Từ điển nghệ thuật hát Bội
Từ điển Nghệ Thuật Hát Bội
Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Lộc chủ biên, nhà xuất bản Khoa Học Xã hội, Hà Nội, ấn
hành năm 1998, gồm non 700 trang khổ lớn 15x23 cm, in đẹp, bìa cứng tổng hợp đầy
đủ kiến thức về ngành ca kịch hát bội, còn goị là hát bộ, hay tuồng, hay tuồng
cổ. Sách kiểm kê tên các tác gia, các vở tuồng, nhân vật, nghệ sĩ biểu diễn,
các sách nghiên cứu, các tổ chức, đoàn, gánh hát bội và phân tích nghệ thuật, kỹ
thuật hát bội, từ điệu hát, điệu múa đến áo mão hia râu. Danh mục có nhiều hình
ảnh minh hoạ, là một tư liệu quý giá về nghệ thuật và lịch sử sân khấu cổ truyền
trên bình diện văn học, Xã hội và dân tộc học.
Hát Bội, hay Tuồng cổ, là
một nghệ thuật lâu đời, độc đáo và phong phú nhưng đang thất truyền. Giáo sư
Nguyễn Lộc và một số đồng nghiệp muốn ghi lại những tri thức qua sách vở, tư liệu
còn lại, và qua những nghiên cứu, phỏng vấn tại chỗ, tại Quảng Nam năm 1985 và
tại Bình Định năm 1992, là hai cái nôi của hát bội. Các cuộc khảo sát này được
chính quyền địa phương giúp đỡ và được cơ quan Toyota Foundation tài trợ trong
3 năm để hoàn tất dưới hình thức Tự Điển.
Điều ghi nhận đầu tiên là
tên sách. Nhóm biên soạn dùng từ Hát Bội thay cho chữ Tuồng là danh xưng chính
thức thịnh hành từ miền Bắc từ 1957 và toàn quốc từ 1975. Từ Điển Văn Học của
Hà Nội in năm 1983 không có từ Hát Bội mà chỉ có chữ Tuồng, mà đề mục Tuồng lại
do chính giáo sư Nguyễn Lộc chấp bút. Và ông không một lần dùng chữ hát bội
có từ cuối thế kỷ XVIII theo Phạm đình Hổ trong Vũ Trung Tuỳ Bút (chương Âm Nhạc)
. Một chuyên gia về bộ môn này, ông Hoàng Châu Ký trong cuốn Sơ Thảo Lịch Sử
Nghệ Thuật Tuồng (1973), dày 200 trang chỉ một lần (tr. 55) chú ý rằng Hát Bội
là danh từ riêng chỉ nghệ thuật Tuồng. ở Miền Nam hiện nay nhân dân vẫn dùng
như thế ằ . Cũng cần thêm rằng hát bội phát triển chủ yếu ở Đàng Trong, theo Huỳnh
Lý : Từ khi có cuộc phân tranh Nam Bắc, ở miền Bắc tuy vua chúa có chơi tuồng
nhưng không đặc biệt chăm sóc ; chèo được diễn khắp nơi, tuồng chỉ sống ở triều
đình và đô thị lớn và không được cải tiến nhiều. Ở miền Nam, không biết
có phải vì Chúa Nguyễn cấm hay không, mà không có diễn Chèo. Trái lại, Tuồng được
phát triển mạnh. Từ chúa Nguyễn trở về sau, lịch sử hát tuồng hay hát bội đã có
tài liệu chính xác. Nói khác đi, gọi Hát Bội chính danh là Hát Bội, giáo sư
Nguyễn Lộc đã anh dũng trả của xê da cho ô xê da.
Trong chừng mực nào đó, Từ
Điển Hát Bội, thoát khỏi những quy ước thông thường của thể loại từ điển và đạt
tới nhiều trang hào hứng, khiến người đọc có chút ít kỷ niệm về hát bội có thể
sống lại được nghệ thuật này, dù cho nguồn say mê đã trở thành hoài niệm. Nghệ
thuật hát bội, suốt hai thế kỷ vừa qua, đã thấm sâu vào tâm thức người dân nông
thôn Trung Bộ và Nam Bộ, đã nhập vào lời ăn tiếng nói của dân gian. Những từ ngữ
như : ta đây, nói tào, độn thổ, anh em họ Tạ, ngực đánh trống chầu, quýnh trống
chiến, chạy như Tào Tháo (bị) rượt... là do ảnh hưởng Hát Bội. Từ điển Phương
Ngữ Nam Bộ (1994) có ghi từ uất trì nghĩa là dốt nát là do tên Uất
Trì Cung danh tướng thao lược trong Thuyết Đường không biết đọc. Những thành ngữ
: ác như Đổng Trác, xấu như Chung vô Diệm, nóng như Trương Phi ... đến với dân
gian qua sân khấu chứ không phải qua sách truyện, vốn hiếm hoi ở nông thôn ...
Miền Bắc dùng thành ngữ truất ngựa truy phong lấy từ truyện Kiều, thì miền
Nam nói "hát bài Tẩu mã lấy từ Hát Bội. Câu hát : Đổng Kim Lân hồi
còn nhỏ ... đi gánh cỏ nuôi mẹ già ... lấy từ tuồng Sơn Hậu.
Bạn đọc thanh niên ngày
nay, có nhiều trò tiêu khiển tân tiến và quốc tế, khó tưởng tượng được niềm vui
cách đây nửa thế kỷ : Chiều chiều đang đá banh, đang bơi lội, đang xem rao thuốc
dán Sơn đông, nghe tiếng trống, thanh la rao bảng hát bội cắc tùng xoà,
xoà xoà lặp đi lặp lại, con nít thôi đá, bỏ bơi, không xem xiếc, chạy theo chiếc
xe kéo tay hoặc những diễn viên vẽ mặt đeo râu, phục trang nhân vật hát bội đi
xe đạp dể quảng cáo cho đêm diễn ...
Từ Điển Hát Bội ngoài việc
khôi phục lại một kỷ niệm và làm sống lại không khí sân khấu một thời, còn là một
tư liệu văn học chính xác khi trích dẫn văn bản. Ví dụ nhóm biên soạn đã phân
biệt tuồng Chinh Tây thường được lưu diễn với vở Đường Chinh Tây , kịch bản
còn lưu trữ tại Paris (tr. 176). Hoặc phân biệt vở Trương Đồ Nhục của Nguyễn hiển
Dĩnh (1853-1926) với tuồng đồ Hồn Trương ba Da hàng Thịt (vô danh) cùng một đề
tài mà Lưu Quang Vũ sẽ sử dụng viết thành vở kịch nói hiện đại nổi tiếng, được
lưu diễn nhiều nước, gần đây nhất là tại Mỹ (1998).
*
Nhóm biên soạn Từ Điển
Hát Bội có kiến thức chuyên và có khả năng phê phán và khái quát. Sau mỗi
đề mục quan trọng như tuồng hát, nhân vật ... các tác giả đã đánh giá, nhanh gọn
nhưng công bình và uyển chuyển. Ví dụ chê Chinh Đông là câu chuyện dàn trải,
Chinh Tây là dài dòng, rối rắm. Và khen Ngũ Hổ Bình Tây của Nguyễn Diêu kết
cấu chặt chẽ. Tác giả nhằm ca ngợi những tình cảm nhân bản nhất của con người
như tình mẹ con, vợ chồng (tr.398). Về nhân vật Địch Thanh, Từ Điển cũng
nhận định xuất sắc. Địch Thanh là tướng tài nhưng tài năng không giúp chàng chiến
thắng mà tấm lòng thuỷ chung với bằng hữu, tướng sĩ và trong đạo vợ chồng, hiếu
thảo với mẹ và trung nghĩa với vua đã giúp chàng làm nên sự nghiệp
(tr.128). Ở đây, các tác giả bấm đúng vào động mạch của Hát Bội, giải
thích lý do đã đưa bộ môn sân khấu này vào lòng người : khán giả yêu thích Hát
Bội vì những chi tiết đạo nghĩa nhân bản, chứ không phải vì nội dung nói chung
là phong kiến và khuôn sáo.
Vua băng, nịnh tiếm , bà
thứ lên chùa
Diệt nịnh, định đô, phò
vua tức vị ...
Và ưu điểm lớn của Từ Điển
Hát Bội, ngoài tính cách chuyên môn, còn là một tác phẩm trọn nghĩa vẹn tình.
Ví dụ những lời đằm thắm, 4 trang dài, dành cho Hội Khuyến Lệ Cổ Ca thành
lập tại Sài Gòn năm 1952 với các vị Đỗ văn Rở (đốc phủ), Nguyễn văn
Quý... , thời Pháp chiếm .
Ngày nay mỗi khi nhắc đến
Hội Khuyến Lệ Cổ Ca, trong và ngoài giới hát bội, ai ai cũng đều nhất trí ca ngợi,
tuy là một hội đoàn tư nhân, nhưng đã có công lớn trong việc góp phần gìn
giữ bản sắc dân tộc ... (tr 259). Sách báo trong nước xưa nay ít khi ca
ngợi những đoàn thể khác phe như vậy. Từ Điển, trong tinh thần đó, đã
dành hơn một trang ưu ái cho nữ nghệ sĩ Trương thị Dần, tài hoa nhưng tên tuổi
ít người biết, lại không có công lao gì với cách mạng ... (Tuy nhiên, đã có đề
mục Trương thị Dần thì nên thêm đề mục Nguyễn Diện, thường đóng chung với bà Dần,
mà Từ Điển có nhắc tới ở mục Đoàn Tuồng Thuỳ Dương, tr. 160).
Dĩ nhiên, nói thiếu tên
người nọ tên người kia thì vô cùng. Làm từ điển ngôn ngữ, chỉ có việc
đánh vần quốc ngữ abc, còn thiếu sót, nói chi đến việc làm từ điển nghệ thuật.
Nói chung, thì nhóm biên soạn có phần lơ là với tuồng cổ miền Bắc. Có nhiều tên
rạp hát lớn và nhỏ ở miền Trung, mà không có đề mục Quảng Lạc là rạp hát lớn ở
Hà Nôị đã một thời cưu mang Tuồng cổ ; hai chữ quảng lạc đã thành tính từ có
nghĩa hát bội, phường chèo.. Dĩ nhiên là không có các rạp Sán Nhiên
Đài hay Thắng ý đã diễn tuồng Người Cá và Thiên Thai của Tản Đà (mà
Khái Hưng có được xem và kể lại). Những tác phẩm này không có trong từ điển,
không hiểu vì kịch bản thất lạc hay vì nhóm biên soan không xem như là Hát Bội.
Có thể vì lý do này mà không có tên những vở tuồng đã diễn ở rạp Quảng Lạc năm
1920 như Ai Giết Người của Tô Giang hay Già Kén Kẹn Hom của Phạm Ngọc
Khôi, những tuồng tân thời về sau chuyển sang cải lương.
Nói rằng tuồng cổ không
được phổ biến tại miền Bắc e không đúng, nhiều người còn nhớ bài thơ Mưa Xuân
(1936) của Nguyễn Bính kể chuyện phường chèo làng Đặng. Gọi là phường Chèo
nhưng hát tuồng cổ đóng Nhị Độ Mai (bài Đêm Cuối Cùng, 1936).
Trong Tóc Chị Hoài, 1943,
Nguyễn Tuân có nhắc đến vở tuồng này :
Mai Kha ới hỡi Mai Kha
Rời nhau một bước nên xa mấy trùng...
Đi xem tuồng cổ, lúc họ bày cảnh Trùng Đài, có lúc cầm tay nhau khóc trên
sân khấu. Hạnh Nguyên và Mai Sinh mỗi người đều đứng trên một cái ghế đẩu. Hôm
nào anh thấy rạp tuồng ngoại ô quảng cáo diễn tuồng cổ về đoạn Nhị Độ Mai này,
anh nhớ rủ tôi cùng đi với.
Hồi ký của Song Kim còn ghi lại nhiều kỷ niệm lúc bà 12 tuổi, khoảng 1935:
Gánh tuồng cổ qua làng tôi, đóng lại, rồi diễn ngay ở đình làng ... Khi tấm
màn mở ra, lần đầu tiên tôi được nhìn thấy một thế giới kỳ diệu khác thường, với
bao sắc màu tráng lệ... Tiếng trống, tiếng thanh la vang lên, lôi cuốn những
tốp người khắp hang cùng ngõ hẻm trong làng lũ lượt kéo tới. Chị bồng em, cháu
gọi bà náo nức ....
Về Sân khấu miền Nam, từ điển không có Vì Nước Quên Nhà của Hồ Biểu Chánh,
soạn chung với đốc phủ Bảy, đã công diễn và xuất bản ở Nam Bộ. Những tuồng này,
dù không được phổ biến cũng nên ghi lại vì tính cách lịch sử và văn học. Lạ là
không có cả Mạnh Lệ Quân, vừa là nhân vật vừa là kịch bản, phải diễn nhiều đêm
và phổ biến từ nam ra Bắc (tên nhà văn Hoàng phủ Ngọc Tường có lẽ
do tên một nhân vật trong tuồng tên Hoàng phủ Thiếu Hoa. Gia đình ông Tường họ
Hoàng Hữu nổi tiếng ở Quảng Trị). Hai cha con La Thành La Thông nhân vật trong
các vở La Thành Thọ Tiễn, La Thông Tảo Bắc không có ở đề mục, nhưng có rải rác
trong sách. Về tuồng Thuyết Đường, gọi nhân vật Thúc Bảo tự Tần Quỳnh là nói
ngược. Phải nói Tần Quỳnh tự Thúc Bảo. Do đó đề mục Thúc Bảo (nhân vật, tr.
539) không chính xác, phải xếp vào Tần Thúc Bảo.
Về vở Nguyễn Chúa phù Lê Hoàng (1927) của Nguyễn Thúc Khiêm, diễn nhiều
đêm, đăng trên Nam Phong, tưởng cũng nên thêm phần tiểu sử tác giả chết trong
ngục Sơn La mấy tháng trước 1945. Nguyễn Thúc Khiêm là tác giả khoảng 40 tác phẩm
gồm có tuồng, chèo, cải lương và một thiên biên khảo. hát tuồng và hát chèo
trên hai vạn chữ.
Bên cạnh những thiếu sót khó tránh được, còn có những chi tiết dài dòng,
không cần thiết. Ví dụ về Nguỵ Khắc Đản thiếu năm sinh (1917) và thừa việc con
trai làm quan đến chức tri huyện ( ! ) ; ông là tác giả tuồng Kim vân Kiều, in
năm 1896 về sau nhà Khai Trí có tái bản tại Sài Gòn (1969). Mục Nguyễn bá Nghi
cũng dài dòng và thiếu năm sinh (1807).
Về các tác gia hiện đại, Hoàng Châu Ký chiếm 3 trang, ngang với Tống Phước
Phổ, Nguyễn hiển Dĩnh, gồm nhiều chi tiết vô bổ : như ông vào đảng năm nào, mấy
lần làm huyện uỷ, chưa kể những lần làm chủ tịch huyện ( !). Nhưng vẫn thiếu
tác phẩm Tuồng Cổ trong đó ông sưu tầm giới thiệu hai vở Sơn hậu và Tam Nữ
Đồ Vương là những văn bản ngày nay khó kiếm. Ngoài ra nên thêm : Hoàng châu Ký
còn là một nhà thơ, thậm chí bản chất là một nhà thơ ; Ông rất tự hào về điều
này và ... thỉnh thoảng cũng có nói ra . Thơ ông cụ hay và mới, như bài
Trước Giờ Khai Mạc (1950). Cuối cùng, Từ Điển Hát Bội nên có một chương dẫn nhập
có tính cách khái quát và tổng hợp, nói qua về lịch và những đặc trưng, quy ước
của hát bội, để hướng dẫn độc giả và khán giả.
Chúng tôi nêu lên một vài thiếu sót nhỏ nhặt, không tránh khỏi của từ điển
Hát Bội, những sơ sót do thiếu tư liệu hay do sự gạn lọc, ý thức và vô thức của
trí nhớ, để chứng tỏ với ban Biên Tập là : những người xa đất nước vẫn đọc các
anh cặn kẽ, và giới thiệu tâm huyết. Chứ không làm cái chuyện mà Nguyễn Tuân từng
gọi là Nam Tào Bắc Đẩu.
*
Từ Điển Nghệ Thuật Hát Bội Việt Nam giáo đầu bằng chữ Ái Châu, nhân vật nữ
trong Kim Thạch Kỳ Duyên của Bùi hữu Nghiã, và kết thúc với yêu cá, nhân vật
trong Lý phụng Đình (!). Nếu Từ Điển không đề xuất thì chúng ta không biết đến
hay không nhớ ra. Tra chữ nam, từ Nam Xuân đến Nam Ai có 13 điệu
hát nam. Bên cạnh 11 điệu hát khách. Ngoài ra riêng chữ hát có
28 đầu vào. Tra chữ kép, ta biết có 21 loại kép, từ kép câu đến kép
xanh. Từ đào ác đến đào võ, có 13 loại đào (nhưng vẫn sót đào thương !). Có 8
kiểu mão, 8 kiểu râu, được minh hoạ bằng hình màu in rõ nét.
Từ Trống-Mái chiếm hơn hai trang, vì bắt nguồn từ quan niệm nhị nguyên về
vũ trụ. Trong nghệ thuật hát bội, Trống Mái trở thành một trong những nguyên tắc
cấu trúc của mọi hình thức nói lối cũng như các làn điệu có nhịp và không nhịp..
Một cấu trúc được hoàn chỉnh bao giờ cũng phải hội đủ cả hai yếu tố Trống Mái
(tr. 596) ; rồi các tác giả phân tích những câu, những vế, những phần Trống đối
lập với Mái qua nhiều câu, điệu hát, khiến ta không khỏi liên tưởng đến lý thuyết
ngữ học của Féc-đi-năng đơ-Xốt-Xuya (Ferdinand de Saussure) : một đơn vị cấu
trúc ổn định, trọn vẹn hoàn chỉnh là một đề mục xuất sắc.
Những tiết mục đề cập đến phong tục Hát Bội, thờ cúng thần linh, như hát án để tế cá voi đưa người đọc vào Xã hội học và dân tộc học làm nghĩ đến những công trình Lê-vi-Strốt (Levi Strauss). Từ điển, ngoài giá trị kỹ thuật chuyên môn, đằng sau những ưu hoài và dư âm tình cảm, còn mở nhiều nẻo đường mới vào những khoa học hiện đại, đồng quy về nhiều hướng nghiên cứu nhân văn, nhất là dân tộc học đang hiện hành trên thế giới. Lý thú là các tác giả không cố tình, không làm dáng, tân trang trí thức cho hợp thời trang hiện đại. Từ Điển Hát Bội là một buổi nói tuồng không hoá trang.
Nhìn từ nước ngoài, chúng tôi mừng cho văn học trong nước có cuốn Từ Điển Nghệ Thuật Hát Bội Việt Nam. Sách vui và bổ ích, nhẹ nhàng nhưng hàm súc, bình dị mà uyên bác. Đọc chơi cũng vui, đọc thiệt càng vui. Đọc xong xếp vào tủ sách không e phí chỗ và ngượng ngùng với khách đến chơi nhà, thuộc loại bác đến chơi đây ta với ta.
20/4/2000
Đặng Tiến
Theo https://www.art2all.net/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét