Anh Đức, cuộc sống và quan niệm sáng tác
Anh Đức là nhà văn lớn của Văn học Các mạng Miền Nam thời
kháng chiến chống Mỹ. Văn Anh Đức bao quát được những vấn đề lớn của Cách mạng
và kháng chiến, khẳng định những quy luật sáng tạo, và đặc biệt kế thừa và làm
mới tinh khôi những phẩm chất Nam bộ trong văn học được khơi nguồn từ Nguyễn
Đình Chiểu đến Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam Bình Nguyên Lộc và nhiều nhà văn Nam bộ
khác.
Ngày nay, đọc Anh Dức, bạn đọc có thể hiểu được vì sao cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền nam thắng lợi, hiểu được sức mạnh nào giúp các nhà văn vừa cầm súng vừa cầm viết viết đưdệt nên những trang văn quý giá, và hiểu được văn chương góp phần vào sự nghiệp Cách mạng như thế nào.
1. Nhà văn Anh Đức tên thật là Bùi Đức Ái, sinh năm 1935
tại An Giang. Anh Đức kể: “Hồi nhỏ…học ở trường làng gần thị xã Long xuyên…,
sau lên học ở Cần Thơ… suốt thời gian tuổi nhỏ, hầu như lúc nào cũng ở giưã
thiên nhiên rất đỗi hài hoà. Cái làng chôn rau cắt rốn cuả tôi đó nằm kề bên
sông Cửu Long. Phù sa màu mỡ cuả dòng sông không ngừng bồi bổ ruộng vườn. Cá
tôm dưới sông thật nhiều, tới muà cá dại, mọi người xách rổ lội xuống xúc cá, lớp
về ăn lớp làm mắm. Tuổi thơ tôi hầu như đêm ngày được ru trong tiếng gió và
sóng Cửu Long Giang, trong tiếng chim kêu hót từ các khu vườn, trong tiếng xào
xạc cuả ruộng luá. Tuổi thơ tôi nghe văng vẳng tiếng hát ru, tiếng võng đưa kẽo
kẹt, giưã trưa yên tĩnh, và trong mỗi buổi chiều tà in hình từng đàn cò trắng lả
cánh bay về. Tôi còn nhìn thấy những cảnh đời người khác biệt nhau, có kẻ quá
no đủ phủ phê trong những ngôi nhà nền đúc phòng tô, có người quá khổ cực sống
trong chòi lá xác xơ. Có những đứa theo Tây nổi mỏ truy lùng cộng sản, và những
người cộng sản bị bắt giải đi. Có lẽ nhờ tất cả những thứ đó, nên tiềm thức khiếu
năng cuả tôi được khơi động”[1]
Có thể nói tình yêu quê hương là một trong những tình cảm mạnh
mẽ, một động lực sáng tác cuả Anh Đức. Đàng sau tác phẩm cuả Anh Đức, người đọc
có thể nhận thấy hình ảnh quê hương đậm nét và lòng yêu quê hương chưá chan của
tác giả. Chính Anh Đức thổ lộ điều này: “Tôi là đưá con cuả đất An Giang. Cách
thị xã này chừng 10 cây số , tôi đã sinh ra và lớn lên. Giưã hồn tôi và trên
trang giấy khi mà tôi biết bắt đầu phô diễn, trình bày và phản ánh đời sống,
tôi đã chắt chiu đưa vào đó biết bao tình yêu từ mảnh đất sinh ra tôi, là sưã
cuả mẹ, màu xanh cuả lá, là mùi khói đốt đồng trên những cánh đồng chiều, và
cho đến hôm nay, cũng như mãi mãi, nhịp sóng sông Cửu Long vẫn cứ vỗ về hồn tôi
như một khúc hát ru”[2].
Từ tình yêu quê hương, từ sự chiêm nghiệm cuả bản thân trong
môi trường thiên nhiên cuả quê hương, Anh Đức đã nhận thấy sức mạnh rất đáng kể
cuả việc miêu tả thiên nhiên làm bối cảnh thể hiện tâm trạng nhân vật. Anh Đức
coi việc miêu tả thiên nhiên là một nguyên tắc sáng tạo quan trọng: “Miêu tả bối
cảnh, miêu tả thiên nhiên cũng là vì con người, ngoài sự kết hợp thể hiện tâm
trạng con người ta còn có cơ hội đem đến cho người đọc sự hưởng thụ mỹ cảm dạt
dào cuả mặt đất và bầu trời, nơi chốn nhân vật suy nghĩ, đi lại, hoạt động. Sức
mạnh cuả mũi miêu tả này thật đáng kể, nếu người viết biết kết hợp triển khai
đúng mức có thể gây nên những ấn tượng kỳ diệu khó quên”…”vì vậy trong sáng tác
mà không vận dụng hoặc bỏ qua mũi miêu tả này thì uổng quá” [3]. Một trong những
yếu tố đặc sắc tạo nên những thành công cuả Anh Đức là những trang miêu tả
thiên nhiên Nam Bộ trong trẻo, đầy màu sắc, thú vị. Diệp Minh Tuyền đã nhận định:
“Văn tả cảnh cuả Anh Đức rất giàu chất họa, chất nhạc và chất thơ. Do đó phong
cảnh đất trời phương Nam hiện ra dưới ngòi bút cuả Anh Đức với tất cả màu sắc
thi vị, trữ tình “ [4].
Thực ra việc miêu tả thiên nhiên như một nguyên tắc sáng
tạo cuả Anh Đức còn ẩn dấu một chiều sâu ý thức nghệ thuật khác là tạo nên
ý thức dân tộc và tình yêu quê hương trong lòng người đọc, đồng thời cũng bộc lộ
cái nhìn nhân ái cuả Anh Đức nữa. Nguyễn Văn Bổng cũng có cùng một ý thức như vậy
: “…Hãy tả đất nước chúng ta… hãy làm cho mọi người thêm yêu đồng bào và đất nước
chúng ta. Đó là nhiệm vụ cuả nhà văn chúng ta.”[5]
2. Năm 1948, Anh Đức tham gia kháng chiến, công tác ở Ty Thông
Tin Rạch Giá. Năm 1950 công tác văn nghệ ở Nam Bộ. Năm 1954 tập kết ra Bắc công
tác tại Đài Phát Thanh Tiếng Nói Việt Nam. Năm 1957 ông về công tác tại Hội Nhà
Văn. Cuối năm 1962 ông về Nam hoạt động ở chiến trường Nam Bộ, rồi xuống Cà
Mau. Suốt những năm tháng dài sống, chiến đấu và viết ấy, thì chặng đường vượt
Trường Sơn vào Nam, và những năm tháng cùng đồng bào Nam Bộ chiến đấu là chặng
đường có ảnh hưởng quan trọng nhất đối với đời văn cuả Anh Đức.
Anh Đức đã kiểm nghiệm điều này: “… suốt 12 năm ròng tôi
bước vào một chặng đường đi và viết đầy gian khổ ác liệt, nhưng là chặng đường
quan trọng nhất đời tôi” [6]. Anh Đức gọi đó là “cái trường học đầy thử thách”.
Đây là chặng vượt Trường sơn: “:…Tôi bắt đầu được nếm mùi vị cuả đọt bứa rừng nấu
với thịt lương khô, tạo nên một thứ canh chua lạ nhầt trên đời. Tôi đã biết một
thứ thức ăn khi mới ăn vào đắng không thể tả, nhưng sau đó thấy ngọt ngọt, bùi
bùi, đó lá ngó mây nấu mà các cụ già người Thượng đã mời chúng tôi nếm thử…Cái
trường học đầy thử thách này ngày nào đêm nào cũng phải vật lộn với từng chặng
đường dốc đá cheo leo, với suối lũ, với đói khát với những cơn mưa rừng tầm tã
đổ xuống!”, “Trên đường Trường Sơn , chúng tôi đã đói, đã khát, bị mất nhiều
máu vì những ngày đường đầy vắt, và hầu như ít có ai tránh khỏi sốt rét…Chân lý
tưởng chừng đã cũ, nhưng vẫn luôn mới. Tác phẩm bao giờ cũng có trả giá. Trả
giá ít thì trang giấy lơ láo. Trả giá xứng đáng thì trang giấy động đậy, sôi
lên. Điều này Đảng đã nói “[7].
Ở chiến trường Nam Bộ, cuộc chiến đấu mà Anh Đức trải qua còn
gian khổ hơn nhiều. Anh Đức kể: “Tôi đã từng ở trong những hồi khốc liệt, giưã
những trận bom B52 rung chuyển, giưã lòng đất hẹp cuả một cái hầm bí mật, ngột
ngạt đến mức cứ phải liên tiếp đốt nến tạo nên sự lưu chuyển Oxy để mà thở. Tôi
đã chứng kiến nhiều trận đánh giưã bộ đội ta và quân thiện chiến Mỹ mà sau đó đất chiến
trường ngập nguạ máu, có chỗ đến mắt cá chân”[8].
Trong hoàn cảnh ấy Anh Đức biết rõ một điều là “bất cứ lúc
nào mình cũng có thể ngã xuống”, thế nên tranh thủ mà viết. Viết ngay trên rừng
miền Đông, viết ở Đổng Tháp, ở bên bờ sông Hậu, viết trong mọi hoàn cảnh. Từ
trong chiến đấu, Anh Đức nhận ra giá trị này: “Dòng viết giá trị nhất phải chảy
ra từ mồ hôi, máu và nước mắt cuả quảng đại quần chúng hy sinh gian khổ làm nên
thắng lợi, làm nên đời sống”[9]. Kiểm nghiệm thực tiễn sáng tác, Anh Đức khắng
định “hiệu quả cuả chân lý sáng tạo một lần nưã cho biết đáp số: hầu như tất cả
các trang viết cuả tất cả anh chị em đều sôi động. Không có một trang nào bời rời,
lơ láo”[10]. Để đến được những tác phẩm giá trị, đáp ứng được yêu cầu cuả nhân
dân và Cách mạng, Anh Đức đã khẳng định một mô hình: Mộ hình kiểu Trường
Sơn: “nhất thiết phải đi qua mô hình kiểu Trường Sơn, con đường đỏ như là máu,
mới có thể tới được ngàn lá xanh tươi cuả đời sống thực tại”[11]. Nhìn lại
thành tựu văn học cuả chúng ta mấy chục năm qua Anh Đức cũng nhận thấy sấu sắc
điều ấy: “Nhiều khi ngẫm nghĩ, tôi thấy nền văn học mới này được làm ra bằng những
tác phẩm hầu như rất ít hao tốn tiền bạc, trừ mồ hôi máu xương và tim óc”[12].
Điều Anh Đức nhận thức được không có gì là mới mẻ, chính Anh
Đức nói Đảng đã chỉ ra điều ấy. Điều quan trọng là Anh Đức đã thể nghiệm sâu sắc
những nhận thức ấy: “viết giá trị nhất phải chảy ra từ mồ hôi, máu và nước mắt
cuả quảng đại quần chúng hy sinh gian khổ làm nên thắng lời, làm nên đời sống”. Đó
cũng là thực tiễn sáng tác cuả Anh Đức Đối tượng phản ánh và thẩm mỹ cuả Anh Đức
là đời sống hy sinh gian khổ cuả nhân dân trong cuộc đấu tranh cách mạng. Nhân
vật trung tâm là quần chúng Cách mạng, sống ân nghiã, chiến đấu và hy sinh. Anh
Đức đã cùng sống, chiến đấu với nhân dân, vì thế những trang văn Anh Đức cũng
là những trang tích tụ mồ hôi xương máu cuả nhân dân, điều này làm nên “tính
chân thực” cuả ngòi bút Anh Đức như các nhà phê bình đánh giá.
Quả vậy, đọc Anh Đức ta không nghĩ đó là truyện, không thấy
bóng dáng cuả hư cấu, mà ta đối diện với cuộc sống, đời sống chân thực như đang
tồn tại, khiến cho ta xúc động và bị cảm hoá. Thiếu Mai viết: “… cảm tưởng cuả
người đọc sau khi nghe truyện chị Tư Hậu là mối thông cảm kính phục sâu xa,
không phải với một nhân vật tiểu thuyết mà như với một người thân yêu có thực
trong đời sống”[13].
Ý thức văn chương là máu xương, mồ hôi nước mắt cuả quần
chúng Cách mạng, Anh Đức chỉ viết về đề tài Cách mạng, về quần chúng Cách mạng
về ân nghiã ân tình Cách mạng, qua đó gửi gắm những thông điệp cho mai sau. Anh
Đức trở thành nhà văn của quần chúng Cách mạng, ông chủ trương viết sao cho “cô
bác đọc cho là được”[14], và vì thế ông được quần chúng yêu mến.
3. Quê hương, vốn sống là hai yếu tố quan trọng làm
nên tài năng Anh Đức, tuy nhiên ánh sáng niềm tin cuả Anh Đức vào Đảng mới
là yếu tố quyết định làm nên những giá trị trang viết cuả ông.Điều này nhà văn
CM nào mà không có, nhưng ánh sáng và niềm tin cuả Đảng đã soi dẫn Anh Đức thế
nào ?
Nhớ lại lúc lên đường vào Nam 1962, Anh Đức ý thức sâu sắc niềm
tin cuả mình vào Đảng: “yêu cầu cuả Đảng lúc bấy giờ đối với chúng tôi thật hết
sức cụ thể, thật hết sức bức xúc. Các đồng chí hãy trở lại vùng đất quê mình,
cùng tham gia chiến đấu, để phản ánh một cách sinh động cuộc chiến đâu vô cùng
anh dũng đang diễn ra đó.” Lúc ấy đồng chí Lê Đức Thọ căn dặn: “cố gắng làm thế
nào truớc hết có được một bút ký, truyện ngắn, rồi sau đó có được truyện dài. Cần
nhất là cho chân thực và sinh động”. Anh Đức đã suy nghĩ: “Điều tôi nghĩ nhiều
nhất, ý thức được một cách sâu sắc nhất, vẫn là xoay quanh sự chỉ đường cuả các
anh (chỉ Đ/c lê Đức Thọ-BCT) chỉ cho chúng tôi thời điểm và con đường
đi. Con đường ấy cam go nhất, nhưng tốt nhất để đi đến tác phẩm “[15].
Dọc đường Trường Sơn, anh Đức lại phát hiện ra sức mạnh cuả Đảng
làm hừng hực trái tim nhà văn: “Trước khi có tác phẩm chúng ta được Đảng đưa
cho một cái gì quá lớn, quá sâu nặng, cái gì đó có sức làm bật dậy, làm hừng hực
trái tim”[16]. Sức mạnh làm hừng hực trái tim đó chính là niềm tin mạnh mẽ vào
thắng lợi cuả cuộc kháng chiến, cuả con đường Cách mạng mà Đảng đã vạch ra. Niềm
tin này trở thành sức sống.
Anh Đức cho rằng “đáng sợ nhất là ‘mất niền tin’ đối với đời
sống, mất niềm tin ở nơi mình kể như là chấm dứt”. Có niềm tin ấy, Anh Đức vượt
qua được khó khăn cuả con đường tư tưởng. Có vướng mắc hay chăng là ở mặt kỹ
thuật: “có thể rất nhiều lúc tôi đã gặp những khó khăn, những vướng mắc- nhưng
đều nằm trong các vấn đề phương pháp thể hiện, vấn đề vốn sống ở tôi, vấn đề
tôi chưa thật sự chín mùi nhân vật ở giưã lòng mình”[17]. Anh Đức khẳng định: “Con
đường cuả Đảng vạch ra cho tất cả những người sáng tác, trong cũng như ngoài Đảng
hết sức đúng”…” Chúng ta đã từng trải qua những ngày vô cùng gian khổ ác liệt
và đầy thử thách, nhưng chưa bao giờ chúng ta thất vọng. Bao giờ chúng ta cũng
thấy ánh sáng cho dù khi đó chúng ta ở dưới địa đạo, ở dưới hầm bí mật, ở
dưới những trận mưa bom…là vì chúng ta có Đảng lớn mạnh “[18].
Anh Đức luôn bày tỏ niềm sung sướng tự hào được đứng trong đội
ngũ nhà văn cộng sản, góp sức cùng Đảng tiến tới lý tưởng cao cả vì tổ quốc và
chủ nghiã xã hội.
Vai trò cuả Đảng ảnh hưởng đối với các sáng tác cuả Anh Đức
thế nào? điều này dễ nhận thấy. Anh Đức sáng tác bằng thế giới quan, nhân sinh
quan Cộng sản Chủ Nghiã, dưới ánh sáng đường lối văn nghệ cuả Đảng, để thực hiện
những nhiệm vụ chính trị cuả Đảng trên mặt trận văn nghệ. Điều đặc biệt ở đây
là tính Đảng, tính lý tưởng, và chủ nghiã Nhân Đạo Cộng Sản thấm sâu trên mỗi
trang văn Anh Đức.
Ông Hoài Thanh khi nhân xét Hòn Đất có phát hiện này: “Ở đây
tư tưởng cuả Đảng, đường lối cuả Đảng đã thấm rất sâu. Chính do đó mà tập thể
này tuy nhỏ thôi vẫn cứ là vô địch”. Ở một đoạn khác Hoài Thanh viết: “Ở đây tư
tưởng cuả Đảng cũng rất cao mà không biết từ bao giờ đã biến thành tư tưởng cuả
mọi người hoà vào cá tính cuả từng người cả trong Đảng và ngoài Đảng “[19].
Vai trò cuả Đảng đối với sáng tác cuả anh Đức thể hiện ở chỗ
những vấn đề Anh Đức đặt ra trong tác phẩm là những vấn đề cuả Cách mạng. Những
tính cách nhân vật, những mối quan hệ xã hội, những tình cảm người với người đều
được xây dựng với phẩm chất mới đó là nghiã tình Cách mạng, đạo đức Cách mạng,
nghiã khí Cách mạng, lẽ sống Cách mạng. Chắc chắn rằng Anh Đức là nhà văn thể
hiện sâu sắc, đẹp đẽ và đầy thuyết phục những chân lý Cách mạng, toả sáng chất
lý tưởng và ân tình ân nghiã Cách mạng.
Anh Đức cũng là nhà văn bền bỉ theo hướng sáng tác đã vạch ra
trong suốt mấy chục năm qua. Ông nói những điều tâm huyết này: “Chỗ này đã thấm
quá nhiều máu cuả đồng bào đồng chí, những đồng bào đồng chí ngã xuống vì niềm
hy vọng và ước mơ lớn là chúng ta và các thế hệ mai sau được no ấm hạnh phúc.
Những đồng bào đồng chí không tiếc thân mình cho lý tưởng đó, vậy thì chúng ta
không tiếc sức mình, không thể đưa ra bất cứ lý do gì để không làm được điều đó”[20].
Từ góc độ ảnh hưởng cuả Đảng đối với Anh Đức, ta hiểu được tính
lý tưởng trong trẻo trong sáng tác cuả anh Đức, hiểu được chất đôn hậu mà
Anh Đức tự nhủ là “mình sẽ viết bằng nỗi thương yêu”[21], như một đặc điểm nồng
cốt cuả phong cách Anh Đức. Anh Đức là một nhà văn cộng sản, một nhà văn
chân thật, đôn hậu, trong trẻo và lý tưởng.
4. Ngoài 3 yếu tố quan trọng chi phối sáng tác cuả Anh Đức đã
nêu ở trên, ý thức sáng tạo của Anh Đức còn có những yếu tố khác, những
ý thức này cũng trực tiếp chi phối quá trình sáng tạo cuả nhà văn.
Trước hết Anh Đức thổ lộ: “Tôi hiểu thấu rằng, công việc của
người viết ngoài sự sáng suốt tự biết mình có gì, có tới đâu, ngoài tư tưởng Đảng
cho và cuộc sống nhân dân trao tay, mọi hỗ trợ khác kể như là phụ trợ. Trận chiến
trên trang giấy là trận chiến chỉ có một mình ta. Đấy là cuộc độc chiến”[22].
Nhà văn phải chịu trách nhiệm về trang viết cuả mình. “Tinh thần trách nhiệm cuả
nhà văn là một thứ tinh thần trách nhiệm cao, vì phạm vi chịu trách nhiệm ấy là
xã hội, là con người “[23]. Viết là lăn lộn vượt qua cả một hoang mạc,
nhưng viết cũng là hạnh phúc.”Bây giờ cũng như bao giờ mỗi lần bắt tay vào viết
một truyện mới tôi đều có cảm giác sung sướng, hồi hộp y như khi tôi viết cái
truyện đầu tay, bởi vì càng ngày tôi càng ý thức rõ rệt rằng tôi đang
làm điều hệ trọng và nếu tôi làm tốt cái nghệ thuật ngôn từ này thì sẽ làm
nên được nhiều điều quý giá”[24].
“Điều hệ trọng” cuả người làm nghề viết văn theo Anh Đức “là
người dẫn dắt, người chỉ đạo, người hỗ trợ và yểm trợ đắc lực cho mọi người”…”
Sáng tác văn học là làm cái công việc khêu gợi, vỗ về, gạn lọc, đem nguồn
sáng, nguồn tươi mát để gội nhuần để trẻ hoá tâm hồn và tư tưởng con người chớ
không uốn cong bẻ quặp”(25)..”Sứ mạng cuả nhà văn bao giờ cũng phải gây mầm,
gây niềm tin tưởng lạc quan vào chiến thắng nhất quyết phải giành được cuả dân
tộc “(26)
Để thực hiện được mục đích “đem nguồn sáng” cho cuộc sống,
Anh Đức chủ trương rằng “cần có ý thức tạo dựng những điển hình mới mẻ, từ
những con người lao động bình thường nhưng có cống hiến thực sự cho xã hội. Cần
cố gắng sao để văn xuôi hình thành được nhiều nhân cách tốt, bởi vì trong bất cứ
cuộc chiến đấu nào văn học Cách mạng cũng phải có thiên hướng bênh vực.
Và thiên hướng cuả những người cầm bút chúng ta phải mang tính lý tưởng rõ
rệt., là gây nên giưã lòng bạn đọc sự yêu mến ngưỗng mộ những con người mới làm
lụng cho sự nghiệp chung, sống và ăn ở có tình nghiã, có đạo lý, quan tâm đến cảnh
ngộ người khác”[27].
Những ý kiến nêu trên cuả Anh Đức đã định hướng rõ rệt con đường
sáng tạo cuả ông. Đó cũng là sự lưạ chọn riêng cuả Anh Đức. Anh Đức không viết
để trực tiếp phê phán cái xấu, mà viết “bằng nỗi yêu thương”, bằng thiên hướng
“mang tính lý tưởng rõ rệt”. Anh Đức chọn lưạ sứ mạng đem lại niềm tin yêu
cho con người [28].
Điều này người đọc tin là Anh Đức đạt được. Huỳnh Như Phương
khẳng định điều ấy khi đọc Miền Sóng Vỗ: “Đọc anh, thấy tâm hồn yên tĩnh
như cũng được truyền cho một niềm tin chắc chắn, rất khoẻ mà không có vẻ gì lên
gân”[29]. Hoài Thanh cũng tìm thấy niềm tin yêu ấy khi đọc Hòn Đất: “Một quyển
sách nói lên chân lý lớn nhất đáng phấn khởi nhất cuả thời đại và nói lên bằng
một câu chuyện hấp dẫn, bằng những hình ảnh tuyệt đẹp khó quên, khiến hàng chục
vạn người đang quần nhau với giặc mà vẫn đọc say sưa, nhiều chỗ cảm động đến
rơi nước mắt, và đọc xong thấy thêm lòng tin, thêm sức mạnh để tiến lên tiêu diệt
quân thù”[30].
5. Về mặt nghệ thuật, Anh Đức chú trọng đến sự chân thực
hồn nhiên. “Truyện viết ra phải như thường, hồn nhiên chân chất như đời sống
và đó là thứ kỹ thuật tôi cố ra sức vươn tới”[31]. Anh Đức nhấn mạnh: “Thể hiện
được vẻ đẹp chân chất cuả cuộc sống, đó là mỹ học thứ thiệt”[32]. Anh Đức giải
thích nghệ thuật cuả mình như sau: “Tôi nghĩ rằng ta phải cố sao để trang viết
được tự nhiên, được hồn nhiên, sao cho vô tư, chân thật,dù có vương chút vụng về.
Mình mà viết được tự nhiên, hồn nhiên, chân thật thì người đọc mới tin, mới cảm,
mới dễ chịu khi đọc mình”[33].
Nói Anh Đức chú trọng đến sự chân thật hồn nhiên như
vẻ đẹp cuả đời sống không có nghiã là
Anh Đức đem nguyên si đời sống vào trang viết, theo kiểu có sao nói vậy.
Trong lời tưạ lần tái bản Hòn Đất năm 1983, Anh Đức kể lại quá trình viết Hòn Đất
từ một câu chuyện có thật xảy ra tại Hòn Đất năm 1962, và lưu ý người đọc điều
này: “Tôi gắng làm nên điều tiêu biểu chứ không làm nên những điều y
như thật”.
Tuy nhà văn không làm những điều “y như thật”, nhưng đọc Anh
Đức ta không hề nghi ngờ gì về tính chân thực cuả hiện thực được tái hiện, hơn
thế còn nhận ra cái đẹp cuả cuộc sống vốn bình dị trong đời thường lao động và
chiến đấu. Nhiều truyện cuả Anh Đức, người đọc tưởng như sự thật ngoài đời là vậy.
Anh Đức chủ trương: “Thể hiện được vẻ đẹp chân chất cuả cuộc sống, đó là mỹ học
thứ thiệt”, vì thế Anh Đức luôn tìm kiếm và thể hiện cái đẹp chân thực cuả đời
sống: cảnh đẹp, tính cách đẹp, tâm hồn đẹp, cách sống đẹp, tình cảm đẹp tất cả
toả sáng những phẩm chất Cách mạng, ngay cả khi phải chọn lưạ những nhân vật “kẻ
địch” như người lính Sài gòn, thì Anh Đức cũng cố gắng thể hiện những mặt
“không xấu” còn sót lại trong họ ( truyện Cuộc Trở Về Cuả Một Con
Người).
Quan điểm nghệ thuật này phù hợp với mục đích và lý tưởng viết
văn cuả Anh đức. Nó cũng phù hợp với tính cách riêng cuả nhà văn là sự đôn hậu,
lòng tin yêu vào con người, dù trong những hoàn cảnh bất hạnh nhất.
6. Tất nhiên Anh Đức cũng ý thức sâu sắc điều này là
Văn học có những quy luật khách quan và khắc nghiệt trong việc đánh giá và sàng
lọc. “Văn học có một ban giám khảo công minh, ấy là quần chúng, ấy là thời
gian. Luật chơi trong văn học không tính trong phút chốc mà xét trong lâu bền”[34].
Dấn thân vào văn chương là dấn thân vào “một cuộc hành trình
qua biển lớn, mênh mông, không bờ bến mà cánh buồm sáng tạo phiêu du hoài mà vẫn
chưa tới khắp cõi “[35]. Một nhà văn không phải là tất cả, sáng tác cuả một
nhà văn dù có phong phú, đồ sộ đến đâu cũng không thể phản ánh được đầy đủ cuộc
sống, không thể đặt ra và giải quyết được mọi vấn đề cuả hiện thực, càng không
thể là đại diện đầy đủ cho bộ mặt và tiếng nói thời đại. Một đời văn có thể có
nhiều tác phẩm, nhưng khi kiểm điểm lại Anh Đức tự đánh giá rằng: “sáng tác ra
hồn” cuả mình để lại chẳng được bao nhiêu, và hình tượng con người gọi là khắc
chạm được giưã tâm tưởng người đọc, giỏi lắm chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Chú thích:
(1). Hồi Nhỏ Các Nhà Văn Học Văn.Sở GD Nghiã Bình xuất bản
1986.tr.7
(2). Văn Nghệ Tp HCM số 138 năm 1980. Tr.14. Xem thêm VN TPHCM
số 116 (14.01.1980)
(3). Công Việc Viết Văn. Trường Nguyễn Du xuất bản 1985.tr.134
(4). Tạp chí Văn Học số 7 năm 1966. Tr.80
(5). Chiến Trường Sống và Viết. tr.19
(6). Văn Nghệ TPHCM số 506, ngày 13/11/1987.tr10
(7). Thế Hệ Chúng Tôi Đi Qua Trường Sơn. VNTPHCM . số ngày
3.3.1980. Tr.9
(8). Miền Sóng Vỗ.Nxb văn Nghệ TPHCM.1983,tr.1
(9). Công Việc Viết Văn. Sđd.tr.139
(10). Thế Hệ Chúng Tôi Đi Qua Trường Sơn. VNTPHCM . số312/
1980
(11) nt
(12). Văn Nghệ số 19 năm 1987.
(13). Tạp chí Văn Học số 12 năm 1962.tr.14
(14). Văn Nghệ TPHCM số 506. Năm 1987
(15). Văn Nghệ TPHCM số ngày 3/2/1980-tr.8
(16). Văn Nghệ TPHCM số 418, ngày 21/2/1986
(17). Văn Nghệ số 5, năm 1980
(18) nt
(19). Hoài Thanh, Hòn Đất, Hòn Ngọc, TCVH số 1 năm
1968.tr7-tr.9
20). Văn Nghệ TPHCM số 171 ngày 1/5/1983. Tr.3
(21). Văn Nghệ số 18, năm 1983.tr.2
(22). Văn Nghệ TPHCM số 506, ngày 13/11/1987
(23). Công Việc Viết Văn , sđd, tr.125
(24). Văn Nghệ số 40, năm 1983
(25). Công Việc Viết Văm, sđd, tr.124
(26). Anh Đức trả lời bạn đọc trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật số
28, năm 1986
(27). Văn Nghệ TPHCM số 506.sđd
(28). Văn Nghệ TPHCM số 418, ngày 21/2/1986.tr.3
(29). Những Trang Viết Những Nhịp Cầu, Nxb Mũi Cà Mau,1986
(30).Tap chí Văn Học số 1 năm 1968. Sđd. tr.22
(31). Văn Nghệ số 1 năm 1984
(32). Văn Nghệ TPHCM số 418, sđd
(33). Công Việc Viết Văn, sđd, tr127
(34). Văn Nghệ TPHCM số 506, sđd. Xem thêm Anh Đức trả lời bạn
đọc.TTCN 17/8/1986
(35). Công Việc Viết Văn, sđd. tr.141
18/12/2024
Bùi Công Thuấn
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét