ÁO DÀI HUẾ QUA KÝ ỨC CỦA TÔI
Chiều
hôm 30/3/2026 ở trung tâm Lan Viên Cổ Tích 2 – Điểm Gặp Liên Văn Hóa của TS
Thái Kim Lan, tọa lạc tại 94, 96, 98 đường Bạch Đằng, TP Huế, đã có chương
trình nói về Trang Phục Cung Đình Huế, và Áo Dài Huế rất ấn tượng trong không
khí thân thiện, ấm cúng với hơn 70 người tham dự, chật kín cả khán phòng. Nhà
Nghiên Cứu Huế Trần Đình Sơn, từ Saigon ra, nói về trang phục cung đình. Về chiếc
áo dài Huế, Kim Lan giao cho tôi. Lúc đầu tôi thối thác vì nghĩ mình xa Huế đã
lâu, nhưng KL nhắc chỉ nói qua ký ức của mình thôi nên tôi thấy không có lý do
gì từ chối. Tôi vui vẻ tìm hiểu về sự thay đổi của chiếc áo dài qua nhiều thế hệ
thì tình cờ đọc được nguồn gốc của chiếc áo dài rất thú vị!
Chiếc áo dài của ta đuợc
cho là phát xuất từ phong cách xưa gọi là áo Giao Lĩnh hay Đối Lĩnh, là loại
trang phục phổ biến ở Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, là thủy
tổ của chiếc áo Tàu xưa, Việt Nam, Hàn Quốc, và Nhật Bản. Nhưng mỗi quốc gia,
biến hóa, điều chỉnh chiếc áo riêng biệt, theo phong tục, xu hướng của nước
mình. Ở nước ta, áo Giao Lĩnh – giao là giao nhau, lĩnh là cổ, nghìa là áo giao
nhau ở cổ -- xuất hiện từ thời Lý, Trần, Lê (khoảng thế kỷ X – XIII) là kiểu áo
sơ khai nhất của chiếc áo dài Việt Nam. Áo được may rộng, xẻ hai bên hông, kiểu
áo cổ chéo, thân dài chấm gót. Thân áo được may bằng 4 tấm vải kết hợp cùng thắt
lưng màu đen và váy đen gần giống áo tứ thân. Thứ trang phục này dành cho cả
nam lẫn nữ, từ quý tộc đến bình dân qua các triều đại cho đến triều Nguyễn thì
loại áo này được dành cho tầng lớp vua chúa, quan lại.
Đến đời Trịnh Nguyễn phân
tranh thì chúa Nguyễn Phúc Khoát (1744) muốn khác với Đàng Ngoài nên cho ra đời
áo Ngũ Thân, trang phục hằng ngày của cả nam lẫn nữ. Ngũ thân là tiền thân của
chiếc áo dài Huế bây giờ. Áo có 4 thân (vạt) và một thân con ẩn bên trong, tay
áo chẻn (hẹp) hay thụng (rộng).
Chắc các bạn thắc mắc áo
dài chỉ có vạt trước, vạt sau mà sao nói 5 vạt. Ngày xưa khổ vải chỉ 30-40 cm
thôi nên phải nối hai tấm lại mới che được thân trước, thân sau. Thân con bên
trong nay chỉ còn là miếng vải nhỏ để có thể kết nút, cọng tất cả là 5 vạt, ngũ
thân! Hai thân trước, hai thân sau tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu. Thân con là
đương sự, là người mặc áo. Ngày trước, vạt này cũng dài nhưng bây giờ chỉ còn
miếng vải để kết nút cho dễ. Cổ vuông tương trưng cho đoan chính, quân tử. Áo
tôi mặc hôm nay là do một nhà thiết kế vẻ kiểu áo ngũ thân xưa nên tuy khổ vải
rộng, ông thợ vẫn may một đường ở giữa gọi là sống áo và chỉ có năm nút áo là
biểu trưng cho ngũ thường: nhân nghĩa lễ trí tín! Cái áo dài của ta có ý nghĩa
sâu sắc chưa. Mặc chiếc áo dài là mang trên mình đạo làm người! Áo ngũ thân đến
đời nhà Nguyễn thì chỉ dành cho vua chúa, quan lại.
Khi hiểu được ý nghĩa của
áo ngũ thân biểu trưng cho tứ thân phụ mẫu và người con (vạt áo thứ năm), tôi
thoáng nghĩ rằng người xưa quan niệm con trai, con gái đều phải lập gia đình,
có con nối giỏi là bổn phận của mỗi người dân.
Sau này thì nam giới mặc
âu phục, nữ giới vẫn mặc áo ngũ thân (đã thay đổi) cho đến sau 1975 thì chiếc
áo dài dần dần bị thay thế bởi áo ngắn, quần tây hay áo đầm vì hoàn cảnh kinh tế
khó khăn, người dân tập trung vào sự tiện lợi, chỉ mặc áo dài trong những dịp lễ,
Tết, cưới hỏi v.v… Kể từ những năm tôi lớn lên đến 1975 thì cái áo dài không
thay đổi mấy. Hình này là áo dài thời cô tôi, khoảng 1940, cô Hoàng Thị Kim Cúc
(từ trái, thứ hai, hàng cuối). Tôi còn nhớ bà Hiệu trưởng người Pháp này là bà
Martin. Bên cạnh cô Cúc là bà Bùi Xuân Dục (áo đen), khuê danh Hoàng Thị Hạnh,
chị của ba tôi. Sau này là Tổng giám thị trường Đồng Khánh. Còn có bà Ngọc Lan
dạy nữ công (thư nhất, hàng cuối, bên phải.) Các bạn Đồng Khánh còn nhớ không?
Và còn nhớ cô Kinh ở đây nữa, cô làm giám thị, rất nghiêm, tụi tôi sợ lắm.
Hồi đó có người mặc áo
tay phồng như trong hình ni. Hai cô giám thị xách dù, một cô mặc áo tay phồng.
Học sinh mặc áo trắng và đen, tay cầm nón.
Phụ nữ Huế ra đường là mặc
áo dài, kể cả người buôn bán ngoài chợ, buôn bán hàng rong. Bà nội tôi thì buổi
sáng ngủ dậy là quàng áo dài vào, và mặc áo dài suốt ngày dù không đi đâu cho đến
tối mới cởi áo đi ngủ. Áo mặc hằng ngày khác với áo mặc những ngày lễ, Tết là
do chất liệu của hàng vải thôi. Ông hoàng bà chúa thì mặc áo gấm, áo thêu rồng
phượng. Mùa đông áo đoạn, mùa hè áo lụa, the mát mẻ, nhưng vẫn là chiếc áo dài,
hậu thân của chiếc áo ngũ thân. Có thể nói Huế là cái nôi của chiếc áo dài truyền
thống.
Ngoài cái tay phồng, áo
dài không thay đổi mấy. Thường áo có chít hai eo trước (pince) và hai eo sau
cho tôn dáng mảnh khảnh, eo nhỏ. Khi hơi mập thì thả hai chít eo vạt sau ra, mập
nữa thì thả luôn hai chít eo vạt trước. Có năm, thân áo dài xuống vài phân, có
năm ngắn lên vài phân nhưng dù thân áo dài mấy cũng không dài quá, che quần như
kiểu bây giờ, cứ tưởng không mặc quần! Tôi còn nhớ có áo vá quàng nữa, không biết
ở đây có ai nhớ không? Áo vá quàng thường là màu đen, hai tay và một miếng bên
vạt trái lại chắp vải màu trắng. Chỉ người bình dân mặc thôi. Có một khán giả
góp ý. Chị hiểu ý nghĩa của áo vá quàng, còn được gọi là áo vá vai. Chị giải
thích rằng người dân buôn bán, vai luôn trĩu nặng với chiếc đòn gánh nên vai áo
mau sườn và rách. Họ không thể bỏ cá chiếc áo mà chỉ thay phần vải nên ta có
chiếc áo vá quàng. Một sáng kiến tuyệt vời!
Thay cả phần trên như một
chiếc áo mới chứ không vá chỗ rách ở hai vai. Tình cờ tôi thấy hai câu ca dao
nói về áo vá quàng. Đọc ra đây cho quý anh chị cùng nghe cho vui:
Không thương dù có đeo
vàng
Bằng thương chiếc áo vá
quàng cũng thương!
Và đây là hai câu nói về
năm nút của áo ngũ thân:
Áo đen năm nút viền bâu
Bậu về xứ bậu biết đâu mà
tìm!
Nhiều thi sĩ, nhạc sĩ đã
có thơ, nhạc vinh danh chiếc áo dài như bài hát “Tà áo tím”, “Áo lụa
Hà Đông.” Hàn Mạc Tử cũng nhắc đến chiếc áo của người thương ở Thôn Vỹ: “Áo
em trắng quá nhìn không ra.” Huy Cận thì được nhớ đời với hai câu mở đầu bất
hủ của bài thơ Áo Trắng:
Áo trắng đơn sơ, mộng trắng
trong, Hôm xưa em đến, mắt như lòng…
Chiếc áo dài không chỉ là
trang phục mà còn là “nếp nhà,” chứa đựng gia phong và sự duyên dáng của phụ nữ
Việt. Điểm đặc biệt của áo dài là với dáng vẻ thướt tha, yểu điệu, người mặc
không thể chạy nhảy tùy tiện mà phải cẩn trọng khi đi, đứng, nằm, ngồi. Nhà thơ
tên AKA Thủy của thế hệ trẻ mà tôi tìm được trên mạng đã nói lên sứ mạng của
chiếc áo dài:
Áo cho em dáng thần tiên,
Áo cho em nét dịu hiền mỏng
manh.
Tôi cũng muốn nói thêm ưu
điểm của chiếc áo dài là khi hữu sự, ta vẫn có thể đi thật nhanh, chạy thục mạng
bằng cách nhét hai vạt áo vào lưng quần, xắn quần ngắn lên, không lúng túng như
áo xườn xám của Tàu, áo hanbok của Đại Hàn hay kimono của Nhật! Khoảng 1960 thì
Huế cũng chịu ảnh hưởng cái mode của Saigon may áo tay raglan, nối vải ở vai.
Hình như bây giờ cũng còn. May kiểu này áo đỡ nhăn. Và có áo cổ kiềng hay không
cổ, được biết như áo bà Nhu. Tôi cũng có mấy cái.
Ngày nay áo dài Việt Nam
không còn 5 nút nữa mà có thể có đến 8, 9 nút bóp, vài cái móc nữa nhưng hy vọng
không phải vậy mà người mặc quên mất ngũ thường! Nhiều kiểu áo còn không có nút
như áo dài hiện đại với fermeture đằng sau lưng. Và mode áo dài ngày nay thì
thiên hình vạn trạng. Nhiều nhà thiết kế cho ra nhiều mẫu áo thật đẹp nhưng
cũng có những mẫu áo nửa ta, nửa Tây, nửa Tàu, nửa Xiêm La, Nhật bản, không còn
dáng dấp chiếc áo dài duyên dáng của Huế nữa.
Cũng may, từ năm 2020, Huế
đang nổ lực khôi phục hình ảnh chiếc áo dài nhằm tôn vinh nét văn hóa truyền thống.
Các trường Trung học được khuyến khích nữ sinh mặc áo dài trắng vào ngày Thứ
Hai, Thứ Ba. Hy vọng chiếc áo dài không mất vẻ đơn giản mà vẫn duyên dáng như bộ
áo đồng phục của các cô chiêu đãi viên Air Vietnam, hình như cũng không cài bằng
5 nút nữa nhưng vẫn giữ dáng dấp yêu kiều rất nữ tính. Xin hết!.
Hoàng Thị Quỳnh Hoa
Theo
https://www.art2all.net/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét