Thiền tâm trong "Ba khúc
ru của gió" của Hoàng Vũ Thuật
Ngọn gió đi qua ba miền sáng tối: vũ trụ, cõi thiền và em, đậu xuống “khúc ru” của nhà thơ Hoàng Vũ Thuật tạo nên những cơn địa chấn ngôn ngữ. Tôi bị ông dẫn dụ theo những cơn gió trong “Ba khúc ru của gió”…
BA – KHÚC – RU – CỦA – GIÓ
1. Mảnh thủy tinh long lanh
cứa vào trang sách giấy
dó cổ xưa
yên nghỉ trong thư viện lẻ
những chiếc đèn thắm hồng đang treo trước cửa đình
như làn mưa quyến rũ
như tảng khói đam mê
như khúc gió quay về
búp sen nở trên đài sen
trắng
khuôn ánh sáng thanh bạch
bước lên thềm nhà
không cần thời trang
vũ nữ Apsara giáng thế
2. Cơn giông ru đất đai
để lại đôi lúm đồng tiền
nóng hổi trên da thịt bầu trời
thắp đỏ hàng cây
phô bày pho tượng lá
tà áo tuyết mềm vắt lưng núi xa
hiện hữu cùng vầng trăng
ban ngày
gió che nửa gương mặt
cánh lông vũ
giúp anh tìm lại chiếc lưỡi mềm tuổi thơ hóa thạch
hỡi sự hoàn hảo
anh tin một lần đỗ vỡ mới
biết sức mạnh vĩnh hằng
biết đêm sẽ bào thai bình
minh
rạng đông xòe mười ngón
3. Anh yêu nét cuồng thảo trên tấm voan cóng lạnh
yêu sóng xô nứt nẻ dòng
sông
cài nhau vồ vập
bóng dáng vạt mưa thu trải
vàng
thứ ngôn ngữ mùa nhớ mong
vườn địa đàng trĩu quả mơ
hồ bên sông
cây đôi bờ
kết vành nón thảo hiền
anh ôm màu hoa cúc dại
& mùi thơm giọt nước
trong la đà
viên mãn của lãnh địa gió.
20.10.2021
HOÀNG VŨ THUẬT
Lời bình của Nguyên Tô:
Ngọn gió đi qua ba miền
sáng tối: vũ trụ, cõi thiền và em, đậu xuống “khúc ru” của nhà thơ Hoàng Vũ Thuật
tạo nên những cơn địa chấn ngôn ngữ. Tôi bị ông dẫn dụ theo những cơn gió trong
“Ba khúc ru của gió”.
Gió sắc – “mảnh
thủy tinh”, quất vào lịch sử – “trang sách giấy dó cổ
xưa”, khai quật quá khứ đã “yên nghỉ” trong thư viện
lẻ, kết thành trái thơm hiện tại “đèn thắm hồng đang treo trước cửa
đình”. Đạo và đời giao ái, luân hồi lên vũ khúc, đi qua bước chân thời
gian. Lịch sử đớn đau được chưng cất trong cõi an phiền hiện tại, ngẫm ngộ để
nhân vật trữ tình không lẫn giữa đời và đạo. Trong chừng mực nào đó con người
luôn đi giữa hai thế giới: đời quá sẽ trần tục, sâu đạo trở nên vô thực. Hãy sống
với bản thể và khao khát thắm hồng. Tôi lắng nghe tiếng thơ ông, như âm vang từ
trùng trùng kiếp kiếp dội về, nhưng dãi dề hiện sinh trong cơn phóng túng được
buông xả khao khát, ẩn ức thầm nén. Tôi chạm đến nỗi cô đơn của người tài hoa.
Trí tuệ bị xếp xó, bắt câm lời trong một “thư viện lẻ”. Có cái
gì đó chênh vênh như máu ứa của người tài phải trở nên vô ngôn, tự xóa mờ gương
mặt mình. “Yên nghỉ trong thư viện lẻ”, chỉ câu thơ 5 chữ đã đủ
cất lên thân phận. Một thứ cốt tủy bắt bám vào mặt nhám của thời gian nên còn
lưu dấu mãi, dù tháng năm vô tình. Tất cả những ẩn ức lịch sử, đeo bám dằng dai
đã thành một thứ đèn lồng ảo diệu giữa không gian thiền định, “cửa
đình”. Nền văn hóa Đại Việt cổ xưa cũng bắt đầu từ cánh cửa cắt thớ gỗ
nâu u tịch ấy.
“Quyến rũ” và “đam mê”, dưới mười ngón tay thi nhân, ngôn ngữ đã nổi loạn, đổi chiều. Từ trầm tích lịch sử 4 câu thơ đầu đã trở nên đã đầy bản thể, từng da thịt run rẩy “như làn mưa”, “như tảng khói”. Hoàng Vũ Thuật đưa tôi đi từ ngạc nhiên này đến tò mò khác. Ông lạ hóa ngôn từ một cách ám ảnh, bứt dứt, nếu khói chỉ gợi nét múa bút mơ ảo vờn vẽ khí quyển thì “tảng khói” lại gợi ra vẻ mỹ cảm ngôn từ trên da thịt vũ nữ Apsara, sẽ xuất hiện ở câu cuối cùng của khúc ru thứ nhất. Với cách nhập đề mới mẻ như thế, tác giả đã kiến tạo một lối riêng vào trái tim độc giả của mình. “như khúc gió quay về”. Có lẽ, thân phận bị phanh trần bởi cuồng phong quá khứ, nỗi đau trí tuệ bị cầm cố, qua trải nghiệm, ngẫm ngộ đã khởi sinh vẹn nguyên, tươi mới, trong veo như áng sương mai chưa hề biết cội mục đầu nguồn. “Quay về” – trở lại, không một lằn roi nào có thể khiến con tim người thi sĩ bớt cao ngạo, nhưng tắm trong ẩn ức và dòng nước mắt, con tim ấy đã hồi sinh giữa thổn thức, dấu yêu.
Sen trổ nhánh từ bùn, từ
những cuồng phong, giông tố, tự cô tịch, hoang hiu của một thân phận bị giằng
giật khỏi cuộc đời để đẩy sâu vào huyệt mộ. Nhưng sen đã dâng ngạo nghễ: “búp
sen nở trên đài sen trắng”. Búp sen như bàn tay Phật, sau những
ngón dài là trái tim ngấn lệ đau nhàu, tủi khổ, nỗi kiêu ngạo, da diết của con
người bị lịch sử quăng quật, nhưng vẫn giữ mình, tư thế thượng đài, quay lưng với
hèn nhát, thậm chí chấp nhận cái chết. Nhưng khát vọng ánh sáng, mong mỏi phục
sinh danh dự đã giữ trái tim mấp mé bờ vực ấy vẫn thấp thỏm trong lồng ngực, vừa
lo âu vừa hy vọng. Một tiếng cười ngạo thế, hầm mộ có đào sẵn cũng chỉ là mọi rợ,
bóng tối sẽ bị lu mờ bởi ánh sáng “thanh bạch”. Từ trên đài
cao, tác giả thả một tấc lòng “thanh bạch”. Trí tuệ là vậy,
không cần tô vẽ, thời gian là thứ nước rửa ảnh để lộ chân giá trị. Tứ thơ tỏa
sáng vẻ đẹp giản dị, phơi bày lầm mê của lịch sử, đâu đó như một sám hối trước
gươm nhọn và “anh” mỉm cười độ lượng với tất cả:
“không cần thời trang
vũ nữ Apsara giáng thế”
Thực ra, tài năng là thứ
không cần trang sức, bởi tự nó đã lấp lánh rồi. Tác giả thần tình đưa một đường
cọ ảo diệu: vũ nữ “giáng thế”. Khi con người trong vẻ đẹp bản
thể, nguyên sơ, hình hài ban đầu cha mẹ cho, ấy là sự “giáng thế”.
Câu thơ đẹp đến choáng váng, những đường nét ban xuống hạ giới, trước hiên nhà
như thể tự cõi tiên.
Khúc ru thứ nhất có nốt
trầm lịch sử, cái hoang hiu của trái tim bị đẩy vào xó tối, sự tuẫn đạo của một
Phật tử trước bể khổ, nhưng vẫn không đè nén được nỗi khát cháy được cất lên
khúc hoan ca trên da thịt “vũ nữ Apsara”.
Khi xuất hiện trong huyền
hồ vũ trụ và thẳm sâu thế cuộc, ưu mang thời gian, em đã dấy lên bão tố lòng
anh. Em là “cơn giông ru đất đai”. Ngòi bút Vũ Hoàng
Thuật như có thần, dậy lên âm thanh bao la đất trời, bản đàn da thịt run lên những
chân cảm đắm đuối. Đất đai tịch mịch bỗng trở nên run rẩy, khô khát chờ uống giọt
mưa. Nghệ thuật siêu thực, tượng trưng đã nhập vào câu chữ, đưa độc giả đến với
luồng cảm xúc lạ lẫm, mê cuồng. “Đôi núm đồng tiền trên da thịt bầu trời”. Tôi
từng đếm sao trên trời, nhưng hôm nay vần thơ ông cho tôi chạm tới “da thịt
bầu trời”. Ông đã kiến tạo cõi mê, để lại dấu ấn là núm đồng tiền. Nhục
cảm đã vượt qua đường biên của cái đẹp, qua cơn hào hển câu chữ. Giao tình thuần
túy mùi tục lụy đã được nâng lên đài cao khi tình yêu chắp cánh. Phút ban đầu đắm
đuối của bất kì lứa đôi trinh nguyên nào cũng chỉ đẹp đến thế mà thôi. Tình
yêu “thắp đỏ”. Tình yêu “tạc tượng”.
Tình yêu làm ấm vầng tuyết lạnh đến mềm nhàu. Ngôn ngữ của ông khởi sinh tất cả
trong cơn hoan mê ngông cuồng, trinh bạch. Đất, bầu trời, hàng cây, tượng lá,
áo tuyết, lưng núi. Thơ ông chạm trổ vào bao la thiên địa pho tượng tình yêu bất
diệt. Nghệ thuật điểm nhãn, “thi trung hữu họa” đã tạc nên bức bích họa lồng lộng.
Tôi đọc đi đọc lại từ cụm từ “pho tượng lá”. Một sự diễn
giải lịch sử và cảm xúc. Lá cũng thinh lặng, không gian, thời gian đứng im và
ông đã thu muôn kiếp vào một khoảnh khắc bất động. Một lối hành văn bản năng
nhưng đầy chủ ý dưới sự sắp đặt của nghệ thuật tinh luyện.
Tình yêu luôn mang khuôn
mặt bí ẩn. Nhìn qua con tim run rẩy, một vẻ đẹp huyền bí đến vô thực: “hiện
hữu cùng vầng trăng ban ngày”. Trăng chỉ lộng lẫy dưới bầu đêm, em
trong mắt anh đẹp hơn trăng, ánh mặt trời phải lu mờ. Gió se sẽ choàng em trong
vòng tay e ấp, em truyền cho anh sự hưng cảm. Anh là đại bàng sải cánh trên vòm
trời em. Mấy ai trong đời đã gặp được tri kỷ. Anh hạnh phúc vô biên khi em đã
làm sống dậy, hào hển, dấu yêu, ngây dại. Anh như đứa bé trước hoang sơ em. Nụ
hôn đóng dấu da thịt, hóa thạch cả muôn kỉ băng hà, “giúp anh tìm lại
chiếc lưỡi mềm tuổi thơ hóa thạch” – thi sĩ đã thu muôn kiếp luân hồi
vào cảm xúc trinh nguyên, háo hức của đứa trẻ trên bầu ngực mẹ.
Tình yêu là sự ngẫm ngộ.
Bao nhiêu đấng tài hoa được khai sinh từ sự màu nhiệm của tình yêu. Bên em, anh
vỡ ra: “hỡi sự hoàn hảo”. Hoàn hảo là tròn đầy, thực ra lý tưởng
là cái chết. Vì vậy Chúa tạo ra bóng tối để con người biết sợ hãi, để tìm đường
ra khỏi cõi mê lầm. Anh đến đây đã cảm ơn những khúc quanh của số phận, vì
chính nó chứ không phải điều gì khác đã cho anh sức mạnh. Anh bao dung thứ tha
hết cho cơn mê lầm lịch sử. Có bắt đầu, có kết thúc. Niềm tin mãnh liệt đã cho
anh cơn hồi sinh vào bình minh, rạng đông đã đón chúng ta. Trong thế giới huyền
hồ, chỉ tình yêu cứu chuộc con người.
Khúc ru của gió ở trường
đoạn thứ hai là khởi sinh, là mặt trời, là nguồn sống tráng lệ, nguy nga. Vũ trụ
sẽ hoang hiu, sụp đổ tan tành nếu mất đi tình yêu và ánh sáng.
Và cơn hào hển chưa lắng
xuống, trái lại, mê cuồng, ngông đời và nghệ sĩ. Anh thành họa sỹ, với mười
ngón tay rạng đông vẽ nét ma mị trên cơ thể em, trên da thịt bầu trời. “Giấy
dó cổ xưa” hay “tấm voan lạnh cóng” dưới tay anh
thành bản hoan ca cuồng si. Lịch sử thức tỉnh, và anh tồn tại. Anh bên em,
chúng ta yêu cả những vết sẹo trên cơ thể và tâm hồn nhau, thương trầy xước,
nâng niu đớn đau. Người thi sỹ đã se duyên cho cuộc trùng phùng giữa những mảng
màu tương phản: mềm như nước, khô như “nứt nẻ”, ào ạt
như “sóng”. Cứng, mềm, ấm, lạnh, những phím yêu bất tận trong
khúc hoan ca mùa thu trải vàng. Tuổi thu là mùa thu vào từ trải nghiệm, từ
quăng quật của số phận, anh đã thấm thía. Đi qua nỗi đau, vượt lên cái chết,
chiến thắng dập vùi, con người sẽ chi chút từng giọt hạnh phúc bé nhỏ.
Không cần kết trái bầu trời,
nơi nào có em, nơi ấy là bầu trời anh:
“vườn địa đàng trĩu quả
mơ hồ bên sông
cây đôi bờ
kết vành nón thảo hiền”.
Giữa hai dòng thơ dài,
tác giả hạ một câu chỉ ba từ khiến đoạn thơ trở nên siêu thực, tựa hồ như bức vẽ
mỹ cảm về vẻ đẹp nguyên sơ mà tạo hóa ban tặng cho người phụ nữ. Ông gọi tên
là “quả mơ hồ”. Tôi đồ rằng lúc đó anh không còn tỉnh trí nữa,
tình yêu đẹp đến vô thực, trước vườn địa đàng em, anh như kẻ lần đầu bập răng
vào trái táo cấm. Anh là tội đồ tình yêu trên đài sen được Phật cứu rỗi hay
tình yêu của em cứu chuộc anh và chúng ta?
Bài thơ viết tự do, phóng
túng nhưng tôi nhìn ra nét phác thảo về quy luật nhân sinh và tình yêu của tác
giả. Con người thấm trải can qua, sẽ can trường, lãnh đạm, tình yêu không tự đến
mà phải “tìm”, hiểu, gây dựng niềm “tin”, yêu
đến cuồng si, dâng hiến đến cạn kiệt. Sống và yêu đều như nhau, tựa hồ ngọn nến
cháy hết mình, sống như thể ngày mai sẽ chết. Em sắc “màu hoa cúc dại” khờ,
hoang sơ, em thơm mùi “giọt nước”. Tôi liên tưởng đến lệ
vũ trụ, giọt khóc của em. Đàn bà trong bất hạnh hay viên mãn đều ứa lệ. Ngòi
bút nhà thơ đã vẽ nên giọt lệ đa đoan long lanh ấy. Anh trong viên mãn, khi được
thấm từng giọt lệ từ nguyên bản hình hài em.
Tác phẩm viết theo thể
thơ tự do, sau mỗi khúc ru, tác giả hạ một dấu chấm, không viết hoa chữ đầu
dòng, trừ danh từ riêng và sau dấu chấm. Mỗi khúc ru là mỗi mô phỏng nốt nhạc.
Cả thi phẩm là một bản đàn, vũ khúc bi ai và hoan ca của con người. Lịch sử đã
đi những bước thăng trầm, con người hay tình yêu đều mang thân phận. Tác phẩm
nghệ thuật chân chính không kết thúc ở dòng cuối cùng. Thơ Vũ Hoàng Thuật, tôi
tin chắc rằng sẽ mang sinh mệnh đến với những người yêu thơ, trân trọng và xót
xa những ẩn ức màu nước mắt từ cuộc đời trầm luân của ông.
26/11/2021
Nguyên Tô
Theo https://vanhocsaigon.com/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét