Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2016

Vui buồn nghe khúc nhạc hè

Vui buồn nghe khúc nhạc hè...
Nói tới những khúc nhạc mùa Hè chắc ai cũng không quên bài “Hè về” của nhạc sĩ HÙNG LÂN. Ông sinh năm 1922, mất năm 1986. Ông là một nhạc sĩ danh tiếng, tác giả những ca khúc “Hè về”, “Khỏe vì nước”, “Việt Nam minh châu trời đông”. Ông cũng là một giáo sư giảng dạy âm nhạc uy tín và là người khởi xướng dùng tiếng Việt để hát thánh ca. Ông cũng là tác giả đặt lời Việt cho bài “Silent Night” nổi tiếng với tựa đề “Đêm thánh vô cùng”.
Bài “Hè về” có nội dung thật vui tươi với cảnh thiên nhiên được tả thật đẹp, nghe thấy yêu đời. Nguyên văn như sau:
“Trời hồng hồng, sáng trong trong, ngàn phượng rung nắng ngoài song.
Cành mềm mềm, gió ru êm, lọc mầu mây bích ngọc qua mầu duyên.
Đàn nhịp nhàng, hát vang vang, nhạc hòa thơ đón hè sang.
Hè về trong khóm trúc mềm đầu bờ.
Hè về trong tiếng sáo diều dật dờ. Hè về gieo ánh tơ.
Bâng khuâng nghe nắng đùa mây trắng đàn chim cánh đo trời.
Phân vân đôi mái chèo lữ thứ thuyền ai biếng trôi.
Xa xa lớp lúa dồn cao sóng, vàng leo dốc chân đồi.
Thanh thanh hương sen nồng ướp gió trăng khi chiều rơi.
Hè về, hè về, nắng tung nguồn sống khắp nơi.
Hè về, hè về, tiếng ca nhịp phách lên khơi.
Đầu ghềnh suối mát reo vui dạt dào. Ngập trời gió mát ven mây phiêu bạt.
Hồn say ý chơi vơi, ngày xanh thắm nét cười, lòng tha thiết yêu đời.
Đây suối trăng rừng thơ, đây gió nhung huyền mơ.
Đây phím ngọc đường tơ, đây tứ nhạc ngàn xưa.
Hè về, non nước yêu yêu, Hè về nắng thông reo.”
Bài nhạc thứ hai là bài “Khúc ca mùa hè” của nhạc sĩ CANH THÂN. Ông là một trong những nhạc sĩ tiên phong của tân nhạc Việt Nam nhưng có rất ít tài liệu nói về ông. Ông sinh khoảng năm 1920, không rõ năm mất. Xuất thân từ nghệ sĩ cải lương, thời kỳ đầu ông là một ca sĩ của tân nhạc, ông có tham gia hội ái Tino và lấy biệt danh là Tino Thân, ngoài ra ông cũng là một nhạc công đa tài. Về lĩnh vực tình ca, ông nổi tiếng với bài “Cô hàng cà phê”, “Khúc ca mùa hè” và “Anh còn cây đàn” v.v… Bài “Khúc ca mùa hè” cũng đầy yêu thương và vui tươi như nơi… thiên đàng. Nguyên văn như sau:
“Về đây ta lắng nghe muôn cung đàn. Đường tơ tha thiết vương hương nồng nàn.
Về đây nghe bao câu hát du dương mơ màng. Và về đây tắm ánh sáng trăng huy hoàng.
Khúc ca mùa hè. Lắng trong chiều về. Vang trong đêm êm đềm thánh thót.
Ngân nga tiếng ai ca. Khúc ca mùa hè.
Gió xa dồn về. Lướt qua bên hè. Nghe như ru như gợi tình thơ.
Nghe như thấy lâng lâng. Bừng một trời mơ.
Những cánh bướm khoe màu thắm. Bay lao xao trong ngàn hoa.
Lữ khách đứng thẫn thờ ngắm. Cuộc đời vui tươi như nơi thiên đàng.
Nhịp đàn hòa theo khúc ca mùa hè. Ta lắng lắng nghe.
Nhạc đón yêu thương về. Một mùa đầy hoa ngát hương.”
Nhưng tiếc thay mùa Hè đôi khi cũng mang lại những cảm giác buồn bã, sầu bi như trong bài “Nỗi buồn hoa phượng” của nhạc sĩ THANH SƠN. Ông sinh năm 1938 và qua đời vào năm 2012. Ông được biết đến từ thập niên 1960 với những ca khúc trữ tình nói về tình cảm của tuổi học trò trong đó nổi tiếng hơn hết là những bài về mùa hè. Bài “Nỗi buồn hoa phượng” được ông tâm đắc nhất. Khoảng thời gian sau, ông nổi tiếng với các ca khúc về miền Tây Nam Bộ mang âm hưởng dân ca Nam bộ và với dòng nhạc boléro. Bài “Nỗi buồn hoa phượng” có những đoạn buồn bã vì chia ly:
“Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn. Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương.
Ngày mai xa cách, hai đứa hai nơi. Phút gần gũi nhau mất rồi. Tạ từ là hết người ơi!…
… Nếu ai đã từng nhặt hoa thấy buồn. Cảm thông được nỗi vắng xa người thương.
Mầu hoa phượng thắm như máu con tim. Mỗi lần hè thêm kỷ niệm. Người xưa biết đâu mà tìm?”

Rồi đến bài “Tóc em chưa úa nắng hè” của nhạc sĩ PHẠM MẠNH CƯƠNG cũng gợi buồn man mác. Ông sinh năm 1933. Ông còn được biết tới với vai trò sản xuất những băng nhạc mang tên Phạm Mạnh Cương rất phổ biến ở Sài Gòn trước 1975. Phải đến bản tango “Thu ca” viết năm 1953 ở Hà Nội thì tên tuổi ông mới thực sự được công chúng biết tới. Năm 1956, ông viết Thương hoài ngàn năm, ca khúc đầu tiên ông viết ở miền Nam. Phía sau mỗi nhạc phẩm đều ghi dấu một kỷ niệm đã tạo nên nguồn cảm hứng, từ đó ông liên tiếp tung ra những ca khúc: “Thung lũng hồng”, “Mắt lệ cho người tình”, “Tóc em chưa úa nắng hè.” Bài “Tóc em chưa úa nắng hè” cũng buồn bã, ngậm ngùi đầy nhung nhớ và nước mắt:
“Rồi nắng hạ tàn phai. Cơn mê tình ái. Rã rời lạc lối.
Theo dấu chân em về. Chập chùng lớp sóng. Trắng xóa mênh mông.
Bờ cát mịn từ đây. Không em hờn dỗi. Tháng ngày mù tối…
… Rồi cánh phượng hồng rơi. Chơi vơi ngàn lối. Mỏi đường tình ái.
Con sóng khuya xô về. Ngậm ngùi sỏi đá. Nuối tiếc trôi qua.
Còn dấu buồn hồn hoang. Nghiêng nghiêng vực nhớ. Mưa chiều lạnh giá.
Em tóc em hong vàng. Hạ buồn chiều úa. Em khóc chiều xưa.”

Trong bài “Hạ trắng”, TRỊNH CÔNG SƠN cũng vẽ ra cái nắng mùa hè buồn bã không kém:
“Gọi nắng! Trên vai em gầy, đường xa áo bay. Nắng qua mắt buồn, lòng hoa bướm say.
Lối em đi về, trời không có mây. Đường đi suốt mùa, nắng lên thắp đầy.
Gọi nắng! Cho cơn mê chiều nhiều hoa trắng bay. Cho tay em dài, gầy thêm nắng mai.
Bước chân em về nào anh có hay. Gọi tên cho nắng chết trên sông dài…”
Trong nhạc phẩm “Ngày tạm biệt” của nhạc sĩ LAM PHƯƠNG cũng gợi buồn vì cảnh chia ly đôi ngả. Bài “Ngày tạm biệt” đã làm xao xuyến bao con tim học trò mộng mộng, mơ mơ, vào những dịp liên hoan bãi trường. Có ai nghĩ rằng mấy chục năm sau Lam Phương sẽ hát bài nhạc đó cho chính bản thân mình trong buổi phu thê chia tay? Tương lai đã thấy trước, hay định mệnh được an bài? Bài “Ngày tạm biệt” vẽ ra cảnh hoa phượng âu sầu tơi tả:
“… Nhớ hàng phượng thắm ven đường, mỗi lúc chiều buông. Tan tác rơi cài lên mái tóc xanh. Với bóng dáng ai chiều ấy nâng niu tà áo. Biết nói gì khi chia ly. Anh nghe chăng ngoài kia hoa vẫn rơi. Bên xác hoa âu sầu vì tả tơi. Ngàn ve buông tiếng nỉ non như thương cho người đi. Thôi chia tay cạn ly vui chúc đi: Ta chúc nhau những gì đẹp lòng nhau. Dù thời gian có phôi pha, ta không bao giờ quên.”
Rồi đến các bài nhạc của TRẦM TỬ THIÊNG. Ông sinh năm 1937, mất năm 2000. Ông là một nhạc sĩ của dòng nhạc vàng và tình ca giai đoạn 1954 – 1975 tại miền Nam Việt Nam. Ông sáng tác nhiều bài về mùa Hè như “Đưa em vào hạ”, “Người tình mùa hạ”, “Mây hạ” và cùng với TRÚC HỒ trong bản “Cơn mưa hạ”. Bài nào cũng thoáng hiện nỗi buồn! Bài “Đưa em vào hạ” cũng gợi cảnh chia ly nhưng lại phảng phất mùi giặc giã, chiến tranh:
“Mùa hè năm nay anh sẽ đưa em rời phố chợ đôi ngày. Qua miền xa mà nghe rừng thiêng gọi lá. Tiếng nỉ tiếng non khi chiến trường nằm im thở khói. Đứa bé nhìn cha đang chờ giặc dưới giao thông hào…
… Quê hương đau, nắng hạ cũng buồn. Nước sông ngăn đôi sơn hà. Còn gì em, còn gì đâu? Mùa hạ qua mau, đi nữa đi anh. Chỉ con đường quê hương mịt mùng. Thương những chiều nắng rọi bờ sông…”
Bài “Người tình mùa hạ”:
“…Rồi hạ lại về. Mà em sao không thấy đâu. Cho biển vắng!
Lặng nhìn tôi về. Nằm nghe tương tư qua từng đêm. Hỡi em ơi! Em giờ đâu…?!”
Bài “Mây hạ” (sáng tác năm 1967):
“Em đi chiều nay, đường nắng duỗi thân dài. Chân chưa vội lay, lại đau từng bước mọn.
Em ca bài ca, chiều nay buồn hơn khóc. Nghe từng ngày mai, thẫn thờ một mình đây!…
… Em mãi còn đi, sầu giăng dài đêm tối. Thương từ ngoài hiên, dấu hài chìm vào mưa.”
Bản “Cơn mưa hạ” sáng tác cùng TRÚC HỒ:
…“Nhạc gọi mưa hay mưa trút xuống đời. Thành dòng lệ, thành đêm bão tố về.
Rồi từ đó cũng nghe trong anh. Lòng đổ mưa, cơn mưa hạ về giữa đêm.
Tình yêu đó rét mướt như muôn tiếng tơ. Tình yêu hỡi, mãi mãi mong gì đón chờ.
Dù những đêm buồn đơn vắng. Nhớ khôn nguôi chuyện đêm nay.
Cơn mưa hạ về bấp bênh”…
Thi sĩ NHẤT TUẤN, tên thật là Phạm Hậu, sinh năm 1935. Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào miền Nam, định cư tại Đà Lạt. Ông gia nhập trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt năm 1955 rồi ra trường phục vụ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho đến 30/4/1975. Ông nổi tiếng với những bài thơ trong tập “Truyện chúng mình”. Một trong những bài thơ này được nhạc sĩ ANH BẰNG phổ nhạc. Nhạc sĩ ANH BẰNG, sinh năm 1926, nổi tiếng với số lượng sáng tác khoảng 650 tình khúc để lại cho đời. Ông là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc vàng và nhạc hải ngoại, là người đã sáng lập Trung Tâm Asia vào năm 1981. Ngoài những tác phẩm của chính mình, ông còn là một trong nhóm ba người hợp tác soạn nhạc với bút hiệu Lê Minh Bằng.
ANH BẰNG phổ thơ NHẤT TUẤN, bài “Hoa học trò”. Hình ảnh tuổi thơ thật dễ thương:
“Bây giờ còn nhớ hay không? Ngày xưa hè đến, phượng hồng nở hoa.
Ngây thơ anh rủ em ra. Bảo nhặt hoa phượng về nhà chơi chung…
… Bây giờ còn nhớ hay không? Anh đem cánh phượng tô hồng má em.
Để cho em đẹp như tiên. Nhưng em không chịu, sợ phải lên trên trời…
… Lên trời hai đứa hai nơi. Thôi em chỉ muốn làm người trần gian.
Hôm nay phượng nở huy hoàng. Nhưng từ hai đứa lỡ làng duyên nhau.
Rưng rưng phượng đỏ trên đầu. Tìm em, anh biết tìm đâu bây giờ?
Bây giờ tìm kiếm em đâu. Bây giờ chỉ thấy thương đau.”
Tuy còn nhiều nhạc sĩ khác sáng tác với đề tài liên quan tới mùa Hè nhưng tạm xin ngưng nơi đây với nhạc sĩ LÊ HỰU HÀ. Ông sinh năm 1946, mất năm 2003 vì tai biến mạch máu não tại Sài gòn. Ông nổi tiếng với các ca khúc “Vào hạ”, “Hãy yêu như chưa yêu lần nào”, “Yêu em”, “Hãy vui lên bạn ơi”, v.v… Ông được đánh giá là một trong những người Việt hóa nhạc trẻ Âu-Mỹ đầu tiên ở Việt Nam.
Cũng trong một chủ đề, nhạc sĩ LÊ HỰU HÀ lại có cái nhìn khác về mùa Hè. Ông thả hồn trong khung cảnh trời nhẹ lên cao, với bóng chim lờ lững, bên dòng sông im lìm. Lòng thanh thản yêu thương cuộc đời trước mặt vì cảm nhận được cái phù du vô thường của kiếp sống. Bản nhạc “Vào hạ” nhịp điệu nhẹ nhàng, dễ thương:
…“Ta rong chơi phiêu lãng cuối trời. Đời bọt bèo phù du kiếp người. Dù qua bao nhiêu đắng cay vẫn cười. Và đời còn mùa hạ tươi vui. Và lòng còn nhiều điều muốn nói.
Hãy thắp sáng tâm hồn. Cháy lên trong tim mỗi người. Những yêu thương cho cuộc đời. Mùa hạ ơi! Tình phơi phới! Bạn ơi! Xin hãy vứt hết nỗi buồn. Xóa tan đi bao đêm trường. Bước ung dung trong cuộc đời… hạ ơi…!”
Trong một năm, có bốn mùa luân chuyển. Hết Xuân, Hạ lại đến Thu, Đông. Mùa Hạ lúc nào cũng là mùa Hạ, nhưng vì lòng người sôi động nên mới cảm thấy có lúc vui lúc buồn, mới cảm thấy nắng hè chuyển gam sắc độ theo nhịp tim của mình. Thi sĩ Nguyễn Du từng viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” và thi sĩ Lamartine rất chí lý khi nói: “Le spectacle est dans les yeux ” (Cảnh ngoài cũng chỉ do đôi mắt người).
Thôi thì hãy cứ sống an lạc thân tâm trong giây phút hiện tiền! “Hè về, hè về, nắng tung nguồn sống khắp nơi… tiếng ca nhịp phách lên khơi… Hồn say ý chơi vơi, ngày xanh thắm nét cười, lòng tha thiết yêu đời.”.
Ngô Tằng Giao
Mùa hè 2015

Theo http://vietlifestyles.com/



Nhà thơ Lê Thành Nghị: Như lặng im dòng sông mê chảy

Nhà thơ Lê Thành Nghị: Như lặng im 
dòng sông mê chảy
Cần mẫn với công việc, ít nói về mình, nặng lòng với bạn nghề, Nhà thơ Lê Thành Nghị ặng lẽ như một dòng sông êm đềm và chất chứa đầy xúc cảm. 
Nhà thơ Lê Thành Nghị thừa nhận rằng, ông yêu mến và chịu ảnh hưởng của nền văn học Nga cũng như hai nhà thơ Chế Lan Viên và Nguyễn Đình Thi. Nhưng người khơi gợi trong ông tình yêu văn chương không ai khác chính là “ông hoàng thơ tình”, người đồng hương của ông, nhà thơ Xuân Diệu.
Ông kể: “Năm tôi học lớp 5 ở trường cấp 2 Thụ Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh thì nhà trường mời nhà thơ Xuân Diệu từ làng Nghèn (Trảo Nha) về nói chuyện thơ với giáo viên học sinh của trường. Tôi không nhớ Xuân Diệu đã nói gì về thơ, chỉ biết rằng, sau đó, mỗi buổi sáng đi bộ trên con đường quen thuộc đến trường, tôi nhận ra được nhiều điều mới mẻ, có khi chỉ là một bông hoa nhỏ xíu tim tím trong lùm cỏ, có khi là bầy sẻ đồng ríu rít bên vạt lúa chín, có khi là mùi bùn hăng ngái từ ao sen làng…
Sau buổi nói chuyện ấy, nhà trường phân công tốp học trò 5 em đi tiễn thi sĩ họ Ngô về Nghèn, trong đó có tôi. Cả quãng thời gian đi bộ 8 cây số ấy, dù nhà thơ Xuân Diệu đôi lúc có hỏi chúng tôi một vài điều gì đó rất qua loa nhưng ấn tượng về ông đối với tôi thực sự rất lớn, nó nuôi dưỡng cho tâm hồn tôi trong suốt những ngày phổ thông. Lần khác, vào tháng 12/1979 biết Xuân Diệu sang Liên Xô (cũ), nhân dịp đó, tôi mời ông về trường Lômônôxôp để nói chuyện thơ với sinh viên Việt Nam học tại trường.
Sau này, cũng một ngày tháng 12/1985, tôi đứng trong một góc khuất nhìn những cây nến cháy lặng lẽ trên linh cữu ông, nghe trọn bài điếu văn nói về “Một cây lớn nằm xuống…” nước mắt tự dưng chảy tràn”.
Cẩn trọng và tận tụy
Với tình yêu văn học từ rất sớm, với những kiến thức mà ông tích lũy được, lại được làm việc trong cùng một mái nhà với những Thanh Tịnh, Vũ Cao, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều... Lê Thành Nghị từng bước trưởng thành. Lê Thành Nghị tâm sự rằng, mái nhà số 4 - Lý Nam Đế, ở một mặt nào đó, như một ngôi nhà lớn đối với ông. Ông được chứng kiến sự những bóng cổ thụ của nền văn chương Việt Nam viết những tác phẩm bất hủ, nhưng cũng xót xa nhìn lá vàng rụng về cội. Lê Thành Nghị kể: “Có những nhà văn ốm đau lâu ngày, nửa đêm tắt thở trên giường bệnh viện như Nguyễn Trọng Oánh, tôi cùng nhà văn Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Bảo và gia đình Nguyễn Trọng Oánh ôm lấy thân hình nhà văn còn nóng ấm xuống nhà xác.
Có những nhà văn nhà xa ở tận Hải Phòng như Duy Khán, chúng tôi thức thâu đêm giá rét lo chuyện mai táng khi Duy Khán qua đời. Có lần mùa mưa lũ, khu tập thể Nam Đồng nước ngập tới ngực, tôi cùng nhà văn Nguyễn Trí Huân đã bì bõm trong nước đến nhà lo chuyện tang lễ cho chị Lý vợ nhà văn Hải Hồ... Những ký ức ấy có lẽ sẽ không bao giờ phai trong tâm trí tôi”.
Nhà thơ Lê Thành Nghị sinh tại Can Lộc, Hà Tĩnh. Ông tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học tổng hợp Hà Nội và sớm trở thành một cán bộ nghiên cứu văn học của Viện Văn học. Đầu năm 1972, ông gia nhập quân đội. Đây là đợt tuyển quân bổ sung cho Thành cổ Quảng Trị. Mấy năm sau, ông hoàn thành nhiệm vụ và trở về đầu quân cho Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Tại đây, ông được cử sang Liên Xô (cũ) làm nghiên cứu sinh, bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ tại trường Đại học Lômônôxốp (năm 1981) rồi trở lại làm việc tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Trước khi nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Tổng biên tập.
Lê Thành Nghị được đánh giá là người cần mẫn, ông cần mẫn với công việc, với thi ca. Dường như sự cẩn trọng và chi chút của ông khiến người ta có cảm tưởng, bất cứ điều gì khi vào tay ông cũng sẽ được hoàn thành ở mức tốt nhất, kỹ lưỡng nhất. Tuy nhiên, với bản tính của một người ít khi nói về mình, ít giao thiệp, ít đến chốn đông người, ít ngồi quán xá uống đôi vại bia cùng bầu bạn, nên thành công đến với Lê Thành Nghị, vì vậy, cũng ít sự ồn ào.
Ông tự nhận mình là một người sống khá “tẻ”, theo nghĩa đen, vì ông không biết đánh cờ, không biết uống rượu, không biết hút thuốc lá, cũng chẳng có điều tiếng trong chuyện tình yêu. Cũng không phải ông không đa cảm, vì nhà thơ nào mà chẳng xao lòng trước cái đẹp, nhưng dường như với Lê Thành Nghị, bao nhiêu nỗi niềm ông gửi hết vào thi ca, vào câu chữ. Ông âm thầm tự làm lắng lại các xúc cảm để dồn nó lên ngòi bút, như một cách tự thắp lửa cho trái tim mình. Trong bài thơ “Im lặng” viết để tặng nhà văn Nguyễn Thi, ông nói như để tự trải lòng: “Vẫn thường sống trong im lặng/ Vẫn như bản nhạc không lời/ Như lặng im dòng sông mê chảy/ Như lặng im trời xanh mây bay/ Đôi khi buồn nghe gió trở trên cây/ Thầm lặng khóc từng bông hoa đại rụng…”.
Áng mây vô định
Thật lạ, hiếm thấy nhà thơ nào ở quá xa cái tuổi mộng mơ với mây trời, trăng sao lại có thể giữ được sự tươi xanh của cảm xúc như Lê Thành Nghị. Tôi đồ rằng, khi làm thơ, đôi chân ông không hề chạm đất, nó như bay bổng ở trên cao vào một cõi khác, nhiều hoa tím, nhiều sông trôi, nhiều lá vàng chấp chới mùa thu, nhiều mây bay lơ lửng ở trên đầu, nhiều cỏ xanh ngút ngát.... Hình bóng cố nhân cứ trộn lẫn vào bóng quê hương, bóng con sông Nghèn, sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố trở về trong ông khắc khoải: “Sông mất một đời trôi đi dại dột/ Tôi mất một đời để quên một người”, hay: “Cánh buồm nào đưa người đi biền biệt/ Ngọn gió nào cứ buốt suốt mùa qua/ Mưa trên phố loang dần ký ức/ Ướt trong tay một vệt nắng nhòa/ Ngàn lần mơ sao không một lần thực/ Một tiếng chim in trên lớp bụi mờ/ Người về đó rèm vừa lay gió bấc/ Hay ta vừa tan một giấc mơ…”.
Có lần tôi hỏi, liệu trong ông có lúc nào xảy ra sự xung đột nào giữa người thơ và người của lý luận phê bình? Ông cười, với ông, thơ làm cho phê bình thêm uyển chuyển và phê bình làm cho thơ thêm chặt chẽ và có hồn, những bài phê bình sẽ mềm mại hơn, dễ cảm nhận hơn. Làm phê bình là công việc của người phải đọc nhiều, điều đó là một nguồn tiếp nhận vô tận để thi ca của ông cất cánh.
Lê Thành Nghị được coi là một trong những nhà thơ vẹn tròn trong nhiều lĩnh vực. Ông may mắn có một hậu phương, một gia đình yên lành. Ông nói nửa đùa nửa thật rằng, “giang hồ ta chỉ giang hồ tạm”, mơ mộng đến đâu rồi cũng phải có một chốn đi về. Giờ đây tuy đã nghỉ hưu nhưng với bản tính “con nhà lính” nên ông vẫn lập cho mình một “thời gian biểu” kín mít: lướt web, đọc sách, viết lách, tập thể thao… Có công việc, họp hành, ông tự lái ô tô riêng vi vu cùng phố phường tấp nập.
Khi câu chuyện của chúng tôi đã sắp kết thúc, trời cũng bắt đầu thoáng đãng hơn sau trận mưa to, tôi ngập ngừng xin phép ông ra về mặc dù câu chuyện tưởng như kết thúc ấy cứ mở ra, kéo dài chuyện này đến chuyện khác như vô tận. Có lúc ông dừng câu chuyện để ngắm bể cá vàng và ví mình như một con cá nâu cọ bể bị bỏ quên:“Một góc trong veo, sắc màu, hiền hòa, ánh sáng/ Thành phố bụi bặm, ồn ào, đua chen đã ở đâu xa lắm/ Ta còn đâu một góc bình yên/ Những chú sư tử vàng, rô cờ, chép hoa, thủy tiên/ Lấp loáng bạc, lóng lánh vàng, vương nhẹ xanh và phơn phớt tím/ Những vũ công đài các, xa hoa trong điệu múa thần tiên/ Tung thả vô biên trên mặt nước/ Nhưng kìa dưới tầng sâu nhất/ Có con cá nâu đang dọn bể âm thầm/ Chậm chạp, hiền từ và đang quên việc mình bị bỏ quên…”. Có lẽ khung cảnh của đô thị mới hiện đại nơi ông đang sống là mơ ước của nhiều người, nhưng tôi đồ rằng, với ông, ngôi nhà này như “không có nóc”, nó nằm ngoài sự quan tâm của ông, bởi tâm hồn lặng lẽ của ông đôi lúc như một áng mây, cứ bay lượn ở một chân trời vô định: “Tôi đã bao lần ngồi trong nắng sớm/ Chẳng chờ đợi gì ngoài một giọng chim/ Tôi đã bao lần trên con đường vắng/ Chẳng chờ đợi gì ngoài khoảnh khắc lặng yên/ Tôi đã bao lần trôi trên suối tím/ Chẳng ước ao gì ngoài được trôi êm”…
Nhật Huy
Theo http://www.baomoi.com/

Với nhạc sĩ vẫn là cánh cửa hẹp

Với nhạc sĩ vẫn là cánh cửa hẹp
Từ những cuộc chạy đua không ngơi nghỉ của các gương mặt trẻ, dần tiết lộ bí mật gần như trở thành quy luật đó chính là sự sáng tạo phải được đặt trong tài năng và sự khổ luyện. 
Sân chơi dành cho những người sáng tác ngày càng ít, không đóng khung trong chương trình giới thiệu ca khúc hoặc giả là tham gia các hội và công chúng chưa thật sự dành cho họ một vị trí xứng đáng hơn. Mưu sinh hay nghệ thuật giờ đây không còn là cuộc tranh đấu của bộ phận lớn người sáng tác, mà có khi câu hỏi hiện nay đơn giản là làm sao công bố một tác phẩm có giá trị nghệ thuật trong khi công chúng đang có nhiều ngã rẽ và nghệ thuật nghe được thay thế bằng cái nhìn thị giác tầm thường.
Sáng tác để ai nghe?
Tại sao nhạc Việt lại có một giai đoạn bùng nổ của nhạc nhẹ đã cách đây gần 20 năm? Một câu hỏi nhiều người sáng tác băn khoăn, và không ít những cuộc chấn hưng, đi tìm, phân tích và làm mới những người sáng tác từ trong suy nghĩ lẫn cách nhìn nhận về nhạc nhẹ trong giai đoạn mới. Những sáng tác làm rung động một thời gian dài gần như mất hẳn thay vào đó là tác phẩm mang tính thời thượng, và tính theo mùa. Không gian âm nhạc mở rộng, giao lưu nhưng đồng nghĩa với việc tuổi thọ ngắn hơn, bị thu hẹp. Đã không ít những cuộc tranh luận, thảo luận giữa cái cũ và cái mới ở khắp các diễn đàn được tổ chức để làm rõ một trong các vấn đề, đó chính là nhận diện lại một cách rõ ràng thị hiếu của người nghe và xu hướng sáng tác mới.
Nói dòng nhạc truyền thống cách mạng đã chìm vào một cuộc sống “ẩn mình” ở các chương trình có tính chính thống và hạn hẹp, nhạc trẻ tuổi teen tràn lan chiếm lĩnh hầu hết sân khấu ca nhạc hàng đêm. Nhưng đó không phải là sự phản ánh toàn diện về sự thay đổi ngấm ngầm trong thói quen của công chúng, bên trong sâu sắc hơn cần biết rõ đó chính là nghe  bằng thị giác đang làm đảo chiều nhiều trị của âm nhạc. Hiện nay, đa phần các ca khúc được sáng tác mới phải đi kèm với MV (music video) thì mới có thể nhân rộng một cách nhanh chóng và tác động đến người nghe nhạc. Bản ghi âm trở thành lỗi thời và người nghe có xu hướng thích được chiều về thị giác sau đó mới tính đến bài hát có hay hay không?
Thật phiến diện nếu nói rằng, điều đó là đang giết chết những tài năng sáng tác mới và chúng ta hầu như không có một nỗ lực sáng tạo nào. Vì hành trình của chương trình Bài hát Việt đã chứng minh còn đó nhiều các nhạc sĩ vẫn tâm huyết với cách viết ca khúc truyền thống nhất, đan xen phản ánh vẫn là những ca khúc mang tính thời thượng. Các nhạc sĩ nổi tiếng, bậc cổ thụ, vẫn tiếp tục cho thấy sự sáng tạo và cố gắng gìn giữ một nét giá trị nghe thuần túy thông qua động thái chấp nhận một cuộc “cách tân” trong phần hòa âm phối khí để giới trẻ nhìn nhận tác phẩm mới mẻ hơn. Và câu hỏi được đặt ra là, liệu chúng ta đang làm những điều ấy cho đối tượng nào nghe?
Cuộc phân hóa công chúng và thị hiếu phân cấp từ trong chính những luồng văn hóa và tư tưởng khác nhau làm nảy sinh cuộc chiến ngầm của giới sáng tác. Có hẳn những nhạc sĩ chỉ thích sáng tác ca khúc và phổ biến trong một cộng đồng nhất định, và có nhiều người sáng tác trẻ lại thích phô trương để tìm lượng fans hùng hậu từ giới trẻ... Và rõ ràng, có một cuộc tranh đấu giữa cái nghe thuần túy và cái nghe nhìn ở hiện tại. Tạm gọi là phe cũ và phe mới, luôn nảy sinh các vấn đề bàn cãi, làm mới ca khúc ra sao? Chấp nhận yếu tố ngoại lai hay sáng tạo thuần như chính những gì âm nhạc Việt Nam đang sở hữu? Đến hôm nay, khi mà sự thành công và thất bại của không ít những nhạc sĩ trẻ, hay cái chết yểu của nhiều dòng nhạc thời thượng đã cho phần nào phản ánh quy luật chung của nghệ thuật không riêng gì âm nhạc.
Ai là người thắng thế?
Đã có một thời gian, xã hội trở nên nóng bỏng và xua đẩy dòng nhạc xưa, nhạc cách mạng truyền thống vào con đường của sự lạc hậu, cũ kỹ. Giới trẻ không ít lần xưng tụng những cách viết mới, với ca từ như kể chuyện, đọc lời và nói bình dân như một thứ nghệ thuật gần gũi và không có khoảng cách. Khán giả một thời gian đã xem thời cha anh của những sáng tác đi vào lòng người yêu nhạc một thời đạn bom như tấm ảnh cũ kỹ, kỉ niệm để nhớ hơn là để nghe một cách thực sự. Nhưng, thời gian gần đây, cuộc quay trở lại của nhạc xưa, nhạc truyền thống cách mạng đã làm xua tan đi giá trị tạm thời, lạc lõng. Nhạc trẻ dần đi tìm sự tiệm cận với các giá trị nằm sâu trong văn hóa của người Việt.
Những kiểu đặt ca từ quá đơn giản như lời ăn tiếng nói đốp chát đã dần bị loại trừ, không ai khác chính khán giả thay vào đó là cách viết có hình ảnh, sáng tạo và gợi mở. Không lẽ tự nhiên mà Lê Cát Trọng Lý trở thành hiện tượng của Bài hát Việt, và sau này có Vũ Cát Tường... Những sáng tác của những người trẻ này không chỉ mang đến cho công chúng cái áo mới của giai điệu, phần hòa âm mà còn là sự ý thức về ngôn ngữ, nét đẹp của tiếng Việt thông qua việc chọn lựa, dụng công cho sáng tác nghệ thuật. Ca khúc dù nhạc trẻ vẫn phải có được chiều sâu, dễ nhớ nhưng không dễ quên. Bên cạnh đó, nhạc xưa trở lại và sống như một liều thuốc thần kỳ giúp cho khán giả nhớ một thời thính giác quan trọng hơn thị giác. Sự sáng tạo của ca từ là khôn cùng để người nghe tự hình dung cho mình sự tưởng tượng không giới hạn mà người nhạc sĩ tạo ra.
Từ những cuộc chạy đua không ngơi nghỉ của các gương mặt trẻ, dần tiết lộ bí mật gần như trở thành quy luật đó chính là sự sáng tạo phải được đặt trong tài năng và sự khổ luyện. Giờ đây, công chúng đã có cái nhìn khác hơn về nhạc sĩ, họ hoàn toàn có khả năng chiếm giữ một vị trí không hề nhỏ trong đời sống âm nhạc. Yếu tố tương hỗ cùng lực lượng biểu diễn là ca sĩ để quảng bá tác phẩm nhưng đồng thời đặc quyền nhất của người nhạc sĩ hiện tại chính là có thể tạo ra các xu hướng bằng chính tài năng của mình chứ không phải ca sĩ.
Thời gian qua, chúng ta vẫn thường trao cho người ca sĩ quyền năng quyết định sự thăng trầm của một nền âm nhạc. Nhưng trên thực tế đã chứng minh, người nhạc sĩ dù không phải là đối tượng được săn đuổi, hay cát sê cao ngất ngưỡng nhưng chính họ mới là những người nắm giữ chiếc chìa khóa sáng tạo làm nên một diện mạo âm nhạc có giá trị.
Khánh Hưng 
ANVN 39
Theo http://radio49.net/


Tác dụng của âm nhạc đối với cuộc sống

Tác dụng của âm nhạc đối với cuộc sống
Theo thống kê, những người có thói quen nghe nhạc sôi động thường lạc quan hơn những người ít nghe nhạc rất nhiều. Những người có thói quen thường xuyên nghe nhạc sẽ có lỗi sống năng động và tích cực...
 Âm nhạc sinh ra là sự kết hợp của tâm hồn và nhiều cung bậc cảm xúc của con người. Người viết nhạc đã mang cả tâm tư tình cảm của họ để viết nên nhịp điệu. Người ca sĩ đem cả cảm xúc gửi trọn vào bài hát. Nhiều người nói rằng không thể sống thiếu âm nhạc, nhiều người tin rằng âm nhạc có tác động rất lớn đến sự phát triển về các mặt sinh lý con người, về thể chất, cảm xúc và cải thiện chất lượng cuộc sống:
Tiêu tan lo âu: Lo âu và buồn phiền thường xuyên xuất hiện trong cuộc sống con người trong mọi lĩnh vực, mọi môi trường sống. Âm nhạc giúp xóa tan lo âu, giảm mức độ căng thẳng của họ.    
Giảm đau đớn: Nhiều nguồn nghiên cứu ghi nhận rằng, người nghe âm nhạc sẽ tiết ra 1 lượng lớn endorphins, loại chất kích thích này có tác dụng kiểm soát, giảm sự đau đớn trên cơ thể.
Kích thích tế bào não: Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, giai điệu nhạc mạnh và nhẹ cũng ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình hoạt động của não bộ. Người nghe nhạc mạnh như rock, rap, hiphop thường có mức độ tập trung nhạy bén, tư duy sáng tạo hơn. Những người nghe nhạc cổ điển, Acoustic, classic lại có khả năng tập trung, nhẹ nhàng và thư thái.
Tim mạch: Âm nhạc có tác dụng điều hòa huyết áp, giảm nguy cơ đột quỵ  Có những loại nhạc giúp cho nhịp tim được điều hòa, tôm hồn thư thái hơn cũng rất tốt cho người bị bệnh tim.
Cải thiện hiệu suất thể dục thể thao: Nghe nhạc trong lúc tập luyện thể thao có thể giúp con người quên đi cảm giác mệt mỏi và gia tăng thời gian tập luyện. Đồng thời, việc nghe nhạc cũng khiến con người quên đi sự chán nản, lặp đi lặp lại của các bài tập thể dục, từ đó gia tăng hiệu suất tập thể dục, thể thao. Nếu bạn cảm thấy lười tập thể dục, hãy bật nhạc lên, thời gian sẽ trôi qua rất nhanh mà bạn không cảm thấy mệt mỏi hay muốn bỏ cuộc giữa chừng.
Tăng lạc quan: Theo thống kê, những người có thói quen nghe nhạc sôi động thường lạc quan hơn những người ít nghe nhạc rất nhiều. Những người có thói quen thường xuyên nghe nhạc sẽ có lỗi sống năng động và tích cực. Âm nhạc cũng giúp con người dễ dàng ghi nhớ, ấn tượng với các khoảnh khắc trong bài nhạc, xóa tan âu lo, ưu phiền. Nhiều âm điệu còn khiến con người như được thăng hoa, cảm giác phiêu theo nốt nhạc.
Mang lại giác ngủ sâu: nhạc nhẹ giúp con người dễ ngủ hơn, thoải mái đi vào giấc ngủ và ngủ sâu hơn.
Kết nối xã hội: Âm nhạc là công cụ tuyệt vời kết nối mọi người lại với nhau.  
Hỗ trợ bệnh nhân ung thư: Việc nghe nhạc thường xuyên sẽ giúp các bệnh nhân ung thư có cảm giác thoải mái, nhẹ nhõm trong quá trình xạ trị.
Sưu tầm
Theo http://radio49.net/


Những nhà soạn nhạc vĩ đại của thế giới

Những nhà soạn nhạc vĩ đại của thế giới
Âm nhạc có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống hằng ngày của con người. Một bản nhạc hay, một ca khúc bất hủ, không phải tự nhiên mà có. Nó phải trải qua quá trình rèn luyện hằng ngày kết hợp với những cảm xúc tình yêu luôn cháy bỏng dạt dào trong âm nhạc. Hãy cùng radio49 điểm qua một số hình ảnh về những thiên tài âm nhạc cổ điển vĩ đại của thế giới nhé.
Thiên tài âm nhạc Beethoven
17 giờ 45 phút ngày 26/3/1827, trái tim nhà soạn nhạc thiên tài người đức Ludwig van Beethoven ngừng đập ở tuổi 57. Theo kết luận chính thức của giới y học thời ấy, ông chết do xơ gan và tràn dịch khoang bụng. Người nhạc sĩ tài hoa này không hề biết rằng, ngoài những tác phẩm âm nhạc bất hủ, ông còn để lại một nghi án trong y văn mà hơn 180 năm sau người đời vẫn còn tranh cãi.
Một nhạc sĩ tài hoa lắm bệnh
Các tài liệu lịch sử cho biết, ngay từ khi 20 tuổi, cả hình dáng và tính cách của Beethoven đều bắt đầu thay đổi theo chiều hướng quái dị. Cơ thể trở nên biến dạng khác thường và thường xuyên phải sống trong đau đớn. Các bác sĩ cho rằng ông bị mắc một căn bệnh chuyển hóa có tên là Crohn, gây đau và biến dạng xương. Nhưng cùng thời gian đó, ông cũng hay than phiền về chứng đau trướng bụng dữ dội không rõ nguyên nhân và khả năng nghe ngày càng giảm sút. Đến năm 30 tuổi thì Beethoven hoàn toàn điếc đặc. Điều trớ trêu là bản hòa tấu bất hủ của lịch sử âm nhạc thế giới, Ninth Symphony lại được viết lúc ông không còn nghe được gì. Nguyên nhân nào khiến cho đôi tai của thiên tài bỗng trở nên điếc đặc? Tại sao một người điếc lại có thể viết lên những tác phẩm bằng âm thanh vĩ đại như vậy?
Với câu hỏi thứ nhất, một số giả thuyết cho rằng đó là do biến chứng của căn bệnh giang mai bẩm sinh mà ông "thừa hưởng" từ mẹ hoặc do hậu quả của cuộc sống buông thả, chơi bời trác táng. Tuy nhiên, trong quá trình kiểm nghiệm di thể của ông, người ta không sao phát hiện được nguyên nhân nào xác thực, đôi tai điếc đã trở thành câu đố hóc búa.
Với câu hỏi thứ hai, sau nhiều năm nghiên cứu bệnh án Beethoven, giới khoa học đã đưa ra nhận định rằng, bệnh loạn nhịp tim chính là nguồn gốc sâu xa của động lực tinh thần để nhà soạn nhạc viết lên những bản giao hưởng bất hủ. TS. Curper - nhà nghiên cứu âm nhạc tại ĐH Manschester (Anh) trong tác phẩm "Quá trình sáng tác của Beethoven" đã nhận xét "nhịp của một số bản nhạc do Beethoven sáng tác bằng 70/phút, nghĩa là đúng bằng nhịp tim của nhạc sĩ". Và Curper kết luận: Âm nhạc của Beethoven đã phản ánh tình trạng thương tổn của trái tim nhạc sĩ. Chỉ có điều, những bác sĩ chữa chạy cho Beethoven khi đó chưa đủ trình độ và phương tiện để tìm ra căn bệnh này. Theo GS. Becner Luderit thuộc Trường đại học tổng hợp Bon, khi bị điếc con người cảm nhận rất rõ tiếng rung động của các cơ quan nội tạng trong cơ thể mình, trong đó nhịp đập của tim là rõ hơn cả. "Beethoven đã cảm nhận rất tốt nhịp đập loạn tần số của trái tim mình và phản ánh những rung động đó vào tác phẩm. Bản giao hưởng viết cho piano Les Adieux năm 1809 là bản nhạc đầu tiên chứa đựng những âm thanh loạn nhịp của một trái tim đã bị tổn thương. Từ đó, trong các tác phẩm tiếp theo, ngày càng thấy rõ phong cách loạn nhịp này - đó là do bệnh tim của nhạc sĩ ngày càng tiến đến giai đoạn kịch phát".
Nạn nhân của một sai lầm y khoa?
Tuy nhiên, những nghi vấn xung quanh cuộc đời Beethoven chưa phải đã được giải đáp hết. Sau cái chết được báo trước này còn có nhiều tranh cãi nổ ra. Một số người cho rằng Beethoven chết vì bệnh giang mai, người khác thì bảo ông chết do xơ gan cổ trướng, có người lại cãi chính căn bệnh Crohn quái ác đã cướp đi mạng sống của ông. Hầu hết những lý lẽ này chỉ dựa trên các biểu hiện, triệu chứng được ghi lại trong bệnh án y khoa mà không có giả thuyết nào dựa trên các bằng chứng khoa học xác thực.
Cho đến năm 2005, khi những mảnh xương sọ của Beethoven được người thừa kế hợp pháp của ông đưa đến phòng thí nghiệm thì một số giả thuyết trên đã bị lật đổ, đồng thời một giả thuyết khác lại được khẳng định một cách chắc chắn. Kết quả phân tích bằng kỹ thuật cao những mảnh xương sọ do TS. Bill Walsh, thuộc Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne (thuộc bang Illinois, Hoa Kỳ) tiến hành đã cho thấy: lượng chì tích tụ trong tế bào của Beethoven là quá cao, hơn mức bình thường tới 100 lần. Và đây có lẽ mới là nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của thiên tài.
Mặc dù khi đó Bill Walsh không lý giải được nguồn gốc nhiễm độc nhưng thông qua kết quả phân tích ông lại loại trừ được một số giả thuyết tồn tại bấy lâu nay xung quanh cái chết của nhà soạn nhạc thiên tài. Thứ nhất, nhạc sĩ không chết bởi bệnh giang mai, căn bệnh này thời đó thường được chữa trị bằng thủy ngân. "Chúng tôi không tìm thấy thủy ngân trong thi thể của Beethoven, như vậy Beethoven không phải bị chết vì căn bệnh trác táng này", TS. Wash nói. Thứ hai, Beethoven qua đời vì mắc bệnh Crohn cũng không đúng. Vì bệnh này thường khiến xương và tủy bị sưng phồng lên trong khi những mảnh xương sọ của nhạc sĩ rất bình thường và không có bất kỳ một dấu hiệu nào của căn bệnh này" - TS. Wash cho biết thêm.
Câu trả lời nửa chừng của Bill Walsh đã thúc đẩy các nhà khoa học Áo tiếp tục vào cuộc. Tháng 8/2007, tạp chí Science đăng công bố của TS. Christian Reiter - Chủ nhiệm bộ môn pháp y Đại học Vienne cho rằng: Toàn bộ bí ẩn về cái chết của Beethoven đã được làm sáng tỏ. Kết quả phân tích quang phổ các mẫu tóc của nhà soạn nhạc thiên tài đã khẳng định: ông chết vì bị nhiễm độc muối chì trong một thời gian dài và đó là một cái chết oan. Người ngộ sát chính là vị bác sĩ tư điều trị cho Beethoven, có tên Andreas Wawruch.
Để chữa chứng đau bụng dữ dội cho nhạc sĩ, Andreas Wawruch đã phải dùng nhiều loại thuốc mà phần lớn các thuốc thời ấy thường có chất chì, trong khi ông không hề hay biết rằng bệnh nhân của mình còn bị viêm gan. Chất chì vô hình chung tích tụ trong cơ thể đã giết dần giết mòn Beethoven. TS. Christian chứng minh được rằng, trong các tế bào tóc của nhạc sĩ thiên tài, chất chì tồn đọng đến mức đậm đặc nhất vào chính thời điểm bác sĩ Andreas Wawruch điều trị cho ông. Trong khoảng thời gian từ ngày 5/12/1826 đến ngày 27/2/1827, vị bác sĩ này đã 4 lần áp dụng phương pháp điều trị phổ thông hồi ấy, đó là chọc và hút dịch lỏng trong khoang bụng của Beethoven. Sau mỗi lần hút dịch, bác sĩ lại đắp lên vết hút một loại thuốc mỡ có thành phần cơ bản là muối chì để thúc đẩy quá trình liền sẹo. 4 lần đó tương đương với 4 giai đoạn phát triển khác thường của sợi tóc nhà soạn nhạc để lại.
Có thể, kết quả cuộc nghiên cứu của TS. Christian đã làm hài lòng nhiều người yêu quý nhà soạn nhạc thiên tài Beethoven. Nhưng cũng có thể vẫn còn một số người chưa thỏa mãn với lời giải đáp ấy. Bởi dù sao Beethoven cũng là một thiên tài, một người nổi tiếng mà xung quanh những người nổi tiếng luôn có nhiều chuyện để bàn cãi! Đó cũng là lẽ thường tình!
Franz Schubert
Franz Schubert (1797 - 1828) là một nhà soạn nhạc vĩ đại người Áo, sở hữu khả năng thiên phú về âm nhạc, là bậc thầy về kết cấu của giai điệu và ca từ. Ông có thể nhanh chóng hoàn thành một tác phẩm, sau đó ném xuống sàn nhà và cầm lấy ngay một tờ giấy khác để tiếp tục sáng tác. Trong suốt 16 năm sự nghiệp của mình, ông đã để lại cho nhân loại khoảng 650 tác phẩm.
Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Piano Quintet (Ngũ tấu Piano). Ngoài ra, ông cũng sáng tác các bản mass (nhạc cho lễ Misa), 9 bản giao hưởng, các bản sonata, ballet, tứ tấu đàn dây và các vở opera.
Richard Wagner
Richard Wagner (1813 - 1883) là nhà soạn nhạc người Đức, chuyên về sáng tác các vở opera. Những kiệt tác hay nhất của ông có thể kể đến như Tannhauser, Lohengrin, Die Meistersinger von Nurnberg, Parsifal… và đặc biệt là album Der Ring des Nibelungen gồm bốn vở nhạc kịch. Đây cũng là bốn vở nhạc kịch nổi tiếng nhất trong lịch sử opera. Trong top 10 vở opera dài nhất thì đã có đến 7 tác phẩm là của Wagner với thời lượng trung bình của mỗi vở là 3 giờ. Quan trọng hơn hết, chính Wagner là người đã sáng tạo ra leitmotif - một giai điệu rất ngắn phù hợp với từng nhân vật, xúc cảm và phân cảnh trong tác phẩm. Wagner đã cách mạng hóa nghệ thuật opera. Mọi người vẫn nói rằng, nghệ thuật làm phim có lẽ sẽ bị lùi lại 500 năm nếu không có Richard Wagner và tất cả các nhà viết nhạc phim, kể cả John Williams cũng đồng ý rằng Richard Wagner là viết nhà viết nhạc phim vĩ đại nhất trong lịch sử.
Wolfgang Amadeus Mozart
Wolfgang Amadeus Mozart (1756 - 1791) là một nhà soạn nhạc cổ điển vĩ đại người Áo, một thiên tài âm nhạc trong lịch sử. Ông đã sáng tác hơn 600 tác phẩm, trong đó phải kể đến 41 bản giao hưởng, 27 bản concerto cho đàn dương cầm, 23 vở opera, 18 bản sonata cho đàn dương cầm, 36 bản sonata cho đàn vĩ cầm, các bản sonata nhà thờ, 18 bản mass, 20 bản tứ tấu đàn dây và nhiều tác phẩm khác nữa.
Chất lượng của ca từ và giai điệu trong các tác phẩm của Mozart thì không phải bàn cãi, bản đầu tiên cũng là bản cuối cùng, không cần phải chỉnh sửa dù là ở thể loại nào. Các sáng tác của ông là sự cân bằng giữa thể loại dành cho nhạc cụ solo và thể loại dành cho dàn nhạc.
Wolfgang không thích chơi những trò chơi 
trẻ con bình thường,trừ phi có liên quan tới âm nhạc. 
Cậu bắt đầu soạn nhạc cho đàn phím từ lúc bốn hoặc năm tuổi,
viết những bản nhạc hòa tấu khi cậu lên sáu. Những bản sonata cho đàn vĩ cầm được xuất bản khi cậu lên tám. Thậm chí Mozart còn biết viết nhạc trước khi biết viết chữ.
Trung Tín 
Tổng hợp và sưu tầm
Theo http://radio49.net/




Âm nhạc của Trịnh Công Sơn qua góc nhìn vật lý

Âm nhạc của Trịnh Công Sơn qua góc nhìn vật lý
Một nét tài hoa trong sáng tạo nghệ thuật biểu hiện ở chỗ người nghệ sĩ biết vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực vào tác phẩm. Trịnh Công Sơn là một nghệ sĩ tài hoa, công chúng đã thừa nhận điều đó. 
1. Ba định luật cơ học cổ điển
Nhà vật lí người Anh Isaac Newton đã đặt nền móng cho cơ học cổ điển bằng ba định luật gắn liền với tên tuổi của ông. Hãy lướt đi trên những ca từ của Trịnh để thưởng ngoạn cuộc gặp gỡ thân thiện giữa Trịnh Công Sơn và Newton.
Định Luật I Newton phát biểu rằng: Một vật đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều sẽ giữ nguyên trạng thái đó nếu không có ngoại lực tác dụng lên vật.
Con người đặt giữa cuộc sống nhân loại sẽ rất nhỏ bé, hệt một chất điểm, và ta coi con người là một vật trong tổng thể cấu tạo vũ trụ. Vận dụng định luật trên cho một vật hữu cơ (con người), nếu môi trường sống yên bình đến tuyệt đối, ta sẽ tồn tại (đứng yên) hoặc đi qua cõi đời (chuyển động thẳng đều) một cách rất bình lặng mà không hề vấn vương gì.
Ta bắt gặp ý niệm ấy trong câu hát “Đường thật lặng yên lòng không gì nhớ” (Bên đời hiu quạnh). Trịnh Công Sơn đã ghé tai thì thầm với ta rằng, nếu có một cuộc sống quá thanh bình cũng chưa phải là hay, vì khi đó ta không thể biết đến cái “đau” vốn có của đời sống, và như thế là ta không thể chia sẻ được với đồng loại.
Bởi vậy nên hãy hòa mình sống ở đời mà đừng tìm cách lánh, đừng làm lơ với cuộc sống đang hiện hữu quanh bạn. Khi thức tỉnh được điều đó ta mới “giật mình nhìn quanh, ồ phố xa lạ”.
Hóa ra là thế, hóa ra là bao lâu nay ta đã ngủ mê trên cái êm đềm nên mụ mị đi. Nay ta tác dụng một lực để tự giật mình, mới hay mình đã tới một nơi khác rất mới mẻ, lạ lẫm. Đấy cũng là một cách khám phá cuộc sống. Phải chăng vì Trịnh Công Sơn đã thấu đạt điều đó nên anh hòa mình lặng lẽ giữa đời, đau cùng thân phận con người, khát khao cùng ước nguyện đôi lứa… tất cả những thứ ấy chính là lực tác dụng để đưa cảm xúc của anh đến những miền đất lạ mà lấy nhạc về cho đời.
Ta càng sống, càng trải nghiệm bao nhiêu thì càng nhanh già bấy nhiêu. Đó là tín hiệu lão hóa sinh học, cũng là một cách hiểu khác của định luật II Newton: Biến thiên động lượng của vật tỉ lệ thuận với độ lớn lực ngoài tác dụng. Và Trịnh Công Sơn, cái anh chàng tài hoa ấy đã quét trí tuệ qua sinh học, qua vật lí rồi viết: “tóc úa là nhờ những tháng âu lo” (Bay đi thầm lặng).
Chính những tháng ngày ngồi âu lo, Trịnh đã thấu tận nỗi sầu thế nhân và thốt lên như một triết gia của tự nhiên: “Biển đánh bờ xôn xao bờ đánh biển” (Biển nghìn thu ở lại). Đứng trước biển, dẫu là nhà thơ hay người thường cũng đều nôn nao cảm xúc tựa như sóng không vỗ vào bờ mà đang vỗ vào lòng ta.
Thế nhưng mấy ai hiểu tới được cái thế chí tương quan giữa biển và bờ? Nếu như Fritjof Capra ngồi trước biển và nhận ra những con sóng cùng bờ cát đang tham gia vào một điệu múa Shiva trong Ấn Độ giáo để rồi viết cuốn sách Đạo của Vật lí, thì Trịnh Công Sơn lại quan sát tương quan hai chiều: “biển đánh bờ” tất dĩ sẽ có “bờ đánh biển” để viết nhạc.
Tương quan hai chiều này toán học gọi là “song ánh”, và vật lí học xếp nó vào Định Luật III Newton: Nếu A tác dụng vào B một lực thì ngay lập tức B cũng trở lại tác dụng A một lực tương ứng. Trịnh Công Sơn đã biến một nguyên tắc vật lí khô cứng thành một câu hát mềm như sóng biển!
Tuy nhiên, một người nghệ sĩ khi thấu đạt lẽ tự nhiên rồi thì họ không dừng lại ở việc mô tả nó, mà còn phải đưa ra suy nghĩ riêng của mình. Cũng như thế, Trịnh sau khi nhận ra cái luật “có đi tất có lại” thì chàng van lơn: “Đừng đánh nhau ơi biển sẽ tàn phai”. Một câu hát đong đầy giá trị nhân văn.
Trịnh đã lấy lòng từ bi của một người Phật tử và phóng chiếu qua cổ tích (nơi mà mọi thứ đều có linh hồn), để rồi chàng thương cả những vật vô tri như sóng hay cát. Gia tài âm nhạc của Trịnh Công Sơn có một phần lớn nhạc phản chiến, câu hát trên là một tinh thần phản chiến của Trịnh. Nhạc sĩ khuyên người ta đừng có đánh nhau nữa. Nhà Phật nói đời là biển khổ. Thế đấy, biển vốn đã mênh mang nỗi khổ rồi sao còn cứ đánh nhau làm gì cho thêm tàn phai?
2. Điểm chung nguyên tử
Sách Sáng Thế Ký nói chuyện Chúa nặn ra vạn vật, nhà Phật lại cho rằng muôn loài được tạo ra bởi sự kết hợp các duyên (giả hợp), còn Vật lí học thì xác định mọi thứ đều cấu thành từ nguyên tử. Trịnh Công Sơn đã bay giữa thần học, triết học, khoa học để nhận ra rằng tất cả đều có một điểm chung, bạn cũng là ta, người tình cũng là ta mà thôi: “Tôi là em và em cũng là tôi” (Tôi ơi đừng tuyệt vọng).
Ở lĩnh vực thi ca, nhà thơ Mỹ Walt Whitman trong tập thơ Lá Cỏ đã từng viết: “Tôi ca tụng mình, tôi hát về mình/ Và cái tôi nhận về thì các bạn cũng nhận về/ Vì mỗi nguyên tử thuộc về tôi, cũng thuộc về các bạn đấy thôi” (Hát về chính mình). Người ta nói những tư tưởng lớn thường gặp nhau, quả không sai! Và, cũng như Walt Whitman, Trịnh Công Sơn đã hướng sáng tác của mình đến việc xây dựng một thế giới đại đồng, muôn loài muôn vật đều chung một chủng tử (là nguyên tử), vì vậy mà “hãy yêu nhau đi”.
Tình yêu trong nhiều ca khúc của Trịnh là tình thương rộng lớn giữa người với người, giữa người với vật: “Hãy yêu nhau cho gạch đá có tin vui”. Nếu không nhận ra được điểm chung giữa con người và đất đá, làm sao có thể viết được một câu hát bao dung đến thế?!
Luận điểm C. Mac cho rằng, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Hơn thế, con người buộc phải gắn liền với lịch sử dân tộc, với cội nguồn văn hóa, và với xuất phát điểm nhân loại – chính là nguyên tử. Bởi vậy nên ta hiểu được Trịnh luôn nhìn thấy thấp thoáng bóng người quen ở giữa những đám người lạ: “Có những nghìn năm xưa, hóa thân em bây giờ. Nên tôi vẫn nhìn thấy em, giữa đám đông xa lạ. Vì em như chim trắng, giữa trống đồng bước ra” (Em đến từ nghìn xưa).
Triết gia Đức Nietzsche đề xuất khái niệm “siêu nhân” để động viên con người hãy vượt qua con người, còn Trịnh Công Sơn trong ca khúc đã thể hiện ý niệm “cố nhân” nhằm mong muốn con người tìm lại con người trong nhau: “Tìm em tôi tìm… bỗng tôi thấy em dưới chân cội nguồn” (Đóa hoa vô thường). Và chắc chắn Trịnh có lý, bởi vì tất cả chúng ta đều hình thành từ đơn vị cấu trúc cơ bản là nguyên tử.
Từ cái điểm chung ấy, đối với Trịnh thì mọi người, mọi vật ta đã gặp sẽ mãi mãi luôn bên ta chứ không thể mất đi, vậy nên “vẫn thấy bên đời còn có em” hay “vẫn thấy em cười đùa đó đây” (Vẫn có em bên đời).
Quả đúng là không có gì tự nhiên sinh ra, cũng không có gì tự nhiên mất đi, chúng chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác mà thôi. Trịnh biết thế nên dù cho em đã ra đi nhưng hình ảnh em vẫn còn ở lại và hóa vào thiên nhiên gần gũi, “tấm lòng em như lá kia còn xanh”. Bài hát như một lời động viên, gửi gắm niềm lạc quan cho những ai đang mất niềm tin vào tình yêu, cuộc sống. Trịnh Công Sơn là hoàng tử sầu muộn đã gập lưng cõng thập tự giá để cho đức tin không tàn úa.
3. Hiệu ứng ánh sáng trắng
Thuyết ánh sáng cho rằng ánh nắng mặt trời là ánh sáng trắng. Nghĩa là nắng, về bản chất tự nhiên, có màu trắng. Điều đó được Trịnh vận dụng và viết nên ca khúc Hạ Trắng. Mùa hạ là mùa đượm nắng nhất trong năm. Và cái buổi chiều mùa hạ mà Trịnh đang ngồi ngắm ấy chính là lúc con nắng khôi nguyên nhất, chưa bị phân hóa, nắng phủ màu trắng lên muôn loài, trong cơn mê màu nắng cũng bội kết thành những đóa hoa trắng: “Gọi nắng, cho cơn mê chiều nhiều hoa trắng bay”.
Màu trắng còn để biểu trưng cho lòng thủy chung gắn kết, đấy chính là tình yêu vĩnh cửu giữa hai ông bà già mà Trịnh Công Sơn đã lấy làm cảm hứng cho ca khúc này.
Ánh sáng trắng khi bị tán xạ qua lăng kính sẽ cho ra bảy màu: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Trịnh đã lấy cuộc đời làm phòng thí nghiệm, mượn đôi mắt - cửa sổ tâm hồn - làm lăng kính để chiết ra những sắc màu lung linh. Đó là màu màu hồng trong bài Như cánh vạc bay: “Nắng có hồng bằng đôi môi em”. Màu vàng từ thiện: “Nắng vàng ủng hộ cho Bống căn nhà” (Bống không là Bống). Màu lục trong sắc xanh thực vật được nắng khơi dậy: “Cỏ cây chợt lên màu nắng” (Nắng thuỷ tinh). Màu tím vội vàng: “Có khi nắng khuya chưa lên, mà một loài hoa chợt tím” (Chiều một mình qua phố)…
Sự anh minh trí tuệ kết hợp với độ nhạy bén tâm hồn đã giúp Trịnh Công Sơn không chỉ nhìn mà còn nghe được cả ánh sáng. Xưa nay ánh sáng chỉ tác động vào mắt chứ làm sao tác động vào tai mà nghe được? Thế mà Trịnh bảo nắng có âm thanh khiến ta nghe được cơ đấy! Này nhé: “Em nghe sầu lên trong nắng” (Nhìn những mùa thu đi). Âm thanh của nắng là siêu thanh, đến nỗi vật vô tri cũng thấu được: “có con đường nằm nghe nắng mưa”; rồi thì nắng chui được vào âm thanh: “có chút nắng trong tiếng gà trưa” (Em còn nhớ hay em đã quên).
Phải chăng vì nắng mang những hiệu ứng âm thanh, cả phát lẫn thu, nên Trịnh mới cất lời “gọi nắng”? Thật ra, Trịnh Công Sơn đã đặt điểm nhìn trên hai trục chiếu: quang học vật lí và triết thuyết Phật giáo. Trong quan điểm của nhà Phật thì ánh sáng và âm thanh là một, “quang hữu âm, âm hữu quang, vi diệu pháp”.
Trịnh Công Sơn - phù thủy ngôn ngữ - đã làm phép cho nắng bật lên bảy sắc, bảy sắc ấy quay trở lại dâng tặng cho anh bảy nốt nhạc. Và thế là Trịnh đã có những bản nhạc quy rọi hiệu ứng ánh sáng với đầy đủ sắc lẫn âm.
4. Tính tương đối về hệ không gian
Trong không gian, chuyển động của vật được quan sát thông qua một hệ quy chiếu. Nguyên tắc vật lí ấy được ví von dễ hiểu như sau: chẳng hạn khi ta đi tàu, nhìn qua cửa sổ, ta sẽ có cảm giác tàu đứng yên còn cảnh vật xung quanh thì đang chuyển động. Hay khi đứng bên bờ sông trong một đêm rằm, ta nhìn thấy dòng sông chảy trôi, bóng trăng đứng yên trong nước.
Nhưng nếu ta ngồi trên đò xuôi dòng thì sẽ thấy con sông đứng yên, còn trăng thì đang chạy. Trịnh Công Sơn đã vận dụng nguyên tắc tương đối này vào câu hát: “con sông là quán trọ, và trăng – tên lãng du” (Biết đâu nguồn cội). Mới nghe qua câu hát, cứ ngỡ Trịnh… viết sai!
Ơ hay, dòng sông thì phải trôi chứ sao lại chồn chân một chỗ như quán trọ? Con trăng cũng cố định chứ sao lại chạy lung tung được? Trịnh quên điều ấy chăng? Không, Trịnh Công Sơn là nhà bác học không đãng trí (dù anh có bài hát Tình ca người mất trí), cái ngây ngô ấy thực chất là nét hồn nhiên của sự thông minh vừa chín tới. Nếu có một lần “em đi qua chuyến đò” thì em sẽ hiểu được câu hát của Trịnh hoàn toàn có cơ sở vật lí.
Hạnh phúc có thể coi như một loại vật chất đặc biệt, và cũng mang tính chất tương đối của trạng thái gắn liền với không gian. Hạnh phúc vốn ở trong tay ta chứ có đâu xa mà luẩn quẩn đi tìm. Ai cũng biết thế nhưng không mấy ai chịu ngồi yên cầm nắm hạnh phúc đâu.
Tất cả mọi vật đều được Tạo hóa nặn ra, riêng con người thì tự làm ra mình bằng cách tiến hóa từ vượn, vậy nên con người luôn có ý thức đi tìm một điều gì đó để hoàn thiện hơn chứ không dễ dàng chấp nhận. Hạnh phúc cũng thế, con người không chơi bài “ăn xổi” với nó, thế mới có chuyện vợ chồng mà không cãi nhau thì không hạnh phúc (!)
Con người lại hay chọn cái dễ làm trước, hạnh phúc dễ tìm thấy nhất là trong tình yêu, tức hạnh phúc lứa đôi - gọi là tình. Cái tình hạnh phúc ấy nó cũng tồn tại tương đối, nghĩa là khó xác định nó ở đâu: “Tình không xa nhưng không thật gần” (Như một lời chia tay). Một câu nhạc tưởng chừng như… vô duyên, mông lung lại rất hữu cớ, hiện thực.
Thông qua đó, Trịnh Công Sơn khuyên người ta đừng có chạy đuổi theo cái tình xa tình gần chi nữa, đừng có “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”, hãy biết nắm bắt cái đang diễn ra ở ngay đây, như anh từng nói: Hãy sống hết mình trong mỗi sát-na hiện tại!
5. Mức vững vàng
Vật lí phát biểu rằng: Mức vững vàng của một vật phụ thuộc vào vị trí trọng tâm (độ cao) và diện tích mặt chân đế. Muốn tăng mức vững vàng của vật thì hãy hạ thấp trọng tâm xuống. Nguyên tắc này được áp dụng cho thế Trung bình tấn trong võ thuật, tức là nếu ta rùn chân xuống thấp thì mức vững vàng cao hơn khi đứng thẳng người.
Trọng tâm, hiểu theo nghĩa thoáng, nó chính là cái “tôi” của mỗi người. Trịnh Công Sơn đã thông qua nguyên tắc vật lí ấy để chiêm nghiệm lẽ đời về cái tôi: “Nhìn tôi lên cao nhìn tôi xuống thấp” (Con mắt còn lại).
Trịnh biết rằng khi mình được người đời xưng tụng quá, nâng lên cao quá thì cũng chưa phải hay, bởi cái sự thăng vị ấy nó mong manh lắm! Càng lên cao mức vững vàng càng giảm. Anh lại nhận ra cuộc đời cứ nghiêng như núi đang chờ đón bước chân ta, “đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ” (Biển nhớ). Nên chi anh tự nhủ hãy cẩn thận trong mỗi bước lần chân: “Đường lên cao bước chân nhè nhẹ” (Có nghe đời nghiêng).
Dường như Trịnh Công Sơn đã lường trước được sự nổi tiếng của mình, và anh chấp nhận vầng hào quang mà đời khoác lên vai, anh nhận thứ ánh sáng ấy để sống tỉnh thức chứ không phải để kiêu hãnh. Trịnh Công Sơn đã đi qua cuộc đời với sự cẩn trọng, nhờ biết hạ thấp cái tôi nên anh có một vị thế vững vàng giữa muôn vàn tấm lòng người yêu mến.
Hoàng Phủ Ngọc Tường từng nhận xét: “Trịnh Công Sơn là người chăm chú cúi xuống hiện hữu”. Đúng thế, Trịnh đã quan sát sự vật, ngắm nhìn cuộc sống như một nhà vật lí đầy mỹ cảm. Hay nói cách khác, Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ có thiên căn khoa học.
 Nguồn HOANGPHAP.INFO
Theo http://radio49.net/




Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của  Anatole France, "Tôi đi học"  của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...