Nguyễn Văn Mạnh - Thơ là những trang đời
Văn chương TP. Hồ Chí Minh: Nguyễn Văn Mạnh - nhà thơ mang trong mình hồn cốt của một người lính, một luật sư, một nhà báo, và trên hết là một thi sĩ đắm mình trong những trang đời đầy thăng trầm. Thơ của anh không chỉ là tiếng lòng cá nhân mà còn là bản hùng ca về cuộc sống, chiến tranh, quê hương và những triết lý nhân sinh sâu sắc. Bài viết của Nguyễn Văn Hòa đã khắc họa chân dung một hồn thơ đa diện, nơi mỗi vần thơ đều thấm đẫm trải nghiệm, nỗi đau, niềm kiêu hãnh và tình yêu tha thiết với con người, đất nước. Đọc Nguyễn Văn Mạnh, ta bắt gặp chính mình trong những suy tư, khắc khoải và cả những khát vọng vĩnh hằng của kiếp người.
Nguyễn Văn Mạnh xuất thân từ người lính tại chiến trường miền Nam, sau giải phóng anh tiếp tục học tập và trở thành luật sư, nhà báo chuyên nghiệp. Anh yêu thơ và làm thơ từ rất sớm. Chính cuộc đời trải qua nhiều bước ngoặt thăng trầm, đó là nguồn tư liệu sinh động để hun đúc và tạo nên một hồn thơ Nguyễn Văn Mạnh mang dấu ấn riêng. Hành trình cuộc đời và hành trình thơ có sự giao thoa và những vần thơ ra đời như là minh chứng cho sự “gặp gỡ” ấy. Mọi buồn vui, nhọc nhằn, trăn trở... đều được anh ký gửi vào thơ. Thơ như là bạn đồng hành “thủy chung” và “trung thành” nhất trong cuộc đời của thi nhân Nguyễn Văn Mạnh. Trong sâu thẳm hồn thơ Nguyễn Văn Mạnh vẫn toát lên tình yêu tha thiết với đời, với người, với cuộc sống nhân sinh...
Đọc thơ Nguyễn Văn Mạnh, bạn đọc sẽ nhận ra dòng mạch trữ
tình, lãng mạn với giọng thơ đầy hào sảng, nhiệt huyết. Càng về sau thơ anh lại
càng hướng về thực tại với những trăn trở, lo lắng, chiêm nghiệm, đau đáu, suy
tư. Ở đó còn là những khát vọng, mơ ước, ý thức trách nhiệm công dân trong một
xã hội bộn bề những giá trị với sự lật trở, đổi thay chóng vánh...
Chiến tranh/ Là quyền uy của những chính trị gia đổi bằng
giá máu/ Chiếc ghế được tạo thành từ xương và da đồng loại/ Nó to và
cao hơn khi mỗi quốc gia và dân tộc tan tành (Nghĩ về một mặt của chiến
tranh).
Thế mạnh của thơ Nguyễn Văn Mạnh là được tạo dựng theo cấu trức
hồi ức. Miền ký ức đã qua lần lượt được gợi lên/ sống dậy qua tâm hồn đa cảm, sự
đa mang, tinh tế của anh. Đi qua những năm tháng đau thương của dân tộc nhà thơ
có những suy nghĩ và nhìn nhận thấu đáo về những được - mất, tổn thương của một
thời đã qua. Nhìn về quá vãng, kiếm tìm những cái đã qua cũng là cách nhân vật
trữ tình anh gợi nhớ, tri ân đến với em trong niềm rưng
rưng, nuối tiếc... em đã bất tử trong lòng những người đồng đội, bất
tử với anh và bất tử trong lòng dân tộc... Sự tàn khốc của chiến
tranh là một điều không ai chối cãi, sự thật ấy luôn là niềm đau dai dẳng, bất
tận cho những người còn sống hôm nay, bởi chiến tranh không phải trò đùa!
Tiếng súng đã chìm vào quá khứ/ Anh trở lại tìm trong
sương khói Pha Long/ Anh đi tìm em/ Chỉ có tiếng chim buồn kêu trong
rừng lá/ Biên ải chiều hun hút gió…// Em đã ngã xuống lòng đất mẹ/ Ngay
trong trận đánh đầu tiên/ Khi trên đầu tóc vẫn còn xanh/ Lá thư cho
người yêu chưa kịp gửi.// Tháng hai đường biên nhuộm máu/ Ngực em làm
khiên che đỡ đất mẹ hiền/ Cho rừng cho núi bình yên/ Và lời ru ngọt
ngào hương bên nôi con trẻ// Bây giờ em hóa thân trong chập chùng đỉnh đá/ Hay
em kia vầng may trắng Mường Khương/ Linh hồn đan lũy thép trường thành/ Chở
che cả một vùng biên ải// Anh vẫn như nghe trong đá núi/ Âm vang rầm
rập bước quân hành/ Anh vẫn như nhận ra nụ cười em/ Trong sắc hoa đào
xứ sở… (Chiều ải Bắc tìm em).
Nguyễn Văn Mạnh đã từng đi qua cuộc chiến đầy cam go, thử
thách, chứng kiến nhiều đau thương nhưng anh cố kìm nén nỗi đau. Và đôi lúc, sự
dồn nén ấy lại vỡ òa. Nửa đời cùng nghe hơi thở chiến trường/ Nước mắt tưới
bao nấm mồ bè bạn/ Nỗi sẻ chia ủ hồn nhau đêm lạnh/ Vẫn rúc rích cười mơ trong
đêm chết rập rình… (Đánh mất).
Vốn là người lính tham gia ở chiến trường, sau đó trải qua
nhiều công việc khác nhau nên tiếng thơ của Nguyễn Văn Mạnh thể hiện rõ nét là
tiếng nói của một thế hệ biết tận hiến. Không chỉ biểu hiện cuộc sống trên
trang viết mà anh còn tạo dựng và khơi mở một thế giới khác trong chính thế giới
hiện thực này: thế giới của những khao khát mãnh liệt, của đức tin; thế giới của
sự nhân ái, nhân văn nhất có thể...
Cảm thức về cái biến động, sự bất ổn, phi lý đã được nhà thơ
đưa vào trong thơ bằng những ngôn từ mang tính ẩn dụ, nhân hóa, so sánh, liên
tưởng đa chiều... Vì thế, mỗi sự việc, hình ảnh, con người, thế giới tự
nhiên... đều mang dáng vóc và tâm trạng của con người, thấm đẫm những cảm xúc.
- Nghe hạt thóc quằn quại bóc mình thành gạo/ Nhìn trong bụi
cám trập trùng những giông bão đi qua… (Ngày trở lại).
- Mẹ làm gạo giúp hội làng/ Nghìn sao rụng xuống đầy sàng mẹ
tôi (Làng quê vào hạ).
Câu thơ mở ra những truy vấn bức thiết về cuộc sống hiện tồn
của con người trong sự cố gắng vượt qua những thử thách, trở ngại và cả những đối
lập trong hành trình duy trì và bảo tồn sự sống. Với trí tưởng tượng phong phú,
đa chiều, Nguyễn Văn Mạnh đã có những liên tưởng sinh động, đặc sắc. Chính kiểu
diễn đạt và tư duy như thế nên thơ anh tạo được dấu ấn đối với bạn đọc.
- Những bước chân trọn đời bươn trải/ Lầm lũi vô hình
giữa đại ngàn xanh… (Nghĩa Lộ).
- Trăng khuyết rồi trăng lại tròn/ Mẹ một đời chỉ khuyết/ Dẫu
dâng cả sự sống con cũng chỉ là hạt cát/ Chẳng thể đắp bù long mẹ mênh mông…
(Đêm cũng mồ côi).
Nỗi đau đến từ mỗi nhà, mỗi người trong trận tồn vong giữa
mưa bom bão đạn. Những ông bố, bà mẹ, những người vợ... của những gia đình có
người thân tham gia chiến trận đều có nỗi đau, nỗi giằng xé riêng. Nỗi đau ấy sẽ
đeo đuổi dai dẳng suốt cuộc đời của những người còn đang sống hôm nay.
Cảm thức thời gian luôn khắc khoải trong lòng thi nhân, bởi sự
tàn bạo của từng giọt thời gian, trước những bão táp của cuộc đời. Nỗi khắc khoải
ấy thấm sâu vào cả trong tiềm thức và vô thức, để rồi có lúc nhà thơ phải nghẹn
ngào trước nỗi đau của cha:
Tiếng rít điếu cày như quất vào đêm/ Khói thuốc phả vào
sương mù mịt// Ổ rơm mỏng, tấm chăn đơn rách/ Cha lặng im trong hun
hút gió lùa/ Một thế kỷ những gió mưa/ Tích tụ thành băng trong xương
tuỷ/ Tạo những nỗi đau ngả nghiêng rạn vỡ/ Trong những trận phong
hàn/ Cái nắng chất lửa một đời/ Đốt cháy ruột gan cha mỗi lần lên cơn
sốt/ Và chiến tranh tàn khốc/ Để lại nỗi đau không nói được thành lời/
… / Ngày sống của cha tính bằng một mét đất/ Lơ phơ bông lúa sâu bão
giật/ Miếng cơm vẫn thoảng hơi bùn/ Mình cha ngồi chong mắt vào
đêm/ Tiếng thở dài trút vào thăm thẳm/ Cha hiểu được một điều cay đắng/ Con
muốn nên người/ Không chỉ có tình cha/ Tôi hiểu rằng tận cùng cõi sâu
xa/ Lòng cha chưa bao giờ yên giông bão (Nỗi đau của cha tôi).
Đi qua những thăng trầm, va vấp, những được thua trong cuộc
nhân sinh đày ải này, nhà thơ đã nhận ra quy luật, lẽ đời và cũng không quên
nói lời “cảm tạ”. Đó là tiếng lòng thành thật, chắt lắng từ sự trải nghiệm của
bản thân trước muôn mặt của cuộc sống.
Vẫn cảm tạ những gì không vĩnh viễn/ Những biến hóa, tụ
tan giữa cõi vô thường/ Những phút cởi lòng mở gió yêu thương/ Những
năm tháng hồn nghẹn ngào uất hận (Cảm tạ).
Phải chăng chính những quăng quật, thác ghềnh của đời ấy đã tạo
nên một Nguyễn Văn Mạnh chín chắn, bình tâm, vững vàng hơn trước những giông
bão của cuộc sống. Để rồi, có lúc nhà thơ xem cuộc đời nhẹ tựa áng mây trời, bởi: Lợi
danh như khói hư không/ Thả hồn theo cánh gió đồng bao la (Về quê).
Thơ Nguyễn Văn Mạnh tái hiện nhiều không - thời gian khác
nhau, bên cạnh những không- thời gian tự nhiên còn có không- thời gian tâm lý
nên đôi lúc có sự ảo hóa... Không - thời gian trong thơ anh vận động theo
dòng suy nghĩ, tâm trạng... Không gian địa lý trải dài theo từng vùng đất mà
anh đã sống, gắn bó và có bước chân đi qua: Trường Sa, Yên Tử, miền Tây, Kẻ Nú,
làng Chanh, Mù Cả, Hàn Giang, Khâu Vai, Cát Bà, Chi Lăng, Chùa Hương, Đèo
Ngang, Huế, Pha Đin, bến Tầm Dương, Đền Trạng... Nhà thơ đối thoại, bàn luận,
chất vấn, ngẫm ngợi, lý giải những vấn đề có tính chất muôn thuở: niềm vui, nỗi
buồn, sự sống, cái chết, lòng nhân ái, khao khát hạnh phúc... Tất cả những vấn
đề muôn thuở ấy được đặt trong không - thời gian của đời sống mà nhà thơ đã,
đang và sẽ đi qua. Núi mây, mây núi xa xôi/ Lặn vào vành nón thành lời
sông Hương (Về Huế); Chiều nay bên đảo Cô Lin/ Đứt từng khúc ruột lặng nhìn Gạc
Ma/ Một thời bão lửa mưa sa/ Nỗi hờn nợ nước thù nhà còn đây// Các anh đã hóa
thành mây/ Tan vào biển nước vơi đầy nhớ thương/ Hóa thành cột mốc biên cương/
Cắm trên đầu song kiên cường ngàn năm (Bên mộ gió Cô Lin)…
Xốn xang, phập phồng, mang hơi thở của sự sống. Vấn đề của cuộc
sống, thế sự, những suy ngẫm về đời về người, các chuẩn mực, hệ giá trị... lần
lượt được gửi gắm vào thơ. Người đàn ông hóa đá, Người đàn bà sau cửa
kính, Gã ăn mày, Ngóng xuân buồn, Qua bến cũ, Vàng và cát… là những vần
thơ tha thiết, chân thành, ám ảnh và giàu thuyết phục. Do đó, có thể xem những
trang thơ của Nguyễn Văn Mạnh chính là những trang đời. Nhà thơ nghiền ngẫm,
chiêm nghiệm về cuộc đời, tình người bằng những trải nghiệm đã chín mùi cảm
xúc. Bởi cuộc sống là dòng xoáy khôn lường và lòng người thì quanh co phức tạp,
lắm nỗi tỏ tường… Nếu lấy đá ném vào núi đá/ Có dấu tay núi cũng chẳng
chuyển mình/ Sao dại dột còng lưng đi bới lá/ Đến bao giờ bới hết đại ngàn xanh
(Những điều vô nghĩa).
Điều đặc biệt và dễ nhận thấy Nguyễn Văn Mạnh dành những tình
cảm, sự gắn bó máu thịt với đất Cảng Hải Phòng. Đó là sự gắn bó giữa một người
thơ đa cảm với một vùng đất trữ tình, thiêng liêng - “địa linh nhân kiệt”, nơi
sản sinh ra nhiều những con người tài hoa, uyên bác. Sự cộng hưởng ấy đã làm
nên gương mặt thi nhân với phong cách và sắc điệu riêng. Vì thế, Nguyễn Văn Mạnh
có nhiều bài thơ viết về mảnh đất quê hương bằng tình cảm chân thành, hồn hậu của
một đứa con luôn dành cho “cố hương” tình cảm thân thương nhất. Có thể kể ra một
số bài thơ hay viết về đất và người Hải Phòng như: Một thoáng Thủy
Nguyên, Mái trường, Trở lại tuổi hai mươi, Đêm Cát Bà, Bạn quê, Thuở học trò,
Ao làng mùa hạn, Thành phố bên bờ sóng...
Nguyễn Văn Mạnh ra đi từ cội nguồn Hải Phòng, trải qua bao
nhiêu thăng trầm, thay đổi nhưng trong anh vẫn vẹn nguyên tình yêu với mảnh đất
chôn nhau. Thậm chí khi đến tuổi hoàng hôn anh càng yêu quê da diết, sâu nặng
hơn. Hải Phòng trở thành “người mẹ tái sinh” trong hồn thơ Nguyễn Văn Mạnh.
Nơi ta cất tiếng chào đời ở đó/ Mái phố rung lên bao cuộc
thăng trầm/ Nơi ta biết tự mình ra mở cửa/ Trời đất ùa về muôn tiếng tri
âm (Thành phố bên bờ sóng).
Hay: Cát Bà nhỏ như chiếc cúc/ Trên mình đất nước ngàn
năm/ Tiếng reo một thời thắng giặc/ Còn treo đầu sóng vang lừng/… Tụ lửa của
lòng dân biển/ Thắp lên ngọn đuốc ven trời.
Nhà thơ đi qua những năm tháng chiến tranh và những khúc xạ từ
cuộc sống luôn làm cho anh suy ngẫm nhiều về giá trị của sự sống, cái chết; của
niềm tin và sự thật phũ phàng, tàn khốc của chiến tranh. Súng xâm lược dội
đường biên tức ngực/ Để lại quê anh chịt chằng sẹo đất/ Và con người đau buốt
những vết thương (Nói với em gái Takeo).
Nghĩ giữa trưa im tiếng súng, một bài thơ xúc động, gợi lên
bao nỗi niềm khó tả, sự mất mát và cả những day dứt khôn nguôi về sự hy sinh của
đồng chí, đồng đội: Bao lần tiễn đồng đội hy sinh/ Chẳng một sợi khói
hương dù đầy trời lửa khói… Câu thơ như xoáy vào tâm can những người còn sống
nỗi đau khôn cùng về sự thiệt thòi của những người đã xuống trong sự tàn khốc của
khói lửa chiến tranh.
Nguyễn Văn Mạnh không chỉ tả thực vùng đất Hải Phòng mà anh
còn dựng lên một Hải Phòng trong tâm tưởng, vùng đất đã bất tử hóa trong trái
tim anh. Những kỷ niệm thuở nào mở ra cả một thế giới tinh thần của anh cả
trong quá khứ và ở hiện tại. Bây giờ trút hết bụi đường/ Về quê nhưng nhớ
yêu thương tìm về (Về quê). Ký ức lần lượt hiện về cùng với thực tại đã tạo nên
nhiều cung bậc cảm xúc, khiến cho lời thơ trở nên da diết, rung động đến lạ kỳ.
Mái trường xưa còn hiện lên rõ nét: Nơi ở đó có mắt người lúng liếng/ Lũ
con trai lặng lẽ thở dài/ Bao cặp mắt dán theo tà áo trắng/ Theo gió trời tan
hóa áng mây trôi (Mái trường). Và cũng chính tại đây, nơi ngôi trường này, nhiều
bạn đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc: Các
bạn trai xung phong đi nhập ngũ/ Lớp cứ vơi dần/ Thư chiến trường chuyền tay đọc/
Bạn gái nào bật khóc/ Cả lớp nhớ về những phía trời xa… (Lớp học).
Những ẩn ức, khao khát, dồn nén, uất nghẹn dần được giải tỏa.
Tìm về với hồn quê, tìm về với mẹ là nơi trú ẩn ấm áp và an toàn nhất, bỏ lại đằng
sau những phù phiếm, hư ảo của đời: Trút bỏ những phù du trả lại tháng
năm/ Rũ sạch bùa mê/ Cởi mảnh hồn ra thau rửa/ Mẹ vẫn thắp trái tim đầu ngõ/
Cháy không nguôi ngóng đợi ta về… (Hồn quê).
Thơ Nguyễn Văn Mạnh với nhiều các thể loại, kết cấu tự do,
linh hoạt trong hình thức thể hiện. Điều này đã giúp anh tạo ra ngôn từ trùng
phức, nhiều tầng bậc gợi ra sự đa dạng, sinh động vốn có của đời sống; thỏa mãn
chiều sâu nhận thức trí tuệ, mang tính triết lý nhân bản sâu sắc. Những câu thơ
dài, ngắn trộn lẫn diễn tả được những cung bậc cảm xúc trong những trạng huống
buồn vui, còn mất, hoài nghi, dằn vặt, thao thức của chủ thể trữ tình. Bỗng
nhớ quê ta, làng Gạo ven sông/ Hoa Gạo tháng ba rụng vào mùa đói./ Dáng gầy guộc
nghiêng vào chiều đổ/ Ngõ nhà mẹ đứng đợi con...
Thi nhân làm thơ và dụng chữ theo cách của mình để tạo ra những
câu thơ, hình ảnh thơ có sức lay động, ám ảnh. Vì thế, không phải là những
chữ nhật dụng thông thường, nguyên sinh của đời sống mà là cách dùng chữ mang
nhiều ẩn nghĩa.
- Chiến tranh/ Là bài thơ của những tên bạo chúa/ Những
xác chết còng queo như những ký tự/ Lửa thay cho ánh sáng mặt trời mặt trăng./
Tiếng nổ, tiếng kêu than/ Thay cho những âm thanh của chim ca cỏ mọc/ Tứ của
bài thơ là sự hủy diệt/ Hình ảnh bài thơ là thế giới lụi tàn (Nghĩ về một mặt của
chiến tranh).
- Mỗi vuông đất một phận người/ Đã thành cát bụi bời bời chân
mây/ Một đời vật vã vần xoay/ Ngửa bàn tay, trắng bàn tay một đời (Chiều nghĩa
địa làng)…
Tuy vây, trong thơ anh có những câu thơ với ngôn từ quen thuộc
nhưng với sự sắp xếp, tạo dựng đã tạo nên những hình ảnh thơ độc đáo. Kiếp
phù du ngỡ như không/ Chẳng tan hóa hết chất chồng đắng cay/ Trăm ngàn duyên nợ
trả vay/ Để trên mặt đất găm đầy chân mưa.
Nguyễn Văn Mạnh cho rằng: “Theo tôi, tác phẩm ngắn hoặc
dài tùy theo độ chín của cảm xúc và phù hợp với đối tượng tác giả phản ánh.
Ngoài tài năng (trời phú) còn phải có tư duy chắt lọc, đẽo gọt về ngôn ngữ, chữ
nghĩa, và quan trọng hơn chính cuộc đời tác giả phải giàu vốn sống. Không ai lựa
chọn cho mình vất vả, đau thương, cô đơn, quằn quại để rên rỉ và cả hạnh phúc để
bay bổng… Bản thân cuộc sống, đưa tác giả vào các hoàn cảnh, thậm chí là nghịch
cảnh tạo ra trải nghiệm. Từ đó tạo thành các hình tượng, cảm xúc… ngấm đẫm vào
tâm. Nó thổi luồng sinh khí cho tác phẩm có hồn, đáng yêu khiến độc giả rung động
như chính là trải nghiệm của mình. Qua các kênh truyền thông, tác phẩm đến được
với độc giả và chính độc giả giúp tác phẩm bay lên, thăng hoa và lan tỏa xa
hơn. Đấy chính là nghệ thuật đưa tác phẩm lên đỉnh cao. Tôi nghĩ chúng ta phải
thật sự nghiêm túc và đầy trách nhiệm trước bạn đọc”.
Quan niệm về văn chương của Nguyễn Văn Mạnh đã cho thấy sự
nghiêm cẩn, linh hoạt, toàn diện, sâu sắc của người lao động sáng tạo nghệ thuật
ngôn từ. Điều đó được soi sáng và minh chứng rõ nét trong hành trình sáng tạo
và qua chính những tác phẩm của anh. Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh đã tìm cho mình lối
đi riêng với cách thể hiện sáng tạo, mang đậm dấu ấn cá nhân trên tinh thần hiện
đại. Tôi tin với sự trải nghiệm, thể nghiệm thấu đáo, sự lao động nghệ thuật
nghiêm túc anh sẽ còn cho ra đời những tác phẩm mới có giá trị, góp vào một nét
riêng trong dàn đồng ca thơ Việt đương đại.
8/6/2025
Nguyễn Văn Hòa
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét