Anh Đức: Nhà văn - chiến sĩ tiêu biểu của nền văn nghệ cách mạng miền Nam
Trong nền văn nghệ cách mạng, có thể nói nhà văn nào cũng là
chiến sĩ từ trang đời đến trang văn. Trong không khí rực lửa của thời chiến, mỗi
nhà văn có một hướng tiếp cận và lối thể hiện riêng trên trang viết để phục vụ
mục tiêu chiến đấu, từ đó tạo nên phong cách riêng của mình. Sau mấy mươi năm kết
thúc chiến tranh, đọc lại Anh Đức, có thể thấy được tính chiến đấu vẫn còn sục
sôi trong tác phẩm. Nếu như Đoàn Giỏi đắm say với cảnh sắc thiên nhiên và đời sống
của người dân Nam Bộ; Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo len ngòi bút vào những ngõ
ngách tâm tình của con người giữa cuộc chiến tranh, phát hiện và xây dựng được
những tình huống truyện đặc sắc; thì Anh Đức biến tranh văn của mình thành một
chiến trường có ta – địch rõ ràng, tạo nên những tượng đài tráng lệ về người
anh hùng Nam Bộ chống giặc ngoại xâm.
Chiến trường trên trang viết
Trong thế giới nghệ thuật của Anh Đức, ta luôn thấy hai chiến
tuyến rõ ràng. Nhân vật của “phe ta”, từ những nhân vật trung tâm như chị Tư Hậu,
chị Sứ, Quế, ông Tám Xẻo Đước, ông Tư Vườn Chim… cho đến những gương mặt quần
chúng có tên và không tên đều được khắc họa với nét đẹp sử thi và giọng điệu ngợi
ca.
Nhân vật người anh hùng đều từ nhân dân mà ra. Họ xuất thân từ
hoàn cảnh bị áp bức, đọa đày, mất cha mẹ, trôi dạt bơ vơ, lớn lên trong vòng
tay chăm sóc của xóm giềng và những người cần lao trên đường phiêu bạt. Chị Tư
Hậu trong Một chuyện chép ở bệnh viện, chị Sứ trong Hòn Đất, Quyền
trong Đứa con của đất… đều là những người anh hùng như vậy. Họ nương tựa
vào nhau, mong vơ bèo vạt tép được mẩu hạnh phúc cỏn con trôi dạt, nhưng rồi
cũng bị cướp mất. Từ trong áp bức, họ quật khởi.
Người anh hùng trong truyện của Anh Đức hầu như không có nhược
điểm. Họ gan dạ, thông minh, và kiên định trước những đe dọa, uy hiếp của quân
thù. Ông Tám Xẻo Đước khi bị giặc lùa khỏi nhà thì ung dung cúng bái từ tạ tổ
tiên rồi tử chiến với giặc. Chị Tư Hậu dù đau xé lòng khi chứng kiến hai đứa
con thơ bị bắt làm con tin vẫn kiên quyết không đầu hàng giặc. Chị Sứ bị tra tấn
dã man đến mức hy sinh vẫn bảo vệ những chiến sĩ kẹt trong hang Hòn… Ở họ,
trung thành với cách mạng là đạo đức hiển nhiên, vì cách mạng đã cứu họ thoát
khỏi cảnh khốn cùng, cảnh bị chà đạp. Thế giới trong truyện Anh Đức phân đôi, một
bên là nhân dân và cách mạng, một bên là kẻ thù. Truyện của ông không có chỗ
cho thành phần đứng giữa, lần khân, hoang mang. Ông viết về những người anh
hùng từ nhân dân mà ra, không có chỗ nào viết về người trí thức thị thành tìm
đường theo kháng chiến. Quyền, đứa trẻ mồ côi có cha mẹ bị giặc giết vì nuôi giấu
cán bộ, bị nhà giàu bắt ở đợ chăn trâu là một điển hình như vậy, được ông gọi
là “đứa con của đất”, lớn lên chiến đấu giữ đất giữ làng: “Gần đây, tôi đã lớn
lên. Trái tim tôi phân rõ làm đôi, nửa bên ghét nửa bên thương. Con mắt tôi ngó
nhìn cũng vậy. Ví dụ ở tại Xà-bang này, ranh giới đó vạch ra từ nhà trại Bảy
Vàng đổ lên các ngôi biệt thự của chủ sở, đồn bót, tách bạch hẳn khỏi xóm nhà lợp
tôn, nhà vách đất của cô bác làm ruộng và cạo mủ ở xóm trên, tức là xóm từ nhà
Bảy Vàng đổ lên, đi tới đâu tôi cũng phát ghét. Còn ở xóm dưới, tức là xóm nhà
của cô bác, đi tới đâu tôi cũng thấy dễ chịu. (Đứa con của đất, chương 11).
Ngược lại, thế giới kẻ thù thì chỉ rặt những kẻ xấu xa, tàn
ác, hiểm độc, vô nhân tính. Khi quan sát kẻ thù, Anh Đức chỉ cho độc giả thấy
diện mạo, đồng nhất diện mạo với bản chất, chứ không khai thác động cơ và thế
giới bên trong. Giặc là những tên lính Mỹ to lớn, thô lỗ, với dã tâm cướp nước.
Nhưng giặc xuất hiện nhiều hơn cả trong hình hài của những tên “ác ôn”, là người
mình, lớn lên với cây đất củ khoai của mình, nhưng lại quay lại tàn hại đồng
bào. Bọn chúng có thể dễ dàng đốt nhà, giết người để truy đuổi “Việt Cộng”.
Chúng có thể tra tấn, móc mắt một ông già trước mặt đứa cháu nội ba tuổi của
ông ấy. Có những kẻ được miêu tả độc ác và thú tính một cách bản năng, chẳng hạn
như thằng Xăm: “Ban đầu bọn chúng còn rụt rè chưa dám ăn thịt người, thì thằng
Xăm nhai nghiến ngấu, luôn miệng bảo trên đời không có thịt con nào ngon hơn thịt
con người. Đối với phụ nữ, trừ mẹ và em gái, hắn có thể hiếp bất cứ ai. Sau lúc
hiếp hắn còn cắn vú họ, hút máu, và nói rằng máu đàn bà bổ hơn máu đàn ông. Hắn
là một đứa như thế. (Hòn Đất, chương 5). Thậm chí trong Bức thư Cà
Mau, một tác phẩm thuộc thể loại ký, ông chia sẻ với nhà văn Nguyễn Tuân và bạn
đọc về những tên lính ở Bình Hưng thích ăn thịt người “Bọn ăn thịt người tới mức
độ đã biết ngon, biết chế biến ra cách xào nấu, biết lỗ tai người và bàn tay
người là ngon nhất. Giành nhau một cái mật người, chúng có thể đâm nhau, bắn
nhau, bởi vì một cái mật có thể bán 1.000 đồng, nghe nói nay đã lên tới 1.500 đồng,
1.800 đồng. ở Sài Gòn có một bọn thầu mua, chẳng sợ ế!” Những chi tiết này,
ngày nay ta đọc lại, không thể không nghi ngờ về tính xác thực của nó. Liệu nó
có phải là sự thật lịch sử hay chỉ là những chi tiết hư cấu để ước lệ về sự tàn
ác của kẻ thù.
Cũng có lúc Anh Đức kể về vài nhân vật vô danh, theo giặc vì
quá nghèo túng, vì bị dụ dỗ, và sau đó biết tìm được quay lại với dân làng, thể
hiện cho sự thành công của công tác địch vận bên ta. Cũng có lúc ông hơi bâng
khuâng mủi lòng khi nhìn ngắm những khuôn mặt người thân, người yêu của kẻ thù
trong những bức ảnh nhặt được trên xác giặc sau trận chiến: “Ở người thiếu nữ
này vẫn có cái gì đó tươi trẻ như mọi cô gái khác trên trái đất. Cô đang lâm
vào một số phận đáng thương”, nhưng cảm giác mủi lòng nhanh chóng tan biến “Tôi
biết vậy, nhưng lòng sao cứ ngây ngấy nổi lên mối ác cảm” (Bức thư Cà Mau).
Nhân vật trong truyện của anh Đức luôn phải chọn ở một trong hai chiến tuyến, cả
cảm xúc cũng vậy, không có hoang mang, lần khân, không có sự thương người “tiểu
tư sản”. Tất cả làm rõ nét hơn bức tranh chia đôi của ông. Dù miêu tả về ta hay
địch, Anh Đức đều tuyệt đối hóa.
Sự rạch ròi, kiên định rất cần thiết ấy trong thời chiến đã dẫn
dắt ngòi bút Anh Đức đến chỗ để cho nhân vật của ông thực hiện một số hành vi
mà ngày nay nhìn lại, lòng ta không tránh khỏi băn khoăn. Trường hợp đáng kể là
nhân vật bà Cà Xợi. Bà uất ức, căm ghét đứa con của bà là thằng Xăm vì nó độc
ác, tàn hại xóm làng, người ơn của bà, và giết chết Sứ. Bà nguyền rủa con, thậm
chí đã ba lần vung dao lên định giết con trong lúc nó đang ngủ. Tất nhiên, Anh
Đức không để bà Cà Xợi xuống tay với con mình, nhưng cảm giác căm thù dữ dội mà
bà dành cho đứa con bà đẻ ra, nay đã méo mó nhân tính đến không còn giống con
người, cũng cho thấy ông đề cao lập trường chiến đấu hơn cả.
Có lẽ trong số những nhà văn cách mạng miền Nam, Anh Đức đã
xây dựng được nhiều tượng đài sống động về người phụ nữ đánh giặc hơn cả. Bên cạnh
những chân dung đã rất nổi tiếng trong các tiểu thuyết như chị Sứ, Quyên
trong Hòn Đất, chị Tư Hậu trong Một chuyện chép ở bệnh viện, những
người con gái trong các truyện ngắn như Quế trong Khói, chị Lộc
trong Con chị Lộc, chị Ba Tương Lai trong Xôn xao đồng nước… cũng để
lại những khoảnh khắc đẹp khó quên.
Vì viết nhiều về người phụ nữ đánh giặc mà Anh Đức đã khắc họa
được nhiều khía cạnh về họ. Ông kể về hành trình người phụ nữ trải qua số phận
khổ đau sau đó tìm đến cách mạng và kháng chiến, kể về những hy sinh của họ
trong cuộc chiến đấu trường kỳ, chụp lại những khoảnh khắc đẹp của họ trong chiến
tranh. Tượng đài người phụ nữ đánh giặc trong trang văn Anh Đức mang sắc thái sử
thi giống như những “nàng thơ” thời chiến của Tố Hữu (Gửi em người con gái Việt
Nam, O du kích nhỏ), tức là ở họ chỉ có vẻ đẹp tuyệt đối, không có tì vết. Nhiều
nét tính cách của họ được ước lệ, cường điệu. Những nhân vật này thường gợi lên
trong lòng người đọc cảm xúc ngưỡng mộ, tôn thờ, hoặc nếu đơn giản thì cũng là
tấm tắc ngợi khen.
Khi nói về người phụ nữ Nam Bộ đánh giặc, chúng ta vẫn còn một
tượng đài nữa rất ấn tượng, đó là chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của
Nguyễn Thi. Nhưng nếu Nguyễn Thi đã mang đến một chân dung người phụ nữ có phần
nam tính, ngang tàng, thì những người phụ nữ đánh giặc của Anh Đức vừa quật cường
trước quân thù vừa giữ được nét nữ tính mềm mại: nũng nịu, yếu đuối trước người
thương; dịu dàng, tha thiết với con trẻ. Quế lúc trốn trong hầm với Hữu, bị giặc
ở trên nắp hầm xăm bừa một phát trúng vai, đau điếng người nhưng vẫn bình tĩnh
dùng khăn tay vuốt sạch máu ở mũi xăm khi giặc rút ra, nhờ vậy giặc không biết
dưới hầm có người. Ấy thế nhưng khi thấy người yêu chịu khổ ngày đêm trong hầm,
cô lại khóc: “Chẳng qua vì thương anh nên Quế mới khóc, chứ lúc bị tụi nó xăm
trúng, Quế có khóc đâu” (Khói). Chị Sứ bị giặc tra tấn hành hạ, bị nhốt trong
“chuồng cọp”, “chuồng sấu” vẫn không sợ, nhưng lại khóc òa lên vì nhớ con, và
muốn kể lể với chồng nỗi tủi thân ấy: “Cuộc sống của những năm qua thường đặt
chị vào những cảnh ngộ lạ lùng, mà chị tính sau này thống nhất rồi, gặp lại chồng,
chị sẽ kể cho chồng nghe hoài, kể hết đêm này sang đêm khác, để chồng chị thông
cảm sâu xa, và thương mẹ con chị nhiều hơn nữa mới được” (Hòn Đất, chương 4).
Cùng là người mẹ tham gia kháng chiến khi còn vướng bận con nhỏ, chị Út Tịch được
xây dựng như một tấm gương gan dạ, dũng cảm cho đàn con, lúc nào xuất hiện trước
mặt các con cũng mang một vẻ lạc quan rộn ràng, còn chị Tư Hậu vẫn được Anh Đức
dành cho những nốt trầm: “Lòng tôi dìu dịu mối hy vọng, thầm ước sau ngày kháng
chiến, tôi sẽ sống yên ổn nuôi con […] Phải chi mình không đảm nhiệm cơ sở, để
lo gìn giữ các con thì đâu đến nỗi thế này. Nói thật với anh, khi đó tôi muốn
buông tay té xuống” (chương 8); “Có thể cái đau đớn của đàn ông con trai các
anh khác hơn bọn phụ nữ chúng tôi, tuy cũng là đau đớn, nhưng không bằng chúng
tôi đâu. Bởi vì tôi đẻ con tôi ra, ôm ấp chúng nó hằng ngày. Chúng nó là máu thịt
của tôi…” (Một chuyện chép ở bệnh viện, chương 9). Anh Đức còn đặc biệt tôn vinh
vẻ đẹp nữ tính của người phụ nữ đánh giặc qua mái tóc của chị Sứ.
Tuy được phả vào chút dịu dàng ấy, nhìn chung, người nữ anh hùng trong trang văn của Anh Đức vẫn mang nét cứng cỏi của tượng đài. Họ vượt lên trên sự yếu đuối bình thường của người phụ nữ để thực hiện những việc phi thường. Chị Sứ, chị Tư Hậu chế ngự được nỗi nhớ con để xa nhà đi công tác; chị Tư Hậu dù đau đớn khi thấy hai con bị bắt, bị bỏ đói, vẫn kiên quyết không đầu hàng. Bên cạnh đó còn có chân dung những bà mẹ anh hùng, hy sinh đứa con của mình cho cách mạng, và bảo bọc, che chở những đứa con khác của cách mạng. Kiểu nhân vật này không chỉ có trong sáng tác của Anh Đức, mà xuất hiện rất nhiều trong sáng tác của những nhà văn khác, trở thành một chân dung điển hình của văn học cách mạng. Anh Đức đã góp cho kiểu chân dung này những má Sáu (Hòn Đất), thím Sáu Tuất (Một chuyện chép ở bệnh viện), bà má U Minh (Bức thư Cà Mau)…
Ngòi bút trữ tình cách mạng
Sự cứng cỏi trong lập trường và sự rạch ròi trong thái độ của
Anh Đức đã khiến trang văn của ông mang một giọng hùng tráng tiêu biểu của văn
chương thời chiến. Chất hùng này đã được cân bằng, được mềm hóa nhờ giọng văn
trữ tình hiền hòa của ông trong nhiều phân đoạn tả tình, tả cảnh. Nhờ nó mà độc
giả cảm thấy đỡ kiệt sức sau những trường đoạn chiến đấu khốc liệt, đồng thời
nó cũng giúp văn chương của Anh Đức sống lâu hơn, sau khi chiến trận qua đi và
lòng người nguội lại. Phân đoạn tả vợ chồng chị Tư Hậu chia tay khi anh Tư lên
đường về đơn vị, phân đoạn Sứ ngắm Hòn Đất sau khi bị giặc tra tấn, đoạn ông Tư
Vườn Chim ngắm nghía vết thương của rừng sau một ngày bị pháo kích… đều rất cảm
động. Thiên nhiên, đất trời Nam Bộ đẹp đẽ mà đau thương trải ra trên trang văn
Anh Đức, lấp lánh tình yêu của nhà văn với mảnh đất này.
Trời đã sáng rõ. Hồi đêm, Sứ nhìn thấy những lạng sóng vàng lấp
lánh ánh trăng, bây giờ trước mặt chị là những lạng sóng hồng, lao xao, rối
rít. Màu tím nhạt trên bầu trời biển đã ngả sang màu hồng sen, phơn phớt. Buổi
sáng mát rợi mở ra cho Sứ nhìn thấy tất cả những gì đêm qua chị còn chưa thấy
rõ. Ban mai như kế tục cái đêm trăng thanh, òa vào lòng chị, an ủi thêm chị bằng
những sắc màu của nó. Và chính nó đã cho chị nhìn thấy toàn cảnh Hòn Đất. Chị Sứ
yêu biết bao nhiêu cái chốn này, nơi chị oa oa cất tiếng khóc đầu đời, nơi quả
ngọt trái sai đã thắm hồng da dẻ chị. Chính tại rẻo đất này, mẹ chị đã hát ru
chị ngủ, và đến lúc làm mẹ, chị lại hát ru con những câu hát ngày xưa. (Hòn
Đất, Chương 4)
Chất trữ tình này cũng hé mở cánh cửa để độc giả nhìn vào động
cơ chiến đấu của người anh hùng. Họ gan góc, quyết liệt khi đối mặt với quân
thù là bởi trong lòng họ luôn nuôi dưỡng sự dịu dàng, tha thiết với sự sống, với
thế giới xung quanh. Cách miêu tả này lại càng làm tăng tính đối lập giữa họ với
kẻ thù, là những nhân vật không bao giờ được khắc họa thế giới nội tâm. Nhân vật
Xăm chẳng hạn, hắn tuy được miêu tả như một quái vật khát máu, nhưng hắn có giới
hạn của mình, đó là không làm hại mẹ và em gái, nhưng có vẻ Xăm không có mối
liên hệ tình cảm gì với mẹ và em gái cả. Ngược lại, những nhân vật ở phe chính
diện, những người anh hùng hay nhân vật quần chúng, họ chiến đấu bảo vệ quê
hương không phải chỉ vì những giá trị đạo đức khuôn sáo hay minh họa cho những
lời kêu gọi chính trị khô khan. Từ trang văn của Anh Đức, họ hiện lên chan chứa
tình cảm hồn hậu, chân thành với xứ sở, với vạn vật:
Những năm tháng dài dặc đã gắn liền đời ông lão với khu vườn chim. Lâu rồi, ông có niềm vui sướng bình dị của riêng ông là chiều nào lũ chim cũng trở lại với ông, kêu lên những tiếng kêu như tiếng khánh, làm rộn rịp cả cụm rừng và vui vẻ bầu trời. Đời ông lão vất vả cực nhục đã nhiều, cho nên nguồn vui của ông nó cũng đơn sơ: tình ông đối với cái vườn chim này là một, và tình ông đối với bộ đội giải phóng là hai. (Ông lão vườn chim)
Tinh thần chiến đấu và chất lãng mạn sử thi trong thời bình
Có lẽ cái lập trường rạch ròi và chất chiến đấu quyết liệt đã
ăn vào căn cốt Anh Đức suốt cả một đời, khiến những gì rực rỡ nhất trong sự
nghiệp văn chương của Anh Đức gói gọn lại trong cuộc chiến tranh. Sau chiến
tranh, dù vẫn tiếp tục viết, nhưng Anh Đức không duy trì lâu và cũng không để lại
nhiều dấu ấn như một số nhà văn khác cùng thời. Ông chỉ có thêm tập truyện ngắn Miền
sóng vỗ năm 1985 và một số truyện ngắn khác đăng rải rác trên các báo.
Những truyện sau chiến tranh của Anh Đức phần nhiều vẫn kể về
những người bước ra từ cuộc chiến. Ông vẫn kể những câu chuyện mang màu sắc lý
tưởng và thi vị về những con người chiến đấu năm xưa. Truyện ngắn Về mảnh
vườn xưa kể về người lính cả một đời chung thủy với mối tình đầu. Hoàn cảnh
đất nước chia cắt đã khiến họ xa nhau. Về sau anh hay tin người yêu trở thành
du kích và hy sinh, mà không hay biết họ đã có với nhau một đứa con gái. Anh
không lấy vợ, sống cô độc một mình qua cả cuộc chiến tranh, sang cả hòa bình. Đến
hơn bảy mươi tuổi, anh bất ngờ đoàn tụ với con gái, lúc bấy giờ cũng đã năm
mươi, và từ một người không gia đình, anh bỗng có con gái, con rể, cháu ngoại,
cháu cố đầy đàn. Trang văn của Anh Đức sau bao nhiêu năm vẫn vậy, tràn trề niềm
tin tưởng và sự mơ mộng: “Tôi nói với anh rằng anh hãy về nơi ấy, về với mảnh
vườn xưa, nơi mối tình đầu và duy nhất của anh ngỡ đâu đã tan biến, nào ngờ vẫn
đâm hoa kết trái như một sự cứu rỗi nhiệm mầu.”
Anh Đức có vẻ không thích viết về sự phức tạp của con người, cũng không thích dùng ánh mắt bi quan để nhìn đời. Trong dòng chảy trăm nhánh, trăm chiều của văn chương thời kỳ Đổi Mới, thế giới nghệ thuật của Anh Đức vẫn rạch ròi và lý tưởng lắm. Đến tận năm 1997, trong truyện ngắn Cành đào trước gió, Anh Đức mới bàn đến sự phức tạp của con người và bao dung hơn với những người mắc sai lầm phản bội lý tưởng vì yếu lòng trước hoàn cảnh. “Mọi sự vật trong cõi đời này khó có gì vẹn toàn. Mọi sự đều là tương đối, nếu ta đòi hỏi tuyệt đối, ta rất dễ bị thất vọng. Nhất là đối với con người, ta cần nhìn họ trong tình huống động, chứ không phải trong tình huống tĩnh.” Dù ông đã bao dung và nhìn nhận đa chiều hơn như thế, ta vẫn thấy thế giới quan của Anh Đức vẫn là thế giới của chuẩn mực đúng sai rạch ròi. Người làm sai có thể được xem xét trong những hoàn cảnh cụ thể để nhận được sự tha thứ, nhưng đó vẫn là hành động sai. Có thể nhiều người sẽ cho rằng ông không đủ nhạy bén với sự đổi mới của văn chương trong thời bình, nhưng khi nghiêm khắc như vậy với con người, Anh Đức cũng bộc lộ niềm tin vững chắc của mình vào những giá trị đạo đức bền vững và khả năng tự hoàn thiện của con người. Anh Đức mang chất lãng mạn sử thi từ thời chiến vào trong thời bình, nên trang văn của ông vẫn mãi sáng lên niềm tin tưởng.
Anh Đức, một người chiến sĩ trên trang văn, đã rất nghiêm khắc với từng câu chữ của mình cho dù hoàn cảnh chiến đấu chống giặc ngoại xâm không còn nữa. Dù sự nghiệp văn chương của ông không phát triển mạnh mẽ sau chiến tranh, nhưng những gì ông đã mang đến cho nền văn nghệ cách mạng đã đủ để làm nên một văn nghiệp đáng tự hào.
23/12/2024
Võ Văn Nhơn
Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 156, ngày 26/12/2024
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét