Phê bình phân tâm học
Theo Freud, nhà phân tích “quan sát có ý thức các quá trình tâm lý không bình thường ở những người khác để có thể từ đó đoán định và phát biểu các quy luật”. Sự tự phân tích bị xóa bỏ: có nhà khoa học và một người khác, đối tượng của tri thức. Nhà nghệ sẽ bị hạn chế bởi sự tự nhận biết: “qua bản thân mình, anh ta nhận biết những gì mà chúng ta phải nhận biết qua người khác”. Sự cạnh tranh ngầm này đem lại cho nhà thơ một vị trí không rõ ràng giữa người thầy thuốc và bệnh nhân.
Lời dẫn:
Phân tâm học sắp tròn
trăm tuổi, ngành phê bình Phân tâm học cũng vậy. Trong những phác thảo đầu tiên
của mình, Freud đã nhờ tới văn học. Bắt đầu từ năm 1987, ông không ngừng suy
nghĩ và gắn việc đọc Vua Œdipe của Sophocle và Hamlet của
Shakespeare với việc phân tích bệnh nhân và tự phân tích. Từ đó ông xây dựng
nên một trong những quan niệm cơ bản của ông, đó là “mặc cảm Œdipe”. Ngoài hai
tác phẩm trên, vào năm 1928, Freud còn tham khảo thêm tác phẩm Anh em
nhà Karamazov của Dostoïevski. Sau đây chúng ta còn có dịp thấy rằng lịch
sử Phân tâm học không thể tách rời khỏi việc nghiên cứu các huyền thoại, truyện
cổ tích và các tác phẩm văn học.
Vậy nên ta không thể phủ
nhận sự tồn tại của phê bình Phân tâm học, đồng thời không thể không thừa nhận
Phân tâm học và sự phát hiện ra vô thức. Và nếu như thừa nhận sự đóng góp của
Phân tâm học, ta cũng buộc phải tính đến ảnh hưởng của nó trong lĩnh vực phê
bình văn học nói riêng và trong nghệ thuật nói chung.
Qua ví dụ đọc các văn bản
văn học của Freud ở trên, chúng ta thấy rõ rằng khó có thể chấp nhận được sơ đồ
giản lược của “Phân tâm học ứng dụng”, bởi:
– Một mặt, Phân tâm học với
tư cách là một khoa học được xây dựng chỉ trong lĩnh vực riêng của nó – lĩnh vực
của bệnh lý tâm thần (rối loạn thần kinh chức năng, rối loạn tâm thần v.v…)
– Mặt khác, phê bình tất
yếu phải áp dụng những gì tích lũy được của khoa học này lĩnh vựa khác – lĩnh vực
của những sản phẩm văn hóa.
Trong thực tế, khi đọc những
tác phẩm đầu tiên của Freud, chúng ta thấy rằng việc thực hành phân tích chủ yếu
là một kiểu thực nghiệm đặc biệt của lời nói và ngôn từ. Từ trước Phân tâm học
rất lâu, văn học (viết hoặc truyền khẩu) đã là sự thực hành ngôn ngữ có khả
năng sáng tạo ra một không gian đặc biệt ở ngoài sự gò bó quen thuộc của quá
trình trao đổi thông tin. Bởi vậy, chúng tôi sẽ đề cập đến ngay trong phần đầu
hai hình thức mang tính chất liên chủ thể. Cả hai hình thức ấy đều được xây dựng
trên cơ sở của ngôn ngữ và tưởng tượng. Chúng tôi sẽ đặc biệt xem xét vấn đề tại
sao phương pháp Phân tâm học lại làm đảo lộn mọi quan điểm về
ngôn từ và sự tưởng tượng. Chính vì vậy, cần nghiên cứu ảnh hưởng của Phân tâm
học trong phê bình văn học, mà không phải rút ra từ lý thuyết một loạt “chìa
khóa” để giải thích (như sự loạn luân, sự hoạn, ái kỷ, mẹ dương vật, tình dục ở
vùng miệng hoặc hậu môn, giai đoạn dương vật v.v…).
Việc nghiên cứu các văn bản
văn học cho phép Phân tâm học rời bỏ lĩnh vực thuần y học để trở thành lý luận
đại cương về tâm lý và tiến hóa của nhân loại. Phân tâm học văn học đã làm thay
đổi diện mạo của phê bình. Tuy nhiên, còn tồn tại một vài vấn đề như: vai trò
thực sự của phê bình Phân tâm học trong lĩnh vực tư duy văn hóa là gì? Mục đích
của nó là những gì? Kết quả sẽ như thế nào? Phê bình Phân tâm học sẽ làm thay đổi
những gì trong việc đọc các văn bản, cũng như trong cách nhìn nhận quá trình
sáng tác? Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi sẽ giới thiệu phê bình Phân tâm học
như một lĩnh vực chuyên môn phức tạp, nhưng được sắp xếp một cách tương đối có
trật tự.
I- NHỮNG CƠ SỞ CỦA PHƯƠNG
PHÁP
1. “Quy
tắc cơ bản”: Giữa đi văng và ghế bành
Từ năm 1982, Freud bỏ
cách chữa bệnh bằng thôi miên và bằng cách hỏi liên tục, mà để cho bệnh nhân
nói tự do. Đó là phương pháp chữa bệnh bằng lời nói, dựa trên mong muốn của bệnh
nhân “kể những gì có thể kể”, không có sự can thiệp của thầy thuốc. Những thí
nghiệm này được miêu tả trong cuốn Nghiên cứu về bệnh loạn thần kinh,
qua đó, ông đã phát hiện ra hiệu quả y học của những lời nói bên ngoài có vẻ lộn
xộn đó. Freud đã hệ thống lại những thí nghiệm đó và công bố quy luật
cơ bản; quy luật này tạo ra hiện trạng phân tích giữa đi văng và ghế bành.
Từ phía người bệnh thì đó
là quy tắc liên tưởng tự do. Trong tác phẩm Giấc mơ và
sự lý giải giấc mơ, Freud nói về những “liên tưởng không cố ý”. Theo ông, ở
người bệnh, tất cả những đánh giá về mặt đạo đức hay lý trí đều không chặt chẽ,
rõ ràng, và chính điều đó tạo điều kiện cho sự phát triển (theo mạch của lời
nói) của những hình ảnh, những tình cảm, những kỷ niệm bất ngờ làm đảo lộn những
gì anh ta tin là đã biết về bản thân anh ta, về những người xung quanh và về mối
quan hệ đối với họ.
Đối với người phân tích –
bác sĩ – thì đó là quy tắc của sự chú ý không có chủ ý. Nghĩa là
bác sĩ không được chú ý đặc biệt vào bất kì yếu tố nào trong lời nói của người
bệnh, và phải nghe mà “không thay thế sự kiểm duyệt của mình bằng cái mà người
bệnh đã từ bỏ” (Về kỹ thuật Phân tâm học), đồng thời đặt ra các giả thuyết.
Cuối cùng, bác sĩ phải hết sức chú ý tới thời điểm và hình thức của những lý giải
của mình.
Phân tâm học là một sự
thử nghiệm thông qua ngôn từ và chỉ qua ngôn từ mà thôi. Theo Lacan
thì Phân tâm học “chỉ có một người trung gian duy nhất là lời nói của người bệnh”.
Nhưng những lời nói này thường được sinh ra từ một giấc mơ, một câu nói ám thị;
chúng gợi ra vô số những hình ảnh (“biểu tượng”), cảm giác, cảm xúc, kỷ niệm,
suy nghĩ v.v… sẽ được phân tích.
Hiện trạng phân tích – chủ
yếu là hiện trạng liên chủ thể, ngay cả khi người bệnh không nghe hoặc không
trông thấy người phân tích. Trong Tác phẩm, Lacan nhận xét rằng
“không có lời nói mà không có câu trả lời, ngay cả khi đó chỉ là sự im lặng; miễn
là có người nghe… Đó là cốt lõi của chức năng lời nói phân tích”. Người nghe
phân tích đồng thời cũng là một người khác. Trước hết, anh tà người ngồi
trước người nói, nhân chứng của cái đang được nói, người bảo đảm cho chính
khả năng tự nhận biết như chủ thể của lời nói lạ lùng thoát khỏi sự cai quản của
chủ thể có ý thức. Đồng thời, anh ta là một người khác mà người ta hướng
tới: đúng hơn là phải nói những người khác, nam hay nữ, xa hay gần, hiện thực
hay tưởng tượng, kể cả những người khác là bản thân chúng ta, tất cả những người
khác – những người ám ảnh chúng ta mà chỉ sự có mặt của người khác cho
phép thực tại hóa. Như vậy, chỉ có một điểm ngoại xuất có thể đảm nhận được cái
được gọi rất xác đáng là sự chuyển dời. Việc phân tích sẽ kết thúc khi tất cả
các bóng ma ấy tìm được chỗ của mình trong câu chuyện của chúng ta và cuối cùng
chúng ta có thể nói với người phân tích như nói với một con người cụ thể, ở số
ít.
Mối quan hệ hoàn toàn mới
này chỉ có thể được thấu hiểu nếu ta đặt giả định về một lĩnh vực tâm lý đặc biệt,
đồng thời vừa ở giữa, vừa ở ngoài lề của các quan hệ ý thức: đó là vô thức. Mối
quan hệ này có tính thử nghiệm trong việc nó tạo điều kiện cho sự xuất hiện quá
trình vô thức trong lời nói hoặc ngôn từ.
2. Vô
thức
Việc thực hành phân tích
đã làm thay đổi một cách cơ bản khái niệm về vô thức. Nó không chỉ đơn giản là
mặt trái của ý thức vốn thâu tóm toàn bộ cuộc sống tâm lý. Ta có thể nói rằng
vô thức là quan niệm có tính chất nền móng của Phân tâm học và là sự đóng góp
quan trọng nhất của Phân tâm học vào tư duy hiện đại.
Trong sơ đồ tâm lý đầu
tiên gồm ba hệ thống – Vô thức/Tiền ý thức/Ý thức – Freud nghiên cứu lôgíc
khác là kết quả của những quá trình vô thức. Ông nghiên cứu tính năng
động của vô thức gắn với ham muốn và ẩn ức. Ông
“giải mã” vai trò của vô thức trong các quá trình tâm lý.
*Lôgíc khác:
Freud gọi giấc mơ là “con
đường dẫn tới vô thức”. Khi so sánh “nội dung hiển nhiên” của giấc mơ (đó là
cái mà chúng ta kể sau khi mơ) và “nội dung tiềm ẩn” được phát hiện nhờ phân
tích những liên tưởng, Freud nhấn mạnh đến “quá trình tâm lý” làm nảy sinh giấc
mơ. Đó không phải là nguyên tắc không mâu thuẫn của lôgíc ý thức, cũng không phải
là sự vô nghĩa, mà đó là sự biến đổi ý nghĩa không ngừng, theo các cơ chế đặc
biệt. Freud đã miêu tả các cơ chế này trong cuốn Giấc mơ và sự giải
thích giấc mơ như sau:
– Sự quy tụ:
một yếu tố duy nhất thể hiện nhiều chuỗi liên tưởng gắn với nội dung tiềm ẩn.
Đó có thể là một người, một hình ảnh, một từ nào đó. Ví dụ, trong mơ, ta thấy một
người quen, nhưng khi phân tích thì đó lại là hình ảnh của nhiều người khác có
liên quan đến chuyện của người mơ ngủ và cả bản thân người đó nữa. Hoặc, ta
nhìn thấy trong mơ một người có hình dạng khác thường: đó là vì người đó được tạo
nên bởi các nét của nhiều người có thực khác. Vì vậy, mỗi lần ta lại phải dựa
vào các liên tưởng để phát hiện ra điểm chung còn ẩn giấu là nguồn gốc nảy sinh
ra sự quy tụ này.
–Sự chuyển dời: Một
hình ảnh bề ngoài có vẻ như vô nghĩa nhưng lại rất rõ, rất thực và gợi nên những
cảm xúc thật đến lạ lùng. Trên thực tế, những tính chất ấy được chuyển sang từ
một hình ảnh khác gắn với hình ảnh trong mơ bằng một chuỗi liên tưởng. Cảm xúc,
bị tách rời ra khỏi hình ảnh ban đầu đã gợi nên cảm xúc ấy, chuyển sang một
hình ảnh khác hoàn toàn, vì vậy mà ta không thể hiểu được nguyên nhân của cảm
xúc ấy…
Ở mức độ các quá trình đầu
tiên (vô thức), các cảm xúc và các hình ảnh chưa được gắn bó chặt chẽ; cảm xúc
“luôn có lý”, nhưng nó dời từ hình ảnh này sang hình ảnh khác. Như vậy, sự chuyển
dời luôn tồn tại trong các quá trình hình thành giấc mơ khác, đặc biệt là trong
sự quy tụ. Freud có kể về một giấc mơ mà trong đó ông mơ thấy một từ khó hiểu
NOREKDAL. Ông phải rất khó khăn mới tìm ra nguồn gốc của từ lạ lùng ấy: đó là dạng
ghép của hai tên Noravà Ekdal mà ông đã gặp trong hai ở kịch nổi tiếng của
Ibsen…
– Khả năng tạo
hình ảnh: các suy nghĩ vô thức được biến đổi thành các hình ảnh, bởi giấc
mơ là một sản phẩm nhận thức được bằng thị giác được chuyển đến người đang mơ
dưới dạng một cảnh có thực. Các suy nghĩ đã là trừu tượng nhất cũng phải chuyển
thành các hình ảnh; vì vậy, khi phân tích “các phương thức của sự thể hiện bằng
hình ảnh trong giấc mơ”, Freud thường dựa vào các kỹ thuật hội họa. Như vậy là
các liên hệ logic bị loại bỏ, hoặc bị thay thế bằng chuỗi các hình ảnh nối tiếp,
hình ảnh này lại được biến đổi thành một hình ảnh khác, hoặc độ chói của ánh
sáng, sự phóng to một hình ảnh, sự sắp xếp các lớp cảnh v.v…Các câu hoặc từ được
“coi như các vật”, nghĩa là như các yếu tố mang nghĩa trong cú pháp đặc biệt của
giấc mơ, mà không được dùng với nghĩa giống như nghĩa trong ngôn ngữ.
Quy luật này có vẻ như
không liên quan gì tới ngôn ngữ văn học. Tuy nhiên, nó giúp chúng hiểu được các
kỹ thuật sân khấu, những đặc biệt của ngữ pháp một đoạn văn kể chuyện, tầm quan
trọng của một cảnh lãng mạn, hoặc nguồn gốc của một ẩn dụ v.v. Đặc biệt là quy
luật này đã làm cho cách viết trở thành một công việc của tưởng tượng bằng ngôn
ngữ và của ngôn ngữ bằng tưởng tượng, mà không phải là công việc thuần túy ngôn
ngữ (hình thức), với điều kiện là nhà văn không được nhầm hình ảnh với sao chép
thực tế một cách đơn giản.
– Sắp xếp lần hai:
đó là thao tác cuối cùng trong quá trình hình thành giấc mơ. Thao tác này có được
là nhờ ở sự can thiệp của tiền ý thức, có tác dụng làm cho giấc mơ sinh động
hơn, có vẻ có thực hơn. Thông thường, các “kịch bản” của giấc mơ là các “kịch bản”
có sẵn, lấy từ sách báo đã đọc, từ những mơ mộng trong trạng thái nửa tỉnh nửa
mê (nghĩa là có sự kiểm soát), từ những mẫu hình tưởng tượng chung của cộng đồng.
Freud đưa ra làm ví dụ một số “kịch bản” như đám cưới, bữa ăn ngày lễ, vua và
hoàng hậu v.v…
Freud cho rằng quan hệ giữa
những “kịch bản” có sẵn và sự hình thành cụ thể của một giấc mơ không phải là
quan hệ đối kháng. Đôi khi, đó là tấm màn che kín quá trình vô thức cần được giải
mã; đôi khi, đó lại là sự biểu tượng hóa của những suy nghĩ vô thức mà ta có thể
đọc được ở chúng. Như vậy là có hai cách khác nhau để xem xét một tác phẩm văn
học:
– Một mặt, sự thật trần
trụi của vô thức bị che giấu bởi một tấm màn của mỹ học hoặc lý trí.
– Mặt khác, văn bản
viết, cũng giống như “nội dung hiển nhiên” của giấc mơ, có quan hệ biểu tượng
hóa chặt chẽ với “nội dung tiềm ẩn” thuộc về vô thức. Hai khái niệm về lao động
sáng tạo này luôn cạnh tranh với nhau.
Vô thức/Tiền ý thức/Ý thức
là một chuỗi logic hơn là một chuỗi theo trình tự thời gian. Chuỗi này không thể
thiếu để hiểu một cách khoa học. Tất cả các cơ chế đều hoạt động đồng thời: vô
thức không phải là một mớ bòng bong, mà là một hoạt động của tâm lý con người,
hoạt động này luôn có mặt, nhưng có tính chất mâu thuẫn, trong cuộc sống thường
nhật, tưởng tượng hoặc sáng tạo.
Nói tóm lại, “giấc mơ chỉ
là một dạng khác của ham muốn tồn tại trong vô thức”. Tại sao lại như vậy?
*Ham muốn và ẩn ức
Freud đề ra lý thuyết động
về vô thức, theo ông, giấc mơ là “thỏa mãn tâm lý của một ham muốn bị ức chế”.
Nhưng đó là “sự thỏa mãn ngụy trang”, bởi ham muốn vô thức khi tìm
cách thỏa mãn luôn vấp phải sự kiểm duyệt của ý thức, và đôi
khi của cả tiền ý thức. Như vậy, tất cả các quá trình tâm lý đều
là sự dẫn đến thỏa hiệp giữa sức mạnh của ham muốn và quyền ức
chế của ý thức. Ở đây, khái niệm về “xung đột tâm lý” là vô cùng quan trọng:
đó là xung đột giữa ham muốn và sự cấm đoán, ham muốn vô thức và ham muốn ý thức,
giữa các ham muốn vô thức với nhau (ham muốn tình dục và ham muốn xâm kích chẳng
hạn). Sự xung đột này còn tiếp tục diễn ra trong quá trình liên tưởng….
Dưới tác động của các
xung năng tình dục hoặc xâm kích, các kỷ niệm gần hoặc xa, các hình ảnh và biểu
tượng bắt nguồn từ văn hóa, dồn dập lại ở cấp độ tiền ý thức. Quá trình ngược lại
diễn ra khi một biến cố trong đời sống hàng ngày, một câu nói tình cờ nghe được
v.v.. có thể làm thức tỉnh những xung năng vô thức dưới dạng các hình thức tâm
lý khác nhau. Như vậy là không có các quá trình vô thức trực tiếp, lại càng
không thể “giải mã” vô thức một cách trực tiếp, cũng không có một hệ thống “dịch”
tự động nào cả; đó là điều mà nhiều nhà phê bình hay quên, không lưu tâm tới.
Theo Freud, các quá trình
và các xung đột ấy được thể hiện đồng thời trong tác phẩm dưới nhiều hình thức
tâm lý khác nhau: giấc mơ, nói nhịu, hành động hụt, triệu chứng, sáng tạo nghệ
thuật v.v.., ngay cả khi các hình thức này hoàn toàn không giống nhau. Chúng chỉ
có một cấu trúc chung: đó là ảo ảnh…
3. Lý
giải:
Theo Laplanche và
Pontalis trong cuốn Từ vựng Phân tâm học, “ta có thể làm rõ đặc
tính của Phân tâm học bằng sự lý giải, nghĩa là sự phát hiện ra ý nghĩa tiềm ẩn
của vật chất”. “Sự lý giải phát giác ra các dạng thức của xung đột tự vệ, và cuối
cùng, hướng tới ham muốn hiện diện ở mọi quá trình của vô thức”.
Ở đây, chúng tôi sẽ chỉ
điểm qua một số nguyên tắc quan trọng trong quá trình lý giải:
– Đối với người phân
tích, tất cả các lời nói đều bí ẩn, bởi trong lời nói tồn tại các
quá trình và ý nghĩa vô thức và ý thức.
– Phân tâm học cũng giống
như công việc của một thám tử. Nghĩa là phải thu thập các dấu hiệu
chưa biết tới, không được phát hiện hoặc bị bỏ qua; chia chọn chúng và thiết lập
mối quan hệ giữa chúng với các dấu hiệu rõ ràng hơn; tổ chức chúng lại để tìm
ra lời giải đáp vừa có sức thuyết phục vừa hiệu quả.
Trong cả hai trường hợp,
tất cả đều có thể mang ý nghĩa: một cử chỉ, một từ ngữ, giọng nói, các sự trùng
hợp và sự không ăn khớp giữa các giả thuyết khác nhau về một sự kiện, một sự bỏ
sót, một sự lạc đề, một sự chối nhưng thật ra là một sự thú nhận v.v… Trong cả
hai trường hợp ta đều phải tìm lại những gì đã xảy ra để phát hiện ra sự thật.
– Lời giải đáp không những
làm mất hẳn ham muốn hiểu biết của chúng ta, mà còn làm tăng
nó lên: chúng ta lý giải dựa vào một số yếu tố còn chưa được giải thích cặn kẽ
và những yếu tố này cho phép chúng ta sửa đổi lại lời lý giải của người khác.
Trước khi xuất hiện trong phê bình văn học, hiện tượng này đã có trong các văn
bản Phân tâm học, nơi một trường hợp có thể được lý giải bằng hàng chục cách
khác nhau. Hơn nữa, chính chúng ta cũng không ngừng thay đổi các cách lý giải của
bản thân chúng ta. Bởi vì, không một lời giải thích nào có thể thâu tóm được hết
mọi ý nghĩa của một câu nói, một điều tưởng tượng cụ thể.
– Carlo Ginzburg xếp Phân
tâm học vào cùng với hệ thống “ký hiệu học” của tri thức như là một hệ thống
xây dựng trên sự lý giải các “ký hiệu”, các “dấu hiệu”, hoặc các “dấu
tích”, với y học lâm sàng, lịch sử, điều tra hình sự, và …chú thích văn bản…
Chúng tôi chọn và giới
thiệu dưới đây các giả thuyết và quan niệm thực hành mà nhờ có chúng Phân tâm học
trở thành một kỹ thuật và lý thuyết mới của sự lý giải.
4. Cách
đọc Phân tâm học
*Phê bình văn học Phân
tâm học là một kiểu phê bình giải thích
Phân tâm học, hay phân
tích tâm lý, là phân tích văn bản. Xuất hiện hàng loạt từ mới để chỉ đặc thù của
phương pháp này: “phê bình tâm lý”, “phân tích ngữ nghĩa”, “phân tích văn bản”,
“cách đọc ngôn ngữ” v.v…
Hình ảnh trong chiếc thảm: cũng
như người thợ thủ công, nhà văn “dệt” văn bản bằng những hình ảnh nhìn thấy được
và theo ý muốn của anh ta. Đồng thời, tấm dệt ấy cũng vẽ nên một hình ảnh vô
hình mà anh ta không cố ý tạo nên, một hình ảnh ẩn trong các sợi đan, và đó là
bí mật của tác phẩm (đối với cả tác giả và độc giả). Đó là cái bẫy đối với sự
lý giải, bởi hình ảnh này có ở khắp mọi nơi, đồng thời chẳng ở nơi nào cả. Trên
thực tế, có vô số hình ảnh có thể, và văn bản nhìn bề ngoài là kết thúc, trọn vẹn,
lại chính là nơi gặp của vô vàn ẩn dụ. Chúng ta có thể liên tưởng đến các bức
tranh quang học – những cái bẫy thực sự cho thị giác.
*Phê bình Phân tâm học
là sự thực hành đặc thù của sự lý giải
Về điểm này, phê bình
Phân tâm học có đặc tính riêng và phải chấp nhận những hạn chế so với các hình
thức phê bình khác; ngoài ra, trong mỗi trường hợp cụ thể, nó cần chỉ rõ sự lựa
chọn, mục đích và phương pháp của nó.
*Phê bình phân tích là một
loại thực hành có tính biến đổi
Sự “thay đổi” này liên
quan đến “cấu trúc không phải của tác giả, không phải của tác phẩm, mà là cấu
trúc của tác phẩm đã được chọn lọc”. Như vậy là “nhà phê bình bị kẹt
giữa chủ thể của tác phẩm được giải thích và người sẽ tiếp nhận sự giải thích ấy”,
có nghĩa là giữa nhà văn và độc giả. Ta thấy rõ đây là một tình thế hoàn toàn
khác với hiện trạng được thiết lập giữa đi văng và ghế bành.
Chúng ta đã ghi nhận sự
khác biệt giữa điều trị bệnh và đọc tác phẩm thể hiện qua các cặp đối lập: lời
nói của cá nhân/tác phẩm được công bố; lời nói lộn xộn/tác phẩm được cân nhắc;
sự gần có thể cảm thấy được/độ xa cách, thậm chí xa cách trong lịch sử; sự có mặt/sự
vắng mặt của các liên tưởng tự do giúp cho việc xây dựng và kiểm tra các lời lý
giải. Cần nói thêm là yêu cầu của tác giả đối với người đọc tưởng tượng hay có
thực không phải là yêu cầu của người đang được phân tích đối với nhà phân tích
tâm lý, và sự chờ đợi của người đọc cũng không phải như sự chờ đợi của nhà phân
tích tâm lý…
Càng chú ý đến đặc thù của
văn bản văn học, đến đặc thù của quá trình hình thành của nó, đến đặc trưng của
các quan hệ liên chủ thể có quanh nó, ta lại càng tự hỏi làm sao có thể áp dụng
vào việc đọc tác phẩm một phương pháp gắn liền với hiện trạng đơn thuần phân
tích.
II- PHÂN TÂM HỌC VÀ VĂN HỌC
1. Freud
và sự phát hiện ra mặc cảm Œdipe.
Ngày nay, có ai là không
biết đến nội dung cơ bản của mặc cảm Œdipe: ham muốn loạn luân với mẹ và ham muốn
giết cha. Tác phẩm Œdipe làm vua của Sophocle miêu tả rõ ràng
sự thỏa mãn các ham muốn đó và sự trừng phạt, cũng là sự giải thoát. Thông qua
vở bi kịch đó, Freud xây dựng một quan điểm làm đảo lộn mọi tư duy vốn có về thời
thơ ấu, sự hình thành cá tính và ham muốn của con người. Như vậy là tác phẩm viết
về một xã hội cổ xưa ấy đã tìm thấy sức mạnh và vị trí không ngờ, vô cùng đặc
biệt trong nền văn hóa phương Tây hiện đại. Cũng từ đó, vở bi kịch đó được đọc
đi đọc lại và phân tích theo mọi khía cạnh.
Freud đặt bốn yếu tố khác
nhau vào trong cùng một mối quan hệ: liên tưởng của các bệnh nhân, liên tưởng của
chính ông, Œdipe làm vua và Hamlet. Thông qua những
dạng thức khác nhau, ông đã phát hiện ra sự lặp lại của cùng một
motif – motif về những ham muốn tình yêu và thù hận đối với cha mẹ.
Trong lời nói đầu cho cuốn Hamlet và
Œdipe của Jones, Jean Starobinski tóm tắt quá trình phát triển tư duy
của Freud như sau:
– Tôi giống như Œdipe
– Hamlet cũng chính là
Œdipe, nhưng bị ức chế
– Hamlet là một kẻ loạn
thần kinh chức năng, một kẻ cuồng loạn mà tôi phải quan tâm đến hàng ngày
* Freud đọcŒdipe làm
vua.
Freud không đọc bi kịch
này một cách có hệ thống. Lời nói đầu của Starobinski là bài nghiên cứu đầy đủ
đầu tiên về những gì Freud viết về Œdipe vàHamlet. Sau
đây là một số điểm chính trong tư duy lý luận của ông:
– Với Œdipe,
Freud phát hiện ra “sự biểu hiện khách quan có tính tập thể”, của ham muốn cá
nhân mà ông chia sẻ cùng với các bệnh nhân. “Hệ biến hóa huyền thoại xuất hiện
toàn bộ như hệ quả của một giả thuyết mới, như sự đảm bảo cho tính toàn năng của
giả thuyết đó”. Tuy nhiên, cần nhớ rằng Œdipe tiếp nhận giá trị toàn năng bất
biến này là bởi được chuyển đến ngữ cảnh văn hóa hiện đại: những giấc mơ, triệu
chứng, lời nói được phân tích, các tác phẩm nghệ thuật v.v.. tạo nên một mạng
lưới mới đảm bảo tính toàn năng của nó.
– Nhân vật bi kịch trở
thành biểu tượng cho ham muốn tuổi ấu thơ mà chúng ta đã quên đi. Trong Œdipe,
đứa trẻ là nhân vật chính: chính ở đây Freud đã làm thay đổi ý nghĩa của vở kịch…
– Nhân vật bi kịch đồng
thời vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của sự tìm kiếm, đó là “người tìm kiếm bị
kiếm tìm”. Hành động kịch tạo ra quá trình phát triển song song của sự không biết
và sự nhận ra, dẫn đến một sự thật không ngờ: kẻ tội lỗi mà ta theo dõi lại
chính là ta. Freud tự đồng nhất hóa với Œdipe và đồng nhất Phân tâm học với cuộc
tìm kiếm gian khổ sự thật bị giày vò bởi mù quáng, khi ta chạm trán với kẻ lạ
trong chính bản thân mình.
Freud cũng tự đồng hóa với
Sophocle, bởi ông cũng là người chỉ huy cuộc phiêu lưu của con người luôn tự vấn
về sự tồn tại của bản thân, về cội rễ và lịch sử của mình, chỉ khác là ông hành
động trong lý thuyết, còn Sophocle – trong tác phẩm.
*Freud đọc Hamlet
Trong Giải thích
giấc mơ, Freud đã viết: “Một tác phẩm bi kịch thiên tài khác, Hamlet của
Shakespeare, cũng có chung cội rễ như vở Œdipe làm vua (…).
Trong Œdipe, các ảo ảnh – ham muốn tiềm ẩn của đứa trẻ được bộc lộ
và được thực hiện như trong một giấc mơ. Còn trong Hamlet, chúng bị
ức chế và chúng ta chỉ biết đến sự tồn tại của chúng thông qua chứng loạn thần
kinh (…) Vở kịch được xây dựng trên cơ sở những do dự của Hamlet khi phải hoàn
tất việc trả thù mà chàng là người chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, vở kịch không
nói rõ duyên cớ và lý do của những do dự ấy (…) vậy thì cái gì đã ngăn cản việc
thực hiện điều mà bóng ma người cha đã giao cho chàng? Cần phải thừa nhận rằng
đó chính là do bản thân nhiệm vụ đó. Hamlet có thể hành động, nhưng chàng không
thể trả thù kẻ đã ám sát cha chàng và chiếm vị trí của ông bên cạnh mẹ chàng,
người đã thực hiện những mong muốn bị nén ẩn từ thời ấu thơ của chàng. Sự ghê tởm
vốn đẩy chàng đến trả thù lại được thay thế bằng sự ăn năn và sự đắn đo cân nhắc
của ý thức. Chàng có cảm giác rằng nếu suy cho kỹ thì chàng cũng chẳng hơn gì kẻ
phạm tội mà chàng định trừng phạt. Đó là tội thể hiện bằng ngôn ngữ của một kẻ
có ý thức điều còn nằm trong tâm hồn nhân vật dưới dạng vô thức. Nếu như về sau
có người còn nói rằng Hamlét bị loạn thần kinh thì đó chỉ là một trong nhiều hậu
quả của cách giải thích của tôi. Sự ghê tởm cuộc sống tình dục được bộc lộ qua
các lần nói chuyện với Ophélia cũng phù hợp với triệu chứng này”.
Sau đó, Freud tìm hiểu
nguồn gốc nhân vật Hamlet trong cá tính của Shakespeare.
Văn bản này dường như có
đầy đủ mọi điểm yếu của “Phân tâm học ứng dụng”: nghiên cứu tâm lý nhân vật,
phán đoán lâm sàng, giải thích mà không đọc kỹ tác phẩm, đồng nhất tác giả với
nhân vật. Tuy nhiên, ngay cả các nhà nghiên cứu nghiêm khắc nhất cũng không phủ
nhận sự đúng đắn của phân tích trên.
Đó là bởi vì Hamlet gắn
bó quá chặt chẽ với sự tự phân tích của Freud, dẫn tới việc ông không thể miêu
tả cho chúng ta rõ quá trình liên tưởng đã sinh ra cách lý giải này. Bởi Hamlet
không chỉ là bệnh nhân tâm thần của Freud, mà về một mặt nào đó, Hamlet còn
chính là Freud bị giày vò bởi “chứng bệnh thần kinh” của mình. Theo Freud,
Shakespeare đã viết Hamlet sau khi cha ông mất. Mà Freud lại
cũng phân tích Hamlet và tự phân tích bản thân mình qua nhân vật này sau khi
cha ông mất hơn một năm.
Sự can thiệp của cá nhân
vào quá trình lý giải của Freud đã mở ra một trong những lĩnh vực phong phú nhất
của việc đọc văn học có áp dụng lý thuyết Phân tâm học: tác phẩm văn học không
phải là triệu chứng, cũng không phải là lời nói đang được phân tích; nó mang đến
cho chúng ta một hình thức tượng trưng cho một khía cạnh của
tâm lý vô thức vốn bị lãng quên.
Cuối cùng, vở bi kịch xây
dựng trên cơ sở của sự “quay về với ức chế” (Œdipe) đã giúp chúng ta hiểu
một vở bi kịch khác là dựa trên sự ức chế (Hamlet). Nếu như Œdipe là vô
thức có một vô thức mà Œdipe là biểu tượng. Ngược lại, Hamlet
là bằng chứng của hiện thực Œdipe với tư cách là một nguyên tắc giải thích toàn
năng trước khi trở thành “nguyên mẫu” của sự ức chế thần kinh bệnh lý. Điều này
đã làm xuất hiện phương pháp nghiên cứu văn bản qua phân tích một văn bản khác.
Như vậy, Œdipe và Hamlet là
những “hình ảnh trung gian” giữa quá khứ của Freud và bệnh nhân của Freud
(Starobinski). Đồng thời, chúng cũng là những “hình ảnh trung gian” giữa Freud
và Freud. Và nếu như chúng là những “đảm bảo cho một ngôn ngữ chung” dần dần
đưa vào nền văn hóa của chúng ta một chân lý mới cũng chung cho mọi người, thì
chúng sẽ trở thành những “hình ảnh trung gian” giữa Freud và chúng ta, và giữa
chúng ta với nhau.
Chức năng trung gian này
của văn bản văn học là rất quan trọng; văn bản chỉ có thể thực hiện được điều
đó nếu nó là một thực thể sống động, nghĩa là nó được đọc, bởi quá trình đọc ấy
là cuộc đối thoại không bị khoảng cách văn hóa và lịch sử làm gián đoạn. Kiểu đọc
như vậy bao giờ cũng là “sự phản bội có sáng tạo” (Escarpit, Xã hội học
văn học).
III- TÁC PHẨM VĂN HỌC VỚI
TƯ CÁCH LÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Quy chế của tác phẩm/Quy
chế của nhà văn
Cả hai cơ chế này đều chịu
những biến hóa đáng ngạc nhiên. Có thể thấy rõ điều đó qua một trang trong tác
phẩm Những hoang tưởng và những giấc mơ trong Gravida của Jensen của
Freud, trong đó ông khẳng định tính ưu việt của các nhà thơ (các nhà sáng tạo):
“Họ là những bậc thầy của
chúng ta trong lĩnh vực nhận biết tâm hồn (…), bởi họ được uống ở những nguồn
nước mà chúng ta còn chưa đưa khoa học tới tiếp cận được”.
Đến trang cuối của tác phẩm
này, mối quan hệ trên đã bị đảo ngược: chắc chắn là phân tích tiểu thuyết không
mang gì đến thêm cho tri thức về giấc mơ của chúng ta; trái lại, nó sẽ mang lại
“có lẽ là một nhận xét nhỏ về bản chất của quá trình hình thành thơ ca”. Vậy
làm sao có thể dung hòa được hai ý kiến trái ngược trên với quan điểm mà chúng
tôi đã trình bày trong chương II (sự bình đẳng các cách thực hành của văn
học và của phân tích tâm lý, nhân danh “sự tương hợp về kết quả” trong sự khác
nhau của phương pháp tiến hành)?
Trong thực tế, Freud chuyển
từ sự nhún mình đến sự tự chế ngự được, thiết lập các bậc thang phân cấp giữa
hai loại tri thức: các nhà văn “bị hạn chế thể hiện”, trong khi đó các nhà phân
tích tâm lý “phát hiện”. Có người biết, nhưng lại không hay điều mình biết;
nhưng cũng có người sử dụng được tri thức của mình. Trong cuốn sách về
Marguerite Duras, Lacan đã tóm tắt mối liên quan có thứ bậc này như sau:
“Marguerite Duras biết những gì tôi truyền thụ mà không cần đến tôi”. Ông thán
phục “sự tương đồng của các kết quả”, nhưng ông cảm thấy không thể hiểu được tại
sao Duras – nhà văn và phụ nữ – lại có thể biết điều mà lý luận phân tích tâm
lý còn chưa biết tới. Vậy thì ai sẽ là người nắm quyền quyết định về sự tương đồng
này, nếu không phải là nhà phân tích tâm lý, người chủ của chân lý của lòng ham
muốn và vô thức?
Theo Freud, nhà phân tích
“quan sát có ý thức các quá trình tâm lý không bình thường ở những người khác để
có thể từ đó đoán định và phát biểu các quy luật”. Sự tự phân tích bị xóa bỏ:
có nhà khoa học và một người khác, đối tượng của tri thức. Nhà nghệ sẽ bị hạn
chế bởi sự tự nhận biết: “qua bản thân mình, anh ta nhận biết những gì mà chúng
ta phải nhận biết qua người khác”. Sự cạnh tranh ngầm này đem lại cho nhà thơ một
vị trí không rõ ràng giữa người thầy thuốc và bệnh nhân.
Trong trường hợp này, “hiện
tượng văn học bằng con đường tương tự” (qua lời nói của người bệnh và của người
phân tích) “rơi vào tình trạng nực cười giữa bệnh lý và y học” (Mehlman, Giữa
Phân tâm học và phê bình tâm lý). Hiện tượng văn học thậm chí còn có thể bị
mất đi giữa hai lĩnh vực đó: khi đó, mỹ học không còn là công việc của tượng
trưng, mà là bức màn che đậy sự thật, vì vậy sự thật được phó mặc cho các nhà mỹ
học. Trong cuốn Gravida, Freud đề cập tới “nghiên cứu tâm thần” và
biểu hiện của xung đột tâm lý không được biết tới của tác giả. Như vậy, trong mọi
trường hợp, văn học trở thành kho chứa tư liệu y học vô tận.
Sự phục tùng của tác phẩm
văn học đối với tri thức Phân tâm học có xu hướng trở thành quy luật: chỉ tri
thức Phân tâm học mới có thể phát hiện ra phần sự thật có trong tưởng tượng, hư
cấu. Một nhánh của phê bình hoạt động theo mô hình này, nghĩa là dựa vào một số
quan niệm của một ngành khoa học khác để lý giải và phán xét văn bản văn học dưới
lý do đó là “khoa học” về vô thức. “Phân tâm học ứng dụng” có mặt trong tất cả
các chương trình của các Hội phân tích tâm lý, kể cả trường phái Lacan. Trên
phương diện này, Phân tâm học, cũng giống như các khoa học xã hội khác, có quan
hệ nước đôi với văn bản văn học: văn bản được coi như một cách tiếp cận dựa vào
kinh nghiệm (nghĩa là tương đối) một chân lý hoặc một mô hình là sản phẩm của
lý thuyết.
Tóm lại, cần phải chấp nhận sự tồn tại đồng thời của nhiều cách phê bình khác nhau. Tuy nhiên, ta luôn luôn phải nhớ đến hai vấn đề sau: Chúng ta áp dụng một phương pháp mà không định trước kết quả nghiên cứu, hay là sẽ mang các quan niệm có sẵn từ “khoa học” vào phê bình? Ta có còn coi lao động văn học như là một lao động biểu tượng hóa nữa hay không?.
30/10/2020
Marcelle Marini
Phương Thủy - Phương Ngọc dịch
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét