãi khách nhưng khi nhìn tách nước bốc lên hơi
nóng giữa trời trưa, nàng thấy mình không khéo, nên nói:
— Anh uống nước dừa
nghen? Hồi trước anh thích uống dừa lắm mà.
— Cô nhớ rõ quá.
Rồi Thọ vui vẻ tiếp:
— Tôi nhớ những buổi trưa
mình đi hái dừa ngoài vườn, có Dung nữa đó?
— Em nhớ...
Đôi má Mai ửng hồng,Thọ
nhìn nàng mỉm cười:
— Tôi tưởng ra vườn uống
dừa có lẽ mát hơn.
Mai hơi e ngại một chút rồi
đáp:
— Dạ!
Thọ đứng lên theo Mai.
Chàng còn nhớ rõ lối đi bên hông nhà. Vườn sau vắng lặng. Buổi trưa, nóng bức,
chim chóc uể oải không buồn ca hót. Những hàng quít thẳng băng chạy múc ngoài
ruộng xa, gốc nào cũng sai trái ửng vàng. Thọ buộc miệng nói:
— Đẹp quá!
Mai ngẩng lên nhìn chàng
rồi ngó theo tầm mắt của Thọ. Nàng chợt hiểu và cảm thấy vui vui trước thái độ
bỡ ngỡ của người bạn trai.
Thọ hỏi:
— Quít sai trái quá, chắc
hai bác thâu huê lợi nhiều lắm.
Mai mỉm cười đáp:
— Em không biết rõ!
Thọ mỉm cười nhìn Mai:
— Cô vô tư quá!
Lòng Mai tràn ngập sự
tươi vui. Nàng vui sướng vì có dịp được nói về mình với người nàng yêu mến:
— Không hiểu sao em không
thích nghĩ ngợi nhiều về những việc xảy ra quanh mình? Đó có phải là tật xấu
không anh?
Thọ nhìn nàng như tìm hiểu.
Chàng còn đang nghĩ một câu để trả lời cho Mai vừa lòng thì nàng đã lảng sang
chuyện khác:
— Anh đi lâu quá mới về
dưới nầy.
Rồi nàng lại chỉ tay về
phía bờ ao nói mau:
— Con chim thằng chài đẹp
quá! Nó sắp sửa nhào xuống nước đó...
Nàng lại reo lên:
— Chậm quá! Nó bắt hụt
con cá rồi.
Con chim đập đôi cánh bay
lên, làm bắn tung những giọt nước còn đọng lại trên mớ lông vàng, xanh, tím, đỏ,
khiến Thọ và Mai phải ngước nhìn theo nó.
— Đẹp quá!
Thọ vừa nói vừa nhìn Mai
và bắt gặp đôi mắt nàng đang âu yếm nhìn mình. Chàng quay đi nơi khác. Mai thấy
lòng rào rạt. Nàng tưởng chừng như Thọ có ý khen mình.
Thình lình nàng hỏi Thọ:
— Bao giờ anh đi?
Thọ như sực tỉnh giấc mơ.
Chàng đáp, giọng nói không buồn không vui:
— Tôi cũng chưa biết chừng
nào! Có lẽ tôi ở luôn dưới nầy.
Mai trách móc:
— Anh không biết được anh
nữa sao?
Câu nói đó khiến Thọ cúi
mặt. Tự dưng chàng mỉm cười, nụ cười không hợp với cảnh êm đềm hiện tại vì nó
có vẻ buồn buồn, pha lẫn sự bực bội:
— Có lúc tôi không biết
mình sẽ làm gì nữa?
Giọng nói của Thọ làm cho
Mai không rõ được chàng đang vui hay buồn. Nàng ngơ ngác nhìn chàng và có cảm
tưởng như Thọ đang khổ sở hoang mang hay bất mãn sự gì?
Giữa nàng và Thọ vụt chốc
trở nên xa lạ. Trong cảnh êm dịu nầy, lẽ ra hai người phải vui vì những kỷ niệm
êm đềm cũ, song có gì như ngăn cản sự đó với hiện tại mà Mai cũng không rõ nữa!
Nàng lặng im suy nghĩ. Lần
đầu tiên trong đời. nàng phải bận óc về một chuyện rắc rối không đâu.
Mai hỏi:
— Anh có vẻ lạ hơn ngày
trước. Em không hiểu anh ra sao nữa!
Thọ cười đáp:
— Tôi thành ra bí mật đối
với cô? Nhưng thôi, cô chú ý làm gì những chuyện đó.
Một con cá quậy dưới nước
và lội mau về phía đầu mương làm thành hai làn nước rẽ cuộn lên, y như hai đợt
sóng sau chiếc tàu đã tắt máy. Thọ kêu lên:
— Con cá lớn quá!
— Ở mương nhà có nhiều cá
lớn lắm.
Khi hai người ngồi dưới
bóng râm mát cạnh bờ ao với mấy trái dừa xiêm thì Thọ gợi chuyện cũ:
— Hồi xưa, mình cũng ngồi
chỗ này.
— Anh nhớ dai lắm.
— Có gì mà nhớ với không?
Tự nhiên cảnh đó đã in trong óc mình.
— Anh nói phải. Tự nhiên
mình nhớ mà không cần chú ý đến.
Bỗng dưng hai người im lặng.
Một lúc Thọ hỏi tiếp:
— Cô thôi học từ hồi nào?
— Hồi Tây chiếm Vĩnh
Long.
— Cũng gần 4 năm rồi.
— Ở nhà đọc sách tự học
cũng thích anh à! Ba má không cho em đi xa, mà em nghĩ cũng hữu lý. Em cần có
chút ít học thức là đủ, không nên học nhiều quá vì con gái học nhiều cũng lẩn
quẩn ở nhà, có làm ông gì, bà gì đâu?
Thọ cười nói:
— Hai bác sợ cô đi xa
không yên lòng được trong thời nầy, chớ tôi tin hai người không nghĩ vậy đâu.
Ai lại không muốn cho con học giỏi hơn người?
— Nhưng em tự học cũng đủ
rồi!
Thọ nhìn nàng, không tin
lời nói đó vì chắc chắn Mai không ưa tìm tòi những gì ối óc hay đòi hỏi sự trì
chí.
Thọ nín lặng. Mai vụt hỏi:
— Anh chê em dốt hả?
Thọ phản đối ngay:
— Không. Cô đừng hiểu lầm.
Nào tôi có ý đó!
Mai mỉm cười hỏi:
— Còn anh? Độ nầy học
hành ra sao?
— Anh Hai vừa cho tôi nghỉ
học để lo việc nhà. Thật ra, tôi cũng không thích ngồi mãi trong lớp hay theo một
ngành chuyên môn nào!
— Vậy anh định làm gì?
— Tôi cũng chưa biết...Tôi...
Câu chuyện lại xoay về hướng
cũ nên cả hai đều bí lối như lần trước. Lần nầy, Mai đã ý thức việc đó. Nàng
nghĩ không nên làm phiền Thọ mà mình cũng lại bực bội lây. Mai nói lảng:
— Cây dừa nầy ngọt lắm!
— Thấy trái là tôi chắc
ngọt rồi.
Thọ đã vạt xong trái dừa
và bưng đưa cho Mai. Nàng đỡ lấy nhưng không uống.
Chàng lại vạt một trái
khác, đưa lên uống rồi hỏi:
— Kìa sao Mai không uống?
Hay cô nhường cho khách?
Mai cười đáp:
— Không phải vậy đâu anh?
Em đau mới mạnh không dám uống dừa.
Thọ gật đầu tỏ ý hiểu. Giữa
lúc ấy, chị ở ra đến nơi và nói:
— Cô Hai! Ông bà gọi cô.
Thọ đứng lên, trong lúc
Mai hỏi chị ở:
— Ba má tôi vừa về hả?
- Dạ.
Vừa chú ý nghe, Thọ ngước
mắt nhìn lên. Qua những cành lá xanh tươi, rung rinh theo gió thoảng, mặt trời
đã chếch bóng.
Chàng nói:
— Thời giờ mau quá, chiều
rồi.
Mai gật đầu tỏ ý nghe
chàng nói và bảo chị giúp việc:
— Được rồi, tôi vô liền.
Thiếu phụ nhìn hai người
mỉm cười, nụ cười vui vẻ như ẩn chứa sự tình gì, khiến Mai và Thọ ngượng nghịu
bên nhau.
Mai nhìn lảng đi, đôi má
đỏ ửng. Nàng xao xuyến bâng khuâng nỗi tình khó tả. Trong sự e thẹn còn pha lẫn
chút gì êm ái, dịu dàng mà nàng cảm thấy thoáng hiện trong tim...
Thọ nhìn vào nhà nói bâng
quơ:
— Bồ câu trắng trên nóc
nhà cô đẹp quá.
Mai hình như không nghe
tiếng Thọ vì nàng không đáp mà lẳng lặng bước đi.
❊ ❊ ❊
Mai bước chậm trên con đường
đá sỏi, dọc theo ven sông, trong buổi chiều êm ả. Lòng nàng cũng êm dịu, nhẹ
nhàng như buổi chiều đang đi đến hoàng hôn. Cây bông chúa trước nhà nở hoa thoảng
hương thơm ngào ngạt trong gió, thắm dịu lòng nàng, khiến Mai thấy hồn mình
lâng lâng như đang đi trên đường đầy hoa đẹp. Sự có mặt của Thọ từ trưa đến giờ
trong nhà nàng khiến Mai nghĩ ngợi nhiều. Những lời nói vui vui của Thọ như nhắc
nhở Mai tất cả những kỷ niệm của thời thơ ấu.
Mấy năm về trước, nàng và
Thọ là đôi bạn trẻ tuy bề ngoài không thân nhau nhưng bên trong rất mến nhau.
Nàng hiểu Thọ qua em gái chàng là Dung, qua những mẫu chuyện ở học đường và
nàng rất cảm phục chàng. Cảm tình ấy Mai giữ mãi đến ngày nay. Gặp lại Thọ, qua
bao năm xa cách, nàng bỡ ngỡ đôi chút nhưng rồi những kỷ niệm thời xưa được
khơi dậy trong lòng. Mai nhận thấy mình đối với chàng cũng như tự thuở nào.
Nàng chưa có ý niệm rõ rệt về tình yêu, nhưng trong sự đối xử giữa cha mẹ nàng
với Thọ. Mai có cảm tưởng như ông bà dự định một sự gì có liên quan đến tương
lai của nàng và người bạn trai dễ mến.
Mai ngồi xuống bãi cỏ bên
bờ sông nhìn dòng nước trong xanh, êm đềm chảy, cuốn nhẹ những tấm lá vàng héo
về một hướng. Có con chim chìa vôi đang hót gió lẻ loi đâu đó, làm tăng thêm sự
vắng lặng buổi hoàng hôn. Bóng nắng đã tan mờ trên các ngọn cây, không gian
cũng nhạt màu. Văng vẳng nơi nào tiếng chuông nhà thờ đổ ngân nga.
Bỗng Mai quay nhìn lại.
Hình như có tiếng chân ai nhè nhẹ sau lưng nàng. Mai bắt gặp đôi mắt Thọ đang
chăm chú nhìn mình.
Nàng cất tiếng ngập ngừng:
— Anh không ở trong nhà
nói chuyện với ba... em à!
Tiếng ‘‘em’’ Mai nói
nhanh quá nên lấp mất, làm cho Thọ nghĩ rằng Mai có ý nói riêng tiếng ‘‘ba’’
trơn để cho cảm tình giữa hai người thêm sầu sắc.
Chàng đáp nhỏ:
— Bác đang nói chuyện với
mấy người cắt lúa.
Hai người cùng yên lặng
như để lòng hòa hợp với buổi hoàng hôn đang nhạt dần, rồi tím ngắt.
Thọ bỗng nói:
— Tôi định về, nhưng bác
không cho.
— Ba em mến anh, anh ở lại
ổng vui lắm.
Thọ im lặng, chàng cảm động
trước sự tiếp đãi niềm nỡ của gia đình Mai nhứt là ông Hội Đồng. Ông hỏi thăm
chàng từng chút, từ sức khỏe đến bước đường học vấn của chàng. Ông say mê bàn
chuyện tương lai của Thọ như với người thân yêu nhứt.
Thái độ của ông Hội khiến
Thọ nhớ lại những lời Dung trước khi chàng sang đây:
— ‘‘ Anh đi lâu quá nên
bây giờ hai bác muốn biết rõ anh hơn’’.
Mai bỗng cất tiếng:
— Bông chúa thơm không
anh? Em thích ngồi đây buổi chiều nhìn ra sông …
Thọ nhìn nàng và nói:
— Mùi bông thơm quá,
nhưng có người gọi cây bông nầy là bông dầu thơm phải không cô?
Mai đáp mơ màng:
— Em chỉ thích gọi nó là
bông chúa vì ngày nhỏ bà vú bảo em như vậy.
Như chợt nhớ đến bà vú
thường săn sóc Mai, Thọ hỏi:
— Vú Năm đâu rồi cô?
Mai nhìn xuống giòng
sông, mặt nàng trở nên buồn bã lạ thường:
— Vú chết rồi!
— Sao vậy?
— Hồi Tây đóng bót ở làng
mình, vú bị lạc đạn mà chết.
Thọ im lặng cảm thấy một
vật gì chận ngang cuống họng. Chỉ mới mấy hôm trở về làng, chàng đã nghe rất
nhiều người thân yêu trong thôn xóm chết vì lửa đạn. Chàng không hỏi nữa vì
trong cảnh hoàng hôn yên lặng như thế nầy ai đi nhắc đến chuyện đau thương binh
biến cho buồn thêm.
Thọ ngó Mai trong bóng
hoàng hôn. Mai thẫn thờ như nghĩ ngợi xa xôi, đôi mắt ẩn chứa nhiều tâm sự. Vẻ
buồn thoáng hiện trên gương mặt nàng, mong manh như sương chiều tan nhẹ trên
sông. Thọ vẫn im lặng, chàng không muốn lời mình có thể làm mờ tan những hình ảnh
thân yêu mà Mai đang nghĩ tới.
Bỗng nàng quay về phía Thọ
nói:
— Sao em sợ giặc giã quá!
May là làng mình có đóng bót chớ không thì bị ruồng bố hoài chắc khổ lắm.
Thọ mỉm cười bâng quơ.
Mai tiếp lời:
— Em chạy giặc có một lần.
Hồi Tây vô đóng bót, súng bắn rầm rầm, em với ba má cũng nằm ngoài ruộng cả
ngày, nắng gần chết.
Thọ ngạc nhiên hỏi nàng:
— Lúc đó, mẹ tôi và Dung
phải chạy qua Cái Sơn hơn một tháng mới về nhà được. Sao cô chỉ chạy có một
ngày?
Mai đáp một cách hồn
nhiên:
— Dạ, hồi đó trong làng
ai cũng bỏ nhà đi hết. Nhiều người đi luôn không dám về. Nhưng ba em có quen lớn
với ông Chủ tỉnh Vĩnh Long, nên xếp đồn tới đây là qua thăm ổng liền.
Thọ quay mặt nhìn giòng
sông cau mày không nói. Hoàng hôn đã xuống màu đen, chàng không còn phân biệt
được rõ ràng những gian nhà lá ẩn hiện bên kia sông nữa. Trên nền trời xám đen,
sao thưa bắt đầu le lói.
Thọ bỗng nhớ đến mẹ và
Dung. Có lẽ giờ này hai người đang lo lắng, trông chàng. Giữa thời loạn lạc,
tai họa bất ngờ nên đi chơi không về là gia đình lo sợ lắm. Thọ biết vậy nhưng
ông Hội Đồng ân cần lưu lại, chàng không thể chối từ. Hơn nữa ông đã cho người
sang Cái Muối báo tin cho mẹ chàng, nên Thọ cũng yên lòng.
Mai ngạc nhiên nhìn về
phía Thọ. Nàng không hiểu sao tự nhiên Thọ yên lặng, làm như có điều gì phật ý
chàng.
Nàng dịu dàng hỏi:
— Anh có vẻ buồn?
Thọ đáp:
— Không! Tôi có buồn gì
đâu?
Rồi chàng nói tiếp bằng một
giọng rất xa xôi:
— Cô Mai, hoàng hôn thường
làm cho con người nghĩ đến sự chia cách giữa cuộc đời. Cô thấy không, chúng ta
như vừa phiêu lưu từ nơi sáng sủa đến chỗ tối tăm.
Mai nhìn xuống không vui.
Nàng có cảm tưởng Thọ nói
ra câu ấy để ám chỉ một sự gì mà chính nàng chưa hiểu thấu. Giữa nàng và Thọ bắt
đầu có sự cách biệt. Thọ vô tình nào hiểu đâu câu nói vừa rồi đã khiến Mai nghĩ
ngợi rất nhiều. Mai bỗng nói:
— Thôi mình đi vô anh. Tối
quá, ba má cho người đi tìm thì bị rầy chết!
Thọ không đáp, lẳng lặng
bước theo Mai. Đột nhiên chàng nghĩ đến một ngày nào đó, nếu có, Mai sẽ là vợ
chàng. Chiều chiều hai người lại thơ thẩn xem hoa hồng nở trong vườn hay đi dọc
theo bờ sông nói chuyện mùa màng ruộng nương và cuộc đời cứ êm đềm trôi như
dòng sông lặng lẽ vô tư.
Ý nghĩ ngộ nghĩnh đó đến
với Thọ một cách bất ngờ khiến chàng mỉm cười một mình trong bóng đêm.
Bình thường, Thọ không ưa
những người thích an thân sống bình lặng bên cạnh sự xáo trộn của cuộc đời.
Nhưng bây giờ thì chàng hiểu rõ họ yên phận được như vậy, bởi hoàn cảnh chi phối
sự sống mà họ bị trói buộc.
Ánh nắng tràn qua cửa sổ,
Thọ mới bừng mắt dậy. Chàng nằm im nhìn tấm màn xanh nhạt lay động trong gió nhẹ,
cảm thấy mình đang nằm trong sự êm ấm dịu dàng. Trên nệm bông êm ái, mùi nước
hoa dưới mặt gối tai bèo thoang thoảng...
Thọ ngồi lên vén bức màn
nhìn ra ngoài vườn.
Nắng tràn ngập lên cỏ,
cây, hoa, lá. Đâu đó có tiếng chim hót hòa lẫn trong gió sớm rung cành. Chàng
thoáng thấy Mai tươi đẹp trong bộ y phục trắng tinh, đang bước đi trong nắng sớm,
trên tay cầm những cánh hoa trắng còn búp nọ.
Mai đi vòng qua hông nhà
ra phía trước thềm. Khi đi ngang cửa phòng Thọ, nàng nhìn lên mỉm cười. Vẻ đẹp
tự nhiên của một thiếu nữ trong tuổi dậy thì, gây cho chàng sự mơ ước bâng
khuâng.
Thọ ra nhà sau rửa mặt.
Chàng thấy có đủ xà bông, khăn mặt của ai để sẵn đó như dành cho mình. Chàng thầm
hiểu là Mai để ý săn sóc mình dù trước mặt người trong gia đình. Nước mát lạnh
làm chàng tỉnh táo, óc chàng như sáng suốt thêm lên.
Khi Thọ ra ngoài thì Mai
đã đứng gần đó, nàng chăm chú nhìn bếp lửa và nói với chàng:
— Ba em đợi anh ở trên
nhà.
Thọ mỉm cười nói:
— Tôi dậy trễ quá. Ở đây
mát mẻ thành tôi ngủ thiệt trưa.
Mai mỉm cười trong khi Thọ
ngó nàng. Lần đầu tiên trong cái nhìn của Thọ, nàng thấy bộc lộ hết những cảm
tình tha thiểt. Nàng quay nhìn vào bếp lửa, đôi má đỏ hồng lên, không biết vì
hơi nóng trong bếp hay vì sự e thẹn trong lòng.
Thọ cũng thấy ngượng.
Trong phút giây, chàng quên e dè để bộc lộ nhiều cảm tình trong sóng mắt và lo
ngại Mai có thể hiểu lầm ý mình. Chàng bước vội vào phòng để chải tóc, nhưng
đôi má hồng tươi đẹp của Mai vẫn ám ảnh chàng. Một điều khiến Thọ nghĩ ngợi nhiều
là càng lâu chàng càng nhận thấy Mai đẹp hơn lên, vẻ đẹp hồn nhiên tươi tắn của
một đóa hoa vừa hé nhụy đang đợi chờ sự mơn trớn vuốt ve.
Khi Thọ bước ra khỏi
phòng để lên nhà trên thì Mai không còn đứng đó nữa chàng nghe tiếng nàng gọi
chị ở lảnh lót, phía vườn sau.
Vừa bước vô phòng ăn, Thọ
đã thấy ông bà Hội Đồng ngồi vào bàn. Ông Hội cười to lên nói:
— Con trai mà ngủ trưa dữ
hông? Làm sao trông coi ruộng nương cho được cậu.
Thọ chưa kịp đáp thì bà Hội
Đồng đã đỡ lời:
— Ông khéo hỏi. Từ bển
qua đây, cháu nó mệt, phần lạ nhà chắc thức khuya.
Rồi nhìn chàng, bà Hội
nói:
— Lại đây cháu! Ăn đi,
hai bác mới ngồi xuống thì cháu ra đó.
Thọ ngồi vào bàn, cố tìm
một câu chuyện để nói, nhưng xét thấy không có chuyện nào hợp với hoàn cảnh hiện
tại. Chàng muốn nói vài lời để tỏ rõ mối cảm tình đối với ông bà Hội song câu
nào cũng thấy trơ trẽn. Ông bà đều nhìn chàng bằng đôi mắt biểu lộ tình thương
sâu đậm khiến Thọ có cảm tưởng như đã là con rể trong nhà vậy,
Ông Hội Đồng gợi chuyện:
— Cháu thôi học rồi hả?
Thọ đáp:
— Dạ! Anh Hai cháu muốn
thế.
Ông Hội tỏ vẻ bằng lòng:
— Cậu Hai nghĩ đúng lắm.
Thời buổi nầy lộn xộn học trò hay rủ ren làm bậy hoài mà học hành gì được.
Không chừng bị vạ lây nữa là khác.
Rồi ông tiếp lời, nét mặt
sung sướng của người được dịp kể lại chuyện ngày xưa:
— Hồi bác còn đi học, đâu
có kỳ cục như bây giờ. Học trường Chasseloup cũng oai vệ lắm chớ. Gặp cò lính
trâm tiếng Tây ‘‘ rốp rốp’’, nhưng có biết biểu tình, phản đối như bây giờ đâu.
Thọ lại mỉm cười vâng dạ.
Chàng không muốn bàn một chuyện mà những người ngồi đây không cùng một ý với
chàng. Tuy nhiên Thọ cảm thấy khó chịu trước những lời nói của ông Hội Đồng.
Ông có ý chê trách sự thức tỉnh của những chàng thư sinh ngày nay trước cơn xáo
trộn lớn lao của xã hội.
Thọ không muốn cãi. Chàng
thích giữ sự yên lặng trước ý nghĩ của những người mà chàng liệt vào thời cũ.
Nhờ sự im lặng đó chàng vẫn giữ được lễ độ với người trên trước và tránh được
nhiều phiền phức.
Bà Hội Đồng bỗng hỏi:
— Cháu về đây định sẽ làm
gì?
Thọ đáp:
— Thưa bác, cháu cũng
chưa biết.
Ông Hội đồng nói chen
vào:
— Bà hỏi lạ, thì cháu nó
trông coi điền đất cho chị chủ chớ làm gì?
Ông căn dặn Thọ:
— Ráng mà chăm sóc ruộng
nương nghen cháu. Mấy năm nay giặc giã liên miên đất cháu bỏ hoang nhiều lắm!
Chị chủ đơn chiếc làm sao coi hết, tụi tá điền nó ăn tước trên đầu.
Thọ ngồi im lặng có vẻ
như chăm chú nghe, nhưng thật ra chàng không có chút ý niệm gì về sự đó. Tự
nhiên, chàng nhìn ra vườn hoa hy vọng sẽ nhìn thấy Mai. Chàng phân vân không hiểu
sao từ nãy giờ, Mai chẳng ra đây? Chớ như hôm qua, lúc nào nàng cũng kề cận bên
Thọ cùng nhắc lại những kỷ niệm vui buồn của một thời nhỏ dại đã qua. Chàng bắt
đầu thấy thiếu những lời nói hồn nhiên tươi trẻ của Mai.
Ông Hội Đồng vẫn say mê với
câu chuyện:
— Dân bây giờ khó lòng lắm!
Phải cứng cỏi mới trị được. Bác mà không quen lớn nhiều thì đừng hòng thâu lúa
ruộng. Cháu về nhà ít lâu rồi biết.
Như chợt nhớ đến điều gì,
ông Hội Đồng xoay qua câu chuyện khác:
— Cháu về mấy hôm nay, có
vô bót trình diện chưa?
Thọ đáp:
— Dạ chưa!
Ông Hội cau mày:
— Sao vậy cháu? Phải qua
trình với xếp bót chớ? Mông xừ Jean cũng dễ chịu lắm. Hắn qua nhà bác chơi
luôn.
Bà Hội ngước lên nhìn chồng
nói:
— Hôm nào rảnh ông đem
cháu qua bót có phải tiện hơn không? Để nó thấy lạ, lính tráng làm ẩu thi phiền
cho chị Chủ.
Thọ nín lặng không đáp.
Chàng nhớ đến giọng nói hồn nhiên của Mai chiều hôm qua, khi thuật lại sự quen
biết của gia đình nàng với ‘‘xếp đồn’’ rồi chàng chợt nghĩ đến sự hãi hùng của
hành khách cùng về chung một chuyến đò trong buổi hoàng hôn khi ghé bến chợ.
Có tiếng chim trao trào
vang dậy bên hông nhà khiến bà Hội chú ý.
Bà nói:
— Ổi Sá Lị đã tới kỳ hái
rồi đó, ông biểu thằng Nấm đem ghe đến chở đi. Trao trảo dậy lên như vậy, để
lâu còn có nước tuốt lá mà bán chớ trái đâu nữa.
— Bà thiệt ham lo. Nó hái
hay không kệ nó, tiền chồng đủ được rồi, hơi đâu mà ngó chừng cho mệt.
Thọ liếc nhìn bà Hội Đồng.
Trên gương mặt đều đặn của bà, chàng thấy phản phất nhiều nét hiền từ đáng mến.
Chàng nghĩ rằng Mai có lẽ giống mẹ nhiều hơn cha.
Ông Hội Đồng đứng lên hỏi
chàng:
- Cháu ra ruộng coi cắt
lúa không? Hay ở nhà nói chuyện với em.
Thọ cũng đứng lên xin
phép:
— Thưa hai bác cho phép
cháu về, sợ má cháu trông.
Ông Hội Đồng cau mày:
— Sao về sớm vậy? Ở đây
ăn cơm rồi hãy về.
Thọ tìm cớ thoái thoát:
— Thưa bác, cháu còn phải
đi thăm mợ cháu nữa.
Bà Hội cũng nói:
— Thôi để cháu nó về ông
à, không chị Chủ trông.
Ông Hội nói buông xuôi:
— Ừ, thì tùy ý cháu, nó
muốn về thì về.
Thọ chấp tay xá ông bà rồi
ra cửa.
Chàng định đi vòng ra
phía nhà sau để từ giã Mai nhưng khi đến hông nhà, chàng thoáng thấy Mai đang đứng
trong vườn. Nàng đang cắt bạc hà nên không nhìn thấy Thọ, mặc dù chàng đã đến
sau lưng nàng. Gió sớm lồng lộng trong vườn cây làm rối tung mái tóc của Mai
khiến nàng phải dừng tay vuốt lại mấy lần. Những ngón tay nhỏ ngắn xinh xinh,
lùa qua làn tóc đen huyền làm nổi bật lên màu da trắng nõn nà.
Thọ khẽ gọi:
— Cô Mai.
Mai quay đầu lại và khi
thấy Thọ nàng ngạc nhiên hỏi:
— Sao anh không điểm tâm
với ba má?
— Xong rồi cô!
Mai mỉm cười, đôi môi hồng
lên dịu ngọt. Nàng đưa mấy cọng bạc hà lên rồi nói:
— Em định nấu canh chua
cho anh đây. Không biết anh còn thích hông?
Thọ nhìn Mai với đôi mắt
chan chứa cảm tình. Chàng nói:
— Cô nhớ dai quá, món đó
tôi vẫn thích lắm, nhưng tôi phải về!
Mai ngó Thọ không nói.
Đôi mắt nàng thoáng vẻ buồn, nỗi buồn nhẹ nhàng, giản dị. Cả hai nhìn nhau im lặng,
sự im lặng dịu dàng ấy khiến Thọ bối rối. Chàng tìm mãi không thốt ra được một
câu cho vừa lòng Mai.
Sau cùng, chàng đành nói:
— Không được ăn nồi canh
của Mai, tôi tiếc quá!
Giọng nói của Thọ không
đem lại cho Mai sự vui tươi. Nàng khẽ hỏi:
— Chừng nào anh qua nữa?
Câu hỏi rất thông thường
nhưng giọng nàng buồn buồn, khiến Thọ bâng khuâng.
Chàng đáp:
— Bao giờ rảnh tôi sang
thăm hai bác và cô.
Mai mỉm cười, gượng gạo.
Nàng nhìn xuống mấy cọng bạc hà bảo Thọ:
— Nồi ‘‘canh chua’’ của
em hết ngon rồi.
Thọ nhìn nàng ái ngại. Lần
lần chàng đâm ra lo sợ bâng quơ. Chàng thấy mình đi quá sâu vào cuộc đời một
người con gái mà tâm hồn nàng và những người thân mến của nàng đều cách biệt với
mình. Nhưng Thọ không chối cãi được lòng mình là chàng cũng bắt đầu mến Mai,
qua vẻ đẹp duyên dáng hồn nhiên của người con gái đang tuổi dậy thì. Giữa khung
cảnh đồng quê êm dịu, lòng người dễ rung động và cảm thông nhau, nhất là khi họ
có những kỷ niệm vui buồn với nhau trong thời thơ ấu.
Hai người lẳng lặng đi
bên nhau, mỗi người một nỗi niềm riêng.
Gần đến bờ sông Thọ nói:
— Thôi cô vào nhà. Hôm
nào rảnh tôi lại sang.
Mai mỉm cười, nàng cố giữ
sự vui vẻ trước phút chia tay với người yêu mến, nhưng Thọ vẫn nhìn thấy vẻ lưu
luyến trong đôi mắt của nàng. Lòng chàng trở nên êm dịu, nhẹ nhàng.
Trên bộ ván trong nhà. Bà
Hội dõi mắt trông theo đôi trẻ, nụ cười dễ dãi nở trên môi.
Chương 3
CON chim khách từ đâu bay
đến đậu trên hàng rào kêu lên mấy tiếng rồi bay đi, khiến Dung chú ý.
Nàng nhìn anh mình đang
ngồi đọc sách nơi bệ trường kỷ, đặt bên trái gian nhà và nói:
— Chim khách đó!
Thọ không ngó lên khẽ
đáp:
— Chim kêu thì có gì lạ?
— Chim khách kêu chắc có
khách! Người ta thường bảo vậy.
Thọ mỉm cười:
— Có lẽ đúng. Bữa nay
không ai đến thì chắc mai, ngày mai không ai đến thì không chừng mốt, ngày
kia... nhứt định thế nào cũng có khách đến nhà mình.
Dung biết anh chế nhạo
mình, nên cự nự:
— Anh ngạo em à?
— Thà anh em ngạo nhau
còn hơn để người ngoài!
Giữa lúc đó, Dung thấy
ngoài cổng có người đi vào, nên cười đắc thắng:
— Anh coi kìa! Không phải
khách thì ai đó?
Thọ nhìn ra và tự nhiên
chàng bối rối. Từ ngoài cô gái Trung Hoa ở cạnh nhà đang bước qua con đường lót
gạch.
Dung đứng lên đón Hà Anh
với vẻ săn đón tự nhiên của đôi bạn thân thích láng giềng, trong khi Thọ đứng
lên chào cô bạn gái của em.
Dung nhìn về phía Thọ và
nói:
— Anh Thọ tôi đó. Còn đây
là bạn em.
Thọ mỉm cười nói:
— Mời cô ngồi.
Hà Anh có vẻ ngại ngùng
vì thấy Thọ toan bỏ đi. Chàng không muốn làm phiền bè bạn của em, nhưng vừa lúc
đó Dung nói:
— Anh cứ ở đây. Chúng em
không có chuyện riêng tư gì đâu!
Hà Anh lễ phép nói:
-Xin anh tự nhiên. Em và
chị Dung cũng như người nhà.
Thọ ngồi lại chỗ cũ khi
Dung và Hà Anh ngồi trên bộ ván gõ gần đó. Dung đong đưa đôi chân, dựa vai mình
vào vai Hà Anh và nói:
— Chim khách vừa kêu là
chị đến.
— Vậy à? Sáng ngày nó
cũng kêu bên nhà tôi. Giống chim đó ở làng mình nhiều lắm.
Dung nói khẽ:
— Anh tôi nói chim đó kêu
không linh ứng gì hết, nhưng chị đến làm anh ấy thua tôi.
Hà Anh mỉm cười, nàng nói
khẽ đủ cho Dung nghe:
— Chị cho chim khách kêu
là có khách thì cả làng nầy có lẽ nhà nào cũng có khách. Vườn nhà ai cũng có giống
chim ấy mà.
Dung cười, nụ cười của một
cô gái lòng trong trắng chưa vẫn bụi đời. Nàng vui thích tự nhiên khi ngồi bên
bạn dù cả hai vẫn thường gặp nhau luôn.
Riêng Thọ từ lúc Hà Anh
có mặt nơi nhà, chàng không còn để tâm trí vào sách nữa. Lòng chàng không được
bình tĩnh trước cô gái láng giềng. Thọ nhớ ngay đến đôi mắt long lanh sáng đã
nhìn trộm mình, bên trong khung cửa sơn màu xanh tối, buổi sáng nào đó khi
chàng mới trở về. Đôi mắt đẹp ẩn chứa nỗi niềm sâu kín đã tạo nên phút giao cảm
bất ngờ giữa chàng và nàng mà có lẽ suốt đời chàng không quên được...
Thọ nghĩ mình nên gợi
chuyện với Hà Anh để tìm hiểu những điều nghĩ ngợi của nàng. Chàng để sách xuống
rồi bảo Dung:
— Sao em không rót nước mời
cô uống?
Dung ngồi thẳng lên nhìn
anh mỉm cười, nọ cười hồn nhiên không chút ẩn ý, nhưng Thọ bỗng thấy ngượng ngập
lạ lùng.
Hà Anh quay lại bảo
chàng:
— Anh đừng bận tâm. Chúng
em qua lại với nhau luôn, có phải khách khứa gì đâu?
Thọ mỉm cười, chàng không
tìm được một câu nói tiếp theo. Thường thường ít khi chàng rụt rè như vậy,
nhưng không hiểu sao đối với Hà Anh, chàng tìm mãi không ra lời?
Có phải chăng vì sự có mặt
của Dung làm chàng khó gợi chuyện, vì Dung hiểu anh để ý đến cô bạn gái của
mình. Riêng Thọ, chàng muốn nói chuyện với Hà Anh nhưng lại không thích em nghĩ
xấu về mình.
Dung ngã đầu vào vai Hà
Anh và hỏi:
— Hôm nay chị không lên
chợ sao?
— Cha tôi đi rồi!
— Bác cũng mua hàng được
nữa à?
Hà Anh nhìn về phía nhà
mình khẽ đáp:
— Cha tôi quen rồi chị!
Lúc trước ông thấy tôi phải thức khuya giặt đồ cho mấy em để kịp đi đò lên chợ
mua hàng, nhiều khi về đến nhà mệt ngất nên ông đi thay cho tôi đó.
Dung nhìn Hà Anh. Chỉ có
nàng mới hiểu rõ hoàn cảnh của người thiếu nữ Trung Hoa kia và nàng vẫn thầm cảm
phục bạn. Đôi khi Dung tự hỏi: Nếu chẳng may gia đình gặp phải cảnh sa sút
không biết nàng có đủ sức chống đỡ như Hà Anh chăng?
Đột nhiên, nàng nhìn về
phía Thọ và cảm thấy mình sung sướng hơn bạn nhiều. Nàng không có em để phải lo
lắng cho chúng mà trái lại còn được nương tựa vào các anh là khác! Càng nghĩ,
Dung càng thương mến Hà Anh, sự thương mến của một thiếu nữ sống đầy đủ và giàu
tình thương.
Hà Anh bỗng hỏi nàng:
— Dung có nhiều anh
không?
Dung liếc nhìn Thọ rồi
đưa hai ngón tay ra dấu cho Hà Anh biết là mình có tất cả hai người.
Hà Anh lại hỏi:
— Sao tôi không được gặp?
— Anh Hai làm việc ở Sài
gòn, còn anh Thọ cũng đi học trên ấy.
— Thế à!
Cả hai lại yên lặng.
Thọ thấy mến ngay sự hồn
nhiên của Hà Anh. Nàng tò mò là thành thật hỏi ngay, chớ không biết tìm cách hỏi
quanh quẩn. Tâm tính đó quả tình khó kiếm ở một nàng thiếu nữ khác. Riêng Hà
Anh, nàng hơi thắc mắc về sự có mặt của Thọ dưới mái gia đinh này. Lễ Phục sinh
đã qua, mà cũng không phải là tháng bãi trường tại sao Thọ về nhà? Nhưng nàng
thấy mình không nên quá tò mò.
Dung nhìn nàng khẽ hỏi:
— Chị sang chơi hay có việc
gì?
Hà Anh ngập ngừng hỏi lại:
— Nhà chị có đàn phải
không?
Dung gật đầu:
— Của anh Thọ em đó.
— Chắc anh ấy có nhiều bản
nhạc lắm! Chị cho tôi mượn được không?
Thọ ngồi yên trên ghế
chăm chú nhìn vào sách.
Dung toan gọi chàng thì
Hà Anh ngăn lại:
— Thôi chị ạ.
Dung cười nói:
— Em bảo ảnh cho chị mượn
chứ gì!
Thọ buông sách nhìn về
phía hai người. Hà Anh lúng túng ngó xuống đất. Sự ngượng nghịu đó làm tăng
thêm vẻ đẹp hồn nhiên của nàng.
Dung cất tiếng:
— Chị Hà Anh hỏi anh đó.
Hà Anh thẹn quá, đôi má đỏ
ửng lên. Nhưng chỉ thoáng qua, gương mặt của nàng tự nhiên trở lại.
Thọ hỏi:
— Cô Hà hỏi chi?
— Em muốn mượn anh vài bản
nhạc.
Thọ đứng lên, bước về
phòng riêng lấy tập nhạc trao cho Hà Anh và nói:
— Cô cũng thích âm nhạc nữa
hả?
Hà Anh đáp:
— Hồi còn đi học, em mê
nhạc lắm. Nhưng từ lúc về đây bận bịu nhiều, nên không có thời giờ đàn hát như
xưa.
Thọ nhìn Hà Anh, cảm
thông được phần nào hoàn cảnh của nàng qua câu chuyện mà Dung đã kể.
Chàng khẽ nói:
— Ở đời ai cũng có nỗi khổ
riêng, nhưng mình phải tự tạo lấy sự sống từng lúc cho phù hợp với hoàn cảnh.
Hà Anh nhìn chàng có vẻ cảm
động trước lời khuyên thành thật ấy. Dung liếc nhìn Thọ và nàng hiểu ngay những
lời nói kia, anh đã nghiền ngẫm từ lúc trở về nhà.
Nàng nhìn ra vườn, bảo Hà
Anh:
— Chị ở chơi! Em ra ngoài
nầy một chút.
Hà Anh toan ngăn lại thì
Dung đã chạy đi. Trong phòng khách còn có hai người, khiến họ cùng ngượng ngập.
Một lúc sau, Thọ cất tiếng phá tan bầu không khí nặng nề đó!
— Lúc trước cô học ở trường
nào?
— Dạ, em học ở Trung học
Pháp-Hoa.
Thọ nhớ những buổi sáng,
qua đường Cây Mai, ngang trường Trung học ấy chàng thường gặp những nữ sinh mặc
đồng phục trắng xanh. Mỗi buổi tan học, họ cười đùa vui vẻ tung tăng trên đường
phố như đàn chim xanh, tung cánh ngoài nắng sớm. Bây giờ đây, trước mặt chàng một
con chim đang lẻ bầy, lạc lõng bơ vơ... Hoàn cảnh của Hà Anh nào khác chi
chàng, khiến Thọ ngậm ngùi.
Hà Anh nhìn vào bản nhạc,
đọc nho nhỏ những âm phù trong khuôn nhạc, giọng nàng lên cao xuống thấp, tạo
nên âm điệu buồn, khiến Thọ nhận thấy giọng nàng chứa chan tình cảm, đủ diễn tả
bản hát đầy đủ màu sắc u buồn đó. Và con người thoạt cầm bản nhạc mà hát được
ngay thì phải là người có học, hiểu khá nhiều nhạc lý.
Hà Anh lại mở bài hát
khác và nhìn vào. Đôi mắt nàng tươi sáng lên, nàng hát bằng tiếng Trung Hoa, giọng
nàng vui tươi sáng sủa làm không khí buồn thảm vừa rồi như bay tan mất.
Thọ nhìn nàng, thấy ngay
sự hồn nhiên tươi trẻ của tuổi xanh, của cô học trò vui vẻ vừa hiện lên trong
đôi mắt và mùa xuân sáng đẹp như đậu trên vừng trán thông minh của nàng. Thọ có
cảm tưởng không ai diễn tả bài hát đó bằng nàng lúc bấy giờ. Nhưng Hà Anh chợt
ngừng tiếng hát và tươi cười hỏi Thọ:
— Đây là bản nhạc Trung
Hoa mà anh? Người Việt cũng hát nữa sao?
Thọ đáp:
— Bản ‘‘Xuân và tuổi trẻ’’
của La Hối, lời ca do một thi sĩ Việt soạn!
Hà Anh nhìn chàng rồi lại
hát nho nhỏ. Một lúc sau nàng ngừng lại nói:
— Bản nầy rất được học
sinh Trung Hoa ưa thích.
— Riêng tôi, tôi lại mến
tác giả của nó nhiều hơn! Người là một liệt sĩ.
Hà Anh mở to mắt nhìn
chàng:
— Anh biết rõ cái chết của
nhạc sĩ?
— Bạn tôi là một người
trong gia đình La Hối.
Hà Anh nhìn Thọ như chờ đợi
chàng kể lại cuộc đời của người nhạc sĩ quá cố! Chàng từ từ thuật lại:
— La Hối là người Trung
Hoa, sinh trưởng ở Hội An. Chàng đã gia nhập một tổ chức kháng Nhật vào năm
1944 nhưng lại bị chúng bắt được và giết đi cùng với mười thanh niên Trung Hoa
khác. Tất cả đều bị vùi dập chung một huyệt không áo liệm, không quan tài.
Hà Anh lặng người nhìn ra
ngoài trời. Nàng khẽ thở dài, không nói, nhưng trong ánh mắt nàng ngời lên niềm
uất hận! Thọ cảm thấy Hà Anh gần gũi với mình nhiều hơn qua câu chuyện thương
tâm đó. Ngày trước, khi nghe thuật lại cái chết của người liệt sĩ Trung Hoa,
chàng thấy lòng mình sôi lên niềm uất hận và bắt đầu hiểu một cách sâu xa hơn ý
nghĩa của sự căm thù. Bây giừ thì chàng được thấy hình ảnh của mình ngày xưa,
trong đôi mắt Hà Anh. Chàng thấy mến nàng, mến cái hình ảnh trong đôi mắt, mến
sự căm thù tự nhiên của một tâm hồn vừa chớm hiểu rằng trên đời nầy còn có nhiều
sự bất công. Thọ xúc động nhiều vì Hà Anh vừa gây lại trong lòng chàng niềm tin
tưởng. Dung không thể hiểu được chàng và Mai lại càng xa cách hơn.
Thọ tin tưởng Hà Anh sẽ
hòa hợp trong sự cảm nghĩ với mình, dù nàng không cùng một quê hương, nòi giống.
Tự nhiên Thọ thấy lòng mình vui thích hơn lên, chàng hát nho nhỏ theo âm điệu bản
hát:
‘‘ Nầy lớp thanh niên đầy
máu nóng
‘‘ Tâm chí sôi hăng lòng
tranh đấu
‘‘ Tiễn đưa chuỗi ngày
xưa u ám
.......
Thọ bỗng nín lặng! Hà Anh
không ngó chàng, nhưng Thọ biết nàng đang lắng nghe và tìm hiểu lời ca Việt.
Nàng ngước nhìn Thọ, mỉm cười và nói rất tự nhiên:
— Lời ca hay quá anh!
Hai người cùng cười. Hà
Anh nhìn ra phía vườn sau tìm kiếm Dung nhưng nàng vẫn biệt dạng. Thọ ngầm hiểu
Dung muốn mình và Hà Anh tự do nói chuyện với nhau nên mới lẩn đi chỗ khác. Hà
Anh cũng chợt cảm thấy điều đó, nàng cúi mặt bẽn lẽn, đôi má đỏ hồng.
Từ xa, có tiếng tù và rúc
lên từng hồi lan trong không gian yên lặng. Hà Anh ngẩng lên nhìn Thọ nói:
— Đò đi Vĩnh Long về rồi
đó anh. Em phải ra lấy hàng, nhờ anh nói lại với chị Dung giùm em...
Thọ đáp:
— Cô cứ tự nhiên.
Hà Anh ôm xấp nhạc vào
lòng nói tiếp:
— Em mượn mấy bản này vài
hôm, được không anh?
Thọ gật đầu, nhìn thẳng
vào đôi mắt nàng khiến Hà Anh bẽn lẽn. Nàng cúi chào chàng lần nữa mới bước ra
cửa. Thọ lặng yên nhìn theo, đến khi bóng Hà Anh khuất sau cánh cửa nhà nàng...
Chàng quay vào nhà, cất tiếng gọi:
— Dung à!
Một chuỗi cười tươi trẻ hồn
nhiên chợt nổi lên. Dung đứng sau lưng chàng tự bao giờ. Nàng nhìn Thọ tủm tỉm
cười:
— Anh gọi em chi?
Thọ cố giữ vẻ nghiêm
trang cho Dung mất dịp chọc phá mình. Chàng đáp:
— Bạn em vừa về đó. Cổ gởi
lời chào em.
Rồi làm ra vẻ không bằng
lòng, Thọ nói:
— Tại sao bạn đến nhà, em
lại bỏ đi? Anh thấy em cư xử không đẹp chút nào hết.
Dung nhìn anh đáp:
— Em tưởng anh tiếp chị ấy
giùm em.
Thọ suýt bật cười trước vẻ
mặt ngơ ngác của Dung, nhưng đã lỡ làm nghiêm, chàng nín lặng bước ra vườn,
trong lúc Dung nhìn theo anh hết sức ngạc nhiên. Thái độ của Thọ càng làm cho
nàng khó hiểu hơn.
Mặt trời vừa khuất sau
hàng dừa bên kia sông, những tia nắng cuối cùng còn óng ánh trên cỏ, cây, hoa,
lá. Buổi chiều êm mát nhẹ nhàng. Giòng sông rộng mênh mong, gặp con nước rông lớn,
tràn lên mé bờ, ngập luôn chiếc cầu ván, chỗ khách đi đò thường hay lên xuống.
Bến chợ rộn rịp lên một lúc, trước khi trời tắt nắng, rồi vắng ngay đi, càng
làm tăng thêm vẻ cô tịch, đìu hiu. Những người đi chợ đã vội vã trở về nhà,
trong những xóm xa, trước giờ thiết quẫn luật.
Hà Anh đã quá quen thuộc
với cảnh sống trên bến sông nên không buồn chú ý đến nữa. Nàng yên lặng ngồi
câu bên bờ vẻ mặt đăm chiêu nghĩ ngợi. Những chiều êm ả như thế nầy, nàng chỉ
thích ngồi một mình, hay làm những việc lặt vặt đòi hỏi thói quen của tay chân
để cho trí óc nàng được thảnh thơi.
Ngày nhỏ, Hà Anh thường
hay ngồi một mình trong vườn khi chiều xuống mà mơ đến tương lai. Nàng sống êm ấm
dưới mái gia đình, trong sự giàu sang sung túc, chưa biết lo nghĩ là gì và nàng
hay mơ đến những chân trời xa lạ. Nàng thường nhìn theo những cánh chim bay
ngang trời mà ao ước mình có đôi cánh nhỏ để suốt ngày nhởn nhơ nơi rừng thẳm bể
khơi, để được thấy tất cả những sự đẹp trên đời. Đôi khi nàng ngồi nhớ lại hình
ảnh một cô bé tóc ngắn ngồi mơ trong vườn vắng mà cười một mình.
Sợi dây nhỏ bỗng căng thẳng,
cần câu động đậy, Hà Anh giựt mạnh tay. Một con cá nhỏ mắc vào lưỡi câu giẫy giụa,
bụng cá trắng bạc, óng ánh dưới ánh nắng buổi chiều đang tan dần trên mặt sông.
Hà Anh gỡ cá bỏ vào rổ, móc mồi thả xuống nước.
Bỗng nàng chú ý đến tiếng
cười nói văng vẳng từ xa. Hà Anh ngoảnh nhìn lại và thấy cha nàng từ ngoài vàm
trở về với một người đàn ông ốm nhỏ, mặt tái, môi thâm. Hai người đi qua chỗ
nàng ngồi mà không chú ý đến. Hà Anh thấy cha cười nói luôn miệng: sự vui vẻ đó
nàng ít khi thấy trên khuôn mặt của cha, từ khi gia đình gặp cảnh sa sút. Luôn
mấy ngày qua, chiều nào cha nàng cũng đi ra xóm ngoài với người lạ mặt đó. Hà
Anh rất lo ngại! Nàng không dám nghĩ quấy cho cha nhưng đời sống của các em, bắt
buộc nàng phải lưu ý đến hành động của ông.
Tự nhiên, Hà Anh lại nghĩ
đến mẹ, nhớ đến những lời trối trăn của bà trước khi lìa bỏ cõi trần:
— ‘‘ Mẹ chết rồi, con hãy
ráng lo cho các em thay mẹ. Đừng vì một lẽ gì mà bỏ rơi chúng nó nghe con! Cha
của con... ‘‘
Hà Anh nhớ suốt đời tiếng
nấc nghẹn ngào trong cổ họng mẹ nàng. Bà đã tiếp:
— ‘‘ Cha con rất nhiều
tham vọng và nhiều tật xấu. Cuộc sống sang giàu đã biến đổi ông rồi. Đừng quá
trông cậy vào ông’’.
Hà Anh không hề dám suy
xét hành động của cha. Từ khi mẹ nhắm mắt, nàng chỉ biết làm tròn bổn phận của
một người chị đối với đàn em côi cút. Nàng chưa đầy hai mươi tuổi mà phải bỏ học
để lo lắng việc gia đình. Nàng còn nhỏ quá, chưa hiểu được việc làm ăn của cha:
thua lỗ như thế nào mà nhiều nhà phố ở Chợ lớn, các lò gạch, các chành lúa rải
rác ở lục tỉnh đều bán sạch. Cha nàng càng thua lỗ càng ăn chơi lớn hơn: bài bạc,
ăn hút ngày đêm... Nhà nàng lúc nào cũng đông đầy những khách, họ vui chơi suốt
đêm, tiếng bài chim như pháo nổ không bao giờ dứt. Nhưng khi mà gia đình nàng
đã kiệt quệ thì bè bạn của cha nàng cũng lần lần vắng bóng. Nhà nàng từ đấy như
một ngôi nhà mồ, không một ai lui tới. Vòng vàng của mẹ nàng để lại Hà Anh cứ cầm
bán lần hồi để lấy tiền chi dụng trong nhà và mua thuốc phiện cho cha. Ông Ban
Phánh nằm lịm trong phòng suốt ngày bên cạnh khai đèn không nói một lời mà cũng
chẳng muốn đi đâu hết... Nợ nần chồng chất lên, sau cùng cái biệt thự hương hỏa
của mẹ nàng cũng đành bán nốt. Đến lúc ấy, Hà Anh mới phải nghĩ đến sự sống của
gia đình, tìm cái ăn cái mặc cho các em.
Nàng vẫn nhớ lời trăn trối
của mẹ:
— ‘‘ Đừng trông cậy vào
cha con nữa’’.
Nhưng biết sao khi nàng
chưa đến tuổi trưởng thành và cha nàng lại không hề nghe lời khuyên can của ai
cả, ngoài mẹ nàng. Đến lúc trong nhà không còn gì hết, sự đói rách hăm dọa, cha
nàng mới nghĩ đến các con. Ông đưa gia đình xuống Vĩnh Long định sống nhờ số
lúa ruộng hằng trăm mẫu, rải rác nhiều làng. Nhưng về đến chợ tỉnh, ông gặp nhiều
trở ngại. Vào thời này không sống hẳn ở thôn quê, đừng hòng thâu lúa ruộng. Và
từ đấy, gia đình nàng phải sống một cách chật vật ở thôn quê hẻo lánh nầy...
Hà Anh bắt đầu đụng chạm
với đời để giành lấy miếng cơm cho các em. Những điều mơ ước ngày xưa đối với
nàng xa xôi quá. Nàng chỉ biết nghĩ đến cái ăn, cái mặc cho các em qua hai mùa
mưa nắng. Cha nàng giờ đây chỉ biết sống trong hối hận triền miên của những năm
cuồng dại. Ông bỏ hút nên bị hành hà dở sống dở chết... song ông đã thoát khỏi
tật bệnh ghê gớm đó. Nhưng biết đâu mai kia ông có thể trở lại bệnh ghiền cũ?
Hà Anh rùng mình, nghĩ đến cảnh ghê gớm đó, tái diễn trong gia đình nàng. Nhưng
ai hiểu được ngày mai khi chính bản thân mình bị chi phối bởi người khác và
hoàn cảnh trái ngang.
Ánh nắng cuối cùng luyến
tiếc rời bỏ ngàn lá xanh bên kia bờ. Vạn vật trở nên buồn buồn trong bóng hoàng
hôn... Trên không, vài con cò về tổ trễ, đập nhanh đôi cánh trắng phau rồi khuất
trong lùm cây rậm lá. Những đám mây trắng đã ngã màu ngà, bầu trời xanh đã biến
sang màu sậm đưa dẫn đến màu đen. Đâu đó có tiếng chim lẻ bạn, tiếng dơi muỗi
lào xào lẫn trong tiếng gió nhẹ lay cành. Dưới bến sông, cơn nước rông lên đầy
mé đã đứng lại không lùa được những đợt lục bình lơ lửng giữa giòng ra sông
cái. Giòng nước xanh chìm đi trong màu xám sậm và những bóng cây bên kia bờ ngã
xuống giòng, càng lúc càng hiện ra lù lù thành hàng trong bóng nước. Thỉnh thoảng
những bóng cây tan mờ xao động vì những chiếc xuồng con lướt qua làm vỡ tan
gương nước phẳng lì. Người đi xuồng khuấy nhanh chiếc giầm để mau về đến nhà.
Xa xa tiếng ai hát ru con, gieo giọng buồn tản mác trên giòng sông lặng lẽ.
Hà Anh ngồi yên trong
bóng hoàng hôn, lòng nàng như hòa hợp với vạn vật buồn man mác. Có lẽ cá cũng
buồn trong lúc hoàng hôn nên hờ hững với mồi câu.
Hà Anh cũng không tha thiết
gì câu cá nữa. Nàng cầm chiếc cần mà mắt nhìn sang bên kia sông, trong óc
thoáng hiện cảnh chiều buồn trong những bức tranh Tàu đã được bàn tay tài ba của
họa công tô điểm lên trên lụa.
Và hình ảnh đó cũng hiện
lên trong trí Thọ. Chàng đứng nhìn Hà Anh ngồi câu dưới bến sông tự nãy giờ.
Sương chiều lan nhẹ trong không gian làm mờ mịt cây cỏ nước mây, như những nét
mờ mờ trong bức tranh Trung Hoa cổ. Nhưng rồi, Thọ chú mắt nhìn Hà Anh vì nàng
là nét linh động nhứt trong buổi hoàng hôn. Nàng ngồi lặng lẽ, làn tóc đen chảy
xuống đôi má mịn hồng, xuống đôi vai nhỏ thó và lưng áo lụa trắng tinh, trán
nàng cao sáng sủa, sóng mũi thanh thanh làm gương mặt nàng thanh tú thêm lên.
Đôi mắt đen thoáng nét u buồn nhưng linh động và đôi môi hồng tươi thắm khiến
nàng có duyên vì lúc nào cũng như có sẵn nụ cười tươi ẩn hiện. Nụ cười đó sẽ
khiến người chung quanh không đoán được tâm trạng của nàng dù nàng đang trải
qua những phút bực dọc hay buồn khổ nhứt đời. Nàng giữ được vẻ cao quí của người
phụ nữ Á Đông, lúc nào cũng sâu kín và trầm lặng.
Thọ nghĩ nhiều về Hà Anh
và về cuộc sống hiện tại của nàng. Nét mặt dịu hiền, tánh tình khả ái và nhứt
là sự cảm nhận về cuộc đời của Hà Anh rất hòa hợp với Thọ, khiến chàng có cảm
tình với nàng rất nhiều. Chàng bước lần về phía Hà Anh và dừng lại bên hàng cây
trứng cá.
Gió mát từ ngoài vàm sông
Cửu Long thổi lộng vào làm đong đưa mái tóc xinh xinh của Hà Anh. Nàng đưa tay
vuốt mấy sợi tóc lòa xòa xuống má và đột nhiên cảm thấy như có ai đang nhìn trộm
mình.
Hà Anh quay đầu lại và bắt
gặp Thọ đang chăm chú nhìn mình. Bốn mắt gặp nhau, cả hai cùng e thẹn.
Thọ gợi chuyện trước:
— Nhiều cá không cô?
Hà Anh đáp:
— Dạ! Không được bao
nhiêu!
Hai người lại im lặng. Thọ
không hiểu sao mỗi lần gặp Hà Anh chàng không tìm ra lời nói! Chàng đâm ra lúng
túng trước mặt cô gái láng giềng. Hà Anh cũng thế! Đối với Thọ, nàng không giữ
được vẻ tự nhiên như đối với những chàng trai trẻ khác. Có lẽ vì Thọ đứng đắn
và đáng kính hơn tất cả. Thọ ngước nhìn ra phía vàm sông, đôi mắt mơ màng.
Chàng nói:
— Trước kia tôi thường ngồi
đây nhìn ra sông Cái và mơ những chuyến viễn du...
Hà Anh nhìn Thọ, lòng rộn
lên niềm vui. Nàng không ngờ Thọ cũng từng có mộng ước như mình. Nhưng nàng lại
thở dài, niềm vui vừa thoáng hiện đã tan biến ngay. Những ước mơ của Thọ còn có
ngày thực hiện được, chớ như nàng còn mong gì nữa! Hiện tại cuộc sống của nàng
vô cùng chật vật, tương lai mù mịt như trời đêm...
Thọ bỗng nói:
— Giòng sông nầy buồn quá
phải không cô? Nhứt là trong những buổi hoàng hôn như chiều nay.
Hà Anh nhìn mặt nước đen
mờ khẽ đáp:
— Em thì em cho rằng cảnh
có buồn là do tâm trạng của mình.
Thọ nhìn nàng hỏi:
— Cô nói thế thì hiện tại
tôi đang buồn lắm sao?
Hà Anh bẽn lẽn cúi đầu:
— Em làm sao biết được!
Em chỉ nói những điều em nghĩ ra thôi...
— Tôi chưa biết điều nghĩ
ngợi của cô có đúng chăng? Nhưng mỗi lần ngồi đây trong hoàng hôn, tôi lại nghĩ
đến những ngày vui rồi hết, những cuộc gặp gỡ rồi ly tan, những người yêu nhau
rồi chia cách...
Hà Anh không hiểu kịp ý
nghĩa câu nói của Thọ nhưng nàng thấy bùi ngùi. Có tiếng giầm khuấy nước sông,
làm hai người chăm chú nhìn.
Một chiếc xuồng vượt qua
sông, đang từ từ cập bến chợ. Người bơi xuồng vừa thấy Thọ đã kêu lên:
— Kìa cậu Ba! Làm gì đứng
đó?
Thọ nhìn ra anh Hai Thắng
ở rạch Bà Chồi, chàng chưa kịp đáp thì anh ta đã nhìn thấy Hà Anh ngồi cạnh đó.
Hai Thắng vụt cười to lên bảo Thọ:
— Cậu muốn về Tàu hả? Con
xẩm này coi được đó cậu!
Thọ giận run lên, cổ họng
chàng như nghẹn lại. Chàng toan nói vài lời để bênh vực Hà Anh nhưng Hai Thắng
đã đi vào chợ, giọng cười hô hố của hắn vẫn vang lên. Thật là bất ngờ. Thọ e ngại
nhìn Hà Anh, nàng thiếu nữ Trung Hoa vẫn điềm nhiên, lạnh lùng nhìn ra ngoài
sông, làm như không nghe thấy những lời hồ đồ đó. Thọ muốn giải bày cho Hà Anh
đừng hiểu lầm mình, nhưng tìm mãi không ra lời. Riêng Hà Anh, đây không phải là
lần đầu tiên nàng được nghe những lời kém nhã nhặn đó. Hơn một năm rồi, được dịp
sống chung đụng với người Việt, nàng mới thấy rõ giữa hai giống dân còn nhiều
thành kiến bất công, còn nhiều sự khinh miệt lẫn nhau đáng trách. Nàng là người
Trung Hoa nhưng sống ở đất nước nầy từ khi mới lọt lòng. Nàng học chữ Việt, hiểu
rành tiếng Việt và xem nước Việt như quê hương mình. Ngày còn nhỏ, sống biệt lập
trong khu vực người Trung Hoa giàu có, nàng không ngờ có những người Việt xem
người Trung Hoa như những kẻ vong quốc, những kẻ ăn nhờ ở đậu, mà sự khinh khi
biểu lộ một cách trắng trợn trong lời nói giữa khi giao tiếp với nhau. Nàng đã
gặp nhiều người Việt vào quán của nàng dùng những câu thô bỉ xúc phạm đến cha
nàng, đến danh dự của nàng.
Hà Anh chua xót vô cùng,
nhưng bẩm sinh nàng vốn hay chịu đựng, nên sự gì rồi cũng qua đi. Đôi khi, có
những chàng thanh niên chọc ghẹo nàng bằng những lời tục tằn... Hà Anh làm như
mình không hiểu được tiếng Việt và dùng tiếng Trung Hoa đáp lời họ để họ cảm nhận
rằng nàng không hề hiểu được những lời bất nhã kia. Hà Anh cũng hiểu là sự
khinh miệt kia phát sanh do thành kiến phân chia chủng tộc còn sót lại trong một
số người nào đó! Lúc đầu nàng còn khổ sở nhưng dần dần cũng quen đi và không để
ý đến nữa...
Trong lúc mọi người nhìn
gia đình Hà Anh bằng đôi mắt rẻ khinh thì Dung đã đối xử thành thật với nàng!
Do đó, khi gặp Thọ, Hà Anh đã mến ngay và tin tưởng chàng không như những thanh
niên khác. Thọ không hiểu được trong lòng Hà Anh đang nghĩ gì? Thấy nàng yên lặng,
vẻ mặt lạnh lùng, chàng lo ngại và tự thẹn cho người đồng chủng. Chàng muốn Hà
Anh biết rằng mình không thích lời nói của Hai Thắng và lúc nào mình cũng trọng
nàng như mọi người trong trời đất.
Một lúc, Thọ khẽ gọi:
— Cô Hà!
— Hà Anh quay nhìn Thọ,
nàng hiểu ngay những điều nghĩ ngợi của chàng nên cười nói:
— Anh ngại vì câu chuyện
lúc nãy ư? Không đâu anh, em đã chịu đựng quen rồi!
Thọ ngạc nhiên nhìn nàng,
Hà Anh nói tiếp:
— Có người còn thô bỉ hơn
nhiều? Họ cứ tưởng rằng em không nghe được tiếng Việt Nam! Nhưng mình giận làm
gì những người còn mang nặng thành kiến cũ phải không anh?
Thọ mỉm cười sung sướng.
Chàng đáp:
— Lòng đại lượng của cô
làm tôi hổ thẹn.
Hà Anh nhìn Thọ với đôi mắt
chứa chan tình cảm. Ở người con trai đó, nàng thấy có gì hòa hợp và gần gũi với
mình mà nàng không thể phân tách được.
Chương 4
TIẾNG tù và của ông Năm
Súng túc lên từng hồi, dưới bến đò, kêu gọi hành khách từ các xóm xa lên chợ tỉnh,
đã đánh thức Hà Anh. Trời đã hừng đông, bóng đêm tan dần, ánh sáng bắt đầu hiện
lên qua các chấn song.
Hà Anh ngồi dậy, bước xuống
giường. Nàng sửa các em nằm cho ngay ngắn, kéo mền đắp cho chứng rồi ra nhà
ngoài, chóng liếp cửa. Xóm chợ nhộn nhịp vì dân ở các xóm đã tụ tập mua bán. Những
con đò dọc đưa họ từ những ấp hẻo lánh về đây. Những hình ảnh ấy rất quen thuộc
với Hà Anh, từ hơn một năm rồi, nhưng sáng nay, nàng lại thấy vui thích lạ.
Bầu trời sáng hẳn lên,
không khí mát rượi. Tiếng chim khách gọi nhau trên hàng cây trứng cá, ngoài bờ
sông, làm cho Hà Anh chú ý và nhớ lại buổi chiều hôm qua, mình đã ngồi bên Thọ.
Tự dưng, Hà Anh quay nhìn sang nhà người con trai dễ mến đó. Cửa sổ phòng chàng
vẫn còn đóng kín. Hà Anh mỉm cười một mình rồi ngước nhìn bầu trời xanh quang
đãng. Nàng muốn hát lên, những bài ca quen thuộc như ngày xưa, mỗi sáng đến học
đường.
Từ lâu, Hà Anh ít sống
cho riêng mình. Bừng mắt dậy là nàng phải lo buôn bán, chăm sóc việc nhà cho đến
tối. Tâm hồn nàng chất chứa nhiều buồn thương về gia đình, về cuộc sống. Tuổi
thanh xuân của nàng qua mau và Hà Anh cảm thấy quanh mình toàn là u tối. Nhưng
buổi sáng hôm nay, trời xanh tươi đẹp, tiếng chim ca rộn rã như thúc giục, khuyến
khích nàng vui ca hát, xua tan những nỗi buồn thường chất chứa trong lòng. Cảnh
vật như mời gọi nàng hãy trở lại yêu đời.
Hà Anh thấy như mùa xuân
về trên nền trời xanh, trên cỏ cây hoa lá. Tự dưng nàng muốn được đứng giữa cảnh
trời rộng bao la, cho tâm hồn khoáng đạt. Nàng nhớ đến những ao rau muống ngoài
cánh đồng với những đọt non tươi tốt.
Hà Anh ra nhà sau lấy cái
rá nhỏ rồi đi về phía ruộng.
Bờ đất nhỏ dẫn ra cánh đồng
xa, sương mù hãy còn vương trên lớp cỏ. Chân Hà Anh xóa tan những hạt sương
lóng lánh, lõm xuống thành hình. Nàng bước đi trong không khí mát lạnh buổi
bình mình, lòng rạng rỡ như ánh sáng chân trời đông. Hai bên bờ, nhiều đóa hoa
dại mọc vươn lên cao, khoe màu sắc lạ và rung rinh trong gió sớm nhẹ nhàng. Những
đám mạ còn non, màu xanh vàng rực rỡ, trong ánh nắng, làm tươi sáng một vùng rộng.
Đâu đó dưới khe đất nứt, tiếng dế gáy muộn vang lên thanh tao và nó im đi khi
có tiếng chân của Hà Anh. Chim hót chào ngày trên những cành cây cao, gieo sự
vui vẻ linh động buổi sáng.
Hà Anh bước nhanh hơn,
lòng nàng phơi phới như cảnh tươi sáng ngoài đồng rộng. Trong hồn nàng khúc nhạc
êm dịu như trổi lên và nàng tưởng chừng mình đang nhảy múa tưng bừng trong điệu
nhạc đó. Sự vui sướng lạ lùng tràn ngập trong tim nàng, gây cho nàng niềm hân
hoan khó tả. Nàng yêu mọi vật quanh mình và muốn được như chim bay lượn trong bầu
không khí đó. Nàng mang tâm trạng khác thường vì thoáng nhận được ở mình sự sống
mới mẻ đang bừng dậy. Nàng không còn cô độc trong tình cảm và không còn muốn sống
trong u tối.
Từ chiều hôm qua, nàng đã
thấy sự khác lạ đó đến với mình và đêm rồi nàng lại náo nức lạ lùng. Trong mọi
sự êm dịu tự nhiên hiện đến với nàng đều có hình ảnh Thọ, chàng thanh niên có
gương mặt dễ mến và tư cách đáng yêu.
Hà Anh chợt đứng dừng lại.
Từ xa ba bốn người đang đi tới, vai mang súng. Đúng là mấy người lính trong đồn
Tây! Họ cũng vừa nhìn thấy Hà Anh nên bước mau hơn. Hà Anh lo sợ vô cùng. Thường
ngày, nàng vẫn gặp họ lui tới trong xóm chợ, nhiều khi cũng có ghé quán của
nàng uống nước nhưng chưa lần nào nàng gặp họ giữa đồng không như vầy...
Nàng muốn trở lui, nhưng
nhìn lại xóm nhà đã xa quá rồi. Trống ngực đánh thình thình, nàng nghĩ đến chuyện
không may sẽ xảy tới cho mình. Mấy người lính thân binh đã đến gần Hà Anh và
người đi đầu vọt cất tiếng:
— Cô Hà Anh! Đi đâu sớm vậy?
Hà Anh ngó thấy thầy Năm
thông ngôn thì vững lòng hơn. Người nầy đã tới nhà nàng mấy lần và xem chừng rất
lễ phép đối với cha nàng.
Thiếu nữ nghiêm nghị đáp:
— Dạ... Tôi đi hái rau muống.
Thầy Năm thông ngôn cười
với nàng rồi nói:
— Trời lạnh lắm! Cô dám lội
xuống nước sao?
Mấy người lính đi theo
viên thông ngôn cười hềnh hệch. Hà Anh lúng túng đáp:
— Dạ… dám chớ. Tôi quen rồi.
Viên thông ngôn đến sát
bên nàng nói:
— Thôi cô khỏi mắc công!
Để tôi biểu họ hái giùm cho.
Rồi Năm Quýnh quay sang mấy
người lính thân binh nói:
— Hái đọt rau muống giùm
cô đây lát về tôi cho thuốc.
Mấy người thân binh liền
theo lệnh viên thông ngôn, nhảy xuống mương hái đọt rau. Hà Anh muốn chận họ lại,
nhưng không biết làm sao? Nàng bẽn lẽn cúi mặt khi thấy mấy người thân binh cứ
nhìn mình mỉm cười, như có ẩn ý gì?
Năm Quýnh chợt bảo Hà
Anh:
— Hái một hồi, cô ôm về
không hết đâu!
Hà Anh ấp úng:
— Làm mất công ‘‘mấy
ông’’ đó quá! Thầy Năm...
Năm Quýnh chận lời nàng:
— Cô thiệt kỳ. Mấy tháng
nay, tôi tới chơi nhà, mà cô cứ kêu bằng thầy hoài. Thiệt tôi buồn hết sức! ‘‘
Thầy bà’’ gì? Chỗ anh em...
Hà Anh nhận thấy Năm
Quýnh cố tình làm thân với mình, nên mỉm cười nói:
— Dạ hổng dám rồi! Thầy
Năm là người chức phận. Dưới xếp đồn là tới thầy, tôi phải giữ lễ phép chớ. Gia
đình tôi về Cái Muối nầy ở được là nhờ ơn thầy.
Năm Quýnh rất sung sướng
trước những lời tâng bốc của Hà Anh, nhưng vẫn làm bộ như không màng:
— Có gì đâu! Được giúp đỡ
cô là tôi mừng rồi.
Năm Quýnh ghé sát tai Hà
Anh để nói những lời đó. Thiếu nữ giữ ý, lùi lại một bước, nhưng bờ đê đất sụp,
nàng chới với muốn lọt xuống mương. Viên thông ngôn gặp dịp, chụp lấy tay nàng
kéo lại. Hà Anh ngã nhào vào mình anh ta, cái rá rớt xuống vũng bùn. Mấy tên
thân binh cười rộ lên. Hà Anh xấu hổ gượng dậy, nhưng Năm Quýnh vẫn ôm chặt lấy
nàng, nói liên miên:
— Có sao không, Hà Anh?
Thiếu nữ vùng mạnh thoát
khỏi hai cánh tay cứng rắn của hắn. Nàng vừa mắc cở vừa giận. Bây giờ thì Hà
Anh đã đoán hiểu phần nào hậu ý không tốt của viên thông ngôn.
Năm Quýnh lại bước tới gần
nàng, toan nắm tay, nhưng Hà Anh phản đối ngay:
— Thầy Năm... Đừng...
Năm Quýnh nhìn thấy đôi mắt
long lên có vẻ dữ tợn hơn bao giờ hết thì không còn dám suồng sã nữa. Mấy tên
thân binh đã lên hết trên bờ đê và cứ nhìn nhau cười. Năm Quýnh hơi ngượng,
quay sang mắng chúng:
— Mấy anh cười cái gì? Đừng
giỡn với tôi nghen?
Bọn thân binh lặng trang,
không dám hó hé nữa. Họ sợ Năm Quýnh vì anh ta rành tiếng Pháp và hãm hại họ rất
dễ dàng. Hắn ghim ai thì sớm muộn gì cũng thót mét với Tây xếp đồn để tìm những
cớ rất nhỏ trừng phạt họ.
Sáng nay, Năm Quýnh dẫn họ
đi tuần ở trong ruộng bất ngờ gặp Hà Anh. Đã lâu, bọn thân binh đều biết viên
thông ngôn si mê ‘‘con xẩm’’ ở ngoài bến chợ, nhưng chưa có dịp tỏ tình, nên
khi Năm Quýnh biểu họ hái rau muống giúp Hà Anh, không một ai dám từ chối. Họ
làm thế là để lấy lòng Năm Quýnh. Ấy vậy mà vẫn bị anh ta mắng. Bọn thân binh ức
lòng lắm nhưng vẫn lặng thinh. Hà Anh đã lượm cái rá lên và chỉ còn muốn bỏ chạy
vào nhà.
Năm Quýnh vụt bảo mấy người
lính:
— Sao đứng như trời trồng
vậy? Rau muống của cô ấy đâu?
Mấy người kia chợt nhớ
ra, đem đọt rau muống hái được, bỏ vào rá cho Hà Anh. Thiếu nữ không biết nên từ
chối hay nhận lấy?
Năm Quýnh ngó nàng rồi bảo
mấy tên thân binh:
— Mấy anh vác súng về đồn!
Tôi về sau...
Bọn kia hình như hiểu ý
Năm Quýnh vội vã đi ngay. Hà Anh càng rung sợ hơn, nhưng cố làm ra vẻ bình
tĩnh.
Nàng bảo Năm Quýnh:
— Cám ơn thầy Năm! Thôi
tôi cũng về đây.
Năm Quýnh cười mơn:
— Coi... Còn sớm mà! Mặt
trời mới lên.
— Dạ, tôi còn phải dọn
hàng, để bán nữa thầy.
Nói xong Hà Anh rảo bước.
Năm Quýnh lẻo đẻo theo sau và bắt chuyện:
— Hà Anh giỏi quá! Một
mình làm việc nuôi hết cả nhà.
Hà Anh lắc đầu gượng cười:
— Tại nghèo biết làm sao
thầy! Chẳng lẽ để em út nó đói?
Năm Quýnh đi sát bên
nàng, cất giọng thân mật:
— Nhiều đêm đi tuần thiệt
khuya, thấy Hà Anh còn thức may vá quần áo cho các em rồi tính sổ sách, tôi cảm
động quá hà! Cái cảnh của cô không khác gì tôi hồi cha mới chết. Phải lo cho một
bầy em.
Hà Anh nhìn anh ta, bớt sợ
hãi hơn. Nàng dễ xúc động trước người đồng cảnh ngộ. Năm Quýnh cũng hiểu là
mình không nên hấp tấp trước cô gái Trung Hoa kia. Anh ta dò biết từ lâu Hà Anh
thuộc vào gia đình khá giả, có học thức, nên không dám dở cái trò sàm sỡ như đối
với các cô gái khác trong làng. Đi bên cạnh Hà Anh, mùi thơm da thịt của nàng
như toát ra thoang thoảng, lòng Năm Quýnh rạo rực khác thường, nhưng anh ta vẫn
cố dằn xuống. Mọi khi thì phải biết: Năm Quýnh sẽ dụ dỗ cô gái nào hắn thích đến
chỗ vắng vẻ ôm đại người ta. Nhiều cô non dạ yếu lòng phải thất thân với hắn rồi
ngậm miệng luôn cho đỡ xấu hổ. Đối với Hà Anh, Năm Quýnh chưa dám dở cái trò tồi
bại đó! Mấy tháng nay, hắn lân la tới làm quen với ông Ban Phánh, khi thì hầu một
ván cờ, lúc lại ngồi vấn thuốc rê hút, nói chuyện năm châu, bốn biển.
Tiếng Việt Nam của ông
Ban không được là bao, nên cuộc đàm thoại giữa hai người hết sức khó khăn. Năm
Quýnh nghe tiếng được tiếng mất nhưng cũng cố lắng tai nghe. Miễn sao được ở kề
cận bên Hà Anh là hắn mãn nguyện rồi!
Và lần hồi, tuy không bao
giờ nghe được trọn câu nói của Ban Phánh, nhưng Năm Quýnh cũng đoán hiểu được sự
đam mê của ông ta trong lúc thiếu thời: thuốc phiện!
Đi gần tới mương vườn, Hà
Anh vụt đứng lại bảo Năm Quýnh:
— Thầy Năm...đi trước đi.
Năm Quýnh ngạc nhiên ngó
nàng:
— Sao vậy?
— Dạ...thầy Năm đi trước
đi mà.
Năm Quýnh chợt hiểu là Hà
Anh sợ dân làng nhìn thấy rồi đàm tiếu, nên cười nói:
— Tôi hiểu ý cô rồi!
Không sao đâu? Chẳng ai dám nói gì đâu? Hà Anh cũng biết tôi nói với Xếp đồn một
tiếng là nhà của họ tan hoang ngay.
Thiếu nữ nghiêm sắc mặt
không đáp. Lời nói của Năm Quýnh đã tạo một khoản cách thật xa giữa nàng và hắn,
Năm Quýnh không hiểu được những ý nghĩ trong đầu nàng, vụt nắm lấy tay Hà Anh
kéo đi. Hà Anh vung tay ra, nói lớn:
— Thầy Năm... Làm gì vậy?
Năm Quýnh sững sờ không
dè ‘‘con xẩm’’ nầy lại giữ ý tứ ghê đến thế. Mặt anh ta tái xanh rồi gượng cười:
— Cô... không ưa tôi thiệt
sao? Cũng không hề gì? Trong làng nầy chưa có ai ghét tôi đâu.
Hắn nói xong bỏ đi một nước.
Hà Anh đứng trông theo, trống ngực còn đập thình thình. Những lời sau cùng của
Năm Quýnh, như có ý đe dọa. Nàng đứng trên bờ đê một lúc, chờ cho Năm Quýnh khuất
mình trong xóm, mới cất bước theo sau.
Mặt trời đã lên cao, ánh
nắng gay gắt. Một ngày oi bức bắt đầu. Mồ hôi rịnh dài trên vừng trán của Hà
Anh. Tâm hồn nàng đang thảnh thơi bỗng xáo trộn vì những âu lo thường xuyên
trong thời nhiễu loạn. Sáng nay, nàng đã thấy rõ tình ý của Năm Quýnh đối với
mình. Xem chừng hắn muốn đi tới chớ không phải chỉ chọc ghẹo suông thôi đâu.
Nàng nhớ lại sự có mặt gần như thường xuyên của Năm Quýnh trong nhà mình mà
thêm lo... Cha nàng xem chừng ưa thích hắn ta lắm! Đêm qua, lúc ở ngoài Xóm
Chùa trở về, ông còn bảo nàng với giọng vui vẻ:
— Thầy Năm thông ngôn tốt
lắm! Tốt lắm...
Rồi ông lại lấy đàn ra
sân khảy lăn tăn, một khúc cổ ca miền núi. Nghe tiếng đàn reo vui, nàng biết
cha đang thỏa mãn một sự gì đó? Hà Anh càng thêm lo lắng, nhưng vẫn chưa hiểu
Năm Quýnh đã làm gì mà cha cho là người tốt?.
Hà Anh đã vào đến xóm chợ.
Nàng qua ngang nhà Thọ, gặp lúc chàng đang xách nước tưới trầu. Chàng xoay trần,
mồ hôi nhễ nhại, thân thể rắn chắc cân đối. Hà Anh quay mặt nhìn đi nơi khác, tự
nhiên đôi má đỏ bừng lên. Thọ không để ý thấy nàng nên cử tiếp tục làm việc.
Dung từ nhà trong đi ra vọt kêu to lên:
— Chị Hà Anh! Đi đâu đó?
Thọ nghe tiếng em cũng
quay lại. Hà Anh bẽn lẽn cúi đầu chào Thọ rồi bước lại bên rào, bảo Dung:
— Mình vừa ra ngoài đồng
hái rau muống.
— Thích quá vậy! Sao
không gọi người ta đi với. Chị xấu quá hà!
Hà Anh và Thọ cùng cười
trước vẻ hồn nhiên của Dung. Hà Anh đáp.
— Mình đi sớm lắm! Lúc ấy
hình như Dung còn ngủ. Cửa còn đóng kín...
Dung chận lời nàng:
— Cửa đóng thì gọi! Tại
chị không muốn rủ người ta mà. Dung giận chị rồi đó.
Nàng làm ra vẻ phụng phịu
khiến Hà Anh càng lúng túng, không biết nói sao? Thọ đâm ra tội nghiệp cô ta,
nên đỡ lời bảo em:
— Dung lạ thật! Ngủ cho
trưa rồi còn trách người ta.
Dung lườm anh nói:
— Ai ngủ trưa? Anh hay
em? Người ta thức nấu nước cho má uống hồi trời chưa sáng. Thấy anh còn ngủ nên
tội nghiệp không mở cửa đó.
Thọ lắc đầu ngó Hà Anh
như ngầm bảo nàng: Con bé nầy ngụy biện ghê lắm! Đến tôi cũng chịu thua nó!
Hà Anh cười, liếc mắt
nhìn Dung nói:
— Thôi mình xin lỗi Dung!
Hôm khác đi tôi sẽ gọi...
Nàng vụt im bặt, khi thấy
Năm Quýnh đứng ở chỗ tiệm hớt tóc nhìn qua như dò xét. Thọ chú ý thấy gã đàn
ông đó từ lúc Hà Anh mới dừng lại trước cổng nhà mình, nhưng chưa tiện hỏi
Dung.
Cái nhìn xách mé của anh
ta làm chàng khó chịu. Hà Anh chợt bảo Dung:
— Mình về nấu cơm! Xin
phép anh...
Nàng cúi chào Thọ. Thọ và
Dung cùng cười gật đầu. Hà Anh vừa đi khuất vào nhà, Dung ngó sang tiệm hớt
tóc, rồi hỏi nhỏ:
— Anh có biết ai đó
chăng?
Thọ cúi xuống múc nước, hỏi
lại em:
— Ai? Anh thấy hắn nhìn
vào nhà mình từ nãy giờ lận. Đang định hỏi em.
Dung quay mặt vào trong
nhà cho tên kia không để ý, rồi đáp:
— Năm Quýnh đó! Hắn làm
thông ngôn trong đồn. Dữ lắm giết người như chơi.
Thọ liếc mắt nhìn qua bên
kia đường, thấy tên nọ vẫn chăm chú ngó mình thì nói nhỏ:
— Thông ngôn thì quyền
hành gì mà giết người?
Dung nói nhanh:
— Ở chỗ hẻo lánh, như
làng mình dễ lắm anh ơi! Cứ phao đại là Việt Minh thì Tây khỏi cần xét xử. Bắn
bao nhiêu cũng không ở tù.
— Ghê thế kia à?
— Năm Quýnh nầy tàn ác mà
dê nữa! Bọn Tây trong đồn rất tin cẩn y. Em mà không nói được tiếng Pháp thì
cũng chết với nó mấy mươi đời vương!
Thọ lại ngó sang tiệm hớt
tóc, Dung gắt anh:
— Thôi! Đừng dòm nó Năm
Quýnh ưa gây sự lắm. Nhờ bác Hội Đồng dặn dò Tây xếp đồn, nhà mình bà con với
bác không thì cũng có chuyện lôi thôi với nó rồi.
Máu thanh niên trong người
Thọ như bừng sôi lên trước câu chuyện em vừa nói. Một tên thông ngôn mà cũng
làm hung thần được thì lạ thật? Thọ bảo em:
— Khôn hồn thì hắn đừng
chạm tới anh!
Dung lo sợ nói:
— Đừng anh! Có gì cũng phải
nhịn nhục hắn. Em dặn trước đó. Năm Quýnh ác lắm, không công khai hại được
mình, hắn sẽ thầm lén.
— Mình có tội gì phải sợ!
— Không có tội, nó cũng
lén bắn chết được như thường. Nhiều người đã chết về tay hắn đó...
Thọ bực tức nói:
— Chẳng ai đi tố cáo sao?
Dung thở ra lắc đầu:
— Ai dám làm chuyện đó! Đợi
ở tỉnh xét tới thì nó sẽ giết cả nhà. Em nói ở dưới nầy ghê lắm. Anh đừng tưởng
như ở Sài gòn mà lầm không có luật pháp gì cả!
Thọ lắc đầu nói:
— Anh hoàn toàn không dè
có chuyện đó!
Bên chỗ tiệm hớt tóc, tên
thông ngôn đã bỏ đi từ lúc nào. Thọ vừa ngó lên thì thấy Năm Súng, Ông lão chèo
đò, đang đi qua, vẻ mặt không được tự nhiên.
Thọ gọi to lên:
— Chú Năm! Bữa nay không
đi Cái Bè sao?
Năm Súng tự tiện xô cổng
nhà chàng, rồi bước vô nói:
— Hôm nay nghĩ một bữa. Nầy
cậu Ba...
Nhưng chợt thấy Dung ông
ta lặng thinh.
Thọ hỏi ngay:
— Gì vậy chú Năm?
Năm Súng liếc nhìn Dung rồi
nói:
— Cậu có mích lòng gì với
thầy Năm thông ngôn không?
Thọ ngơ ngác, lắc đầu:
— Không! Tôi có quen biết
anh ta đâu mà mích lòng?
Năm Súng nhìn ngược, nhìn
xuôi như sợ có ai rình rập rồi nói nhỏ:
— Thầy Năm vừa mới hỏi cậu
đó.
Dung lo sợ hỏi tới:
— Hỏi gì chú?
— Thầy hỏi cậu đi đâu lâu
nay mới về hả?
Ý thẩy muốn nói cậu đi
theo kháng chiến.
Thọ hơi giựt mình, nhưng
bình tĩnh được ngay. Dung nói nhanh:
— Nói bậy hoài. Người ta
đi học trên Sài gòn mà.
Năm Súng gãi tai nói:
— Thì cô cũng biết Năm
Quýnh mà! Hễ thấy lạ mặt là nghi ngờ. Tui nói cậu Ba đi học ở Sài gòn về, thầy
cười bĩu môi, tỏ ý không tin. Bị vậy mà tui tưởng cậu đây làm gì mích lòng thẩy
chớ.
Thọ nhớ đến những chuyện
riêng tư của mình thoáng nét âu lo, nhưng cũng ráng bình tĩnh bảo Năm Súng:
— Không đâu chú Năm. Tôi
đâu có làm mích bụng ai?
Dung cũng nói:
— Nhà nầy chú biết mà! Chẳng
hề gây sự với ai bao giờ.
Năm Súng chợt hỏi:
— Nầy! Hôm về tới giờ cậu
Ba có vô bót trình diện chưa?
Thọ lắc đầu cười:
— Chưa chú Năm! Định hôm
nào đã...
— Trời ơi! Đâu có được.
Vô trình diện liền đi. Đừng để họ có cớ làm khó cậu mà. Tui nói thiệt cậu Ba đừng
giận: thầy Năm thông ngôn hễ ghét ai thì khó lắm đó!
Thọ đã quen với cái không
khí tự do ở Sài gòn nên nói:
— Nhưng tội có làm gì mà
sợ chú Năm.
Dung sợ anh nói lỡ lời,
Năm Súng học đi học lại với người khác có hại nên chận lời:
— Anh... Mình nên giữ
đúng luật! Lát nữa anh vào bót trình diện là xong... Xếp bót cũng nhã nhặn lắm.
Năm Súng gật đầu:
— Cô Tư nói phải đó. Cậu
nên vô bót trình diện đi. Cũng nên làm quen với thầy Năm cho đỡ.
Thọ hơi ức lòng nhưng
cũng mỉm cười cho Năm Súng khỏi nói lải nhải nữa. Chàng thoáng thấy bóng Hà Anh
lấp ló bên khung cửa sổ nhà nàng. Dung cũng nhìn sang nhà bạn ra chiều nghĩ ngợi
lung lắm.
Năm Súng cười bảo hai anh
em:
— Đời giặc khổ lắm! Mình
là dân mà cậu. Chịu đủ trăm bề...
Rồi ông ta ra cửa rào, Thọ
bước theo nói:
— Cám ơn chú Năm. Tôi mới
về nên còn lạ, ít lâu sẽ quen dần.
Hai người cùng cười. Dung
chờ Năm Súng đi khuất mới bảo Thọ:
— Em hiểu tại sao Năm
Quýnh không ưa anh rồi?
Thọ quay lại hỏi:
— Sao vậy?
Dung hất hàm về phía nhà
Hà Anh nói:
— Tại ‘‘người đẹp Trung
Hoa’’ đó?
— Hà Anh!
Dung kéo anh vào nhà nói:
— Năm Quýnh đeo đuổi Hà
Anh ghê lắm! Nhưng chẳng được chị ấy lưu ý tới. Hôm nay hắn bắt gặp Hà Anh nói
chuyện với anh nên sinh lòng ghen tức.
Thọ chưng hửng nói:
— Mà anh với Hà Anh có gì
đâu?
Dung cười:
— Không có gì nhưng...
‘‘cảm tình’’ chút thôi.
— Kìa, anh có bày tỏ cảm
tình hồi nào mà em nói vậy?
Dung vẫn cười:
— Ai nói anh? Hà Anh chớ!
Do đó mà Năm Quýnh đã xem anh như kẻ tình địch đáng ngại nhứt...
Thọ đưa hai tay lên trời:
— Khổ quá! Đương không rồi
bị thù ghét một cách lảng nhách.
Dung ngó anh như dò xét,
rồi nói:
— Chưa chắc! Không oan
cho anh đâu!
Thọ cũng có cảm giác mang
máng như thế, nhưng chàng nạt đùa em:
— Dung! Đừng nói bậy nà!
Lỡ Hà Anh nghe thấy sẽ giận anh em mình.
Dung vẫn tươi cười phá
anh:
— Em chỉ nói cho anh nghe
thôi, làm sao Hà Anh biết được? Trừ phi anh...
Thọ quá giận nói lớn:
— Dung! Em không được...
Thiếu nữ cười vang lên chạy
thẳng vào nhà sau. Thọ nhìn theo lắc đầu. Dung đã mười chín tuổi rồi, nhưng vẫn
không bỏ được tánh trẻ con.
Chàng bước lại bên cây khế,
lấy khăn lau mồ hôi, đôi mắt nhìn sang nhà Hà Anh. Lời nói của Dung càng tô đậm
thêm tình cảm giữa chàng và người thiếu nữ Trung Hoa đó!
Thọ chợt chú ý thấy có
người xuất hiện trong khung cửa sổ nhà Hà Anh, người đó là Năm Quýnh chớ không
ai khác.
Anh ta chăm chú nhìn Thọ,
vẻ bất mãn rõ rệt. Thọ cúi xuống để tránh đôi mắt thiếu tình cảm đó... Lần đầu
tiên trong đời, chàng cảm nhận lờ mờ có người thù oán mình vì một chuyện không
đâu.
Thọ đang ngủ say, vụt
choàng tỉnh khi nghe tiếng dộng cửa rầm rầm. Chàng ngồi nhổm dậy, đã nghe tiếng
Dung gọi nhỏ:
— Anh Thọ... Anh Thọ...
Trong nhà đều tắt hết
đèn, nên chàng không biết em đang đứng đâu? Chàng bước xuống giường hỏi mau:
— Gì vậy em?
Dung đã đến sát bên chàng
tự lúc nào:
— Họ kêu cửa nãy giờ,
nhưng mẹ và em không lên tiếng. Cửa nhà mình có muốn phá cũng không vô được...
Thọ hỏi:
— Mẹ đâu?
— Đang ở trong phòng. Họ
bảo là lính trong bót nhưng em nghi ăn cướp quá...
Bỗng ở bên ngoài có tiếng
nói:
— Xếp bót tới rồi đó! Mở
cửa hông, tại nầy bắn đại vào nhà nghen.
Dung chợt nghe tiếng Tây
quát tháo trong đêm khuya. Nàng nắm chặt tay Thọ:
— Đúng là lính bót rồi
anh! Chết cha. Phải mở cửa, không nó bắn thiệt đó.
Thọ không quen với cảnh sống
ở làng quê, nên việc nào cũng theo ý em. Chàng chưa kịp nói gì thì Dung đã lôi
chàng chạy ra ngoài. Bà Chủ Thân từ buồng trong, cầm đèn đi ra, run giọng nói:
— Thọ, Dung... Đúng là
lính ở trong bót mà. Có xếp bót đi theo nữa kìa. Mở cửa coi họ hỏi gì?
Thọ vội vàng đến bên cửa.
Bên ngoài có tiếng Năm Quýnh nói lớn:
— Bà Chủ ơi! Xếp muốn hỏi
thăm vài việc, sao bà không chịu mở cửa...
Bà mẹ vội hối Thọ:
— Mở đi con!
Dung đưa tay như muốn
ngăn anh, rồi lại thôi vì nàng biết có chống cự cũng vô ích. Tự nhiên, nàng
linh cảm một chuyện không hay sẽ xảy đến cho gia đình... Thọ vừa mở chốt cửa,
lính thân binh đã ùa vào vây chặt lấy chàng. Người Pháp Xếp bót lườm lườm nhìn
Thọ, hỏi Năm Quýnh:
— Có phải tên nầy không?
Năm Quýnh biết anh em
Dung đều rành tiếng Pháp, nên vội đáp:
— Dạ họ mạch như thế!
Nhưng đây là gia đình bà Chủ quen thân với ông Hội Đồng bên Phước Định. Chỗ
quen lớn cả.
Dung vụt cất tiếng hỏi Xếp
bót:
— Có việc gì nửa đêm ông
vây nhà tôi...
Xếp bót đã mấy lần nói
chuyện với Dung nên rất trọng nàng. Ông ta nói ngay:
— Có người tố cáo trong
nhà cô chứa Việt Minh?
Dung sợ toát mồ hôi,
nhưng cũng hỏi gằn lại:
— Ai cáo?
Xếp bót liếc nhìn Năm
Quýnh rồi đáp:
— Đó là chuyện bí mật
không nói ra được!
Rồi ông ta hất hàm về
phía Thọ, hỏi Dung:
— Người nầy là ai?
Dung đáp:
— Anh ruột tôi vừa ở Sài
gòn về!
Xếp đồn lắc đầu:
— Cô nói dối! Học ở Sài
gòn về sao trốn lánh?
Thọ cất tiếng hỏi:
— Tôi trốn lánh bao giờ?
Nghe Thọ nói tiếng Pháp
trôi chảy, xếp đồn cũng hơi nể, nhưng cũng nói:
— Không trốn tại sao anh
không vô bót trình diện với tôi? Luật ở đây, không thể chứa người lạ mặt quá mười
hai tiếng đồng hồ...
Thọ chưa kịp đáp thì Dung
đã lên tiếng:
— Ông Jean... gia đình
tôi là người kỳ cựu trong làng nầy và ông cũng đã từng biết nhiều rồi. Sao lại
có sự làm khó nhau thế nầy?
Năm Quýnh từ nãy giờ vẫn
lặng thinh. Hắn nghe Thọ và Dung trả lời cứng rắn với xếp bót thì hơi ngán,
nhưng là kẻ nhiều cơ mưu, hắn nói xen vào:
— Cô Dung! Tụi tui còn lạ
gì nữa! Nhưng tại họ mạch với Xếp bót như thế, ông ấy phải đích thân ra đây. Đứng
trên phương diện luật pháp thì cậu anh của cô đã phạm tội rồi. Để về bót tôi liệu
cho.
Thọ ngó thẳng vào mặt Năm
Quýnh, hiểu rõ dụng tâm của hắn, nên ức lòng hỏi ngay:
— Sao lại về bót?
Cả hai người đều dùng tiếng
Pháp nên xếp đồn bực tức trước thái độ ngang ngạnh của Thọ.
Ông ta nói ngay:
— Tôi mời ông về đồn vì
ông không đến trình diện. Mà chỉ có Việt Minh mới trốn lánh chúng tôi.
Thọ cãi lại ngay:
— Không! Tôi là học sinh ở
Sài gòn mà! Giấy tờ tôi đủ...
Năm Quýnh sáng mắt lên
ngay:
— Cậu là học sinh hả? Tại
sao lại về nhà? Phải cậu dự vào cuộc bãi khóa Trần văn Ơn không? Hả?
Đúng là hắn ‘‘ xem mặt mà
bắt hình dung’’, nhưng Thọ đã có tịt thì sợ hãi lắm. Chàng cố bình tĩnh đáp:
— Không!
Năm Quýnh cười nham hiểm:
— Không thể nào được! Cậu
qua mắt tôi sao nổi! Tháng nầy là tháng học trò đang học, tự nhiên sao cậu bỏ về
nhà nghỉ. Bãi khóa vì trò Ơn mà! Thế còn chối không phải Việt Minh.
Rồi viên thông ngôn quay
sang Xếp đồn nói:
— Đây chắc cũng là tay
quan trọng mới bỏ Sài gòn về đó. Tùy xếp định liệu!
Thực sự tên Jean, Xếp đồn
Cái Muối cũng chẳng hiểu ất giáp gì về những vụ biểu tình, bãi khóa ở Sài gòn,
nhưng trước thái độ ngang ngạnh của Thọ và những lời đề quyết của Năm Quýnh, hắn
liền ra lịnh:
— Đưa về bót!
Thọ thấy mình đã lâm vào
ngỏ bí nên quay lại nhìn mẹ, nhìn em. Bà Chủ sợ lắm! Bà đã nghe anh Hai của Thọ
nói nhiều về hoạt động của chàng lúc ở Sài gòn, nên nài nỉ Năm Quýnh:
— Cậu Năm! Cậu ở trong
làng nầy biết tôi nhiều mà. Đời nào con tôi làm Việt Minh! Cái nhà thờ của ông
Ngoại sắp nhỏ còn cho nhà nước đóng bót mà...
Năm Quýnh thuộc vào dân hạ
tiện trong làng, gặp thời nhiễu nhương thì lên mặt. Trước lời nài nỉ của bà mẹ
Thọ, cũng làm bộ gãi tai:
— Việc nầy khó lắm! Tại
người ta mạch tôi biết nói sao? Xếp đích thân ra tới đây, bà biểu tôi cản thế
nào được...
Dung tức giận lắm! Nàng
biết dư chuyện nầy do Năm Quýnh bày biểu hết, nhưng bây giờ hắn làm bộ.
Nàng bước đến bên anh, bảo
xếp đồn:
— Ông Jean! Đây là một vụ
phao vu! Ông không xét kỹ, bắt oan anh tôi sao? Ông không nên làm mất hòa khí
giữa gia đình tôi với ông. Bác Hội của tôi cũng là bè bạn với ông Chủ tỉnh mà.
Tên Jean đã bị mất giấc
ngủ vào lúc nửa đêm, trong lòng đang bực bội, giờ nghe giọng nói có vẻ thách đố
của Dung, hắn trừng mắt:
— Cô dọa tôi hả?
Dung vẫn cứng cỏi nói:
— Không! Tôi là dân thường,
hai tay không, làm sao dám dọa ông! Tôi nói lẽ phải mà nghe vậy thôi. Anh tôi
là học sinh ở Sài gòn làm sao theo Việt Minh được.
Năm Quýnh sợ mưu kế của
mình bị Dung phá vỡ, nên cười nhạt bảo Xếp đồn:
— Học sinh bây giờ ghê lắm!
Họ làm náo động cả Sài gòn suốt tháng nay đó Xếp. Tôi tin là cậu nầy bị động,
chạy về đây. Nếu Xếp không tin đánh điện hỏi xem.
Bà Chủ không hiểu tên Năm
nói gì, nhưng Dung và Thọ đều ngó hắn với đôi mắt căm hờn. Thọ nhớ lời Dung nói
hồi sáng:
— ‘‘Anh bị Năm Quýnh oán
vì Hà Anh đó!’’
Bây giờ, chàng mới thấy
rõ nhận xét của em rất đúng. Năm Quýnh cố tình muốn nhốt mình mà.
Xếp đồn bảo Dung:
— Tôi lấy làm tiếc phải
giữ đúng luật. Anh cô bị người ta mạch là Việt Minh trốn về, tôi phải mời về
bót điều tra! Nếu không phải sẽ thả ra ngay...
Dung toan nói thêm, nhưng
Thọ đã chận lại:
— Thôi Dung! Em không cần
phải nói nữa. Năm Quýnh cười nham hiểm:
— Có thế chớ! Mình dám
làm dám chịu, đừng thèm xin xỏ ai.
Thọ cố dằn lòng ngó xuống.
Chàng chỉ còn muốn phóng tới, thoi vào mặt hắn thôi. Nhưng nếu chàng hành động
như thế, bọn lính sẽ nổ súng vào đầu ngay, rồi không chừng mẹ và em cũng không
yên được.
Chàng bảo mẹ:
— Má đừng lo cho con!
Dung... trông chừng, săn sóc má.
Dung nghẹn lời, nhưng cố
gắng để khỏi bậc thành tiếng khóc:
— Anh yên tâm.
Xếp đồn ngó Dung, rồi
quay gót, bọn lính dẫn Thọ ra cửa. Bà Chủ òa khóc, Dung ôm chặt lấy mẹ gọi nhỏ:
— Mẹ...
Tên Năm Quýnh đi sau
cùng, vẻ vun văn, vút vắt thật đáng ghét. Chúng vừa ra khỏi nhà thì bà Chủ đã gục
xuống:
— Trời ơi! Làm sao bây giờ
Dung? Anh Ba mầy...
Dung cũng ngồi xuống bên
mẹ, mặc cho nước mắt tuông trào. Nàng đã cố gắng hết sức mình mới thốt ra được
những lời rắn rỏi đó, trước mặt Xếp đồn. Nàng lắc đầu nói:
— Con cũng không biết làm
sao bây giờ? Năm Quýnh cố tình hại anh Thọ mà...
Bà mẹ ngạc nhiên hỏi:
— Sao vậy? Xưa nay mình
có gây thù kết oán gì với nó đâu?
Dung nhớ đến chuyện Hà
Anh, nhưng không muốn cho mẹ biết, chỉ thêm lo buồn. Thực ra, nàng không dè Năm
Quýnh hành động tức khắc như vậy. Mới hồi sáng nầy, hắn hỏi thăm Thọ thì tối đến
cho vây nhà ngay! Hắn ra tay nhanh quá, anh em nàng đối phó sao kịp?
Bà Chủ thấy con gái không
trả lời, liền hỏi tiếp:
— Sao vậy hả Dung?
— Con không rõ nữa, nhưng
thấy rõ hắn cố tình buộc tội anh Thọ mà.
— Hay có ai mạch anh Ba mầy
biểu tình, bãi khóa ở Sài gòn?
Dung lắc đầu:
— Không! Chẳng ai rành những
chuyện đó đâu. Năm Quýnh đoán mò mà...
Bà Chủ lại khóc:
— Mò gì? Nó nói trúng
quá, chắc thằng Thọ khó toàn thân! Phải chi cứ để nó ở Sài gòn. Anh Hai mầy sợ
cho nó cũng bằng hại nó...
Dung lắc đầu bảo mẹ:
— Má đừng khóc nữa. Để
tính lại xem!
Nàng chợt nhớ đến ông Hội
Đồng, ba của Mai, nên bảo mẹ?
— Má à! Hay con qua Phước
Định cầu cứu với bác Hội.
Bà mẹ sáng mắt lên:
— Ờ phải rồi. Để mẹ đi
cho. Phải nhờ bác Hội can thiệp giùm! Trời, tao quên mất.
Bà đứng lên sửa soạn đi
thì Dung chận lại:
— Khoan đã má! Còn thiết
quân luận mà. Đi họ bắn chết! Cũng gần sáng rồi...
Bà Chủ ngồi xuống:
— Trời ơi! Đây tới sáng
chắc thằng Thọ bị muỗi cắn chết.
Dung thở dài không đáp lời
mẹ. Bị nhốt tới sáng thì có nhầm gì. Nàng chỉ sợ chúng giam anh nàng lâu hơn nữa
thôi.
Có tiếng động ở ngoài
rào, hai mẹ con nhìn nhau lo sợ. Chợt có người gọi:
— Chị Dung ơi, chị
Dung...
Dung nghe rõ tiếng Hà Anh
thì đứng lên ngay.
Bà mẹ lo sợ hỏi:
— Ai vậy con?
Dung liên đáp:
— Chị Hà Anh, để con ra
xem...
Nàng bước ra cửa thì Hà
Anh đã vào trong vòng rào! Gió đêm thổi lành lạnh.. Dung chạy ra hỏi:
— Chị! Gì đó...
Hà Anh đã đến sát bên
nàng, run giọng nói:
— Anh Thọ... bị bắt rồi hả!
Dung gật đầu hỏi lại:
— Sao chị biết?
— Tôi nghe lính gọi cửa!
Cả chợ đều thức. Lúc dẫn anh đi. Tôi có thấy nữa...
Dung cảm động, khi thấy
rõ tấm lòng của Hà Anh đối với anh mình. Năm Quýnh bắt Thọ như nhổ cây gai trước
mắt, để cho Hà Anh chỉ còn nghĩ tới hắn thôi. Hắn có dè đâu, làm thế càng thắc
chặt thêm tình cảm giữa hai người mới chớm yêu nhau.
Hà Anh chợt hỏi bạn:
— Bây giờ tính sao hả
Dung?
Dung thở dài nói:
— Bối rối quá chị! Má chỉ
khóc... Em mới định cho bác Hội Đồng hay, liệu bác có giúp được gì không?
— Ông Hội Đồng bên Phước
Đinh hả?
— Dạ! Bác ấy có quen với
Chủ tỉnh Vĩnh Long, thế nào Xếp bót cũng nể tình...
— Nhưng liệu ông ta chịu
giúp anh Thọ không?
Dung mau mắn nói:
— Giúp chớ! Anh ấy có thể
là… là...
Rồi Dung im bặt. Nàng định
nói ‘‘ Thọ có thể là con rể của ông Hội’’, nhưng chợt nhớ Hà Anh cũng yêu anh
mình nên không thốt được nên lời.
Hà Anh ngạc nhiên hỏi:
— Sao Dung? Anh ấy...
Dung đành nói:
— Bác Hội thương anh Thọ
lắm! Nghe chuyện nầy, bác không bỏ qua đâu...
Hà Anh lặng thinh ngó
Dung. Nàng biết bạn giấu giếm mình một chuyện gì đó, nhưng không tiện hỏi ngay.
Một lúc nàng hỏi Dung:
— Họ lấy cớ gì bắt anh Thọ
hả chị?
— Họ nói có người mạch
anh Thọ là Việt Minh. Vì anh Thọ không khai báo nên xếp đồn mới nghi ngờ...
— Việt Minh gì mới ở Sài
gòn về!
Dung nói:
— Năm Quýnh cố tình hãm hại
anh Thọ nên bày điều đặt chuyện, chớ có ai mạch đâu! Chị không hiểu tại sao hắn
muốn bắt anh Thọ ư?
Hà Anh ngơ ngác:
— Không! Tại sao vậy?
Dung thấy cần cho Hà Anh
biết rõ điều đó:
— Tại Năm Quýnh yêu
thương chị! Hắn hại anh Thọ chỉ vì sợ mất chị thôi...
Hà Anh nhìn sửng Dung,
đôi mắt chớp lia, rồi cúi mặt nói:
— Không! Không lẽ! Trời
ơi! Tại tôi sao?
Nàng dứt lời quay mặt chạy
ra phía rào. Dung chạy theo nắm lấy tay bạn:
— Hà Anh! Làm gì vậy?
Hà Anh ôm mặt khóc, không
nói gì cả! Dung ôm sát vai bạn hỏi nhỏ:
— Gì vậy chị?
Hà Anh nghẹn ngào:
— Tôi không dè cớ sự như
thế! Vậy là chính tôi đã hại anh Thọ.
Dung che miệng bạn:
— Không! Hà Anh nói thế
không phải. Tôi đâu có ý trách Hà Anh. Anh Thọ cũng mến Hà Anh vậy?
Người thiếu nữ Trung Hoa
vụt ngẩng lên hỏi:
— Dung nói sao? Anh Thọ...
— Ảnh mến Hà Anh lắm! Tôi
có bảo phải dè dặt với Năm Quýnh, ảnh lại không nghe... Lúc sáng, hắn thấy Hà
Anh nói chuyện với anh Thọ, thì có vẻ phiền lòng nên mới nghĩ cách hãm hại đó.
Hà Anh không nói gì thêm,
vẻ mặt đăm chiêu nghĩ ngợi. Nàng nhớ lại những lời Năm Quýnh đã nói hồi trưa,
lúc vào quán uống nước đá.
— ‘‘ Tôi thương Hà Anh,
quí trọng Hà Anh! Nếu không được thương lại tôi thù dai lắm...’’
Nàng chỉ cười không trả lời
vì tưởng đâu lời hắn nói chơi như những lần khác. Hồi xế trưa, lúc đò ở trên chợ
về rồi nàng thấy Năm Quýnh lại lảng vảng tới nhà, ngồi uống nước với cha nàng.
Lúc hắn ra về, còn trao cho một hộp giấy nhỏ, không biết đựng vật gì bên trong?
Nàng thoáng thấy cha mỉm cười sung sướng, rồi lễ phép đưa Năm Quýnh ra cửa. Suốt
buổi chiều, nàng không thấy cha ở nhà. Cho đến tối ông mới mò về, vừa đi vừa
hát nho nhỏ. Nàng bận rộn dọn dẹp hàng quán trước giờ thiết quân luật, nên quên
hỏi xem cha đi đâu?
Bỗng có tiếng em nàng gọi:
— A Chế...
Hà Anh giựt mình bảo
Dung:
— Tôi hiểu rồi Dung. Tôi
phải về nhà ngay. Sáng tôi qua... Tôi cũng mến anh... ấy lắm.
Rồi Nàng chạy vọt ra khỏi
vòng rào. Dung đứng nhìn theo thở dài. Hà Anh dám thố lộ với nàng như thế, cũng
là nhiều lắm! Dung lặng lẽ trở vào nhà trong lúc bà mẹ ra cửa đón:
— Gì vậy con?
— Chị Hà Anh hỏi thăm tin
anh Thọ.
Bà Chủ lắc đầu:
— Tội nghiệp con bé cũng
có lòng quá hả! Thôi má đi qua Phước Định nghen con. Trời cũng gần sáng rồi.
Tao biểu con Năm đốt đuốc đi với tao.
Dung lo ngại:
— Hay để con đi với má!
— Khỏi cần! Con đi còn dễ
bị hại hơn. Nhớ đóng cửa cho kỹ rồi ở nhà! Ai kêu cũng đừng mở.
Dung cất tiếng dạ thì thấy
chị Năm ở phía sau vườn đốt đuốc đi ra. Chị Năm là người lân cận được mẹ nàng
giúp đỡ rất nhiều, nên thường vẫn ở hết lòng với gia đình nàng.
Chị Năm ra tới nơi đã bảo
Dung:
— Thằng Năm Quýnh khốn nạn
lắm! Nó với chồng tôi là chỗ bè bạn năm xưa, bây giờ còn làm mặt lạ. Hôm nọ ảnh
đau, bót biểu làm xâu, tôi nài nỉ cho ảnh nghỉ một kỳ, nó nhứt định không chịu.
Dung không nói gì, chỉ lắc
đầu. Nàng biết dư tâm địa những đứa ‘‘ tiểu nhân đắc chí ’’ ấy lắm!
Bà Chủ bảo chị Năm:
— Thôi mình đi đi...
Chị Năm vâng dạ. Dung đưa
mẹ ra tới ngoài rào. Bà Chủ dặn dò nàng thêm lần nữa:
— Nhớ đóng cửa nẻo cho kỹ
càng nghe con.
Dung gật đầu:
— Má yên lòng. Con biết
mà...
Hai người đã ra khỏi cổng
rào, ánh đuốc bừng sáng trong trời đêm. Dung nhìn theo mẹ, đến khi bà khuất
mình theo mấy đám cây. Nàng trở vào nhà, khép cửa cài then cẩn thận. Tòa nhà trống
vắng lạ lùng. Chiếc đồng hồ trên vách nhà nổi lên một âm điệu buồn thảm...
Dung gục đầu trên thành
ghế, ôm mặt khóc. Nàng thấy rõ điều này: tai ương của chiến tranh không hề tha
thứ một ai!
Bọn thân binh dẫn Thọ xuống
chiếc cầu ván bấm đèn bin ra hiệu cho bên bót chống ghe qua. Năm Quýnh và tên Xếp
bót còn đứng trên bờ đưa mắt nhìn dáo dác, tay ghìm súng, chỉ chực nhả đạn! Gió
lạnh từ sông Cái thổi vào khiến Thọ rùng mình. Chàng quay đầu nhìn lại: ngôi
trường tiểu học vẫn còn trơ ra đó, thi gan cùng năm tháng và khói lửa chiến
tranh. Mấy lần cháy tiêu rồi được dân làng xây cất lại. Nơi đó, chàng cũng đã
mài đũng quần trong thời tuổi nhỏ!
Có tiếng Năm Quýnh hỏi:
— Bộ tụi nó ngủ hết rồi
sao? Kêu lớn lên...
Tên thân binh đứng gần Thọ
hét lớn:
— Thình ơi... Chống ghe
qua! xếp về nè... Thình...
Một tên khác cất giọng
‘‘ì’’ nghe vang dội cả đêm khuya. Tên Xếp bót thích ý cười ha hả, cả bọn cũng
cười theo. Riêng Thọ vẫn lầm lì nghĩ đến thân phận của mình. Tòa nhà mà bọn
lính Tây đóng bót có xa lạ gì với chàng đâu.
Đó là ngôi nhà thờ của
ông Ngoại Thọ, một người giàu có nhứt vùng. Từ hồi chiến tranh tới giờ, quân
Pháp tự động chiếm đóng ngôi nhà và xây đắp phòng tuyến xung quanh. Ngày còn nhỏ,
Thọ vẫn thường theo mẹ về thăm Ngoại và cùng các anh em con cậu, con dì nô đùa
trước sân gạch. Chàng nhớ rõ ông Ngoại có nuôi hai con trăn rất lớn ở trong bồn
đá có rào dây kẽm.
Có tiếng sào khuấy nước rồi
một chiếc ghe lường từ bên kia sông chống sang. Năm Quýnh thét hỏi:
— Bộ mầy ngủ quên hả
Thình?
Có người lên tiếng ở giữa
sông:
— Dạ đâu có thầy Năm.
— Không ngủ quên sao rọi
đèn hiệu không hay? Xếp ổng hâm bỏ tù mầy đó...
Thình chừng như quá sợ, lấp
bấp:
— Thầy Năm làm ơn nói
giùm. Tại nước rút nhanh quá nên ghe mắc cạn, mình tui đẩy muốn ứ hơi.
— Đừng có nói láo! Sao mầy
không lên tiếng? Thình cập sát ghe vào chiếc cầu ván rồi nói:
— Dạ có chớ thầy, nhưng bị
gió ngược đàn chỗ khác. Xếp đi tôi đâu đám giỡn thầy Năm!
Thình vụt im bặt, trố mắt
nhìn Thọ. Nó là cháu gọi ông Năm Súng chèo đò bằng cậu, nên rất rành gia cảnh của
Thọ.
Nó hoàn toàn không dè, Xếp
bót đi ra chợ là để bắt Thọ. Nó nhủ thầm:
— ‘‘Trời đất! Bộ hết người
sao nhè bắt cậu nầy!’’
Chính Năm Súng đã cho nó
biết Thọ ở Sài gòn về mấy hôm nay: nó chưa kịp đi thăm thì chàng đã bị bắt vào
đây.
Trước kia Thình có ở chăn
trâu nhà Thọ nữa nên nó rất thân với chàng. Thường khi nó với Thọ vò đất bắn
giàn thung cả ngày trời. Trong lòng nó rất mến Thọ! Chưa bao giờ nó có ý nghĩ
Thọ thân với những người kháng chiến, đừng nói chi đến chuyện làm Việt Minh. Thọ
cũng rất ngạc nhiên khi thấy Thình làm bạt-ti-dăn trong bót nầy. Nhưng vốn dè dặt
và sợ liên lụy cho nó, Thọ vẫn làm lơ, quay nhìn nơi khác.
Trong khi đó, Năm Quýnh
nói Xếp bót mấy câu đỡ đầu cho Thình rồi bảo bọn lính:
— Thôi đưa xuống ghe đi!
Còn chờ gì nữa?
Một tên bạc-ti-dăn xô Thọ
bước xuống lường ghe. Thình vẫn trố mắt nhìn chàng. Năm Quýnh liếc nó rồi hỏi:
— Làm gì đứng nhìn hoài vậy
Thình? Mầy quen nó hả?
Thình hoảng hồn cầm chặt
cây sào, chống ghe ra:
— Dạ… đâu có thầy Năm! Thấy
anh nầy mặt quen quen.
Năm Quýnh lạnh lùng:
— Việt Minh đó! Mầy nhìn
anh em với nó đi rồi vô khám ngồi luôn thể.
Thình cười hề hề:
— Thầy Năm nói chơi kỳ
quá!
Bọn thân binh cười rộ lên
khiến tên Xếp đồn không hiểu gì hết, ngơ ngác hỏi Năm Quýnh:
— Chuyện gì vậy?

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét