Giọng điệu trẻ trung
nhưng
kinh lịch trong thơ Quang Hoài
Tôi quen anh Quang Hoài đủ lâu để trò chuyện tâm giao, nhưng đọc thơ anh thì chỉ hai mươi năm nay, khi tôi cùng nhà thơ Bùi Việt Mỹ làm cuốn Hà Nội thơ tình tuyển chọn. Tôi chọn bài thơ Nôn nao anh nhớ Nam Hồng vì nó thật sáng sủa. Tôi cho anh là người làm thơ lục bát thuộc tạng quen tay…
Rồi mười năm sau tôi gặp
anh thường xuyên hơn khi anh làm biên tập thơ cho tạp chí Tản Viên Sơn. Lúc này
tôi mới thật sự đọc thơ Quang Hoài nhiều vì hai lẽ. Một là anh đều đặn cho ra
các tập thơ chất lượng; hai là anh ham mê hoạt động thơ với tư cách nhà thơ.
Càng ngày, Quang Hoài
càng sáng tác và hoạt động với ý thức tác giả. Anh gần như không tính những
sáng tác thời kỳ trước 1975 của mình, mà chỉ chuyên chú vào các ấn phẩm có mốc
thời gian là thế kỷ hai mốt. Anh không nhận mình là nhà thơ chống Mỹ mà là nhà
thơ của hiện thời và hôm nay.
Trong tập Gió
sông Hồng vẫn thổi xuất bản năm 2006, anh cho thấy quan niệm
của anh về một thứ thơ dù có vẻ hơi hướng báo chí: Nhà thơ…/ Chỉ có nhà thơ/
Sung mãn đôi cánh mềm mại/ Tung hoành giữa có và không (Nhà thơ)
Tuy nhiên giữa có và
không, Quang Hoài nghiêng về cái không hơn: Mẹ đã cho con cánh cò giấc
mơ tuổi nhỏ, mà sao con chẳng thể bay cao bay xa giữa trời lộng gió, để lụi tàn
bếp lửa mẹ nhen? (Trước mộ mẹ)
Chẳng biết trái ngang đời
thực thế nào, mà hình tượng Mỵ Châu cứ ám ảnh nhà thơ, để mấy lần trong thơ đọng
nỗi niềm oan khuất: Dẫu lầm lỡ hay dại khờ/ Trắng trong sao hóa vết nhơ
để đời?/… Cúi xin hỏi đất cùng trời/ Oan này kêu đến bao đời cho khuây (Trước
am thờ Mỵ Châu)
Mấy câu này tuy không nói
rõ là ai, mà cái liên tưởng lại trầm buồn đến vậy:
Thương ai trót nông nổi/
Đợi chờ ai sám hối/ Mà mắt sóng đỏ hoe/ Rưng rưng bên cố đô? (Gió
sông Hồng vẫn thổi).
Xin nhắc lại, đây là những
câu thơ làm trước năm 2006.
Đã buồn như bao anh chàng
làm thơ.
Giá đừng dốc cái đắm say/
Dại khờ đổi lấy tháng ngày xót xa/ Giá đừng bèo bọt sẻ chia/ Cả tin kẻ thả bùa
mê lọc lừa/ Giá đừng tỉnh bán mê mua/ Vàng thau lẫn lộn thiếu thừa quẩn quanh/ (Gửi
em đi Côn Sơn)
Đến nỗi, trước mộ cụ Nguyễn
Tiên Điền, càng buồn, mà buồn cũng chỉ “một mình mình biết, một mình mình hay”:
Anh cúi đầu đứng lặng/ Buồn không được cùng em…//…Một nỗi đau tái tê/ Em ơi! Em
có biết? (Thơ tình viết trước mộ Nguyễn Du).
Trước những sự tình xảy
ra buồn nhiều hơn vui, mà chỉ “giống nhà thơ” mới rõ: Ơi Thái Bình! Mẹ
và em/ Ngày đêm lận đận lo toan…//…Tôi ở Đồng Châu đêm ấy/ Hồn theo trăng nhảy
lung linh. (Trăng nhảy ở Đồng Châu).
Chỉ Quang Hoài, khi trước
biển mới viết ra được cái hình ảnh trăng nhảy. Ban ngày là hoa sóng, ban đêm
trăng trên sóng như đang nhảy. Tôi không bàn về cái sự vận động này. Thơ, đôi
khi khó nói tách bạch được. Thì kệ nó đi. Miễn là nó đẹp.
Trong tập Chớp lửa
đường cong viết năm 2009, nhà thơ Quang Hoài lại có suy ngẫm liên tưởng
phi thực mà có lý: Người ngồi chuốc rượu dưới hoa/ Cùng Trăng với Bóng
kết ba bạn đời/ Trăng nào chạm được chén mời/ Bóng nào cạn được cùng Người… Người
ơi! (Với Lý Bạch)
Cùng mạch này, Quang Hoài
viết về nhà thơ tiền bối Lê Đạt: Người “tử tế” của chữ/ ông tin không
bao giờ không có/ và mê mải kiếm tìm/ suốt cuộc đời cách tân thơ Việt/ “phu chữ”
chan chan nước mắt/ “bóng chữ” nhập nhòa bóng đen… (Người “tử tế” của
chữ).
Cái tâm sự của người xưa
truyền sang người nay một tâm trạng dài như một tứ thơ xuyên thời gian.
Mặt trăng gần ta dịu êm/
Mặt trời xa ta chói lóa/ Ai bảo đó không là sự thật (Sự
thật).
Đúng quá còn gì cái anh
hoàng đế của Andersen.
Ai bảo ao tù không có
sóng/ Khi thấy gió về sóng chẳng nổi lên/ Gió càng to sóng càng lặn xuống/ Ở
đáy ao sóng ẩn trong bùn./ (Sóng ở ao tù).
Sáng tạo nhất là câu “ở
đáy ao sóng ẩn trong bùn”. Lặn xuống là ẩn mình, như cọp, như rồng,
Men tình còn một chút
này/ Ta làm cà cuống trút cay cho đời!/ (Cà cuống)
Mải mê tìm ngọt đầu môi/
Nên sa mộng mị… nửa đời long đong/ Biết đâu rực rỡ cầu vồng/ Chẳng bằng chớp lửa
đường cong đầu mày/ (Chớp lửa đường cong).
Đây là những câu thơ
tình, đậm cá thể (Cái cá thể của Đặng Huy Giang).
Khi đọc tập Giữa
hai bờ trăng khuất làm năm 2010, tôi cứ băn khoăn về cái bờ trăng nó
có hay không, vì trăng vốn hình tròn, vô thủy vô chung. Giữa trăng có phải là
tâm hình tròn không? Giữa hai bờ trăng khuất/ Nõn nà hai vầng trăng/ Giữa
hai bờ trăng khuất/ Thẳm sâu một mạch ngầm/ Anh về với miền em/ Về với miền
bình yên/ Giữa hai bờ trăng khuất… (Giữa hai bờ trăng khuất).
Tôi bèn đọc câu dưới thì
rõ là thi trung hữu họa. Tưởng như cái vùng lõm là một dòng sông, đó là nude.
Nhưng về với miền em là thực, thực ra đây cũng là triết lý nhân bản gốc rễ.
Ngay cả cái triết lý cộng sinh diễn giải quá hay: Chiều xuân bên gốc
lim già/ Tôi ngồi nhẹ vuốt rễ đa mọc nhờ/…/ Sum suê đa giấu lá cành/ Rễ tìm về
đất một nhành cắm sâu/ Chẳng làm tầm gửi lim đâu/ Rễ đa chiu chắt mỡ màu cho
lim/ Cộng sinh rễ khỏe gốc bền/ Rễ đa trường thọ sống bên lim già (Bên
gốc lim già).
Riêng cái suy lý ở bài này thì cần phải tán rộng, tỷ mà phú nhiều: Em và anh – hai cốc nước đầy/ Nước tràn bờ nhau trơ hai cốc rỗng/ Sau tột cùng giao hoan khát vọng/ Ta mất gì trong nguyên vẹn pha lê? (Pha lê)
Tôi đã được chính nhà thơ
Quang Hoài kể về chuyện tên bài thơ lấy làm tập Giọt trời trên lá sen (làm
năm 2012).
Mùa đến… mùa đi… mùa
không mùa/ Trong vô tận giọt giọt/ Anh tìm những giọt em/ Giọt trời trên lá
sen… (Giọt
trời trên lá sen).
Bài thơ này có cái tình
trong cái dục. Nhưng không tà ý. Đây là siêu tinh túy em. Thơ nói được. Còn
phàm thì khó.
Cũng như: Trăng hồ
Văn ngàn năm/ Bùn hồ Văn ngàn năm/ Ngàn năm hương sóng… (Hồ Văn đêm Nguyên
tiêu).
Hay như cách nói
khác: Trên đầu ta/ Hồn 54 dân tộc/ Phần phật trưa Lũng Cú/ Ta kính cẩn
cúi chào màu đỏ/ Ngẩng đầu lên/ Chất ngất cánh vàng bay!… (Trưa Lũng
Cú)
Hay như câu hỏi thật, thật
đến độ không cần suy diễn: Nhìn em và các bạn em/ Lòng tôi quặn thắt/ Rừng
sao xanh mà người Mông héo hắt?/ Bao giờ điện sáng vùng biên?/ Bao giờ những
chàng trai Mông như cây sến, cây lim?... (Ghi vội ở công trường thủy điện
sông Nhiệm Ba).
Ta còn gặp ở Quang Hoài –
con người công dân, ý thơ hùng bay:
Hỡi những mưu ma chước quỷ!/
Hỡi những khát vọng cuồng điên!…/ Chúng con có trong mình Điện Biên/ Mẹ ơi mẹ!
xin mẹ đừng lo lắng/ Chim Lạc bay trên mặt trống đồng/ Trống Điện Biên dậy sóng
biển Đông! (Trống Điện Biên dậy sóng biển Đông).
Hoặc:
Biển một ngày không thể vắng
các anh/ Chân đạp nước đầu đội trời lồng lộng/ Như cánh hải âu vỗ mềm chân
sóng/ Khát vọng hòa bình từ biển bay lên/ (Biển một ngày không thể
vắng các anh).
Câu “Khát vọng hòa bình từ
biển bay lên” rất mới.
Hoặc trên biên giới phía
Bắc:
Một tiếng gáy/ Sương tròn
mắt lá/ Trong veo nước suối nguồn/ Bên cỏ bên hoa/ Xanh rờn đỏ thắm/ Nhặt những
câu thơ/ Đúc phôi hồng… (Trong veo nước suối nguồn).
Đã đi cùng nhà thơ một đoạn
đường ước khoảng mười lăm năm trong chặng đường sáng tác của anh, tôi phân vân
không biết có dám như anh không? Bởi vì cái bảo thủ trong tôi đã yên định một
cách nhìn rồi. Nhưng Quang Hoài bảo đây là ánh nhìn. Có lẽ cái tươi trẻ trong
anh nó thường trực khát khao thay đổi, không, phủ định sạch trơn. Có phải vậy
không? Vỡ sáng?
Ta cứ ngỡ đã đêm là tối, đã ngày là sáng/ Đâu biết nắng ngày ủ mật đêm đen/ Bỗng một đêm lòng ta vỡ sáng/ Sáng loang ra xóa sạch ánh nhìn! (Vỡ sáng).
13/11/2020
Bùi Văn Kha
Theo
https://vanhocsaigon.com/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét