Vài nét về văn học hiện đại
các dân tộc thiểu số Tây Nguyên
Tây Nguyên là vùng
đất cao nguyên nhiều kỳ thú, nơi con người sống hòa đồng với thiên nhiên, qua
nhiều thế hệ đã tạo nên kho tàng tri thức dân gian phong phú, giàu bản sắc.
Trong quá trình phát triển, các tộc người cư trú với tính chất hỗn dung và tiếp
biến văn hóa đã tạo nên sự độc đáo có một không hai của vùng. Văn học hiện đại
của khu vực này đến nay vẫn là một mảnh đất nhiều khoảng trống cần nghiên cứu.
Văn học dân tộc thiểu số nói chung có sự phát triển đi sau so với bề dày thành
tựu và thời gian hình thành của văn học miền xuôi.
Nếu GS. Phan Đăng Nhật lấy
năm 1945 để làm mốc phân chia giữa văn học dân gian và văn học hiện đại các dân
tộc thiểu số Việt Nam(1) thì nhà phê bình Lâm Tiến cũng khẳng định
“văn học viết các dân tộc thiểu số Việt Nam mới chỉ hình thành và phát triển
vào thế kỉ XX”(2). Tuy nhiên, văn học hiện đại khu vực Tây Nguyên nếu
tính theo mốc thời gian này thì có sự khác biệt khá rõ so với các khu vực, đặc
biệt là miền núi phía Bắc.
Giai đoạn 1945-1975, khi
văn học dân tộc thiểu số khu vực miền Bắc đã tiến những bước đáng kể với những
tên tuổi như Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Nông Minh Châu… thì văn học Tây
Nguyên vẫn như một mảnh đất hoang sơ, đây đó có những “sự sống” chưa thực mạnh
mẽ. Những sáng tác rải rác của Y Điêng, Mlô Y Choi, Nay Nô, Kpă Ylăng… chưa đủ
để tạo thành một diện mạo đáng kể. Nhưng dẫu sao, những bước đi ban đầu ấy cũng
là tiền đề cho sự phát triển riêng, dù không đầy đặn, không bùng nổ sau này.
Niê
Thanh Mai là một trong những cây bút tiêu biểu và sung sức hiện nay của Tây
Nguyên
Giai đoạn sau 1975, những
tác giả cũ vẫn tiếp tục hành trình sáng tạo và có những người bật lên được
phong cách riêng. Một số tác giả mới xuất hiện, dù chưa định hình cho mình một
lối viết độc đáo nhưng sự tìm tòi và đầu tư có thể nhận thấy khá rõ. Giai đoạn
cuối thế kỉ XX và một chặng ngắn của những năm đầu thế kỉ XXI xuất hiện những
tác phẩm mang chất Tây Nguyên một cách liên tục và đem đến sự khởi sắc cho miền
đất trống: văn xuôi với Kim Nhất, H’linh Niê…; thơ với Ka Sô Liễng, Đinh Xăng
Hiền, Hơ Vê, Hồ Chư, Krajan Plin… Một lứa tác giả trẻ và rất trẻ đang bước vào
thời kì sung sức như Niê Thanh Mai, Hoàng Thanh Hương… là sự tiếp tục rất đáng
kể làm nên một diện mạo mới cho văn học khu vực này. Những tác giả trẻ như Đinh
Su Giang, H’Trem Knul, K’sor Bi Tô, H’phi La Niê, H’wera Niê, Y Việt Sa, H’xíu
H’Môk… cũng hứa hẹn một sự bổ sung nhiều triển vọng vào đội ngũ những người viết
trẻ của Tây Nguyên.
Thành tựu nổi trội nhất của
văn học hiện đại Tây Nguyên có lẽ chính ở sự nỗ lực phục dựng một bức tranh về
đời sống sinh hoạt, tinh thần của người Tây Nguyên. Các tác giả thường lựa chọn
những đề tài như cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc với sự gan dạ, hi sinh quật
cường của con người Tây Nguyên, tình yêu thời chiến, nét đẹp phong tục quê
hương… Mlô Y Cla Vi đã tái hiện hình ảnh Cô gái vót chông với
lối viết vừa bay bổng vừa giàu sức khái quát: Ai nhanh tay vót bằng tay
em/ Chim hót không hay bằng tiếng hát em/ Mỗi cây em vót cắm sâu dưới đất/ Lũ
giặc Mĩ lao vào chết queo. Kpă Y Lăng đã nói lên tình cảm của người dân Tây
Nguyên với Bác Hồ kính yêu: Ơi các ngôi sao cao vút long lanh/ Chúng
mày hãy bay về phương bắc/ Cho người Tây Nguyên gửi cả mối tình/ Tới Bác Hồ và
dân mình ngoài đó/ Rằng thưa với Bác/ Trong bão lửa tổng tấn công/ Những chàng
trai Êđê, con gái Mnông/ Tay cầm gươm mang tiếng thét xung phong/ Những mẹ già
Srá, Kadong/ Tay chống gậy lưng còng gùi đạn (Người Tây Nguyên mãi
theo lời Bác Hồ).
Khi viết về phong tục tập
quán của đồng bào các dân tộc thiểu số, Người buôn Tría (Y
Điêng) diễn tả một cách kín đáo mà thấm thía niềm tin của con người vào những lực
lượng siêu nhiên kì bí. Môtip điềm báo “ngã xuống nước” gắn với nhân vật H’lônh
đưa đến cho người đọc nhiều suy ngẫm về nhận thức của con người. Kết thúc tác
phẩm để ngỏ mà thực ra cũng đã khá rõ ẩn ý, từ đó mở ra những liên tưởng về niềm
tin của con người vào thực tại, gỡ bỏ những nỗi sợ hãi ám ảnh mơ hồ ăn sâu bao
đời.
Thơ Hoàng Thanh Hương đậm
đặc chất liệu Tây Nguyên với hoa dã quỳ vàng, những miền đất cao nguyên nắng lửa,
những phong tục truyền thống và cả những con người của miền đất Iapa nhọc nhằn
đi qua gian khó: Giấc mơ trôi giữa mùa khô/ Võ vàng hoa quỳ dại (Ngàn
năm); Tháng Ba/ Rực cháy bông pơ-lang triền núi (Tháng Ba). Bằng
chất giọng lạ, thơ Hơ Vê hướng đến phản ánh những nét đặc sắc trong đời sống đồng
bào bằng ngôn ngữ tươi sáng, khỏe khoắn: Có con chim ta lố/ Ở trên núi
non cao/ Uống sương và quấn gió/ Đội nắng và tắm mưa (…) Tôi lại về núi non/
Làm đứa con của trời/ Làm đứa cháu của đất/ Nhiều lúc vui thật ít/ Đôi khi buồn
thật nhiều/ Nghĩ không bằng ta lố/ Tôi lại ôm đất trời… (Con chim ta lố).
Ở những tác giả của thế hệ
trưởng thành sau hòa bình, những vấn đề được lựa chọn cũng mang sự mới mẻ hơn.
Nội dung sáng tác từ chỗ tập trung cho nhiệm vụ tuyên truyền, ca ngợi quê
hương, cuộc kháng chiến… dần dần đã đi sâu khai thác thân phận con người vùng
dân tộc thiểu số và miền núi, với những hệ lụy trong công cuộc di cư và hội nhập
của mảnh đất Tây Nguyên. Linh Nga Niê Kđam (H’linh Niê) là nhà văn có sức viết
khỏe, nhanh nhạy khi nắm bắt những vấn đề nổi bật của đời sống tinh thần, thực
trạng biến đổi văn hóa trong cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. Văn xuôi của bà
đã phần nào khắc phục lối viết cũ với ngôn ngữ thật thà, mộc mạc mà vươn lên
tính khái quát, triết lí.
Trong số những tác giả
đang bước vào độ chín của ngòi bút và lứa tuổi, Niê Thanh Mai thể hiện sự bứt
phá trong tư duy và tiếp cận đời sống. Truyện ngắn của chị không chỉ khai thác
những đề tài như thế hệ trước, với phong tục và lối sống người Tây Nguyên, mà
hướng đến sự khám phá những mảng khuất thầm kín của con người, những lối sống,
những ngã rẽ và chọn lựa trước những bộn bề. Không thấy vách ngăn như một cảnh
tỉnh về sự vô vị và nguy hiểm của một cuộc sống không đam mê, không rõ ràng.
Ở cung bậc khác hơn, Đinh
Su Giang thường lựa chọn những đề tài giản dị, đó là cuộc sống xung quanh nơi
buôn làng, những câu chuyện đời thường nhưng mang ý nghĩa sâu sắc. Đôi lúc những
tác phẩm ấy mang dáng dấp của khan, khi phản ánh lịch sử, xã hội, tín ngưỡng và
phong tục người Tây Nguyên. Ở đó, tính chất vừa hư ảo vừa hiện thực được hòa lẫn.
Truyện ngắn Đinh Su Giang đây đó cũng nói đến những đổi thay của quy luật cuộc
sống, nó kéo theo những hệ lụy khi con người ý thức về lợi ích cá nhân ngày một
rõ. Chiếc bè trên mặt hồ mang đến những dư âm buồn khi đề cập đến chuyện dời
làng, tuy vấn đề không mới trong cuộc sống của những tộc người thiểu số Tây
Nguyên nhưng xúc cảm của những con người rời bỏ mồ mả ông bà, bỏ nơi treo cuống
rốn đến nơi ở mới khiến truyện có một chiều sâu nhân bản. Nhân vật A Hlung là
người duy nhất không theo về làng mới, bám trụ trên một chiếc bè nơi làng cũ đã
mênh mang nước.
Có thể thấy, làng không
chỉ là không gian sinh tồn, nó còn thể hiện sự cố kết bền chặt của cộng đồng, một
cộng đồng mang tính tâm linh, trao truyền cho nhau những nếp sống, phong tục,
đùm bọc nhau về lợi ích, nghĩa vụ và là chỗ dựa cho tinh thần con người. Lời
nói của nhân vật A Hlung về sự ràng buộc máu thịt khiến tất cả cùng xót xa: “Dưới
chiếc bè này là làng của ta, vợ ta, tổ tiên ta nằm đấy, ta không đi đâu cả! Ta ở
đây cho đến khi về với tổ tiên, với ông bà cha mẹ thôi”…
Nhìn từ góc độ thể loại,
văn học dân tộc thiểu số Tây Nguyên cũng có những điểm đáng chú ý. Ở thể loại
“anh cả” là tiểu thuyết, dù số lượng không nhiều, đề tài không thực sự phong
phú, nhưng một bức tranh kì vĩ, đa sắc màu được tạo dựng. Dù kĩ thuật chưa được
đầu tư nhiều nhưng điểm nổi trội của thể loại tiểu thuyết trong văn học hiện đại
Tây Nguyên là sự tái hiện thành công những phẩm chất, số phận đủ sức đại diện
cho hình ảnh con người bình dị của vùng đất. Chuyện bên bờ sông Hinh ấn tượng bởi
mối tình sâu đậm giữa Hơlinh và Y Thoa. Ngòi bút Y Điêng chủ yếu xoáy vào những
diễn biến nội tâm và những chuyển biến trong tình cảm của nhân vật Hơlinh với
ngôn ngữ bay bổng, đặc biệt là những khúc đoạn đối thoại của đôi nam nữ.
Xuất hiện khá muộn, tiểu
thuyết của Kim Nhất bắt đầu có những dấu hiệu đổi mới về kết cấu, tái hiện một
cách sinh động, cụ thể về những con người và vùng đất giàu bản sắc văn hóa. Luật
của rừng là câu chuyện về ba thế hệ, bắt đầu từ tình bạn của Ama Hơ Oăn và Ama
Riêng. Những câu chuyện li kì về luật tục của người Tây Nguyên được hiện lên,
kéo theo những số phận éo le, những cuộc gặp gỡ và kết thúc bằng việc giác ngộ
đi theo cách mạng… đã đem lại cho tiểu thuyết Kim Nhất một dấu ấn khá thành
công.
Truyện ngắn là thể loại
ghi được những dấu ấn đậm nét. Nếu như kí của Linh Nga Niê Kđam thu hút bởi sự
sắc nét trong khắc họa những chân dung, những đổi thay khi Tây Nguyên đối mặt với
di cư và pha trộn văn hóa… thì truyện ngắn của bà mang đến một sự tinh tế trong
lựa chọn chi tiết và xây dựng nhân vật. Tìm về bến nước thoát được lối kể truyền
thống, khi đảo ngược thời gian tạo ra những thú vị trong cách kể, cũng từ đó, số
phận nguồn cội con người hé mở theo mạch truyện.
Điểm mạnh nhất của truyện
ngắn khu vực này nằm ở miêu tả. Hơ Vê với truyện ngắn Sang Điêng có những điểm
tương đồng với phong cách thơ, đó là giàu hình tượng, lối liên tưởng cụ thể mà
sinh động; dù cách triển khai câu chuyện vẫn theo lối truyền thống nhưng ngôn từ
thú vị, văn phong mạch lạc giúp chị tạo được nét riêng. Hơi thở của núi (Niê
Thanh Mai) miêu tả vẻ đẹp của Plang và con gái buôn Duntang như trăng rằm, “môi
nàng đỏ, tươi như bông hoa gạo đầu buôn, thân hình con gái tròn mây mẩy, bờ vai
đầy”. Góc núi mờ sương của chị lại mang đến câu chuyện buồn, không chỉ gói ghém
một mối tình đơn phương mà còn chứa đựng trong đó cả một lối sống, sự lựa chọn,
những đánh đổi và trả giá khi con người ứng xử trước hoàn cảnh.
Về thơ, đáng chú ý là sự
xuất hiện của thể lục bát trong các sáng tác của các tác giả dân tộc thiểu số
Tây Nguyên (vốn quen sáng tác thơ tự do). Rất hiếm nhà thơ viết lục bát, do đó
sự xuất hiện những vần lục bát khá nhuần nhuyễn của Hồ Chư – nhà thơ Vân Kiều đầu
tiên – là tín hiệu đáng mừng cho thấy thơ của các tác giả dân tộc thiểu số Tây
Nguyên đã “hòa nhịp” với thơ ca miền xuôi: Tình yêu như lửa mới nhen/
Đã nghe xao xuyến tiếng khèn tìm nhau/ Chợ tình không có trầu cau/ Lòng người nối
nhịp qua bầu rượu thơm.
Có thể nói, qua sáng tác, các tác giả dân tộc thiểu số đã tái hiện Tây Nguyên hùng vĩ, quyến rũ một cách tự nhiên nhất, sinh động nhất. Với một đội ngũ tác giả đang ở độ tuổi sung sức, có tài năng, có tâm huyết, có khát vọng cống hiến cho nghệ thuật, văn học Tây Nguyên sẽ có những bứt phá mạnh mẽ trong tương lai.
Chú thích:
1. Phan Đăng Nhật: Khủn chưởng – anh hùng ca Thái, Nxb Khoa học xã hội, 2005.
2. Lâm Tiến: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, Nxb Văn hóa dân tộc, 1995, tr.138.
13/11/2020
Đỗ Thị Thu Huyền
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét