Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2024
Cảm lòng mưa xứ lạ
Thời trẻ con vào trời mưa, nếu không lao ra ngoài cùng đám bạn với những trò đùa nghịch, tôi thường ngồi bên hiên nhìn và nghe nhịp mưa rơi. Và, cũng từ khi ấy ở tôi đã hình thành cảm giác gần gũi, có lúc say với mưa; cho dù trong trạng thái hiếu động ướt sũng ngoài trời hay chỉ lặng yên nhìn đếm những chiếc bóng nước được tạo ra, trôi nổi rồi vỡ vụn. Đến tận bây giờ, thói quen “cảm mưa” thường theo tôi ở những chuyến đi và góp phần tạo chất liệu để tôi cầm bút.
Anh yêu ơi hãy quay lại Thái Nguyên
Anh yêu ơi hãy quay
lại Thái Nguyên
Anh về anh nhớ lam khói ấy/ Không gian dịu dàng tiếng
dạ vâng/ Tay ấm tay nào bên bếp lửa/ Chúc phúc anh về với trời nam/ Thôi anh
thú nhận anh đã ghiền/ Một bên đồi núi, một bên em/ Anh nhớ nắng chiều màu thổ
cẩm/ Nhớ một bóng hình giấu trong tim…
GHIỀN TRÀ
Anh về phố thị bỗng ghiền trà
Về với nhộn nhịp nhớ đồi hoa
Về với ngày quen thấy đêm lạ
Về với người ta nhớ người ta
Anh về bỗng thương hồ bên núi
Nhấp ngụm nước trà cũng thấy yêu
Anh về học tiếng từ miền ngược
Học được chữ Em đã thấy nhiều
Anh về anh nhớ lam khói ấy
Không gian dịu dàng tiếng dạ vâng
Tay ấm tay nào bên bếp lửa
Chúc phúc anh về với trời nam
Thôi anh thú nhận anh đã ghiền
Một bên đồi núi, một bên em
Anh nhớ nắng chiều màu thổ cẩm
Nhớ một bóng hình giấu trong tim…
HỒ TRONG NÚI
Hình núi chìm dưới đáy hồ trầm mặc
Như bóng mây quên mất lối về
Anh đến vội vẫn đong đầy thương nhớ
Đã một mình giăng bắt vần thơ
Yêu thì chả bao giờ là muộn
Em ảo huyền như thủy mặc vương tơ…
Rồi thả lưới trời vây giữ gã khách thơ
CÓ BAO GIỜ ANH QUAY LẠI THÁI NGUYÊN?
Anh có bao giờ quay lại Thái Nguyên
Đàn Tính đứt dây lâu chưa ai nối
Điệu Then hát quên lời, nhịp lỗi
Bếp lửa lâu rồi không người trao duyên
Có bao giờ anh trở lại Thái Nguyên
Dốc Lim vắng vạt chè không ai cúp
Cây chè xanh chưa đến ngày nở búp
Một mình em mang nỗi nhớ lên đồi
Con trắm đen nằm đáy nước không bơi
Măng rừng đắng vắng người càng thấy đắng
Tàu không chạy, ngã tư không gác chắn
Trái ổi rừng không chấm muối không ngon
Anh yêu ơi hãy quay lại Thái Nguyên
Đàn Tính lên dây, điệu Then nối nhịp
Thuyền khua chèo, con trắm đen búng nước
Trăng lại lên đầu rừng cọ, nương chè
Anh yêu ơi anh hãy quay về
Để bất ngờ em một lần bận rộn
Ăn không ngon, ngủ không say, trăng lặn
Tay trong tay, mắt trong mắt, trong nhau….
AI VỀ HỒ NÚI CỐC VỚI ANH KHÔNG
Có ai về hồ Cốc với anh không
Nhớ mang về chút nắng vàng trên tóc
Mắt phải xa xôi đôi bờ mơ ước
Chiều lam chiều, và em rất em
Anh muộn màng về với đất Thái Nguyên
Hồ núi Cốc để dành anh mắt biếc
Bờ này thương, bờ kia còn luyến tiếc
Đời lãng du giờ mới đến nơi này
Cuối thu rồi. Ai đã đi qua đây
Khi đông về ai thả câu giăng lưới
Kin mí kin, nòn mí nòn (*) anh đợi
Ăn không ăn, ngủ không ngủ, say rồi
Búp chè xanh thao thức cả đêm thôi
Trời trung du đồi thơm hương se gió
Vồng đồi xinh, ngực em tròn hơi thở
Nõn nà này hay là búp tay ngoan
Em có về hồ Cốc với anh không
Anh sẽ vẽ em trong khung trời cổ tích
Anh sẽ tặng em những vần thơ mới nhất
Có ai về hồ Cốc với anh không…
Chú thích:
(*): kin mí kin, nòn mí nòn: tiếng dân tộc: có nghĩa là “ăn không ăn, ngủ không ngủ“…
2/12/2022
Huỳnh Dũng Nhân
Theo https://vanvn.vn/
Mặt nạ - Truyện ngắn của Đặng Ngọc Hùng
Mặt nạ - Truyện ngắn
của Đặng Ngọc Hùng
Nhà văn Đặng Ngọc Hùng là cây bút văn xuôi và phê bình
văn học đáng chú ý của tỉnh Bình Thuận, vừa vinh dự được nhận Giải nhất Cuộc
thi Truyện ngắn Đông Nam Bộ lần II năm 2022 với truyện ngắn Vòng tay.
Ông sinh năm 1968, hiện là giảng viên Trường Cao đẳng Bình
Thuận ở thành phố Phan Thiết, đã xuất bản 2 tác phẩm: Bạc đầu nghe tiếng
thời gian đi (phê bình, biên khảo văn học), NXB Hội Nhà văn 2018 và Sa
mạc một lần mưa (tập truyện ngắn), NXB Hội Nhà văn 2022. Ngoài Giải nhất
Cuộc thi Truyện ngắn Đông Nam Bộ lần II nói trên, nhà văn Đặng Ngọc Hùng còn được
trao Giải nhì Cuộc thi Thơ và truyện ngắn Bình Thuận năm 2018 với truyện ngắn Mặt
nạ, Vanvn.vn trân trọng giới thiệu đến bạn đọc tác phẩm hay này.
Từ trong cái phòng thượng hạng, những gì Hữu nhìn
thấy đều có vẻ không thật. Những ngôi biệt thự đời mới trông xa như
những cái bát úp trong cơn mưa đêm. Bên trái là biển. Đêm qua Hữu còn
thấy những ngọn đèn ẩn hiện mờ ảo. Vậy mà đêm nay chúng đã biến
mất cùng với những chiếc thuyền câu. Mưa đang tuôn đổ xuống biển. Ở
xứ này, mưa cứ nghiêng nghiêng.
Khói mưa giăng phủ suốt từ hôm qua đến giờ. Chính nó,
chính cơn mưa không mời mà tới đã phá bĩnh cái hội nghị khách hàng
mà Hữu đã dày công chuẩn bị, đạo diễn và trực tiếp “diễn xuất”.
Cái tin hội nghị sẽ được tổ chức ở khu nghỉ dưỡng có cái sân golf
lớn nhất Đông Nam Á khiến nhiều đại biểu cứ sướng rơn cả người khi
nhận giấy mời. Vậy mà cơn mưa…Qua ánh đỏ đót của bóng đèn ngủ hiệu
Italia, những dòng nước mưa trên mặt kính trông như những dòng chảy
vằn vện khi bị nung ở nhiệt độ cao của thứ kim loại đã tạo dựng
danh vọng cho cuộc đời Hữu suốt hai mươi năm qua.
Hữu kéo rèm cửa bên phải. Đồi. Những vạt cây dại
tít tắp. Chúng sẽ kéo dài đến một sa mạc. Anh biết vì anh và mấy
thằng bạn của anh đã “chết chìm” ở đó. Mấy người hùn vốn mua mấy
mẫu đất. Bỗng dưng người ta bảo dưới đất có khoáng sản. Thế là dự
án trường đua ngựa của một ông Việt Kiều Texas tan thành mây khói.
Tất cả đều không thật. Từ căn phòng này đi lên khoảng
trăm bước chân, chỗ những hạt mưa đang nghiêng đổ kia là nơi năm trước
Hữu từ Sài Gòn ra xem cuộc thi hoa hậu thế giới. Chỗ đó, phải rồi,
có những hàng cây xoan và những cây nhiệt đới lạ, phần dưới được
quét vôi trắng để trang trí. Những cô gái chân cao ngang vệt vôi trắng
lượn qua lượn lại như mỹ nhân ngư. Nghĩa là Hữu từng ra đây nhiều
lần. Lần nào anh cũng tắt nguồn cái điện thoại Iphone. Anh chuyển
sang xài cái Blackbery với cái sim chỉ có vài người biết. Anh “đóng
cửa” luôn cái địa chỉ email thông thường, chỉ duy trì một địa chỉ
email công vụ. Hữu rào giậu đâu đó cẩn thận, bí quyết của sự thành
công hơn hai mươi năm qua. Lần này cũng vậy. Thế mà hôm qua, một khách
hàng địa phương bất chợt hỏi anh” “Nè, ông có người anh ruột dạy học
ở trường cao đẳng tỉnh này phải không?”.
– Đâu có. Ai nói với ông?
Hữu trả lời rất điềm tĩnh dù trong anh dâng lên một
cú giật thót. Một cách lão luyện, Hữu cố điều tiết lượng adrenalin
đang tiết ra. Từ khu nghỉ dưỡng này đến nhà người anh ruột chưa tới
hai chục cây số. Nhưng rất nhiều lần Hữu ra xứ này và trở về mà
người anh không hề hay biết. Mỗi lần gặp nhau trong một dịp nào đó,
Hữu dúi vào tay đứa cháu vài triệu. Vậy thôi.
Hữu kéo rèm lại. Nếu không phải chờ thư của thằng
sếp người Úc thì anh đã ném mình vào giấc ngủ. Thằng này lạ thật,
lạ từ cái tên: Cinono Martinson, cái tên nửa Latin nửa Anglo-Saxon. Một
cái tên thế giới. Đèn hiệu ở góc trái của giao diện thư điện tử
vẫn chỉ sáng rực màu xanh lá cây ở hình biểu tượng của Hữu. Không
có ai online.
Cinono Martinson, cái thằng nói cái gì miệng cũng
toác ra tận mang tai. Mới qua Sài Gòn vài hôm, hắn đã xộc vào đủ
thứ hồ sơ. Thôi, xem phim để giết thời giờ. Mới hơn một ngày Hữu đã
thuộc số thứ tự những kênh cần thiết. 48 là HBO, một trạm dừng chân
ma quái, loang máu. 50 là StarMovie, chà Tom Cruise vào vai phản diện
máu lạnh, dăm câu triết lý Đông Tây kết hợp đầy bí hiểm. 52 là
CineMax, chiến tranh Việt Nam. Con đèo hoang rợn cây lá. Những khúc cua
cùi chỏ. Đoàn người di tản nháo nhác. Ba anh em.
Ba anh em. Ủa, sao giống dữ vậy trời!
Ríu mắt vì đọc phụ đề, Hữu rơi thỏm vào giấc ngủ.
Anh rơi xuống những ngày tháng cũ.
Ba và má nó lo cái vali và bé Năm còn ẵm ngửa.
Anh Hai dắt anh Ba và nó. Con đèo mang tên một loài chim huyền thoại
tràn ngập tiếng kêu tao loạn. “Anh Hai, em sợ quá!”, tiếng khóc của
anh Ba. Nó, thằng Tư, hơn hai mươi năm sau là Hữu, hai mắt mở thao láo,
và bình thản. Tiếng pháo kích như trời gầm, tiếng tiểu liên cùng
cục, máy bay quang quác đến loạn óc. Tiếng ù rền của những đoàn
chiến xa. Dòng người từ cao nguyên tràn về phía biển. Mạnh hơn nước
lũ. Có lúc cái dòng thác ấy nghẽn lại. Hỗn loạn. Như một tận thế.
Nó, thằng Hữu, lững thững theo anh Hai, tay nắm chặt gói xôi. Nó sợ,
nhưng cái đáng sợ hơn đối với nó là để cho người ta biết nó sợ. Nó
không sợ chết. Bởi nó nghĩ: Nếu nó phải chết mà người xung quanh
cũng chết, thì không có gì phải sợ. Bên một vạt rừng, một thằng bé
ngồi khóc điếng. Chòm bằng lăng nở sớm tím đến man dại và vô nghĩa.
Không ai để ý đến thằng bé lạc người thân. “Nó đói”, anh Hai nói.
Thằng Hữu quay lại, dúi vào tay thằng bé kia gói xôi. Thằng bé kia
chụp ngay lấy, ăn ngấu nghiến. Một lát sau, trong màn khói diesel dày
đặc của đủ loại động cơ, thằng Hữu thấy thằng nhỏ kia chạy theo gia
đình mình.
Biển. Trại tiếp cư. Mới tháng Tư mà sóng ràn rạt.
Dòng người từ cao nguyên ùa ra. Chờ đợi. Chửi rủa số phận. Một chấm
đen hiện ra bên kia bọt sóng. Trên bờ, một chiếc Jeep trờ tới. Thằng
Hữu quay lại, thằng bé kia cũng quay lại. Một người đàn ông mặc quân
phục nhảy xuống, ôm ghì lấy thằng bé kia: “Trời đất ơi, con tôi, suýt
tí nữa…”. Chấm đen cưỡi trên bọt sóng. Một chiếc tàu thuỷ. Dòng
người cao nguyên bùng vỡ. Có tiếng tiểu liên. Va, đẩy, xô, chen, hích.
Cả nhà thằng Hữu bị bật lại. Trong ranh giới của sống chết, may
rủi, chiến thắng luôn thuộc về kẻ mạnh. Nhóm người trên chiếc Jeep
có súng, cả lựu đạn da láng M26. Họ là kẻ mạnh. Vì thế đám đông
xung quanh dạt ra. Riêng “thằng bé gói xôi” được một binh sĩ cấp dưới
của cha nó bồng lên tàu. Sóng tháng Tư ngơ ngác lênh loang.
Mấy tràng tiểu liên.
Trái đất xem ra cũng hẹp, quá hẹp. Sau này, trong một
lần làm việc với đối tác, Hữu gặp một đại diện thương mại gốc
Việt nói tiếng mẹ đẻ giọng lơ lớ. Trong bữa ăn với câu chuyện tròng
trành theo mấy chai Chivas, vị đại diện thương mại bỗng đứng dậy, vỗ
vai Hữu: “Gần đây, có chỗ nào bán xôi không”. Câu hỏi quá đột ngột.
Giữa cái đời thành đạt của Hữu và xôi cuộn gói lá là một khoảng
cách mấy vòng trái đất.
“Chịu, để tôi hỏi con bé receptionist ngoài kia”, Hữu
phẩy tay.
Ở một góc phố Tây Sài Gòn có chỗ bán xôi. Trái đất
quá hẹp. Ông đại diện thương mại chính là “thằng bé gói xôi”. Ngoài
Chúa ra, ai tin nổi sự thật này?
“Một tay gạc đờ co của cha tôi đưa mẹ tôi và tôi đi
trước. Tôi bị đám đông suýt nghiền nát, bị lạc”, thằng bé gói xôi
nhắc lại chuyện cũ.
Nhiều năm về sau, thằng bé tên Hữu biết nó từng là
thành viên trong dòng người di tản thất bại. Lúc ấy nó bảy tuổi, lê
lết cho đến khi lả đi trong tuyệt vọng. Một trong những ông chú ruột
của thằng Hữu nhăn mặt ực một ngụm rượu, thứ rượu đế thời bao cấp
nấu bằng khoai mì: “Đời nào cũng vậy thôi. Sa trường chỉ dành cho
những thằng tay trắng. Còn tụi kia nó có tài khoản ở ngoai quốc, ở
Thuỵ Sĩ. Đụng chuyện một phát nó quất ngựa dzọt mất tiêu, tụi mình
không có ngựa”.
Một ngụm nữa. Cựu binh nhất phế binh rên: “Tôi thường
đi đó đây, bùn đen in dấu giày…”. Những câu ca hoen rỉ chìm trong cơn
mưa dai nhách ở chân đèo.
Gia đình thằng Hữu ở lại quê ngoại bên này đèo. Ba
nó cũng là hạ sĩ. “Hạ sĩ nhất”, ông chỉnh lại, “Cái gì cũng phải
chính danh”. Mẹ nó khuyên chồng ở lại bên này đèo để khỏi đi cải
tạo, chỉ cần khai với chính quyền là trước 1975 làm ruộng. Nhưng ba
nó chính danh, khai tuốt. May, hạ sĩ nhất chỉ phải tập trung nghe
giảng huấn vài ngày.
Đói. Trước đây, cả nhà gần sống nhờ lương cha, anh em
Hữu là “dân cày khu gia binh”. Không ai biết làm ruộng. Cũng chẳng có
ruộng để làm. Tất cả đều là hàng quốc cấm. Mấy anh em chờ những
chuyến tàu để bán những thứ quà quê theo mùa. Những trái xoài, cốc,
ổi teo cằn. Từ xa, tiếng còi tàu đã luồn vào thị trấn, len qua
những khu gia binh bỏ hoang, nghe như tiếng khóc. Ga xép, tàu dừng trong
chốc lát, những đứa trẻ biểu diễn thế bích hổ du …tàu. Một cú tung
cước của anh Hai, mấy đứa khác dạt cả ra. Đó là cú đảo sơn cước
của ông chú binh nhất biệt động quân truyền lại cho thằng cháu đích
tôn. Ngày hôm đó, anh em thằng Hữu được một bữa cơm trắng. Thời gian
sau, xóm quân trường xuất hiện thằng Nguyên với cú kim tiêu cước, xuất
chiêu nhanh như điện. Anh Hai trúng đòn, về ói ra máu ba ngày. Thằng
Nguyên độc chiếm “xí nghiệp” xoài, cốc, ổi. Ông chú thứ Sáu từ Nha
Thành hay tin đạp xe về thăm. Cựu thiếu uý không lưu truyền cho cháu
cú bàn long cước học được từ một đồng ngũ người Tây Sơn. Thằng
Nguyên vừa dợm chân để tung kim tiêu cước thì anh Hai đã lạng người
qua, cạnh bàn chân của anh thốc vào chấn thuỷ của đối phương. Thằng
Nguyên bị “giáng chức”, làm “phó chưởng môn” phái bích hổ du tàu.
Anh Hai ngày ngày phi thân lên tàu suốt bắc nam mà vẫn
học giỏi. Ba nó chỉ tập trung nghe giảng huấn vài ngày nhưng “vị
thứ” lý lịch hạng “ưu” đã biến giấc mơ kỹ sư của anh Hai thành hư
ảo. Trầy trật như cuộc vượt đèo chạy ra biển mấy năm trước, cuối
cùng anh Hai vào trường sư phạm. Giấc mơ trở thành bác sĩ của anh Ba
rồi cũng đau yếu, tàn rã. Lý lịch hạng 11. Như một cái barie. Không
chỉ sở hữu cú đảo sơn cước, dòng họ bên nội còn có món gia truyền
khác: thợ mộc. Từ đó, tiếng đục đẽo của người anh “bác sĩ hụt”
trong tổ hợp gỗ gần nhà âm vang trong cái ký ức đầy cáu ghét của
thằng Hữu. Gió phơ phất qua cái quân trường bị bỏ quên cũ kỹ, mốc
lở, cọt kẹt tiếng người dỡ sắt đem bán đổi gạo.
“Trường đẹp lắm, gần biển…”, sau lá thư đó, anh Hai
đổ bệnh. Cơn đau dữ dội đến tắt thở, trường đánh điện cho chính
quyền báo gia đình ra, kẻo có gì “hối hận suốt đời”. Má Hữu đứt
ruột bán con heo làm lộ phí đi thăm con. Thằng Hữu được má cho đi
theo. Vượt qua hai con đèo, má con nó đến một thị xã của tỉnh khác.
Thì ra anh Hai nó bị đau ruột thừa. Mặt nhăn như giẻ rách vì chỗ khâu
bị nhiễm trùng, anh Hai dắt thằng em nhà quê đi dạo. Qua Eo Nín Thở,
lên núi Quy Hợp. “Ê Hữu, dám vô trại phong chơi không?”, mắt anh Hai
bỗng sáng lên. “Đi anh”, Hữu hăng hái. Ngày hôm đó nắng nhạt. “Bệnh
nhân phong đâu anh?”, Hữu hồi hộp. “Từ từ, đó, đó”, anh Hải chỉ tay
về phía khu rừng thưa. Những bóng người che mặt bằng mảnh vải lặng
lẽ đi quét lá khô, nhổ cỏ. Ngày hôm đó nắng nhạt. Nhưng nó không bao
giờ phai trong cuốn ký ức đầy nếp nhăn của Hữu. Những bóng người che
mặt lặng lẽ. Như một thế giới khác. Một chiêm bao không tên. “Họ che
mặt chi vậy anh?”, Hữu hỏi để xả bớt hơi trong lồng ngực. “Chắc là
để không ai biết mặt thật của họ, họ bị bệnh đặc biệt mà”, anh Hai
tự thưởng cho sự suy đoán của mình bằng một cú hít thật sâu mùi
hương bạch đàn nồng nàn cả khu rừng trong một ngày đẹp trời. Nhanh
như một cú kim tiêu cước, thằng Hữu lao tới bên một cây bạch đàn,
giật miếng vải che mặt của một bệnh nhân nữ. Ối, tiếng kêu
thảng thốt của nạn nhân. Ối, tiếng kêu lần này là của anh Hai.
Đẹp, quá đẹp! Đôi mắt, khi không còn miếng khăn che mặt, như muốn nói
tôi bị trời bắt tội. Rất lâu sau này, Hữu không bao giờ quên đôi mắt
ấy. Có lần ở Đà Lạt, nó suýt ngất khi nhìn thấy một ni cô có đôi
mắt giống hệt đôi mắt trong rừng bạch đàn ngày nào. Hữu thét tài
xế riêng quành xe lại, ni cô đã tan vào ráng chiều màu da cam bên kia
ngọn đồi không tên.
Chú Sáu của Hữu đi cải tạo nhưng nhất quyết giữ lại
cái mũ phòng độc được cấp thời quân ngũ. Nhiều năm sau, những người
đàn ông phun thuốc sâu trên những cánh đồng quê Hữu dần dần biến mất.
Đời họ đã bốc hơi theo thứ thuốc độc mà họ hít mỗi ngày. Chú Sáu
sống sót nhờ chiếc mặt nạ phòng độc. “Khi tao trùm cái mũ này, ai
cũng cười. Cái thứ chống độc này, có gì ghê gớm đâu, nó làm bằng
thứ sơ như sơ dừa xứ mình”, cựu thiếu uý không lưu cười nhe mấy chiếc
răng còn lại.
Đến thời của Hữu, lý lịch không còn là thứ barie.
Cũng không ai buồn phân hạng cho tờ giấy 4 trang từng quyết định bao
thân phận con người. Nhưng miếng vải che mặt của cô gái bệnh phong và
cái mũ phòng độc của chú Sáu, cựu sĩ quan không lưu nói tiếng Anh
giọng Mỹ nghèn ngẹt, đã trở thành chiêu thức sống của nó: Muốn
sống sót và thành công, đừng để ai biết mặt thật của mình. Hữu vào
đại học vào cái thời mà thành phần “dân nghèo thị trấn” trong lý
lịch bắt đầu khiến nhiều người tủi thân. Nó sống lay lắt mấy năm
đại học nhờ tiền lương thầy giáo của anh Hai gửi về từ một tỉnh
miền trong. Không biết có phải do cú kim tiêu cước ngày nào hay do lao
lực, thỉnh thoảng anh Hai nôn ra máu. Rồi nó ra trường. Tiếng Nga không
còn mấy ích dụng, cử nhân kinh tế Lê Văn Hữu phải đi tiếp thị bia,
rồi lặng lẽ đi học thêm tiếng Anh để một ngày kia, một yếu nhân nói
tiếng Anh giọng đặc phù sa vùng Mississippi tuyên bố một câu có cánh: “Today
I am announcing the normalization of diplomatic relationships with Vietnam”.
Thỉnh thoảng, trong những đêm thâu Sài Thơ đô hội, một mảnh trí nhớ
nào đó từ dưới đáy ký ức trào lên, như miếng chanh bé tí trong li
đá chanh hiếm hoi thời sinh viên. Phải rồi, Nguyên, anh hùng tàu lửa
ngày nào, tình nguyện đi bộ đội đánh Pol Pot. Từ Previhia trở về,
Nguyên chỉ còn một chân. “Đù má, tụi này thâm hiểm thiệt, không tan
xác mà chỉ bị cứa đứt chỗ này, giờ thì kim tiêu cước mẹ gì nữa”,
Nguyên cười kha kha, “Thiệt ra, đời sống còn nhiều cách tung cước ghê
gớm hơn nhiều. Tụi nó toàn ra đòn phía sau lưng mình”.
Che giấu mặt thật và khi cần không ngần ngại tung
cước, Hữu thành công và đậu lại với nghề thép. Anh phụ trách kinh
doanh được đánh giá là năng động và nhã nhặn đến mức kín đáo. Kín
đáo, đó là thứ “sơ” vừa vô hình vừa hữu hình đã bảo vệ Hữu trước
những cú kim tiêu cước thời kinh tế thị trường.
Trong những giấc mơ hiếm hoi về làng quê của Hữu,
những người đàn ông phun thuốc trừ sâu lần lượt ngã xuống ràn rạt
như bị những phát đạn vô hình. Chỉ có chú Sáu, với chiếc mặt nạ
phòng độc phai phơ, vẫn đủng đỉnh bước tới trên những cánh đồng không
một cánh cò.
Bỗng dưng, chú Sáu chạy vụt về phía Hữu như có ai
đó bấm nút REWIND, chiếc mặt nạ phòng độc teo dần lại và mất hút.
Chú Sáu vọt ra khỏi màn hình giấc mơ, ôm ghì hai vai Hữu, hơi thở
hổn hển.
“Ủa, cái mặt nạ chống độc của chú đâu?”.
“Nó cũ quá, tạo liệng rồi. Đời ăn mòn dữ quá. Nhanh
lên….Thằng Sương anh mày…”.
Hữu vùng dậy, kênh CineMax đang chiếu Huyền thoại
mùa thu của Mỹ.
Sáng hôm sau, một số tờ báo phía nam đăng đồng loạt
tin về một vụ tai nạn giao thông. Trên một tờ báo nọ có cái tin:
Vụ tai nạn hi hữu.
Khuya 15/9, một vụ tai nạn nghiêm trọng đã xảy ra trên
đường Hải Thượng Lãn Ông, thành phố Phan Thanh. Chiếc Audi 4 chỗ ngồi
đã tông vào hông chiếc tắc xi đang chở một bệnh nhân bị tắc nghẽn
mãn tính đi cấp cứu ở bệnh viện Tâm An. Cú va mạnh, làm bẹp một bên
chiếc tắc xi và phần mũi chiếc Audi. Điều hy hữu ở chỗ người trên
cả hai xe đều chỉ bị xây xát nhẹ và người điều khiển chiếc Audi
chính là em ruột của bệnh nhân nằm trên chiếc xe cấp cứu. Theo thông
tin ban đầu, chủ nhân chiếc Audi từ Sài Thơ ra Phan Thanh để dự một
hội nghị khách hàng toàn quốc ngành thép. Do công việc bận rộn, ông
chưa tới thăm anh đang là giảng viên một trường cao đẳng ở thành phố
này.
Một tờ báo khác có thêm mấy dòng bằng thứ ngôn ngữ
phi truyền thông: Theo nhận định ban đầu, người em có thể bị mộng
du thể nhẹ. Ông khai ông đi thăm anh đang nằm viện, không ngờ tông xe
giữa đường. Người báo tin cho ông là ông chú ruột ở quê. Được biết,
người chú được nói đến ở đây đã qua đời hồi năm trước. Có một điều
lạ là khi vào thăm người anh trong trạng thái hôn mê sâu, người em cứ
lặp đi lặp lại một câu không ai hiểu: Mặt nạ của tôi đâu rồi?.
2/12/2022
Đặng Ngọc Hùng
Theo https://vanvn.vn/
Trước men đã nhóm tình
Trước men đã nhóm tình
Có một chiều mắt yêu/ Nhớ dài theo rau hẹ phía sau
lưng/ Ta không buồn ngó lại/ Đi cho kịp nắng vàng rụng cuối thời gian/ Xe hay
ta bỏ chạy lúp xúp vào đêm/ Rượu say hay ta trốn tránh/ Trước men đã nhóm tình…
NGHIỆM VỀ SÔNG
Trông đôi mắt đa tình
Chân chim hằn tua tủa
Giữa hồn sâu giãy giụa
Là khoảng trời sóng xa.
Nơi cái nhìn vụt qua
Có lắng sâu lời hát
Nơi ráo khô vị chát
Có thấm ngọt dòng sông?
Khóe mắt nào đợi trông
Rửa tình ta thiếp ngủ
Tàn cây chao bến cũ
Trăng trầm mình xôn xao…
Con nước xưa dạt dào
Có nhón chân mùa giựt
Con thuyền yêu ray rứt
Nghiệm giọt đời ngọt chua!
BÔNG RÊU ĐỒNG TỨ GIÁC
Bông rêu nở rộ nhiều màu
Hồng vàng đỏ tím lao xao mặt đồng…
Vạt đồng trà sư
Mặt nước tháng tư thẳm sâu tận đáy
Vụt nở tím bông rêu hoang dại
Lửng lờ trên trấp triền đê
Nơi có cánh cò trắng nhánh tràm giăng
Vụt bay cho trời xanh trở lại
Hoàng hôn chưa mà ta tím rịm nỗi buồn xa ngái…
Bông liu riu nở rực trên nước phù du
Đồng Tứ giác gió thu
Mấy bông vàng ngái trên thảm xanh
Mấy bông tím đỏ lìa cành
Ta bùi ngùi thương vành môi em…
Lụt rút
Gió êm
Đồng lặng
Còn bông rêu hồng nẩy lộc gió đông
Xuân tràn lên Tứ giác
Vẳng tiếng hát Khánh Ly qua bài ca họ Trịnh
“Nắng có hồng bằng đôi môi em…”
CHIỀU RAU HẸ QUẤN CHÂN*
Có một chiều mắt yêu
Nhớ dài theo rau hẹ phía sau lưng
Ta không buồn ngó lại
Đi cho kịp nắng vàng rụng cuối thời gian
Xe hay ta bỏ chạy lúp xúp vào đêm
Rượu say hay ta trốn tránh
Trước men đã nhóm tình…
Rồi một hôm nhớ lại
Trăn trở đêm lóe sáng ánh mắt chiều nào đỏ ối
Nhớ rau hẹ dài thường thượt quấn chân nhau
Tình ngoái lại sẽ bối rối
Trăng đã mọc tuổi chiều bao lâu?
Rồi sẽ tóc bạc lạnh rơi
Rồi tuổi ta đã cuối đời
Rồi ngày mai rau hẹ úa vàng!
* Một loại rau dài hơn một mét có ở Tây Ninh
MƯỜI NĂM BẾN CŨ
Gió đâu xa lắc
Phía Nam sông Hậu thổi về
Thổn thức lùa rát đêm khuya
Se thắt lòng ta năm trước
Ngậm ngùi nhìn phà Xóm Chài lặng khuất eo sông
Rước em sang bến…
Đêm nhìn sóng nước lênh đênh
Ngó về phà cũ sương mờ thực hư.
Trong đêm vu quy ta người tài tử
Muộn màng đến dự
Bạn bè đông đủ sao em ngượng lời chào
Đắng ngắt giọt rượu em trao
Chạm ly chia vui sao mắt em rướm lệ
Gió khua sông. Buồn như lời ca đêm hôn lễ
Qua bến mới rồi ai hát em nghe?
Chiều nay. Rẽ chợ Phong Điền
Dầm cũ đơn côi nhìn ngả ba duyên nợ
Ghe đã khẳm qua tháng năm mong nhớ
Không thấy hoa nào đẹp nữa tặng em
Hoàng hôn vô tâm đỏ rụng mái rèm
Mai này trở lại
Xin đừng hỏi vì sao
Bến sông thưa. Chuyến phà tình yêu cũ mục
Bài vọng cổ rung dây điệp khúc
Nước cuốn trôi dấu chân em ngồi giặt
Áo em có nhầu vì lời hát đưa dâu?
Sóng rì rào… rì rầm…
Cứ thổi đêm đêm lùa qua hiên cầu
Con nước ngược xuôi không xóa vết lòng thương tích
Mưa gieo ngọn. Rát buốt từng nhánh sông tĩnh mịch
Hạt rơi nghiêng dài hướng sóng Tây Đô.
Tóc thề. Mười năm em phơi
Sợi nào buột chặt từng lời hát xưa?
CHÙM THƠ 3 CÂU
1.
Cầu vồng mọc
Lung linh sắc màu
Ta hay em quên đi mặt trời.
2.
Cây rụng lá
Đá trở mình
Bật dậy một cánh chim.
3.
Nước liếm mặt đồng
Cá quẫy bờ sông
Lão tri điền ngồi bó gối nhìn.
4.
Cửa đại học
Tung tăng hiền tài
Tướng về hưu lén nhìn nuối tiếc.
5.
Chợ chiều
Buồn như tiếng ca người hành khất
Nhịp song loan buồn hơn.
3/12/2022
Trần Thế Vinh
Theo https://vanvn.vn/
Nguyễn Nhã Tiên với dạ khúc bên bờ sông lấp
Nguyễn Nhã Tiên với
dạ khúc bên bờ sông lấp
Hai mươi năm “thương hải biến vi tang điền” (biển xanh
biến làm ruộng dâu) kể từ sau những hiện diện Giọt thơ (1972), Cõi
về (1996), Khúc hồi âm của lá (2002), thi sĩ Nguyễn Nhã Tiên mới
trở lại thi đàn, ra mắt Những thanh âm bên bờ sông lấp (NXB Hội Nhà
văn 2022). Hai mươi năm với bao biến thiên của thời gian và cuộc đời nhưng thơ
Nguyễn Nhã Tiên vẫn tươi tốt phù sa xanh biếc những linh hồn.
Hơn 70 bài thơ được thi sĩ chọn in chung trong một tập sách
dày 220 trang, quả một cánh đồng bội thu chữ nghĩa, dù ông khiêm tốn nhận Thơ
tôi gieo cấy mười năm cả cánh đồng thóc lép/ không nên nổi mùa vàng giờ xin cát
hạt vui (Ngày ở với hồn nhiên). Đến với Những thanh âm bên bờ sông lấp,
ta nhận ra tấc lòng Nguyễn Nhã Tiên trong mối tình tiền kiếp lót ở ngoài
chân mây của một thi sĩ tha thiết với thơ ca, làng quê và với chính cuộc đời
này.
Lạc vào rừng thơ Nguyễn Nhã Tiên, ta chú ý nhiều đến những
khúc đêm xuất hiện đậm dày trong thi phẩm bởi khoảng không, thời gian ấy là thời
khắc ông tự vấn để suy tư, chiêm nghiệm về sự đổi dời dâu bể. Xưa Trần Tế Xương
đã từng thở dài khi con sông Vị Hoàng của quê hương ông bị san lấp, hay nói rộng
hơn là nỗi đau xót trước sự đổi thay của xã hội thành thị nửa Tây, nửa
Ta: Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng
nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò (Sông Lấp- Trần
Tế Xương).
Còn với nhà thơ Nguyễn Nhã Tiên, ông tìm đến với thơ như tìm
đến sự cứu rỗi linh hồn và sông lấp của thơ ông là những cảm thức tiếc nuối, cô
đơn, trở trăn trước sự chảy trôi của thời gian và kiếp người: Đời thực quá, may
câu thơ cứu rỗi/ em lụa là nhân ảnh bước rong chơi (Lãng mạn với sông
Hương). Cảm thức đêm vốn là nguồn cảm hứng muôn đời của thi sĩ bởi không có
bóng tối, chúng ta không thể thấy sao trời. Và với Nguyễn Nhã Tiên, đêm thắp
cho ông ngàn ánh lửa để nhà thơ soi rọi mình, đối diện với nỗi đơn côi và kết
đúc nên những vần thơ giàu nội lực.
Những thanh âm bên bờ sông giữa đêm khuya vắng lặng xuất hiện
khá thường xuyên trong thơ Nguyễn Nhã Tiên. Đó có thể là tiếng còi tàu văng vẳng cứa
vào ngực tôi ngọt xớt tựa dao mềm, tiếng sóng chạm vào phiến nguyệt, tiếng
gàu va vào thành giếng khuya bật lên thanh âm vô tận, tiếng người ngày xưa với nỗi
khuya khuắt chạm vào tôi, những ngọn nồm rì rào kể chuyện, tiếng đêm rơi gọi
cát trở mình…Những âm thanh ấy gợi tôi liên tưởng đến tiếng ếch bên bờ sông Lấp
của Trần Tế Xương, tiếng cuốc kêu trong thơ Nguyễn Khuyến (Cuốc kêu cảm hứng).
Dẫu mỗi nhà thơ một hoàn cảnh, một tâm trạng khác nhau nhưng lại gặp nhau ở cảm
thức về âm vọng đêm. Những đêm không ngủ, người thơ lắng nghe được mọi âm thanh
vang lên giữa không gian tĩnh mịch, những âm vọng ấy gợi niềm hoài cổ đến mênh
mang.
Và với thi sĩ Nguyễn Nhã Tiên, âm khúc quê mùa mãi vang vọng
trong thơ, bởi ở đó chất chứa bao niềm trở trăn trước sự đổi thay chóng mặt của
nông thôn trước làn sóng đô thị hóa: Quê gần mà xa lắc quê/ gàu rơi giếng
cổ vẳng nghe bồn chồn (Ngọn gió siêu hình). Cụm từ xa lắc quê vẳng
lên, nghe thân thương đến lạ cho thấy cái hồn cốt Quảng Nam không xa rời bước
chân người thi sĩ dù ông có đi đến đâu. Ta đã từng gặp một tiếng gàu va vào
thành giếng đêm ba mươi Tết trong thơ Nguyễn Nhã Tiên làm nên một khúc quê xao
xuyến lòng người: Có tiếng gàu ai bỏ quên ngoài giếng/chạm vào tôi ngân
mãi khúc quê mùa…và giờ đây, âm thanh ấy vọng về đêm thành thị, ngân lên nỗi bồn
chồn vì nhớ thương, nuối tiếc đến sững người.
Những thanh âm bên bờ sông lấp – Tập thơ của Nguyễn Nhã Tiên
Đọc thơ Nguyễn Nhã Tiên, ta bắt gặp sự chống chếnh đơn côi –
một nỗi niềm không hề bất-bình-thường trong cuộc đời đầy thăng trầm, chứng kiến
nhiều mất mát như thi sĩ Nguyễn: Một đêm chim hạc về trời/ bỏ mùa xuân ở với
tôi một mình (Đường thanh minh). Chính về thế, sông đã trở thành người bạn
tâm tình cùng ông trong đêm vắng: Những lúc cô đơn vịn vào sông/ bước.
Sông hiểu những phơi trải của lòng người; là nơi ông trút hết những bận bịu lo
toan, những khổ đau trên cõi đời: Chừ còn tôi với sông/ sóng vỗ tràn thương
nhớ…; là chỗ dựa tinh thần, khoảng lặng để người thơ suy tư trong đêm vắng: Đời
thực qúa, may còn sông hư ảo/ áo sương mù xin cứ khoác cho nhau/ để đêm xuống với
vầng trăng cổ sử/ xoa xít dỗ dành mỗi lúc tôi đau. Sông đêm với nỗi hoài nhớ về
một thời tấp nập hay sông lấp với bến không người luôn gợi niềm thổn thức trong
ông. Và bài thơ mang tên của chính tập sách hàm chứa mọi nỗi xốn xang, luyến tiếc
về một thuở vàng son của tuổi trẻ, tình yêu trong lòng thi sĩ:
Chỉ còn mỗi ngọn nồm rì rào kể chuyện
mộ cát nhấp nhô
sông lấp tự bao giờ
trăng non gieo ngọc khoáng đầy cổ tích
ngọn gió lang thang vọng thức bến không người
(Những
thanh âm bên bờ sông lấp)
Để gửi lòng mình trong đêm vắng vào thi ca, Nguyễn Nhã Tiên
đã đa dạng hóa các thể loại thơ. Ngòi bút ông tung hoành trong thể tự do, kiệm
lời trong thơ lục bát, riêng tôi lại thích giai điệu thơ ông ở thể lục ngôn.
Hàng loạt các bài thơ sáu chữ trong Những thanh âm bên bờ sông lấp ngân
vang trong tôi những xôn xao của khúc nhạc lòng: Tiếng chiều, Những âm sắc
vườn tôi, Gió gọi, Thổi đi từng cơn gió bấc, Khoảnh khắc với hoàng thành… Nguyễn
Nhã Tiên không chỉ làm mới thơ ở việc tạo tính nhạc mà còn ở cách kết hợp ngôn
từ khá lạ; trong từng bài thơ, bạn đọc đều có thể lọc đãi ra vài câu “rất Nguyễn
Nhã Tiên”: Tàu đến tàu đi dốc vào tôi kỷ vật/ mỗi tro than tôi tạc một
hình hài (Tiếng khuya); Rêu xanh một mái hiên gầy/ cỏ thơm lót chỗ
mây bay đắp mình (Ngọn gió siêu hình); Phía ánh lửa chiều hôm mơ hồ
nhưng rất thực/ may còn chút tàn tro nhận mặt nỗi buồn (Phía mơ hồ); Những
cát bụi không còn nơi ẩn trốn/ hạnh phúc từ ngực người nhuộm thắm hương hoa (Khúc
quê); Đừng trôi đi hết/ đừng trôi/ trả tôi sông cất tiếng cười giòn tan/
áp tai vào nước nghe non/ ơ hay/ sông có linh hồn em ơi (Gió hồi âm).
Những thi ảnh trong thơ Nguyễn Nhã Tiên gần gũi, thân thuộc với
mọi người nhưng được nhà thơ khoác lên một tấm áo mới bằng cái tài của người vận
chữ, cái tình quê hương mặn nồng và chất lửa đối với thơ ca. Các từ địa phương
“đặc sệt Quảng Nam”như: ngọt xớt, chừ, xa lắc, mô, cũ càng… được ông vận vào
thơ hài hòa và nhuần nhuyễn vừa tạo nét cá tính thơ, vừa đậm chất hồn quê cổ xứ.
Về điểm này, tôi đồng điệu với nhận xét của Chu Thụy, người bạn văn nghệ của
ông: Đọc thơ Nguyễn Nhã Tiên, thấy rành rẽ một ngôn ngữ nói sắc lẻm, tự
nhiên như không, nhưng đó quyết phải là thứ ngôn ngữ sang trọng và đầy sức hút.
Lang thang cùng khúc tâm tình trong đêm vắng qua Những
thanh âm bên bờ sông lấp để hiểu thêm ngòi bút đa thanh Nguyễn Nhã Tiên.
Dù viết ở bất kì thể loại nào thơ, bút kí, tản văn; trang sách của ông đều thể
hiện sự hài hòa giữa chất trí tuệ lấp lánh từ sự am hiểu khá tinh tường về nguồn
cội xứ sở cùng chất trữ tình lắng đọng bởi những cảm xúc và sự gắn bó máu thịt
với làng nước yêu thương. Những thanh âm bên bờ sông lấp chắc chắn sẽ
rung ngân trong lòng độc giả bởi đó là quãng lặng để ai đó tìm về, dù rằng thơ
ca và cuộc đời đều có quy luật: Rồi ngày qua/ rồi đời qua/ bụi rơi xuống đất
hương hoa lên trời/ em còn buồn nữa hay thôi/ núi cao là biết phận đời chon von (Nghĩ
về thơ - Nguyễn Nhã Tiên).
3/12/2022
Nguyễn Thị Thu Thủy
Theo https://vanvn.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...




