Kẻ cày mây thu và
gieo trồng muôn dặm sao
(Cảm nhận tập thơ “Những đám mây mùa thu” của Trần Quang Khánh)
Khi trời trở lạnh, trải nghiệm thế giới thơ Trần Quang Khánh,
tuy có những trang làm ta buồn “nẫu rục”: “Mùa xuân mặc định còn neo bến/
Nhưng mái tóc xưa đã rũ màu/ Sóng đã dạc dài trên nét mặt/ Tiễn mùa xa lắm đã
quên nhau!”. Nhưng sau tất cả là nắng vàng mây trắng, những ấp iu, nồng đượm trở
về neo đậu vào “hồn xanh biếc”. Lòng ta bỗng như được thắp lên một ngọn
đuốc, không chỉ đủ ấm áp mà còn biết bao thúc giục: công tác, chiến đấu, yêu và
khi cần được hi sinh cho tình yêu. Tất nhiên không ngoài tình yêu/ niềm tin ái
quốc vô biên: Ta vẫn cứ vun mầm xanh sắc lá/ Để ngày mai xanh biếc mãi quê
hương”.
Tiếng thơ đó được kết bện trên những “mô thức”: Trước hết và
trên hết là tính “kỉ luật”. Văn chương cũng có “kỉ luật” ư? Có chứ! Đó là “ánh
thép” trong “kết cấu trữ tình” để tạo ra nhịp điệu thời/ không nghệ thuật uyển
chuyển/ nhu mềm trong giá trị cốt lõi (cốt chất)/ trong “khuôn đổ” ý/ tứ, tất cả
thể hiện khúc chiết, rõ ràng. Đúng vậy! Tứ thơ trong thơ Trần Quang Khánh không
“tàng hình” nó “sáng như ban ngày” run ngân và cử động tinh tế trong sự chặt chẻ
nơi “khung khổ” cảm tình/ tính “logic” của “mỹ cảm”. Trên tinh thần đó, thơ Trần
Quang Khánh không “chệch ray” khỏi bản chất của “chữ nghĩa”: Đôn hậu, trung
chính… Viết là để “văn dĩ tải đạo – thi dĩ ngôn chí”. Mặc dầu, nghe nói thế giới
văn chương nghệ thuật đã đi đến “rìa vực đương đại” nhưng ai dám không nói rằng
bức tranh đậm mùi hoài cổ trong “Những đám mây mùa thu” đó không
“sóng sánh” tinh thần đời sống hôm nay. Quyện trong “mong chờ”, “nhớ thương” gu
vị tình người, tình đời. Một con người, luôn sống và khát vọng sống sao cho
nghiêm chỉnh, chính đáng. Đó là cốt cách của người “quân tử”/ của một “hiền
nhân”.
Với thể thất ngôn được dùng để họa “tiếng thu”, tác giả đã chạm
khảm trong thơ cấu hình cảm quan hiện đại. Sự thanh nhã trên nền điển tích mà dạt
dào, dư ba, phóng túng và ý vị của niềm vui riêng – chung nơi chính mình. Nghĩa
là cái “cá tính”/ sự đề cao cái tôi tân thanh trong cấu tứ cổ điển: “Vội
nghĩa mùa xuân đã nhạt rồi/ Bên hè lan kiếm cứ sắc tươi/ Vẫn là duyên phận mùa
xuân cũ/ Gọi được niềm vui ở cuộc đời”
Sự huyền hòa kiến tạo nên thi ngôn đó là nhờ những “cơ
duyên”/ “duyên cớ” nào? Bàn về xuất thân: Trần Quang Khánh sinh ra ở vùng đất
nhân sử hiền triết, trong gia đình một giáo chức trung lưu. Song thân có cái sở
học chuyên tinh và thành tựu được những điều lớn lao trong sự nghiệp giáo dục
cùng cái chất phác hồn hậu, dũng cảm kiên cường của những người con/ con người
sinh ra trên mảnh đất “nắng cháy đồng nung đá, mưa thối đất thối cát”. Lớn lên
anh tồn tại với hai tư cách: Nhà giáo, người chiến sĩ cộng sản kiên trinh và cả
hai tư cách đó đồng hòa nên “tư thái” âm thanh tiếng thơ như hôm nay:
“Hai mươi mười một (20/11) đắp chăn ngủ/ Nghe tiếng quân reo ở
cuối trời/ Bụi phấn hòa trong làn khói phủ/ Nhịp đời phai nhạt. Giọt mưa rơi”.
Bức tranh hồn thơ phơi trải theo chuyển biến của nhịp/ tiếng thời/ không. Đó là
không gian tĩnh lặng trong giấc mơ, bất chợt có tiếng “quân reo”: như lan thấm,
thức động, như dâng lên nỗi nghẹn ngào trong tâm trí về một thời hoa lửa không
thể nào quên. Như cách “Ta mang màu áo lính/ Đã thấm vào thịt da/ Xanh như
là cây đước/ In sắc bàng Trường Sa”. “Bụi phấn hòa trong làn khói phủ” tạo
nên một tổng hòa ngân ngấn, dạt dào…vào cái run ngân sâu thẳm đang lan chảy
trong nỗi bâng khâng của thời khắc lần hồi, thổn thức nhịp đập quá khứ. Kí/ ẩn ức
đời lính những nỗi đau khắc khoải lẫn tâm sự lòng riêng “phấn là vôi mà
vôi thì bạc” như đã trở về thấm thía bao thớ vỉa trực cảm đến độ kết tạo
thành “giọt mưa rơi”, rụng vào trong tâm thức những chập chờn, mờ
phai trong khoảnh khắc đang “yên ngủ”. Cách bẻ nhịp bằng dấu chấm ngang ngạnh
giữa dòng đã cá tính hóa ngữ điệu thơ, làm nứt tách cú pháp để đong chứa cái bất
định, ương ngạnh, lay chuyển, biến đổi, khó nắm bắt trong quá trình cảm xúc ùa ắp,
lật dựng về “đay đả” hiện tại. Khoảnh khắc thảng thốt, giật mình, như thực, khi
như mơ đôi bờ phân tách - hữu tri với quá khứ - rồi bay biến vào hư rỗng. Nhịp
đời bước qua quá đỗi choáng ngợp, có một lực ép lên trái tim của thi nhân để kịp
níu lại dư ảnh “Giọt mưa rơi”. Điều ngôn ngữ thơ kiến tạo ra ở đây là
giới hạn bao chứa, thâu tóm của chính nó để “tình đời thắm chặt”.
Nhan đền tập thơ “Những đám mây mùa thu”, thoạt nghe, ta
hiểu ngay về “hình tượng” trong nó. Vậy ngoài những điệu buồn man mác, ngoài những
chiếc lá vàng đơn độc rụng, ngoài gió, mưa, chiều cuối năm và những cung đường
tự tình thì còn có chi? Những “mật ngôn” những “tín hiệu” đã trở thành những
“tín điều” nơi tiếng thơ để lại trong lòng người thụ cảm. Hơn tất cả, đó là mùa
thu của “huy hoàng” của ánh mặt trời “chót gắt đớn đau”, “khoan hồng bao dung”,
khi sôi thúc sức mạnh tiến quân quần hội mãnh liệt: Tổ quốc ở trong tim
người chiến sĩ/ Người ra đi cùng người sống ôm ghì/ Dẫu có hóa thành muôn vàn
sương khói/ Vẫn quyện vào sông núi chẳng chia ly”. Sống dậy bao “nông sâu
dâu bể” cũng như quá khứ bất tử trường tồn của dân tộc Việt Nam: “Ngoái cổ
nhìn lưng trời/ những hàng bia sáng chói”.
Mùa thu, mùa của độc lập sum vầy, ở đâu ta cũng nghe tiếng gọi
người thân sau bao đêm dài ly tán. Mùa thu trong thơ của Trần Quang Khánh là sợi
dây cố kết “hữu tình”: “Bước chân người không về mọi ngã/ Nhưng ý nghĩ đời
theo gió xôn xao”. Nếu bước chân người trên mặt đất hiện thực dẫu không thể
về như ngày đã bịn rịn cuộc chia hẹn ra đi. Thì còn đó, “chân lý” những “ý
nghĩa đời” bất tử trong tiếng gọi thiên thu “quyện vào sông núi chẳng
chia ly”. Trong cả tập thơ “nghiêng nghiêng” tiếng gọi giục
lòng, tiếng núi sông ngàn năm cuộc hành nhân/ quân thiêng liêng. Tiếng người từ
miền cổ lão như những “tiếng sét hóa màn đêm lay động/ Tháng tư ơi rọi
sáng cả ngàn đời”.
Cảm xúc đời lính lóe rạng trong thơ những dòng máu loang nước
mắt. Những niềm cảm dũng bi hùng lẫn những giọt nước mắt hoa niên tuổi trẻ: “Anh
gục nằm ôm khẩu súng trong tay/ Ôm mảnh đất máu đỏ loang đầy” nhưng “Ta
giọt nước hòa bao giọt nước” xin ngưng khóc “Để mùa xuân xanh biếc
mãi quê hương”. Khi ta “phá ra” cấu trúc dòng thơ “vô tình” phát hiện sự
sáng tạo tuyệt vời của bố cục. Thơ rất tình nhưng như là những dòng tâm sự dễ
dàng diễn xuôi một cách nhẹ nhàng theo chuyển động trào dâng thao thiết. Việc ý
thức chữ nghĩa trong quá trình tạo tác đã giúp từng dòng thơ, khi đứng độc lập
vẫn đã hoàn chỉnh về cả ngữ lẫn nghĩa cùng sự “lấp lánh” của tầng lớp ảnh tượng.
Các thủ pháp tượng/ tạc hình và thi đề quy phạm trong “cổ thu” được sử dụng tài
tình, chừng mực và hiệu quả. “Thơ thu” thường là “thư” của “những người muôn
năm cũ” không tránh khỏi những điều “sến súa”, nếu không chừng sẽ trở nên “cắp
tứ tráo chữ”. Với Trần Quang Khánh điệu cử mùa thu trong thơ cũng lắm hiu hắt,
ngậm ngùi nhưng kết níu và ăn bắt chặt chẻ với hơi thở đương đại và gắn liền với
đời sống từng trải qua của chủ thể cảm xúc nên sự “đoái thương” trong thơ đều
hướng tới “vị lai” những ánh nhìn tỉnh thức, không còn tinh thần mang móc quá
ưu sầu nỗi bồn chồn quá khứ “Để cái xanh xưa lại có chồi” hay “Giai
điệu mùa xưa còn vọng lại/ Mang theo sắc mới những mùa xanh”.
“Những đám mây mùa thu” là chiếu thơ trải rộng với nhiều
thể - nghiệm hình thức: Lục bát, tứ, ngũ ngôn, bảy, tám, mười hai chữ, cách tân
hình thức… Về thi cảm, thi hứng có cổ, bán cổ điển, tân hiện thực nhưng rất “chủ
nghĩa”. Cái bang giao tình - người đẹp nhã, nghiêm ngắn và chính đáng. Về thi
liệu mang móc, quá khứ, hiện đại: Có điển tích đông tây, những chuyện huyền sử
Mỵ Châu, hiện thực số đỏ hay Vũ đại thôn. Tất cả được cài găm vào chữ nghĩa một
cách đầy “tinh hoa”.
Về mảng tình thi là sự giản dị, động lay, tinh thần ăn bắt tế
vi giữa con người và tự nhiên: “Đời được mấy mùa trong đắm say/ Xuân đi
chưa trọn được vòng tay/ Heo may đã giục làn mây bạc/ Bỡn ánh vàng phai giữa
tháng ngày”. “Bỡn” mô tả sự thể động lay, chuyển biến hơn là trạng thái
tĩnh tại của màu sắc. “Bỡn ánh vàng phai” như ẩn dụ về năm tháng tĩnh
lặng, thời gian phai mờ…
Thơ mở cửa vào tâm hồn thanh thoát, nhẹ nhàng: Gieo chi
sợi nắng, sợi mưa/ Để ai ngơ ngẩn giữa mùa thu sang”. Những ánh nhìn trìu
mến đón lấy cảnh tượng giao hòa: “Ta trong nhau với mùa thu thương nhớ/ Của
mùa xuân dù buốt lạnh trong lòng”. Trước những vẻ đẹp như nhiên quá đỗi hữu
tình ấy, một tấm lòng dịu dàng, biết nâng niu, giàu che chở giăng bày những
rung rinh, mơn mỡn ban mai. Vươn mọc lên những tình đời, tình người: “Ngập
chìm trong ánh vàng thu chín/ Ai bảo men xưa đã cuối mùa/ Khuấy động đáy hồ soi
đỉnh núi/ Để nghìn thu vẫn cứ lên ngôi!”.
Quả đúng là “Thi trung hữu họa/ thi trung hữu nhạc”. Quả đúng
là “Văn lo vận nước văn hóa võ/ Võ thấu lòng dân võ hóa văn”. Tính trữ tình
trong cốt lõi “cứng cáp”, “bền bỉ”, “kiên trinh” thể hiện sắc thái “rừng gần đậm
nét/ non xa nhạt màu” trong từng con chữ. Đó là mùa thu hòa bình trong thơ Trần
Quang Khánh, mùa thu hòa bình được dệt bện bởi những dư âm “đớn đau” thao thiết: “Chiều!/
Nắng vàng đầu thu gay gắt/ Lá vàng nhẹ rơi/ Chiều nay/ Tiếng hạc gõ thinh
không/ Đẩy trời cao không tưởng/ Đưa hồn ai phiêu diêu”.
23/1/2025
Tuấn Trần
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét