Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

 

Nguyễn Thành Long còn lại…

Tôi có thể mạnh dạn nói rằng văn Nguyễn Thành Long đẹp nhất là ở những trang miêu tả thiên nhiên. Khi dựng lên bức tranh thiên nhiên, nhà văn đã đạt được điều mà không phải nhà văn nào cũng có được: đưa cả cái không khí, hơi thở của thiên nhiên vào trang viết.

Thoạt tiên tôi có ý định đặt nhan đề cho bài viết này bằng một cái tên hơi điệu điệu một chút là : Lặng lẽ … Nguyễn Thành Long. Cái tên có vẻ hay hay, được gợi ý từ câu chuyện Lặng lẽ Sa Pa và chứa nhiều sức gợi. Nhưng sau rồi, tôi thấy có gì không ổn. Không, văn Nguyễn Thành Long không phải là một loại văn… lặng lẽ. Văn Nguyễn Thành Long cũng bám sát vào cuộc sống, bám sát các phong trào xã hội, bám sát vào các điển hình con người mới, đặt cả niềm tin vào nó, ngợi ca nó nồng nhiệt, và lắm lúc cũng có vẻ ồn ào. Nghĩ thế, nên thôi không dùng cái nhan đề ngẫu hứng kia nữa. Nhưng nhắc đến Nguyễn Thành Long là nhớ ngay đến Lặng lẽ Sa Pa. Nhắc đến truyện ngắn Việt Nam sau 1945, người ta cũng không thể không tính đến Lặng lẽ Sa Pa. Cứ như thể ông là nghệ sĩ của một tác phẩm vậy. Hiện tượng nhà thơ của một bài thơ, nhà văn của một áng văn trong bất cứ nền văn chương nào, thời nào cũng có. Nghĩa là, trên thực tế thì không phải họ chỉ viết có một (thậm chí viết khá nhiều nữa kia), nhưng chỉ có một tác phẩm ấy thôi vượt qua được sự sàng lọc khắt khe của thời gian và còn lại. Văn chương có cái nghiệt ngã của nó. Thành nhà văn lớn đâu có nhiều. Có được một tác phẩm sống mãi cùng năm tháng cũng đã là quý giá. Nghĩ thế, mới thấy Nguyễn Thành Long cũng là một gương mặt còn lại với bạn đọc hôm nay.

Thế thì đường nét chân thực nhất của chân dung nghệ sĩ Nguyễn Thành Long như thế nào? Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi này không hẳn đơn giản. Giới nghiên cứu phê bình đương thời cũng không dành nhiều bút mực lắm cho nhà văn này thì phải. Dưới đây là một phác thảo Nguyễn Thành Long mấy nét.

Đời người phải sống sao cho ra sống

Có thể hình dung sáng tạo của Nguyễn Thành Long trải dài trên hai chặng: chặng thứ nhất, từ 1955 đến 1975; và chặng thứ hai từ 1975 đến khi ông ngừng bút.

Ở chặng đầu, hầu hết là các truyện viết về con người và cuộc sống mới diễn ra trên miền Bắc hậu phương đang xây dựng đất nước. Còn chặng thứ hai, các tác phẩm chủ yếu lại đề cập đến những khung cảnh đoàn viên giữa người Nam kẻ Bắc sau bao năm ly tán do chiến tranh và những số phận đổi đời từ chế độ cũ sang chế độ mới. Thế giới nhân vật của Nguyễn Thành Long trong khung cảnh nào cũng vậy, bao giờ cũng mang trong mình dòng máu kiên trinh. Nếu trong lao động dựng xây đất nước thì đó là lòng hy sinh vô bờ bến của con người đối với đất nước, quê hương. Nếu trong chiến tranh ly tán đó lại là những tấm lòng son sắt hướng về cách mạng.

Về cơ bản Nguyễn Thành Long nhìn con người theo tinh thần cổ tích, nghĩa là tốt xấu rạch ròi, phân minh. Cái nhìn, cách cảm thụ của ông về đời sống thật sáng rõ, dứt khoát. Người đã tốt là tốt đến cùng. Họ là con người hoặc vốn đã mang bản tính tốt, hoặc được cuộc sống rèn luyện trở nên người tốt. Ông ít quan tâm đến loại người xấu, người tiêu cực. Cái nhìn về đời sống của ông là cái nhìn đạo đức, lấy đạo đức truyền thống được bổ sung thêm những phẩm chất của con người mới để lựa chọn nhân vật, soi xét nhân vật. Tác phẩm nào cũng vậy. Có thể lấy Sáng mai nào, xế chiều nào làm ví dụ. Câu chuyện kể về một nữ văn sĩ đi thực tế tại một nhà máy, cùng với nỗi trăn trở về nghề nghiệp của mình là nhận thức sâu thêm về hình ảnh người cán bộ quản lý, giám đốc nhà máy tên là Nghiên. Người cán bộ này mang những phẩm chất tốt đẹp: vừa giỏi chuyên môn, vừa năng động, biết cách quản lý, hết lòng vì việc chung mà chịu nỗi thiệt thòi riêng, được nhân viên, công nhân yêu quý. Bên cạnh đó cũng có những loại cán bộ như Lê Thực, vì hám lợi hám danh sinh lòng đố kỵ, rồi rắp tâm làm hại những người chính trực ngay thẳng như giám đốc Phước…

Mô hình người cán bộ trong những năm tháng này là “gác tình riêng vì nghĩa lớn”, hy sinh quyền lợi cá nhân, tất cả vì tập thể. Các nhân vật của Nguyễn Thành Long cũng y như vậy. Dĩ nhiên, ông không dừng lại ở chỗ miêu tả thành tích theo kiểu người tốt việc tốt, mà đã biết phát hiện ra cả những thiệt thòi mất mát của con người một khi chỉ sống và hành động theo cái phương châm duy ý chí trên kia. Nhân vật Nghiên chẳng hạn. Hậu quả của cách sống ấy là: vợ bỏ đi học nước ngoài, bản thân luôn mang tâm trạng buồn bã, khối u trong người giờ đã phát thành bệnh buộc phải vào bệnh viện. Thực ra, nhà văn chưa phải đã biết đề cập đến những mất mát thua thiệt ấy bằng ý thức phản tỉnh. Nhưng bằng mẫn cảm nghệ sĩ, một cách tự nhiên nhất, ông đọc ra được ít nhiều cái bi kịch riêng – chung của con người. Có lẽ, ngày hôm nay đọc lại những trang viết như trên, mới có thể cảm nhận thấy thêm cái màu sắc bi kịch trong sự hy sinh ấy. Nó khác hẳn với tâm thế đọc ngày xưa, âm hưởng chủ đạo của văn học là ngợi ca, cảm phục và ngưỡng mộ. Đây là một vấn đề thuộc tâm lý tiếp nhận, thể hiện một phần nào quan điểm và cách cảm thụ về đời sống và nghệ thuật của bạn đọc ngày hôm nay. Khi mà quan niệm về giá trị thay đổi, thế tất dẫn đến cách tiếp nhận nghệ thuật cũng thay đổi theo.

Truyện Hạnh Nhơn được viết năm 1981 cho ta biết thêm về một nhân vật như vậy. Cô gái có tên là Hạnh Nhơn vì mang một niềm tin thiêng liêng là người cha sẽ trở về nên cô kiên quyết không di tản, khước từ lời rủ rê của người yêu cô. Sau khi gặp “ba”, cô đã hoàn toàn yên tâm ở lại nhà máy, và là một cán bộ khoa học trẻ đầy nhiệt huyết, được đông đảo cán bộ công nhân nhà máy khâm phục và ủng hộ. Còn nhân vật tôi cũng vậy, do tin rằng mẹ của Hạnh Nhơn – người bạn của em gái mình ngày nào, đã tin tưởng trao gửi đứa con gái bé bỏng nhờ mình che chở, nên anh không được quyền từ chối, cũng như không được quyền tước đoạt niềm tin thiêng liêng của cô gái rằng anh chính là ba của cô. Đấy, câu chuyện hướng vào những con người tốt, với những ý nghĩ tốt, cách ứng xử tốt, vì xuất phát từ tình thương cũng có, mà vì trách nhiệm của một người làm gương cũng có. Nhiều nhân vật của Nguyễn Thành Long cũng như của nền văn học cách mạng sau 1945 đều mang tính cách nêu gương như vậy – những tấm gương để soi chung.

Tất cả những con người tốt đẹp mà nhà văn lựa chọn và miêu tả trên kia đều thấm nhuần một tinh thần khảng khái nhuốm chất lãng mạn của cả một thế hệ những năm sau 1945, đó chính là tinh thần của Paven Coosaghin trong Thép đã tôi thế đấy : “Đời người chỉ sống có một lần…”. Nhân vật tôi trong Hạnh Nhơn trước khi đi xa đã chép câu nói nổi tiếng ấy vào trang sổ của Hạnh Nhơn. Ngày ấy, những trao gửi, hy vọng, tin yêu như thế là có thật.

Cắt nghĩa cho cách nhìn, cảm thụ và lựa chọn nhân vật của Nguyễn Thành Long như trên kia đã thấy, có lẽ phải đi từ một nhận thức: nhà văn của chúng ta đặt cả niềm tin, tình yêu vào con người, vào chế độ này. Tin yêu và trân trọng con người là cái căn bản có ý nghĩa quyết định để nhà văn sáng tạo. Còn tin yêu vào thời thế thì không phải là lý do tiên quyết và không phải ai cũng có được. Nhưng nhà văn Nguyễn Thành Long lại là người tha thiết với thời cuộc, tha thiết với các chủ trương và các phong trào, tin vào viễn cảnh tươi sáng mà những nhà cách mạng lãng mạn nghĩ ra. Trong bài ký Bình Định quê tôi được viết ngay sau sự kiện giải phóng miền Nam ít tháng, ông viết : “Riêng tôi có một nhận xét này: ngồi ở Bình Định nghe nói chuyện phục hồi kinh tế, xây dựng tương lai, có cái gì thật giống ở miền Bắc những khi theo anh em Uỷ ban nông nghiệp đi các địa phương giải đáp cho ra “cây gì”, “con gì” và lấy làm lạ mãi về sự nhuần nhị tài tình từ công việc chiến tranh chuyển sang công việc hoà bình”. Ở một bài ký khác, ông cũng hào hứng bộc bạch: “Không phải ở đất nước nào người ta cũng khó lòng phân biệt sự thật và những câu chuyện thần tiên. Người ta chỉ nhầm lẫn như vậy ở những nơi nào phẩm chất con người thật là cao đẹp” (Dọc dài đất nước, Tết 1979).

Ngày hôm nay, nhìn lại quãng những năm bảy chín tám mươi của thế kỷ XX vừa qua, không thể không thừa nhận rằng đất nước chúng ta đã rơi vào tình trạng kiệt quệ, đói khổ, thiếu thốn vô cùng. Những nhà hoạch định chính sách quốc gia cũng bộc lộ sự lúng túng, vừa làm vừa mầy mò, cái đúng cái sai khó có thể lường. Ấy thế mà nhà văn của chúng ta vẫn ca lên những lời trên mây như vậy kể cũng lạ. Không phải ông không chân thành. Nhưng sự chân thành ấy rõ ràng là có chút dễ dãi. Đại đa số các tác phẩm thuộc nền văn nghệ cách mạng ít nhiều rơi vào sự dễ dãi ấy. Nhưng theo tôi nghĩ, ở đây có hai loại: chân thành và thiếu chân thành. Sự thiếu chân thành rất gần với sự nói dối. Tôi tin Nguyễn Thành Long là người trong bản tính không biết nói dối. Nhà văn đem nguyên cả cái cả tin ấy vào trang viết.

Nhưng như một ai đó nói: Nếu không tin thì tôi biết sống bằng gì. Nhà văn Nguyễn Thành Long vẫn cứ tin, cứ sống và viết với niềm tin về  một cuộc sống sớm đổi thay. Chẳng có gì đáng trách móc ở chỗ này cả. Một thời nó thế. Âu cũng là “cái thời lãng mạn” của một thế hệ những người cầm bút không dám, không được sống hết là mình, đa số bị cuốn theo cái động hướng chung của thời cuộc.

Tôi lại nghĩ thêm: hình như cái nghĩa khí miền Trung nơi con người tác giả có góp phần chi phối cách lựa chọn và miêu tả loại nhân vật nêu gương kể trên. Đức tính này thể hiện cái nhìn rạch ròi và có phần nghiêm khắc về nhân cách con người. Trong mọi hoàn cảnh, con người vẫn biết giữ và cần phải giữ lòng ngay thẳng, lương thiện, cốt cách của mình, và một khi đã tin theo thì thuỷ chung cho trọn.  Các nhân vật yêu dấu của Nguyễn Thành Long đều noi theo cái tinh thần nghĩa khí của quê hương Bình Định thượng võ, ít nhiều mang cái cốt cách của các đấng bậc trượng phu trong các vở tuồng Trung Bộ. Sinh ra trong một gia đình cách mạng, năm 1954 Nguyễn Thành Long tập kết ra Bắc. Bước vào nghề viết từ năm 1955 với tác phẩm Bát cơm cụ Hồ. Từ bấy trở đi, ngòi bút của ông tận tuỵ với đời sống và lý tưởng cách mạng. Cái nghĩa khí miền Trung được ông nuôi dưỡng bền bỉ, cộng với những nhận thức mới về cách mạng, cả hai đã nâng ngòi bút của ông về phía ngợi ca.

Mở hồn ra Giữa trong xanh

Tôi có thể mạnh dạn nói rằng văn Nguyễn Thành Long đẹp nhất là ở những trang miêu tả thiên nhiên. Khi dựng lên bức tranh thiên nhiên, nhà văn đã đạt được điều mà không phải nhà văn nào cũng có được: đưa cả cái không khí, hơi thở của thiên nhiên vào trang viết. Xin bạn đọc dừng lại để thưởng lãm vài đoạn văn Nguyễn Thành Long.

Đây là cảnh biển cả trong cái nhìn của nhân vật : “Cô gái kêu lên một tiếng kinh ngạc. Cô vẫn giữ từ bé, giữ mãi như người ta giữ một lẽ sống của đời mình, hình ảnh tuyệt đẹp, khoảng trong xanh bao la của trời nước quê hương bằng pha lê màu ngọc bích, mịn và nuột nà, vang ngân và đắm đuối. Nhưng cô chưa hề tận mắt một mình bắt gặp cái cảnh huyền ảo như đêm trăng giữa trùng khơi này, trời biển đông hừng một màu trắng bạc, cái màu trắng bạc chói loà như có cả tiếng nhạc, xoá tất cả mọi ranh giới trong lòng ta. Ta không còn cảm giác đang bơi với thuyền, mà đang đi lên, đi lên lên mãi cái gì xán lạn lắm, cao lắm” (Giữa trong xanh).

Còn đây là cảnh thành phố Đà Lạt với vài nét vẽ ngôn từ điêu luyện: “Thành phố là một chiếc nhẫn nạm kim cương mỗi mặt đá một màu đặt trong một cái hộp xanh sẫm làm bằng rừng thông già. Mỗi lần ngửng lên, ta lại kinh ngạc, ta kinh ngạc hoài vì cái đẹp khêu gợi của những cái chao lá thông chúng tung những hình chóp ánh sáng trắng lên trời, màu trắng rỡ đọng trong lá xối xuống toả khói và hoà tan trong màu xanh ngọc lạnh của da trời. Những hồ nước vuông vắn, phẳng lì không chút gợn dưới trời tháng bảy, chúng hơi vắng vẻ và không gắn nhiều vào đời sống thường nhật như những hồ nước ở Hà Nội, nhưng chúng thật là những nét bút không thể thiếu cho sự hài hoà của bức tranh Đà Lạt, lấp lánh trong bóng đêm, thu bớt ánh sáng ban ngày. Và hoa, cả Đà Lạt là một biệt thự lớn có đủ các thứ hoa, dơn, lila, mácgơrit, bêgônha, thược dược đủ màu sắc lấp ló ú oà khắp nơi, giắt trên các lối đi, các hàng rào, các khu vườn, các cửa sổ, các mái nhà” (Đà Lạt hoa hương). Tôi dám chắc rằng đây là một trong số không nhiều áng văn miêu tả đẹp nhất về Đà Lạt mến yêu. Trong các trang văn của Nguyễn Thành Long có không ít những trang miêu tả thiên nhiên đẹp đẽ, tinh tế như thế. Ngay cả trong Lặng lẽ Sa Pa cũng vậy. Đoạn miêu tả vẻ đẹp của rừng thông được xem là đỉnh cao của văn miêu tả thiên nhiên. Khi miêu tả phong cảnh, ngòi bút Nguyễn Thành Long thường ưu tiên cho ánh sáng, những ánh sáng tinh khôi, rung động, có chút gì bí ẩn của thiên nhiên vĩnh hằng. Phải có cách cảm thụ màu sắc theo kiểu hoạ sĩ mới có được những nét bút tài hoa, tinh tế đến vậy. Văn của Nguyễn Thành Long bao giờ cũng hân hoan những ánh sáng muôn màu – hiểu theo nghĩa chân thực nhất của hình ảnh này.

Đọc văn Nguyễn Thành Long thấy hầu hết mỗi truyện được viết ra là kết quả của một chuyến đi cụ thể theo suốt Dọc dài đất nước. Điều đó không chỉ được thể hiện trong nội dung truyện, mà còn bằng những chỉ dẫn ngày tháng năm, địa chỉ rõ ràng ở phần kết truyện. Nó nói với ta hai điều: thứ nhất, vào thời điểm mà Nguyễn Thành Long viết truyện, nền văn nghệ của ta đang đặc biệt đề cao cách thâm nhập trực tiếp của nhà văn vào cuộc sống được gọi là “đi thực tế”. Ai không đi thực tế, tức là về sống trực tiếp cùng với bà con nông dân, công nhân, bộ đội … thì bị coi là xa rời quần chúng, xa nhân dân, là rơi vào “tháp ngà” tiêu cực. Nếu ai hăng hái nhập cuộc về cơ sở, người đó được tuyên dương. Nguyễn Thành Long xem ra cũng là người thích đi, hăm hở đi thực tế. Ông không  chỉ coi đi thực tế là nhiệm vụ mà quan trọng hơn là cái cách lấy vốn sống, lấy ý tưởng, lấy hình mẫu nhân vật …Thứ hai, ông là người yêu đất nước, yêu mọi miền quê xứ sở, cảm thấy có cái thú được đi, được nhìn ngắm và thưởng ngoạn. Yêu nên muốn đi nhiều. Đi nhiều nên lại càng yêu. Nguyễn Thành Long là thế. Ông chẳng qua cũng là người đồng bệnh với anh chàng  mắc bệnh thèm người trong Lặng lẽ Sa Pa.

Nhờ đi vào cuộc sống, đi cần mẫn và hào hứng khắp đất nước quê hương, nên nhà văn có những trang văn rất đẹp, gọi ra được những cái thơ mộng, tình tứ riêng của mỗi vùng miền. Không thua kém bất cứ nhà văn nào, văn Nguyễn Thành Long có những trang miêu tả thiên nhiên đất nước trăm miền bằng những lời lẽ gấm hoa tinh mỹ. Lao động ngôn từ ở những trang văn như thế thật đáng nể.

Của tin còn một chút này …

Ấy là tôi muốn nói đến Lặng lẽ Sa Pa. Đây là một câu chuyện ngợi ca những con người đã hy sinh một cách vô tư và thầm lặng những tháng năm tuổi trẻ cho đất nước. Nhân vật chính là chàng trai làm nghề khí tượng trên đỉnh núi cao heo hút và đặc biệt vắng người. Tác giả để cho nhân vật toàn nói những lời “lý tuởng” của thanh niên thời ấy. Cô gái kỹ sư lâm nghiệp tuy không nói nhưng cũng nghĩ toàn những điều lý tưởng. Các nhân vật đều rơi vào tình trạng đơn giản, một chiều, góp vào giọng điệu ngợi ca chung của một thời.

Tuy thế, vẫn phải thừa nhận rằng đây là một câu chuyện đặc biệt có duyên. Hễ ai đã một lần đọc nó chắc không thể nào quên được. Hoá ra câu chuyện “ăn nhau” ở mấy điểm khá độc đáo: 1 – tình huống truyện ; 2 – một số tình tiết ấn tượng ; và 3 – không khí truyện.

Nói về tình huống truyện, nhà văn Nguyễn Thành Long cho rằng nó chính là những “moment” (khoảnh khắc) cuộc sống “được nâng cao thêm mức mà ta muốn” (dẫn theo Các nhà văn nói về văn, tập hai, NXB Tác phẩm mới, 1986). Với Lặng lẽ Sa Pa, tình huống truyện là cuộc gặp gỡ có phần khá tình cờ, độc đáo giữa nguời hoạ sĩ già, cô gái kỹ sư nông nghiệp và anh thanh niên làm nghề khí tượng trên núi cao. Người hoạ sĩ già thì đi vẽ. Cô kỹ sư lần đầu tiên đi nhận công tác trên miền núi. Còn anh thanh niên quanh năm sống trên núi cao một mình nên được gọi là “người cô độc nhất thế gian”. Mỗi người theo đuổi một công việc riêng, vốn không quen biết nhau, tình cờ lại gặp nhau tại một nơi núi cao hẻo lánh. Chỉ nội điều này thôi đã hứa hẹn nhiều thú vị. Thêm nữa: anh thanh niên 27 tuổi này chưa vợ con. Cô gái lần đầu bước vào môi trường công tác, lại vừa chủ động chia tay một mối tình chật hẹp, vướng víu, mà cô tự nhận là lầm. Người hoạ sĩ già đi chơi một chuyến miền Tây trước khi có một lễ tiễn về hưu. Tình thế nhân vật được bày đặt cũng đã lại hứa hẹn nhiều điều phía trước. Họ lại chỉ được gặp nhau trong nửa tiếng đồng hồ, và ai cũng hiểu rằng chuyện gặp lại nhau là điều cực hiếm. Phải nói ngay rằng, bố trí để cho các nhân vật gặp nhau trong một thời gian, địa điểm như vậy, tức là tác giả đã có trong tay một moment rất đắc địa.

Công việc chỉ còn là triển khai cho các nhân vật có chi tiết, có đời sống.

Như đã thấy, với anh thanh niên này có nhiều điều thật lạ. Chi tiết anh lăn cây gỗ xuống ngang đường để được gặp người, để cho đỡ “thèm người” khá gây ấn tượng. Anh cho biết công việc ban đêm của anh với cái lặng im ghê người trong những đêm bão tuyết. Chi tiết anh vô tình lập công vì phát hiện ra một đám mây khô. Còn cơ ngơi của anh cũng là một thế giới lạ lẫm và thú vị: căn phòng ngăn nắp, bàn đọc, giá sách, trồng và chăm sóc các loài hoa, nuôi gà đẻ trứng … Nhìn vào chỗ ăn ở này, thấy anh là người căn cơ, chu đáo, yên tâm gắn bó lâu dài với công việc, nó khác hẳn với cách sống tạm bợ chờ ngày rời bỏ. Ngần ấy chi tiết cũng đã đủ để tạo một ấn tượng khá đậm nét.

Với cô gái cũng thế, trong sự xúc động tự nhiên trước một tấm lòng, một cảnh đời, cô làm như vô tình  quên đã cố ý để lại chiếc khăn mùi soa cho anh. Còn anh con trai đó vô tâm đến nỗi tưởng người ta quên thật nên đã đuổi theo để trả. Tình tiết này có cái vẻ ý vị rất đáng yêu. Nó thuộc về tuổi trẻ – những con người vừa mẫn cảm, vừa nâng niu những xúc cảm thánh thiện và lại giàu tự trọng. Chi tiết ấy chưa nói được gì về một quan hệ tình cảm, mà chỉ như một nỗi vu vơ hư thoảng trong đời. Nó như làn hương dìu dịu của một loài hoa rừng nào vậy. Nó phả vào câu chuyện một cái không khí mơ màng lặng lẽ. Tôi nghĩ, nắm bắt và miêu tả cho thật chính xác, thật sống động những chi tiết rất tinh tế như vậy không phải dễ.

Điều thành công hơn cả của tác phẩm này là ở chỗ nhà văn đã tạo ra được một không khí nghệ thuật ủ ướp toàn tác phẩm, trong mỗi nhân vật, mỗi chi tiết, trong từng câu chữ. Cái không khí đó là gì? Có thể gọi thành tên được không? Có thể nói, bao trùm lên toàn câu chuyện là một không khí lặng lẽ mơ màng sâu lắng. Lặng lẽ trong khung cảnh. Lặng lẽ trong suy nghĩ. Lặng lẽ trong sự đổi thay của tâm hồn nhân vật. Lặng lẽ trong cái bắt tay tiễn biệt. Lặng lẽ trong ánh nhìn … Tất cả đều lặng lẽ. Cô gái trong suốt cuộc gặp gỡ tay ba ấy không hề nói một lời nào (duy nhất một lần được hỏi: “Cũng đoàn viên phỏng?”, “Vâng – Cô gái sẽ nói.”, cũng chỉ sẽ nói thôi), mà cô chỉ theo đuổi những ý nghĩ nội tâm, một thứ lặng lẽ đã có từ lúc trước “cứ nhìn ra ngoài cửa xe, mắt lặng lẽ mà say mê”. Người hoạ sĩ già cũng rất kiệm lời. Duy chỉ có một người hơi ồn ào đó là anh thanh niên khí tượng. Anh ấy nói suốt từ đầu đến cuối. Nói do yêu cầu của người hoạ sĩ già. Nói cũng do một nhu cầu tự nhiên của anh là muốn được giãi bày, thổ lộ với người khác, nhất là một người như anh, bấy nay chỉ được sống thầm với cây lá mây trời, giờ mới lại được gặp người, nói cho hả bệnh thèm người. Và cái sự nói nhiều đó chỉ khuấy động được chừng 30 phút để rồi sau đó nơi anh đang đứng lại càng lặng lẽ – cái lặng lẽ thăm thẳm muôn đời của thượng ngàn.

Để làm nên sự lặng lẽ mơ màng bao trùm ấy còn có thêm một nhân vật nữa:”nhân vật thiên nhiên. Bức tranh núi rừng ở đây được miêu tả mới đẹp, mới tinh khiết làm sao: “… cảnh trước mặt bỗng hiện lên đẹp một cách kỳ lạ. Nắng bây giờ bắt đầu len tới đốt cháy rừng cây. Những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của những cây tử kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng. Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe”. Một khung cảnh đầy ánh sáng, nhung tuyết, mong manh …

Tôi tỉ mẩn thống kê, thì ra trong tác phẩm này những từ như lặng lẽ, im lặng hoặc gần nghĩa như vậy xuất hiện khá nhiều : lặng lẽ Sa Pa, mắt lặng lẽ mà say mê, nín bặt (vì cảnh trước mặt hiện lên đẹp một cách kỳ lạ), anh thanh niên mời chén trà “yên lặng đặt trước mặt cô, trong cái lặng im của Sa Pa, trong cái vắng vẻ vòi vọi, hai người (…) im lặng rất lâu”, và kết thúc tác phẩm cũng lại bằng một quãng im lặng mênh mang : “Cô gái liếc nhìn bác già một cái rất nhanh, tự nhiên hồi hộp, nhưng vẫn im lặng”. Điều này chắc không phải ngẫu nhiên. Tất cả, từ những biểu hiện bên ngoài đến những cảm xúc nội tâm của con người hoà hợp dịu dàng với khung cảnh tạo nên một không khí lặng lẽ mơ màng sâu lắng. Không khí đầy chất thơ lãng mạn ấy là kết quả của một sức mạnh nghệ thuật tổng hoà, rất khó có thể tách bạch ra được. Tôi cho rằng đây là chỗ thành công nhất của tác phẩm. Vào quãng những năm trước 1945, nhà văn Thạch Lam đã đặc biệt lưu ý đến “không khí bao bọc xung quanh nhân vật”. Nhà văn Nguyễn Tuân khi viết về Tắt đèn cũng đã đặc biệt tinh nhạy chỉ ra cái không khí oi ngột bao trùm tác phẩm … Những nhà văn tinh tường nghề nghiệp bao giờ cũng quan tâm đến cái không khí của truyện – không khí nghệ thuật. Nguyễn Thành Long đã thực sự thành công ở điểm này trong Lặng lẽ Sa Pa. Nhờ thế mà câu chuyện có cái duyên ý vị làm xao lòng người đọc từ bấy đến nay.

Tuy nhiên cái chất lặng lẽ  trong tác phẩm  được bố trí ngay từ nhan đề truyện, lại được triển khai suốt trong quá trình câu chuyện, đã làm nên một tương quan giữa khung cảnh thiên nhiên, cuộc gặp gỡ tình cờ, và tâm hồn cùng phẩm chất nhân vật. Cho nên cái chất lặng lẽ này còn được hiểu như một ẩn dụ: sự hy sinh thầm lặng của con người vùng cao trong những năm tháng dựng xây đất nước. Tác giả cũng không có ý định giấu giếm ý đồ nghệ thuật này, thậm chí còn hơi bị lộ nữa kia. Bởi thế, công bằng mà nói rằng cái hiệu quả  nghệ thuật  chưa được như mong muốn, chưa hoàn toàn thuyết phục bạn đọc.

Hạt ngọc nào chẳng ít nhiều tỳ vết. Dẫu sao đi nữa, Lặng lẽ Sa Pa vẫn là một dấu son nghệ thuật đáng trân trọng của một đời cầm bút.

Nguyễn Thành Long suốt đời thuỷ chung với thể loại truyện ngắn. Thỉnh thoảng ông có viết ký nhưng không nhiều. Trong quá trình sáng tạo, cũng đã có lúc ông suy tư, đúc kết kinh nghiệm viết truyện ngắn, và phát biểu ở một vài chỗ. Có lần ông nói: “Truyện ngắn phải mang dấu ấn của tác giả, biểu hiện sự tồn tại của tác giả. Dấu ấn ấy trước hết là tấm lòng đằm thắm của anh, sau đó là bút pháp, giọng nói, nhịp điệu câu chuyện của anh, những “cái áo”, “làn da” của tấm lòng tác giả. Nếu không có gì để nói, làm sao anh nâng nổi ngòi bút của anh cho được” (Các nhà văn nói về văn, sđd, tr.106). Thật vậy, trong suốt hành trình sáng tạo, quả tim Nguyễn Thành Long lúc nào cũng yêu tin và gắn bó nồng hậu đối với đất nước, con người.

Cũng phải thành thực mà nói rằng, đại đa số những áng văn thuần ngợi ca của Nguyễn Thành Long về “cái thời lãng mạn” (Nguyễn Khải) thực sự đã không chứng minh được sức sống của chúng trong lòng bạn đọc hôm nay. Tuy nhiên, trong đó vẫn còn lại một tác phẩm độc sáng về một vùng cao Sa Pa ngàn đời ấy. Hẳn là, trong tình yêu của người dân nước Việt dành cho Sa Pa hôm nay, tôi tin rằng có một phần là nhờ áng văn Lặng lẽ Sa Pa. Nên chăng, Sa Pa có một con đường, một trường học nào đó mang tên Nguyễn Thành Long thì hay biết mấy. Sự khoe hương khoe sắc của vùng du lịch Sa Pa hôm nay sẽ đẹp hơn, có tư thế văn hoá hơn nếu biết bắt đầu đi từ những việc tưởng như bé nhỏ như vậy.

Cự Lộc, 25/7/2005

Ngô Văn Giá

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Nhà văn Lý Văn Sâm: Một căn cước văn hóa Đồng Nai – Đông Nam Bộ

Nhà văn Lý Văn Sâm sinh ngày 17.02.1921, tại làng Tân Nhuận, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (cũ) – nay thuộc xã Bình Long, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai và mất ngày 14.9.2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông còn có một số bút danh khác như: Đào Lê Nhân, Bách Thảo Sương, Ánh Minh… Ông cùng thế hệ với các nhà văn: Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy, Viễn Phương, Dương Tử Giang, Vũ Anh Khanh, Kiên Giang, Thẩm Thệ Hà, Hoàng Văn Bổn, Huỳnh Văn Nghệ…

Tuổi thiếu thời ông đi nhiều nơi để theo học, từ trường tỉnh ở Biên Hòa, Đồng Nai đến trường Pétrus Ký, Sài Gòn rồi ra Quốc học Huế. Lớn lên ông có thời gian sống và làm việc ở Sài Gòn trong ngành an ninh và ở Chiến khu D, R. Từ thời kháng chiến chống Mỹ đến trước khi ông từ giã cõi đời,  nhà văn Lý Văn Sâm từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng khác nhau như: Chánh văn phòng Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang tỉnh Thủ Dầu Một, Trưởng đoàn Văn công miền Nam, chủ bút báo Chiến thắng của Quân giải phóng miền Nam (1956 – 1958); Chính trị viên Đoàn Văn công giải phóng, thư ký toà soạn báo Văn nghệ Giải phóng, Vụ trưởng Vụ Nghệ thuật Bộ Văn hoá Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Tổng thư ký đầu tiên của Hội Văn nghệ giải phóng miền Nam… thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam (1959). Ông có nhiều thời gian sống và làm việc ở những địa phương ngoài quê hương Đồng Nai. Khi nghỉ hưu, ông lại về sống ở quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh và mất ở đấy.

1. Cốt cách con người nhà văn Lý Văn Sâm, cũng như trong các sáng tác văn chương của ông, đặc biệt là mảng “Truyện đường rừng” được viết từ đầu những năm 40, thế kỷ trước đã xác lập ở con người này những “mã văn hóa” đặc trưng của vùng Đông Nam Bộ nói chung, và đặc biệt là vùng núi rừng Đồng Nai nói riêng, nơi ông từng sinh ra và có những tháng ngày tuổi thơ dữ dội và nghiệt ngã ở đấy. Có lẽ vì thế, khi nhắc đến nhà văn Lý Văn Sâm thì phần lớn người ta thường nghĩ ông là một trong số những người xứng đáng nhất mang tấm thẻ “Căn cước văn hóa” Đồng Nai – Đông Nam Bộ.

Có lẽ với một tuổi thơ không mấy yên ả, thậm chí là rất sóng gió, cô độc và buồn tẻ, đã hình thành nên cốt cách một cậu bé Lý Văn Sâm, người đã sinh ra và lớn lên ở miền đồng rừng, không trộn lẫn vào đâu được: vừa gan lì, trơ trọi, không sợ bất cứ ai, cái gì; vừa giàu ước mơ bay bổng lãng mạn; vừa chất chứa khí tiết ngang tàng, nhưng cũng giàu lòng vị tha, nhân ái.

Sinh thời ông cho hay: “Đến năm 7 tuổi, tôi mới có dịp ra thị trấn Tân Uyên, nên từ nhỏ tôi đã có tâm hồn ẩn dật. Tôi cứ ngồi bó gối ở trong nhà bà ngoại, thấy xe hơi chạy, ao ước có lúc mình được ngồi trên chiếc xe đó. Ông già tôi làm kiểm lâm và lãnh tiền xâu trả cho công nhân đốn cây.

Từ nhỏ, tôi ở với bà ngoại, không có điều kiện trò chuyện với ai. Tôi trở thành cậu bé hết sức cô đơn. Một lần nhà bị cháy, gia đình ngoại tôi chạy từ rừng về, tưởng tôi bị chết cháy trong đó rồi. May có cô câm giúp việc tên là Quơn la ú ớ rồi nhảy vô cứu tôi. Nếu không có cô ấy thì tôi chẳng còn. Lúc 7 tuổi, tôi đã biết tiếng Tây do cha tôi dạy. Hoàn cảnh sống ở chốn rừng núi âm u làm tôi hay bất mãn, chống sự bất công của xã hội và thích ẩn dật”*.

“Tôi bắt đầu quen ăn cơm Mọi, uống nước mạch và cùng các ủ rũ hát đối đáp dưới trăng rằm. Đêm đêm, tôi thức bên đèn giữa tiếng ngáy của Sơn Lâm say giấc và để cho lòng mình chảy thành mực trên giấy trắng” (Thâm u và cao cả)

Với một dáng vẻ bề ngoài nhỏ thó, lầm lì ít nói, chỉ biết làm và làm. Vậy mà bên trong con người ấy lại chất chứa một tấm lòng nhân văn cao cả, một tâm hồn lãng mạn phiêu bồng, một ý chí kiên cường khác lạ, một nghị lực vượt khó phi thường. Tính cách của nhà văn Lý Văn Sâm giống như những cái cây giữa đại ngàn đồng rừng Biên Hòa xưa: tự nhiên mọc và tự nhiên phải sống, dù cho thiên nhiên có khắc nghiệt đến mấy, dù cho điều kiện vật chất có khó khăn và túng thiếu đến đâu cũng không hề lay chuyển được ý chí tồn tại của cậu bé Lý Văn Sâm. Chính cậu bé Sâm ấy, ngay từ thuở mới lọt lòng đã vô thức khẳng định bản ngã tồn tại của chính mình trước khi có thể làm được một việc gì đấy, dù rất nhỏ cho mình, người thân, cộng đồng và sau là để lại cho đời. Để rồi sau này lớn lên thành anh bộ đội, người chiến sĩ công an, hay nhà quản lý văn hóa… ở đâu, công việc gì ông cũng đều làm và làm tốt khi được cấp trên tin cậy giao phó.

Căn cước văn hóa là những biểu hiện đặc trưng về văn hóa của một địa phương, vùng miền nào đấy trong tương quan so sánh và khu biệt với những địa phương và vùng miền khác. Hay nói một cách cụ thể hơn, căn cước văn hóa là những mã văn hóa riêng của từng vùng miền, địa phương.

Ở nước ta có nhiều vùng miền địa lý và lịch sử mang những mã văn hóa độc đáo, riêng biệt như: Khu vực đô thị – thành phố, khu vực Tây Nguyên, khu vực duyên hải Miền Trung, khu vực miền núi phía Bắc, khu vực đồng bằng sông Hồng, khu vực Thanh – Nghệ – Tĩnh, khu vực Đông Nam Bộ, khu vực Tây Nam Bộ. Trong các khu vực ấy, xét về khía cạnh văn hóa, có thể được chia ra làm nhiều tiểu khu vực. Ví như khu vực văn hóa đô thị – thành phố có các tiểu khu vực như: Thành phố Hồ Chí Minh, Cố đô Huế, Thủ đô Hà Nội… Tuy cùng thuộc về vùng văn hóa đô thị- thành phố, nhưng ở ba thành phố này lại có những mã văn hóa rất riêng mà các thành phố khác không có…

2. Căn cước văn hóa của một nhà văn không chỉ nằm ở đặc tính cá nhân, lối sống, cách ứng xử của anh ta với thiên nhiên, con người và xã hội trong đời sống thường nhật của nhà văn ấy. Mà ở chỗ sâu xa nhất nó còn được thể hiện ở cốt cách của cả hệ thống nhân vật trong tác phẩm mà nhà văn đã dày công hoá thân vào, xây dựng nên. Cốt cách của hệ thống nhân vật ấy của nhà văn Lý Văn Sâm là một, là duy nhất, không trộn lẫn với bất cứ ai, nhưng vẫn mang đậm những mã văn hóa của con người Đồng Nai nói riêng và Đông Nam Bộ nói chung.

Một ông “Con trời” chả giống ai: “Gã còn trẻ lắm. Mặt tròn, mắt sáng, đôi môi lúc nào cũng dành sẵn một nụ cười. Màu da ngâm ngâm đen, láng như đồng, tỏ rằng gã có rất nhiều sức mạnh. Gã mặc theo kiểu những người đi săn: đầu đội nón vành lớn, chân đi ủng da đen. Trông gã oai nghi, hùng dũng lắm”. (Kòn – Trô).

Qua cuộc đối đáp giữa gã và cô gái tên Phụng, một nữ thợ săn thiện nghệ, dần dần tung tích và tính cách của ông “con trời” này mới được lộ ra là chính người đang tiếp chuyện với mình: “Nghe Phụng hỏi, gã mỉm cười, hỏi lại Phụng:

– Bà có nghe người ta nói đến tên Kòn- Trô lần nào không?

Phụng ngạc nhiên, trả lời:

– Có! Tôi vừa tới đây đã nghe người ta nói ở vùng này có một tướng cướp lợi hại tên là Kòn- Trô thường hay đón ô-tô du khách để đoạt tiền, hoặc bắt cóc người ta. Nhưng thưa ngài, tại sao ngài lại hỏi tôi câu ấy?

– Vậy thì bà hiện đang nằm trong đại trại của Kòn – Trô.

Phụng đứng phắt lên, trợn mắt:

– Ngài là… Kòn – Trô?

Người đàn ông cũng đứng theo lên, gật đầu:

– Vâng!

Phụng hãi hùng liếc mắt nhìn quanh để tìm một sự cầu cứu. Trong mắt nàng, Kòn – Trô đứng chắn ngang như một pho tượng đá. Không kịp nghĩ ngợi, nàng nhảy tới một bước, rút dao găm đâm vào ngực Kòn – Trô một nhát.

Kòn – Trô né mình sang một bên, đưa hai tay ra đỡ. Phụng đang lỡ đà gần ngã sấp. Chàng nói với Phụng, giọng trách móc:

– Sao bà lại định giết tôi? (Kòn- Trô)

Sau đấy gã giảng giải cho cô gái thợ săn kia biết về nguồn gốc vì sao Kòn – Trô lại gắn bó với vùng đồng rừng này lâu bền và khăng khiết đến thế. “Kòn – Trô nói với Phụng: – Bọn thủ hạ của tôi hơn một trăm người đều sống chung với nhau trong những căn trại ấy. Họ toàn một giống mọi Châu – Mạ (Tcau – Ma) gan dạ và đanh thép. Tôi dùng họ rất được việc mà họ rất trung thành với tôi. Tôi bảo chết, họ chết. Tôi bảo sống, họ sống. Họ thương tôi và kính trọng tôi như cha.

Bà nghĩ còn lòng thương nào khăng khít hơn lòng thương của những kẻ vô gia cư, không cha, không mẹ, thân thế và cuộc đời gần giống in nhau. Không cần phải cắt máu ăn thề mà họ cũng ăn ở với nhau một niềm chung thủy. Ấy cũng bởi sự chung đụng trường niên nó gây cho bọn họ cái dây đoàn thể bền bỉ, không ai có thể cắt đứt được. Ở đây, không có sự phản bội, không có sự man trá, không có sự ghen tị nó làm cho người ta phải cực lòng lo nghĩ về nhau. Tâm hồn họ đã hòa hợp cùng cỏ cây hoang dại. (Kòn – Trô).

Và tại sao, một tên tướng cướp như Kòn – Trô mà lại có thể đối xử tử tế với một cô gái thợ săn trẻ bị lạc đường như vậy? Mới nghe tưởng chừng như có gì đó phi lý. Mãi sau khi Phụng nghe Kòn – Trô giảng giải, mới tạm thời cảm thấy yên lòng: “- Bà coi! Bọn chúng tôi trồng khoai, cấy lúa, gieo bắp, gây riêng một thế giới phóng khoáng, xa hẳn gió bụi chốn thị thành. Chỉ vì một năm, gạo thua, lúa kém, chúng tôi mới phải ép lòng đón người giật của và cướp kho lương của ông đồn, tại đây. Từ đó, tiếng tăm Kòn – Trô nổi dậy một vùng. Nhưng chúng tôi chỉ báo động trong một năm ấy thôi, rồi thì cải ác, tùng thiện, trở về chốn cũ, cầm lại cái cày, quơ lại cái cuốc, sống một cuộc đời lương thiện như những kẻ nông dân. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại bị bao vây nhưng vì không thuộc đường lối nên trăm người vào đây, khó mà trở về cho đủ. Cuộc đời tôi từ đó càng ngày càng nặng tội, càng ngày càng lem luốc, càng ngày càng xa nhân loại. Người đời cho bọn tôi là một lũ quỉ sống, uống máu người không tanh…” (Kòn-  Trô).

Sau này có người hỏi nhà văn Lý Văn Sâm về nguyên mẫu nhân vật Kòn – Trô trong truyện ngắn đầu tay cùng tên của ông là ai. Nhà văn không ngần ngại thú nhận rằng đấy chính là ông.

Tuy nhiên, nếu ai đó tinh ý hay có nghề, đọc truyện ngắn này đều có thể không quá khó để nhận ra sự rút hết gan ruột của nhà văn ra để hóa thân vào nhân vật Kòn – Trô này. Một chàng trai trẻ sinh ra và lớn lên ở miền đồng rừng Biên Hòa, Đồng Nai từ thuở còn nguyên sơ, hoang vắng khi con người dường như chưa tách khỏi rốn bà nhũ mẫu tự nhiên sống chung với thú dữ, chim muông và thậm chí còn ăn thịt lẫn nhau.

Có thể nói phần lớn các nhân vật chính của 8 truyện ngắn được tập hợp trong tập sách “Kòn – Trô” do Bùi Quang Huy sưu tầm, giới thiệu và Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai ấn hành năm 2008 đều là những con người khác lạ, thậm chí là phi thường. Có thể họ là những tên tướng cướp hay những người anh hùng, cũng có thể họ là những người bình thường nhưng có ý chí và mưu lược cũng như những hành động mà người bình thường không thể nào có và làm được, hoặc nhờ có sự trợ giúp của thần linh mà họ trở nên phi thường, như Kòn – Trô trong truyện ngắn cùng tên; Cả Tiễn trong truyện “Mũi tổ”; hai cha con Răng Sa Bang và Răng Sa Mát trong truyện “Răng Sa Mát”; ông Bader, chủ đồn điền người Đức trong “Ngăn rạch bắt sấu”; Năm Mun người Thổ lai trong “Thâm u và cao cả”; Lương Điền trong “Thần Ngư động”; bà Đổng trong “Voi đội đèn”; nữ Chúa, Ngạc Ngư thần trong “Xác Mu Mi trên núi đá”. Tất cả họ dù ít hay nhiều và ở những suy nghĩ và hành động khác nhau nhưng đầu mang tầm vóc, chiều kích của những nhân vật, người anh hùng trong sử thi của các dân tộc của cộng đồng người Việt cổ. Cứ như là giời sinh ra họ chỉ để làm những việc phi thường ngõ hầu cứu rỗi chúng sinh, khi mà đất trời, vũ trụ tự nhiên và con người chưa từng sống tách biệt với nhau, hãy còn u mê trong cõi hỗn mang. “Đó là buổi loài người còn sống chung với muông thú và cùng ngơ ngác như nhau, lấy mắt nhìn năm, tháng trôi qua… Này là núi non của muôn đời tăm tối… này là cây cao, bóng cả của rừng núi âm u. Núi chưa có người đặt bước thám du, rừng cây chưa có dấu vết của lưỡi búa tiều phu hủy hoại.

Vẻ thiên nhiên còn nguyên vẹn màu trinh.

Ở một chốn sơn lâm vô danh kia có một giống Mọi man di đang giết lẫn nhau để giành sự sống. Cấu xé nhau, ăn thịt lẫn nhau chán rồi.

Họ họp nhau thành những bộ lạc ở dọc hai bên bờ của một con sông lớn (Bây giờ là sông La Ngà)” (Xác Mu Mi trên núi đá).

3. Căn cước văn hóa của một nhà văn còn được thể hiện ở hệ thống từ vựng ngôn ngữ mà tác giả thường xuyên sử dụng trong khi sáng tác mang đậm dấu ấn đặc trưng của đời sống văn hóa ở vùng, miền, địa phương, nơi từng gắn bó với tuổi thơ, để lại nhiều kỷ niệm buồn vui đến mức chúng theo bám, ám ảnh trong kho tàng ký ức của nhà văn không thể nào có thể dứt ra hoặc tẩy gọt đi được. Đối với nhà văn Lý Văn Sâm điều ấy như một mặc định (defaut) trong bản thể tồn tại của ông về khía cạnh văn hóa (phần hồn). Nếu như tước bỏ hệ thống từ vựng ngôn ngữ ấy, thì 8 truyện ngắn trong “Kòn- Trô” không còn thuộc về ông, là của ông nữa. Dẫu biết rằng, ngôn ngữ chỉ là vỏ của tư duy, nên nó là hình thức biểu hiện cuối cùng của tác phẩm văn chương. Nhưng cái vỏ ấy quan trọng đến mức, người đọc phải nhờ vào chúng, thông qua chúng để nhận diện tác phẩm văn chương này là thuộc về (của) nhà văn này, chứ không phải của nhà văn khác. Nó thuộc vùng văn hóa này chứ không phải của những vùng văn hóa khác.

Trong 8 truyện ngắn của tập “Kòn – Trô” có tới 106 từ, cụm từ địa phương, kể cả nghĩa đen lẫn tiếng lóng cần phải được chú thích. Số từ, cụm từ ấy được phân bổ như sau: “Kòn- Trô” có 11 từ, cụm từ; “Mũi tổ”: 20; “Ngăn rạch bắt sấu”: 16; “Răng Ma Sát”: 19; “Thâm u và cao cả”: 9; “Thần Ngư động”: 6; “Voi đội đèn”: 13; “Xác Mu Mi trên núi đá”: 12. Cũng cần nói rõ thêm rằng, con số thống kê này hoàn toàn mang tính chủ quan của người viết bài này. Trong đấy có cả những từ, cụm từ mà tác giả đã chú thích ngay cuối mỗi truyện. Nhưng phần lớn là những từ, cụm từ (ghép cố định, ghép không cố định, láy…) mà nhà văn Lý Văn Sâm mặc định rằng mọi người đã biết nên không cần phải chú thích. Nhưng thực chất có rất nhiều từ mang tính vùng miền, địa phương Biên Hòa, Đồng Nai, từ cổ, từ Hán- Việt mà không phải ai cũng biết dù đấy là bạn đọc thông thường hay nhà chuyên môn về ngôn ngữ học, lý luận, phê bình văn học. Chẳng hạn như các từ: “Kợ mã” có nghĩa là kỵ mã, người cưỡi ngựa; “Bắt thường đó” nghĩa là bắt đền đó; “Gộp đá”: mô đá; “Dãy trường kiều”: cây cầu dài; “Tấm rừng”: khu rừng; “Một miếng mây”: một đám mây; “Ăn ong”: lấy mật ong; “Ăn chịu”: mắc nợ; “Miếng khói mỏng”: làn khói mỏng…

Nói như vậy để chúng ta thấy một nhà văn nào đấy muốn có một tấm thẻ “Căn cước văn hóa” của một vùng miền, địa phương, nhất thiết anh ta phải là con người sống và có những ứng xử văn hóa cũng như sáng tạo ra cho được một hệ thống nhân vật của mình có lối sống, tính cách, giọng điệu và ngôn ngữ mang những “mã văn hóa” như là thứ “tài sản” riêng của vùng miền, địa phương ấy. Nếu như vậy, Lý Văn Sâm là nhà văn xứng đáng nhất mang tấm thẻ “Căn cước văn hóa” của Đồng Nai nói riêng và Đông Nam Bộ nói chung.

Chú thích:

* Phan Phú Yên. Lý Văn Sâm vẫn quyến rũ chuyện đường rừng. Văn chương phương Nam, ngày 30.8.2021

Về năm sinh của nhà văn Lý Văn Sâm, nhiều tài liệu chưa thống nhất. Chúng tôi giữ nguyên nội dung này theo bài viết của các tác giả.

9/5/2022

Đỗ Ngọc Yên

Nguồn: VHNTĐN

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Chấn thương và hành trình truy tìm căn tính Việt trong tiểu thuyết “Sóng ngầm” của Linda Lê

Nhà văn Linda Lê vừa đột ngột qua đời sáng ngày 9.5.2022 tại Paris ở tuổi 59. Bà là cây bút người Pháp gốc Việt hàng đầu, tác giả nhiều tác phẩm nổi tiếng và rất có giá trị. Sự ra đi bất ngờ của bà đã gây chấn động văn đàn Pháp, Việt Nam lẫn nhiều nơi trên thế giới với niềm tiếc thương khôn nguôi. Tưởng nhớ nhà văn Linda Lê, xin trân trọng giới thiệu bài nghiên cứu của PGS-TS Thái Phan Vàng Anh về tiểu thuyết Sóng ngầm của bà…

Tiểu thuyết Sóng ngầm đã khắc họa chân dung của những con người từ những vùng miền văn hóa khác nhau, đến xứ người và đều gặp gỡ nhau ở tâm thức lưu đày. Những con người lạc lõng, xa lạ ở mảnh đất Paris mà có lúc họ xem như một “miền đất hứa”.

Trong một dịp nói chuyện về tác phẩm của mình vào năm 2010 ở Việt Nam(tại Trung tâm văn hóa Pháp L’Espace – Hà Nội), Linda Lê đã chia sẻ nhiều về quan niệm viết văn, về cả chút ít đời tư đã ảnh hưởng đến chị trong sáng tác. Điều đáng chú ý là Linda Lê từ chối nói tiếng Việt, bởi theo nhà văn, hiểu biết hạn hẹp về tiếng Việt khiến chị “khó có thể vượt qua rào cản còn ngăn cách với quê hương”. Và mặc dù “không có ý định từ chối gốc gác”, Linda Lê cũng đã chân thành thú nhận: “Tôi tránh làm sứ giả của những người lưu đày, bởi lẽ tôi là một kẻ bội phản đã quên đi tiếng mẹ đẻ của mình và đã lấy tiếng Pháp để kể lại những nỗi gian truân của những nhân vật mơ hồ, hai mặt, luôn ở giữa dòng, bị xô đẩy chỗ này chỗ khác, quay về với quá khứ nhưng lại lo phải gạt bỏ những mối hiểm nguy của sự hoài niệm”[1]. Vì vậy, không chủ đích viết văn từ tiểu sử, hay ưu tiên tự thuật hơn hư cấu, song, như một ám ảnh, đề tài về tình phụ tử, sự lìa xa gia đình, quê hương, bi kịch bị chối bỏ, sự lạc lõng, chông chênh của thân phận lưu vong… lặp đi lặp lại trong nhiều tiểu thuyết của Linda Lê. Sóng ngầm được xem là tiểu thuyết thể hiện rõ nhất cái tôi đồng bệnh tương lân của nhà văn gốc Việt này với các nhân vật trong tác phẩm.

Dẫu tiểu thuyết là hư cấu, nhưng trong Sóng ngầm có sự đồng dạng giữa nhà văn và nhân vật của mình. 15 tuổi Linda Lê theo mẹ và các chị gái sang Pháp, mang theo hình ảnh là nỗi cô đơn của bố. Người bố đã ở lại Việt Nam và chết, trước khi kịp sang Pháp thăm con gái của mình. Với một cấu trúc khá đặc biệt, Sóng ngầm mở đầu và kết thúc bằng lời kể chuyện của Văn, một người đàn ông đã chết (bởi trong một khoảnh khắc ghen tuông, Lou, vợ anh, đã nhấn ga ô tô, đâm thẳng vào chồng). Tình huống truyện như một diễn ngôn trinh thám. Với diễn ngôn này, nhân vật bị buộc phải rời bỏ mạch truyện, lời kể sẽ được trao quyền cho người khác, cùng với một chuỗi sự kiện trinh thám kèm theo. Tuy vậy, Linda Lê không viết truyện trinh thám. Nhà văn đã lạ hóa lối trần thuật đa trị (4 người kể chuyện xưng tôi); trao quyền kể chuyện cho một người đã chết, từ ngôi xưng tôi, ở thời điểm hiện tại: “Tôi chưa từng là kẻ nói nhiều khi còn sống. Giờ đây, nằm trong hòm, tôi tha hồ độc thoại”. Lối trần thuật có phần đặc biệt này khiến mạch ngầm văn bản dung chứa nhiều vấn đề, không đơn thuần là diễn ngôn trinh thám. Cái chết, và motip người chết kể chuyện chỉ là cái cớ để tác giả (đứng ngoài nhân vật) và cả người đọc (theo dõi nhân vật) nhìn thấu số phận của Văn, một con người bị đẩy lìa và mãi mãi không tìm được quê hương, ngay cả khi đã nối lại với chút ít Phương Đông còn rơi rớt. Mặc cảm của Văn khi đã “bỏ quên” quê hương trong hành trình xác lập thân phận ít nhiều cũng chính là mặc cảm của kẻ “bội phản” ở Linda Lê. Những suy tư, trăn trở của Văn cũng chính là sự dùng dằng giữa việc chối bỏ và truy tìm căn tính Việt của chị trong các tác phẩm, mà rõ nhất là ở tiểu thuyết Sóng ngầm.

Từ trục chính là Văn, qua lời kể của bốn người kể chuyện xưng tôi (ràng buộc bởi các mối quan hệ cha con, chồng vợ, tình nhân…), tiểu thuyết Sóng ngầm đã khắc họa chân dung của những con người từ những vùng miền văn hóa khác nhau, đến xứ người và đều gặp gỡ nhau ở tâm thức lưu đày. Những con người lạc lõng, xa lạ ở mảnh đất Paris mà có lúc họ xem như một “miền đất hứa”. Văn bị tách lìa khỏi Việt Nam từ lúc 15 tuổi và vĩnh viễn bỏ lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Đặc biệt là những người phụ nữ. Ulma dẫu mang hai dòng máu Pháp – Việt, nhưng không lúc nào thôi day dứt vì mặc cảm là đứa con hoang. Lou, vợ của Văn, người Pháp cũng không tránh khỏi tâm trạng tha hương ngay trên chính quê hương của mình. Nhân vật của Linda Lê tuy khác biệt về thế hệ, địa vị, cội nguồn, văn hóa… song đều bất hạnh và đáng thương trong hành trình tìm kiếm, xác lập chỗ đứng giữa một xã hội Paris hiện đại vừa hào nhoáng, vừa tù đọng, vừa cởi mở lại vừa đầy định kiến.

Chấn thương và bi kịch bị/tự chối bỏ

Trong văn học, chấn thương, đặc biệt là chấn thương tinh thầnthường được miêu tả như là những ẩn dụ về thân phận con người, những hữu thể bé mọn, vô danh trước những thăng trầm biến động của cuộc sống, bởi “chỉ những nỗi đau tinh thần mới sinh ra tuyệt vọng” [3, tr.47]. Không thuộc vào dòng văn học chấn thương, song bằng cách nhìn sâu vào những bi kịch vong thân của kiểu con loay hoay xác lập, truy tìm căn tính, Linda Lê đem lại một cách nhìn mới về những thân phận nhập cư, những con người đang đánh mất dần tiếng mẹ đẻ để trở thành những công dân toàn cầu, không bị trói buộc bởi các đường ranh giữa quốc gia, dân tộc. Bi kịch của họ không là ở chỗ “nơi sống” mà chính là tình thế bị lưu đày trong tâm thức.

Trong tiểu thuyết Sóng ngầm, với bốn nhân vật chính (Văn, Lou – vợ, Laure – con gái và Ulma – người tình của Văn), chỉ tập trung vào chuyện của hai gia đình (gia đình Văn và gia đình Ulma), Linda Le đã khái quát về thời cuộc, về số phận của nhiều thế hệ bị đẩy lìa/không thể bám rễ vào quê hương với những sang chấn tinh thần đồng dạng.  Ba trong bốn nhân vật chính của tiểu thuyết Sóng ngầm mỗi người mỗi số phận nhưng gặp gỡ nhau ở những bi kịch gia đình.

Chấn thương vì bị chối bỏ được thể hiện đậm nét ở nhân vật trung tâm. Văn, 15 tuổi đã rời Việt Nam, đến Pháp. Văn bị bố bỏ rơi ngay khi chưa đầy năm. Sợi dây nối anh với quê hương chỉ duy nhất là mẹ, song mẹ anh cũng mất trước khi kịp đến Pháp đoàn tụ cùng anh như dự định.Chăm sóc Văn hàng ngày là một bà vú người H’mong luôn bị kì thị, bị coi như giun dế bởi dân H’mong vốn được người Pháp rồi người Mỹ tuyển làm thám báo. Sự tréo ngoe trong thái độ và hoàn cảnh chính trị của gia đình Văn phần nào lí giải tính nước đôi trong quan niệm và cái nhìn về cố quốc của Văn. Chấn thương tinh thần của Văn cũng bắt nguồn từ hoàn cảnh mang tính lưỡng lự của gia đình. Để vượt qua nỗi đau bị bố bỏ rơi, cậu bé Văn luôn xin mẹ thả cách cổng trường vài phố để khỏi bị bạn nhìn thấy chỉ có mẹ chở cậu bằng chiếc xa đạp cà tàng. Cậu cũng bịa về bố, lúc thì là giám đốc, lúc lại là phi công hay giáo sư – để tự xoa dịu nỗi đau của một cậu bé mười tuổi không muốn thừa nhận đã bị bốruồng bỏ. Phản ứng “chống trả” này thể hiện rõ qua lời tự thú “tôi gần như nhẹ người khi hay tin ba chết” của Văn. Bởi từ đây, cậu không còn phải tự che giấu việc bị quên lãng. Cậu còn có thể dùng hình ảnh, thân thế “con côi” để sắm vai âu sầu, xoa dịu các tổn thương. Tuy vậy, trong mắt Lou, Văn đã bị tổn thương nặng nề và anh “chưa bao giờ vượt qua được sang chấn tâm lý ấy”.

Ulma, cô em gái cùng cha khác mẹ, giống Văn, cũng không được bố thừa nhận và hầu như vắng bóng tình thương, sự hiện diện của mẹ trong những năm tháng tuổi thơ. Không có được bố dù chỉ một ngày, Ulam chỉ là đứa con hoang, đứa con lai Âu –Á, không biết gì về người cha Việt và “tị cả đến những đứa bố mẹ bỏ nhau: bố chúng nó lấy vợ nữa thật, nhưng dù gì cũng có mặt”. Mẹ Ulmalại sớm giao cô cho ngoại, dè xẻn thời gian và tình yêu cho đứa con gái chẳng đem lại gì khác ngoài sự cản trở cuộc sống tự do và những toan tính tình ái của bà. Bất hạnh này khiến cô bé Ulma luôn là đứa trẻ “khép mình, co rụt lại trước mọi cọ xát thân tình”, “sợ bị bỏ rơi, sợ bị xua đuổi, song lại chẳng có động tĩnh gì đặng làm mình dễ mến”. Cô tự giải tỏa những sang chấn tinh thần của mình bằng cách“dối trá tâm sự với nhật kí là không còn đau lòng vì xa mẹ”, “tập cho mình không hi vọng quá vào bà mẹ thoắt ẩn thoắt hiện”. Lâu dần, sự quen quá hóa chai, “những vết bầm trong tâm can lặn cùng thời gian”, Ulma co rụt lại trước mọi sự cởi mở, tuy không mất lí trí song mang những di chứng nặng nề của chấn thương tâm lý. Ulma cứ thế bước vào tuổi 30, ý thức rõ “tâm hồn mình vẫn là tấm gương phản chiếu hình ảnh một nhân vật đa diện”. Chọn hình thức tự thú(thú nhận với bác sĩ những góc khuất đời mình bằng cách viết ra, dù chẳng gởi đi) là cách để Ulma vượt qua những rối loại tâm thần và cả việc lệ thuộc vào bác sĩ.

Chấn thương vì tự chối bỏ rõ hơn ở nhân vật Lou, vợ Văn, bố mất, được cha dượng yêu thương, tưởng may mắn hơn khi được sống cùng mẹ và các anh trai. Nhưng bi kịch lại là ở chỗ Lou luôn mâu thuẫn với mẹ và rốt cuộc cũng bị mẹ chối bỏ. Lou còn bị “mất” chồng trong mối quan hệ tay ba giữa cô, Văn và Ulma… Lí trí hơn so với Văn và Ulma, Lou hiểu rất rõ về bản thân ngay cả khi rơi vào những bất hạnh xuất phát từ những mâu thuẫn gia đình. Ngay từ bé, khi bị các anh trai trêu chọc, tấn công vào giới tính, cô đã phản ứng dữ dội, bất chấp việc sẽ làm mẹ càng ngày càng định kiến và xa rời cô. Cô coi thường các anh, “rặt một lũ trọng nam khinh nữ, vênh vang về thuộc tính đàn ông của chúng”; nhưng cũng đủ tỉnh táo để “không già néo, không thiết lập chế độ mẫu quyền” trong hôn nhân, trong đời sống gia đình riêng. Lou tự xoa dịu nỗi đau bị mẹ ghét bỏ bằng cách không cho con gái gặp bà ngoại, bảo đó là một quạu già; thề rằng có chết cũng sẽ không thèm đến lễ mai tang mẹ, sung sướng cắt đứt mọi quan hệ với bà mẹ ác tâm, thành kiến, “hoang tưởng về ưu thế của người phương Tây”… Từ một đứa bé “mình mảnh khảnh, nhưng đơn độc hơn vi khuẩn, hăng như gà chọi”, cô gái tỉnh lẻ Bretagne đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, rồi một bà hiệu trưởng được nể trọng ở Paris, tưởng đã làm chủ cuộc đời mình cho đến khi vì ghen tuông mà rơi vào bi kịch giết chồng.

Không dễ nhận thấy và mau liền sẹo như chấn thương thể xác, chấn thương tinh thần theo suốt cuộc đời, có thể công phá dữ dội trước khi con người kịp nhận ra. Trong tiểu thuyết Sóng ngầm, thiếu hụt tình cảm gia đình, thèm khát máu mủ đã khiến Văn và Ulma (em gái cùng cha khác mẹ) rơi vào mối tình loạn luân không thể kiểm soát. Hi vọng về một tình yêu, một cuộc hôn nhân ổn định, một gia đình thuận hòa khiến Lou hóa điên khi bị bội phản. Những bất thường trong hành động, tâm lý từ những sang chấn tinh thần ấy còn là nguồn cơn của những bất hạnh sâu xa, những nỗi cô đơn, những khát vọng bản thể. Đây cũng là một chấn thương tinh thần mà đôi khi nhân vật không/không muốn thấy hay thừa nhận.Chấn thương của họ, là chấn thương kép: vừa bị bỏ rơi/từ chối (bố/mẹ – nguồn cội) vừa bị lấy mất chỗ dựa thân thiết/ruột rà (mẹ/chồng – sợi dây gắn kết với quê hương, với cuộc đời). Việc mất điểm tựa từ gia đình cũng là tiền đề cho một chuỗi những chấn thương, bi kịch khác.

Mặc cảm thân phận và bi kịch “không có” quê hương

Tự ti về hoàn cảnh gia đình, mặc cảm về thân phận khiến các nhân vật trong tiểu thuyết Sóng ngầm phản ứng với cuộc đời theo những cách riêng. Lou chọn nghề dạy học để truyền đạt những tư tưởng độ lượng, đi ngược các luận thuyết định kiến của mẹ. Ulma tìm đến sách vở và chút ràng buộc máu mủ trong mối quan hệ loạn luân. Văn xoay trở để tự tin bên cạnh người bản xứ, lựa chọn các giá trị phi quốc gia và nhờ Ulma, qua Ulma, nối lại với phần cội nguồn từng bị lãng quên. Bi kịch từ gia đình của các nhân vật không tách rời với bi kịch đánh mất/không có quê hương. Nhìn sang cuộc đời tác giả có thể thấy bi kịch “không có” quê hương của chính Linda Lê được cài cắm vào cặp đôi Văn và Ulma, vừa tương đồng vừa đối lập, làm nên một sự bổ sung hoàn hảo cho kiểu con người lưu đày, vừa chối bỏ/đánh mất vừa truy tìm thân phận.

Lớn lên trong hoàn cảnh bị bỏ rơi, bị xóm giềng dòm ngó nghi kị, Văn bị đẩy dần về phía văn hóa Pháp dù bố anh vốn là người cổ xúy tiếng Việt, văn Việt. Văn nói tiếng Pháp cùng với mẹ, sành sỏi tập tục, văn học Pháp trong khi ù cạc ca dao, truyền thuyết Việt hay các trang sử về bán đảo Đông Dương. Mẹ Văn, bằng tất cả sức lực, vốn liếng và các mối quan hệ công việc đã tìm đường cho Văn thoát khỏi Việt Nam, sau khi Sài Gòn thất thủ và bố Văn đã chết, không kịp đợi đến ngày đất nước thống nhất.Rời bỏ quê hương với nhiều ảo vọng, trong đó có cả ảo vọng sẽ vượt lên trước dân Pháp gốc khu La tinh- ham muốn tự khẳng định của Văn suy cho đến cùng chính là để che đi những mặc cảm về cội rễ trong những ngày tháng lưu vong. Văn xóa bỏ hiện tại bằng cách chìm vào các dự liệu, quên đi người mẹ khốn khó không nơi nương tựa ở quê nhà là sợi dây duy nhất khiến anh còn vọng về quê cha đất tổ.

Tự ti hay gồng mình kiêu hãnh, về bản chất đều xuất phát từ sự không tự tin, từ việc che giấu mặc cảm hay những thương tổn tinh thần. Giống mẹ, Văn không tự cô lập, nhưng khá cô độc. Văn thuộc ‘thế hệ không còn nhìn thấy bóng dáng kẻ cướp đoạt ở người Pháp, kẻ xâm lược ở người Mỹ” và được mẹ, bằng tất cả sự tận tụy, gieo vào lòng anh tình yêu với văn hóa Pháp. Đến Pháp vào năm 15 tuổi, ngoại trừ nỗi mất mát vì sự chia tay, Văn rất hào hứng với Paris. Ngay cả khi rời bỏ gia đình người giám hộ lúc 17 tuổi, thiếu thốn đủ bề, tình yêu của Văn với văn hóa, văn học Pháp vẫn không suy suyển. Có thể nói, nhờ mẹ, Văn hấp thu được nhiều tinh hoa văn hóa phương Tây, để sau này, anh tự nhận mình “là một gã cua gàn, nhưng đầu óc cởi mở”, hay “lạc thời, song không hoài cổ”. Văn thoải mái khi sống ở xứ người. Anh hòa nhập tốt đến mức “chỉ còn chất Á ở dung mạo và chất Việt ở danh xưng” và hẳn nhiên “không thuộc số người lưu vong mỏi mòn vì xa tổ quốc”. Văn xem mình là “gã công dân toàn cầu không mắc lỗi thiếu tò mò, gã người Việt chẳng nhớ rõ truyền thuyết nước mình”. Văn chỉ có vài tấm hình cũ của bố và đã bao năm để quên trong ngăn kéo. Rời khỏi Việt Nam, Văn đã không còn nhớ về bố và bố anh chỉ còn là một bóng ma nhợt nhạt.Văn không quá sầu não vì đã ra đi, dù hằng đêm vẫn nhớ đến Việt Nam.Vàcùng với các phản ứng tự khẳng định và quên đi những nỗi đau, cội nguồn quê hương với Văn ngày càng xa cách. Văn tự xốc lại mình khi nghĩ về mẹ, không tự “dựng túng quẫn của mình thành núi non”; hài lòng khi “sống trên một xứ sở tự do, đi thư viện, được tùy nghi sử dụng mọi kho tàng văn chương thế giới. Với Văn, nhìn tổng thể, nước Pháp phần nào dành thịnh tình cho anh – khiến anh từng mỗi lúc mỗi thoải mái hơn trong hình thức “da vàng, mặt nạ trắng”. Văn không tự ti, bởi anh tự ý thức mình là “cư dân cựu Đông Dương đến Paris không có hành trang nào khác ngoài lòng ham hiểu biết bất thỏa”.

Từ trong vô thức và cơ chế tự xoa dịu mặc cảm thân phận, bằng cách “không còn nghĩ đến ba hay quê nhà”, Văn đã đồng thời chối bỏ cả quê hương, nguồn cội và gốc gác Á Đông. Anh sống ở khu phố nhan nhản người châu Á, nhưng chỉ thân thiết với một người bạn Bắc phi và một người gốc Do Thái, kiểu công dân toàn cầu, chứ thờ ơ với đồng bào, với những người cùng sắc tộc. Văn “không day nhấn vào thân phận nhập cư của mình, mà gạch chéo trang lai lịch bản thân”. Không lãng quên, không hẳn chối bỏ… Văn đơn giản chỉ không muốn mang theo kí ức vào những tháng ngày hiện tại, không muốn cố quốc làm gợi nhắc đến thân phận nhập cư. Bi kịch mất quê hương dù không quá dày vò anh, song, vẫn luôn hiện hữu dù Văn có tìm cách không nhắc đến. Kể từ khi mẹ mất, ở Việt Nam chẳng còn tương lai đối với Văn. Văn đã tự “kéo màn khép lại tuổi thơ tại Việt Nam” cho đến khi nhận được thư của Ulma, biết mình có một người em cùng nguồn cội, bản thể khác của chính mình.Bằng khao khát tìm hiểu thân phận, Ulma đã giúp Văn biết thêm một phần đời khác của bố họ. Và bằng tất cả những mất mát về gia đình, Ulma cũng đã giúp Văn nhìn thấu bi kịch bị chối bỏ, dẫu anh cố tình quên lãng, như một cơ chế tự vệ, xoa dịu chấn thương. Thái độ và hành động quyết liệt tìm kiếm quê hương, nguồn cội của Ulma đã làm sống dậy trong Văn cả một tuổi thơ cùng cố quốc vốnchỉ tạm đóng băng trong tiềm thức. Có thể xem Ulma là phần sáng của những góc tối trong Văn, buộc anh đối diện với bi kịch để mất, hóa ra cũng đau đớn như việc không có quê hương của cô, trước khi họ tìm thấy nhau để lấp đầy những khuyết thiếu.

Căn tính Việt và hành trình xác lập/ kiếm tìm

Căn tính là một khái niệm đa diện và khó định nghĩa. Cùng với sự vận động của lịch sử, xã hội, căn tính của một dân tộc, một quốc gia cũng không hoàn toàn bất biến. Theo Đỗ Lai Thúy: “Căn tính/căn cước/bản sắc ( identité/identity) của một tộc người nhằm chỉ một đặc tính hình thành từ thuở xa xưa và chi phối sự phát triển của tộc người ấy một cách lâu dài trong lịch sử”[4]. Song, căn tính ấy có gốc rễ từ đâu, chịu sự chi phối bởi những yếu tố gì, và biến đổi ra sao trong những điều kiện địa – văn hóa khác nhau cũng là một câu hỏi không dễ có đáp án thống nhất.

Căn tính Việt được hiểu như là những đặc tính riêng giúp phân biệt cộng đồng Việt với các cộng đồng khác. Căn tính Việt liên quan đến phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng Việt… và góp phần làm nên tính cách Việt, bao gồm cả tốt lẫn xấu, bởi căn tính vốn có tính nhị nguyên, “là nội lực nhưng cũng là cản trở, nhất là khi những người mang căn tính đó lâm vào tình thế buộc phải thay đổi” [4].

Căn tính thường được nhìn rõ hơn với cái nhìn từ bên ngoài, với một độ lùi về không gian, thời gian nhất định. Vì vậy, so với cộng đồng bản xứ, những người Việt tha hương thường có ý thức tự nhận diện, truy tìm căn tính nhiều hơn. Sự đụng độ giữa cái khác của môi trưởng với căn tính gốc, do sự tự gìn giữ hay do vô thức tập thể chi phối, khiến tính cách Việt lộ diện, ngay cả khi chủ thể có chối bỏ hay chưa kịp nhận thấy. Sự chơi vơi giữa hai thế giới khiến họ, những người nhập cư, những đứa con lai, không khỏi có lúc cảm thấy lạc lõng, trống thiếu. Đó chính là cội nguồn của bi kịch dánh mất/không có quê hương.

Hấp lực Việt từ cái nhìn bên ngoài xứ sở

Đề cập bi kịch con người xa xứ, Sóng ngầm gần với một chủ đề quen thuộc của văn học hải ngoại là cảm thức lưu vong với lối kể chuyện mới lạ. Nhưng khác với các nhà văn Việt ở hải ngoại, Linda Lê không quá nhấn mạnh đến cảm thức lưu vong. Nhân vật của chị không loay hoay đi tìm căn cước, sống cuộc đời vô nghĩa ở xứ người chỉ vì lãng quên nguồn cội (như AnMi trong Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng); cũng không đau đáu hướng về quê nhà dù đã chủ động rời bỏ (như Quyên trong tiểu thuyết cùng tên của Nguyễn Văn Thọ). Nhân vật của Linda Lê không mang mặc cảm lưu vong. Họ ý thức rõ về tình trạng “lơ lửng” của bản thân, không quá dằn vặt, đau đớn, dù trong thẳm sâu không thể từ bỏ, cũng như không thôi truy tìm căn tính Việt. Bi kịch của họ là bi kịch của “kẻ khác”, đối với cả quê hương lẫn nơi đang sinh sống.

Văn, tự nhận là gã nhà quê, cưới Lou, một nàng Bretagne thuần chủng, trắng bọc và “có chung một con bé nước da trắng nõn nà, mũi Hi Lạp, nhưng tóc lại đen như than còn mắt thì xếch”. Dù nhờ lấy Lou, Văn “không bị rơi vào cái bẫy co cụm cộng đồng, tiền định dành cho những kẻ vô xứ, khi họ phải chịu cảnh biệt lập”, song gốc gác lưu vong, bất chấp ý muốn của Văn đã hiển lộ rất rõ ở thế hệ F2, cô con gái Laure. Với mẹ của Lou, Văn là “khỉ của thế giới thứ ba”. Bà phản đối đám cưới, không xuất hiện ở bệnh viện phụ sản khi Lou sinh con, truất quyền thừa kế của cô chỉ bởi không chấp nhận “có cái giống lai trong số con cháu của bà”. Văn, “da vàng, mặt nạ trắng”, cho dẫu không còn liên hệ gì với quê hương, vẫn không thể chối bỏ căn tính Việt, trước tiên là ở dấu hiệu hình thức.

Mặc dù từ chối nhớ đến cội rễ Á Đông, song Văn ý thức rất rõ sức hấp dẫn ít nhiều mang căn tính Việt của mình. Văn biết việc Lou ngả vào mình, thay vì những người đàn ông Pháp bản xứ lịch lãm chỉ bởi anh là một kẻ từ nơi khác đến. Anh thuộc về xứ sở của Phật giáo Thiền tông, của những quang cảnh tiêu điều vì chiến tranh; của nhà giải phóng Đông Dương Hồ Chí Minh, thắng cả kháng chiến chống Pháp… trong những hiểu biết lớt phớt và lơ mơ của Lou về Việt Nam, về châu Á. Lí giải sự hấp dẫn đến từ cái khác/kẻ khác, Laure cho rằng Lou chọn Văn “có thể vì ổng từng là kẻ lưu vong và hồi hai mươi tuổi bả làm từ thiện cho tổ chức Amnesty International”. Lou quan tâm đến vấn đề giải phóng thực dân, đến chiến dịch Điện Biên Phủ và biết rõ người Pháp đã thất bại trước người Việt như thế nào. Trong một chừng mực nhất định, chọn Văn còn là một hình thức chuộc tội của Lou, (dù theo Laure, chẳng biết là tội gì, phải chăng là ác nghiệt của tổ tiên, của đám thực dân?).

Dường như, có sự lặp lại mang tính di truyền thế hệ về hấp lực Việt của Văn đối với cả Lou và Ulma. Trước Văn, bố anh đã khiến mẹ Ulma mê mệt, dẫu họ chỉ có một tuần cho cả gặp gỡ và yêu đương ở Pháp. Mẹ Ulma, vào cái lứa tuổi mười chín nông nổi của thời con gái đã dành trọn tình yêu đầu đời cho bố Văn, một người đàn ông Việt Nam đã có vợ, trong một lần ông theo phái đoàn đến Pháp công cán. Bên ông “trong một cuộc tập hợp sinh viên Cộng sản, trong một buổi hòa nhạc ủng hộ nhân dân Việt Nam”, hay trong khi ông “cùng thành viên một hiệp hội phản chiến, thu thập chữ kí cho bản kiến nghị chống mỹ xâm lược”, bà đã bị hấp dẫn bởi “cái hoài bão lớn phải hoàn thành, sự dấn thân hết mình cho cuộc đấu tranh giải phóng đất nước”. Vẻ đẹp của một chiến sĩ, một người lính “cụ Hồ” không chỉ khiến bà say mê mà còn tình nguyện đứng bên lề cuộc đời ông, không cản trở ông theo “kiểu tình nương than vãn”. Dù chỉ có đúng một tuần bên nhau, mẹ Ulma vẫn suốt đời tôn sùng cha cô, cũng là cha của Văn. Và dù căm hận đàn ông bậc nào mẹ cô cũng không gộp ông ấy vào lũ đã thả bà “rơi cầu tõm một cách khốn nạn”. Về bản chất, cha Ulma không khác mấy lũ đàn ông bỏ rơi bà khi cuối cùng đã cắt đứt liên lạc, chối từ Ulma, kết quả của một mối tình chớp nhoáng ngoài giá thú. Song, nhờ là biểu tượng của “cuộc đấu tranh của một dân tộc nhỏ bé anh hùng chống lại bá quyền của một quốc gia lớn vũ trang hùng hậu”, hình ảnh người bố của cả Văn lẫn Ulma không bị tầm thường hóa. Đây chính là ưu thế của cái khác, của căn tính Việt, từ cái nhìn bên ngoài xứ sở. Sự kiêu hãnh ngấm ngầm về sự khác biệt cũng chính là điểm tựa để Văn không trăn trở nhiều về thân phận lưu vong, xoa dịu bớt bi kịch bị ruồng bỏ, bi kịch không có/không còn tổ quốc của một kẻ nhập cư ở xứ người.

Căn tính Việt – từ chối bỏ đến xác lập, truy tìm

“Ý thức được rằng mình là một người lai, trung gian giữa người lưu đày bị gò ép theo một nền giáo dục ưu tiên cho những sản phẩm đến từ nơi khác, người tị nạn từ chối khu biệt cư và người phụ nữ phương Đông mất phương hướng, bị chia rẽ giữa khát khao giải phóng mình khỏi tất cả những rào cản và ước muốn được giữ gìn những mối quan hệ tình cảm với nơi mình sinh ra”, Linda Lê chọn viết để “khôi phục lại những nỗi đau và những nỗi ngất ngây từng cảm nhận, khi tôi di trú từ một không gian tưởng tượng đến một không gian khác” [1]. Điều này khiến Linda Lê dễ dàng nhập thân vào nhân vật để chiêm nghiệm về thân phận lưu đày của những người tha hương, hay những người bơ vơ giữa một chốn hai quê. Sự thú vị của người đọc khi tiếp nhận tác phẩm nhờ đó được nhân đôi: vừa khám phá nhân vật từ sự miêu tả có nghề, có kinh nghiệm của nhà văn; vừa tìm thấy nhà văn từ nhân vật.

Xoáy vào thân phận người xa xứ, tiểu thuyết Sóng ngầm là những dòng chảy tâm trạng chênh chao, lưỡng lự của những nhân vật bị/tự lưu đày trong những không gian chưa bao giờ thuộc về họ. Lou đến Paris lập nghiệp và cảm thấy xa lạ với gia đình, với quê hươngBretagne của mình. Laure yêu cả bố lẫn mẹ, song vẫn không thôi dằn vặt bởi vừa khác, vừa chịu ảnh hưởng từ họ, mắc kẹt giữa những ẩm ương nửa người lớn nửa trẻ con. Tuy vậy, tự vấn về bản thể, về gốc rễ, quê hương, qua đó thể hiện phần nào hình bóng của chính Linda Lê trong tiểu thuyết Sóng ngầm, chỉ có thể cặp đôi nhân vật Văn – Ulma, với dòng máu và căn tính Việt lúc chìm xuống, lúc trào dâng trong họ.

Mặc dù Lou không ngừng nhắc Văn “chớ bứt khỏi cội rễ, phải rũ bỏ lòng ngờ vực đồng hương và những người gốc Viễn Đông”, song Văn vẫn thích hơn những kẻ mất gốc như Rachid “chưa từng về Oran, một chữ Ả rập bẻ đôi không biết, nhưng vận dụng tiếng Pháp không có kì phùng địch thủ” hay những kẻ di cư vĩnh viễn, giống Hugues. Văn luôn cảm thấy mình “chẳng phải Việt cũng chẳng phải Pháp, mà luôn trong tình trạng lập lờ” và thường nổi xung khi được hỏi về gốc gác. Văn không còn nói tiếng mẹ đẻ từ 30 năm nay, tự xem mình là “kẻ mất gốc, được di cư đến mảnh đất Pháp, chẳng phải nạc cũng chẳng phải mỡ”. Văn tự nhận“Tôi không phải gã nhập cư chỉ nhón tạm một chân ở Pháp và đang đau đáu đi tìm căn tính. Tôi băn khoăn về mình như về một cá nhân lạc lõng, chứ không như kẻ tha hương khắc khoải trông niềm vui tìm lại thiên đường đã mất, Việt Nam”. Theo đánh giá của cô con gái Laure, “có một chút chất Việt còn sót lại trong cái chất Âu của ổng đấy, nhưng nó nhỏ đến mức có xu hướng bị hòa tan”. Tâm thế lưỡng lự, giữa bên này và bên kia là nguyên nhân của những mâu thuẫn ở Văn như Laure từng băn khoăn không hiểu được bố: “Ta chết liền nếu biết vì sao cha mình, đã trốn khỏi một nước cộng sản, lại ủng hộ cách mạng tháng Mười”. Lou cũng hồ nghi về quan điểm chính trị, về cố quốc của Văn. Dường như, “Văn theo dõi những sự kiện trên báo và tạp chí như thể số phận ổng phụ thuộc vào đó”. Văn hi vọng điều gì đó ở Việt Nam.Từ vô thức, tiếng gọi của cố quốc, đặc trưng đi đâu cũng hướng về quê hương của người Việt(điểm nổi bật của căn tính Việt so với các dân tốc khác) vẫn ít nhiều lộ diện. Phản ứng tự chối bỏ, trong trường hợp này trở thành mặt khác của việc tự xác định, khẳng định cội rễ Việt, căn tính Việt của Văn.

Cũng rơi vào tình thế lưỡng lự giống Văn, Ulma ở giữa Âu và Á, không hẳn thuộc về nơi này, bởi hướng về nơi kia, cũng không hẳn thuộc về nơi kia bởi sinh sống ở nơi này, chông chênh giữa Việt Nam và Pháp. Ulma tự giễu cợt gốc gác khi cho rằng mình hoàn toàn không phải “đứa con của tình yêu”, “bất quá thì là kết quả một cuộc tằng tịu”.Song, điều đó không ngăn cô muốn biết về Việt Nam, về bố và tất cả những gì liên quan đến nguồn cội, nhất là khi cô vẫn luôn cô đơn, lạc lõng trên nước Pháp “đất mẹ”. Với “một chút máu Việt, một chút máu Thổ bên đằng cụ cố ngoại, một chút máu Basque của bà ngoại”, Ulma là “cái ngoại lai hẳn hoi”. Và “vốn tán thành sự pha trộn các dân tộc”, Văn lập tức bị Ulma thu hút, trước khi kịp nhận ra phần Việt Nam trong Ulma mới là thứ khiến anh tìm thấy chính mình và tìm lại được tổ quốc. Ulma là phần bổ sung để Văn nhìn sâu vào nội tâm và xác lập bản thể.

Nếu Văn chưa bao giờ thực sự nhớ quê, chưa bao giờ vượt biển tìm về quê cha đất tổ”, bị/tự đồng hóa và an cư ở Pháp thì Ulma lại có ý thức tìm hiểu về bố, và về Việt Nam. Dù giữa Ulma và bố chỉ có một sợ dây níu rất mơ hồ, song dòng máu Việt trong cô vẫn thôi thúc cô truy tìm căn cước.Cô đến Sài Gòn, tìm về đồng bằng sông Cửu Long dù không biết để làm gì, tìm gì. Cô viết thư cho người anh trai cùng cha khác mẹ, tìm sợi dây nối hiếm hoi của mình với nguồn cội, dù đã đắn đo, chần chờ mất 20 năm. Và nhờ Ulma, “Việt Nam đã trở lại hùng hậu”, “thứ đã bị đẩy vào hậu cảnh nổi lên” ở trong Văn. Ulma đã làm sống dậy trong Văn những hồi tưởng về thành phố tuổi thơ khiến anh sẵn lòng “lưu vong lần nữa” nếu được sống và đi cùng cô đến bất kì đâu. Rõ ràng, ở Văn không có những đau đáu cội rễ nếu không nói là anh có xu hướng chối bỏ. Tuy vậy, trong thẳm sâu tâm hồn, việc hòa nhập nhưng không thể bắt rễ với xứ người, khiến Văn dễ dàng bị lôi kéo bởi Ulma, người em cùng nguồn cội. Và rồi người em “bản sao có quyền uy thần diệu”, người cũng mang dòng máu Việt Nam, đã khiến Văn tìm thấy chính mình, tìm thấy quê hương.

Như vậy, từ chỗ chối bỏ, nhờ Ulma, Văn đã xác lập được căn cước, tìm lại được quê hương. Bởi, cùng với sự đánh mất ngôn ngữ, quê nhà cũng bị mất đánh trong Văn. Song sự thành đạt trong công việc gắn liền với ngôn ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ vẫn không thể nào khiến Văn thôi khát thèm được sống lại trong âm thanh thân thuộc, sinh động của tiếng Việt.Văn bộc bạch: “Tôi thấy ngọt ngào làm sao khi thốt “Yêu em” với Ulma bằng thứ tiếng ba mươi năm nay tôi không còn nói nữa”; “Yêu em, với kẻ luôn cảm thấy đang bị lưu đày như tôi, là tìm được cho mình một tổ quốc, không còn là kẻ ngoại cuộc chẳng đồng điệu với ai”. Văn và Ulma giống nhau khi “nói cùng ngôn ngữ, cùng không chắc mình có thuộc cộng đồng nào không, cùng quan tâm đến những thứ ra khỏi cái thông thường, đến những người sáng tạo bên lề…”. Nhờ Văn, Ulma cũng đã tìm được sợi dây gắn kết với nguồn cội, gốc gác. Sự tương đồng giữa Văn và Ulma không chỉ là chuyện cùng cha khác mẹ mà còn là bởi từ trong sâu thẳm họ là kẻ ngoại cuộc, không biết xứ nào là quê hương. Đó cũng là lí do Văn đồng cảm, yêu mê muội Ulma, xem cô như một một mặt khác của chính mình, và Ulma, đã bất chấp tội lỗi loạn luân và mặc cảm của kẻ thứ ba. Vị thế lập lờ, “luôn chìa ra chơi vơi, mãi băn khoăn về chỗ của mình giữa người đời” là cội nguồn cho những loay hoay truy tìm căn tính của họ.

Kể chuyện chỉ từ điểm nhìn của các nhân vật đã giúp Linda Lê có thể “ẩn mình”, và vờ như “đứng ngoài” những vấn đề lớn của con người, của nhân loại trước những va đập văn hóa. Không có chân lí cuối cùng trong những đối thoại của các chủ thể tham gia giao tiếp. Không có thông điệp cuối cùng của nhà văn về chính trị, lịch sử, văn hóa… ở các câu chuyện văn chương. Không hề có phán xét nào của nhà văn với các thân phận cụ thể, kể cả với Văn, người cho đến khi đã được đóng hòm vẫn “không có tâm nguyện được chôn cất nơi nào ở Việt Nam”. Bởi, bằng sự tương đồng về thân phận lạc lõng ở một nơi không phải là quê hương, Linda Lê đủ sức thấu hiểu nỗi đau của những con người dù luôn sẵn sàng bị vu khống, bị phủ nhận ngay cả khi đã ở dưới mồ, song vẫn không giấu được nỗi lo lắng sẽ phải “lang thang dưới địa ngục như kẻ bị đọa đày mãi mãi lạc lối giữa Đông và Tây”. Đặt trong bối cảnh văn chương không biên giới thời toàn cầu hóa, Sóng ngầm tiêu biểu cho kiểu tiểu thuyết không chỉ thuộc về một quốc gia với tính đa văn hóa và liên văn hóa nổi bật. Sóng ngầm trước hết là những độc thoại và đối thoại triền miên giữa các nhân vật bởi những bất đồng về quan niệm, sở thích, bởi những xung đột thế hệ và bởi cả những đồng điệu trong tâm hồn, thể xác. Song quan trọng hơn, Sóng ngầm chính là những xung đột, đối thoại về văn hóa, lịch sử, về quá khứ – hiện tại, về dân tộc – quốc gia qua những thân phận lưu đày/ bị mất quê hương… Giữa những đối thoại ấy, căn tính Việt được hiện rõ, dẫu nhân vật, tác giả có cố tình che dấu, bị hay tự chối bỏ trong hành trình vượt qua chấn thương, hướng đến các giá trị chung mang tầm nhân loại. Có thể nói, với Sóng ngầm, Linda Lê đã đạt được ước mơ “tạo nên một cái gì đó mang tính quốc tế trong văn học”, “tạo ra những tư tưởng liên kết các nhà văn và độc giả các nền văn hóa” [6]Bởi là nhà văn Pháp, song viết như một người nước ngoài đến Pháp, chị và nhiều nhân vật của chị là người lưu vong. Song lưu vong mà tính Việt luôn hiện hữu; và Sóng ngầmlà một minh chứng.

Tài liệu tham khảo:

[1] Linda Le (2010), Linda Lê – Những người xa lạ kì lạ (Trần Văn Công dịch), https://lythuyetvanhoc.wordpress.com/.

[2] Phạm Văn Quang (2019), “Về kinh nghiệm hư vô như là những khả thể hiện hữu khác trong văn chương Linda Lê”, Nghiên cứu văn học, 8 (750), tr. 86-100.

[3] Jean – Jacques Rousseau (2008), Émile hay là về giáo dục (Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương dịch), Nxb Tri thức.

[4] Người đô thị (2016), Tọa đàm ‘Căn tính Việt’: Người Việt, người là ai?,https://nguoidothi.net.vn/.

[5] Hoàng Lương Xá (2009), “Lý thuyết du hành và Orientalism ở Đông Á”, Nghiên cứu văn học Việt Nam – những khả năng và thách thức (nhiều tác giả), Nxb Thế giới.

[6] Hà Văn(2010), Nhà văn Pháp gốc Việt Linda Lê: “Tôi không có ý định từ chối gốc gác”, https://suckhoedoisong.vn/.

[7] Jack A.Yeager (2019), “Những căn tính trong tác phẩm của Linda Lê” (Đặng Thị Thái Hà dịch), Nghiên cứu văn học, 8 (750), tr. 72-85.

12/5/2022

Thái Phan Vàng Anh

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Nhà thơ Hữu Thỉnh: “Cố lách qua cặn lắng đời mình”

Trong số các nhà thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh không phải là người gây được ấn tượng sớm. Hầu như phần lớn thành tựu trong sáng tác của ông đều xuất hiện sau năm 1975. Song, Hữu Thỉnh lại là một nhà thơ tầm vóc với những trường ca có trường độ cảm xúc, giàu trí tuệ và tính khái quát cao, đi vào những vấn đề trung tâm của một giai đoạn lịch sử. Ông hiện diện như một nhà thơ vào loại tiêu biểu nhất của thế hệ mình, một thế hệ nhà thơ đi ra từ chiến tranh “làm thơ ghi lấy cuộc đời mình”, ghi lấy cả một thời hào hùng, bi tráng. Đó cũng là thế hệ chủ lực trên thi đàn bước vào thời kỳ đổi mới với những trăn trở của một cuộc chuyển đổi đầy ngổn ngang và sự va đập các giá trị đông – tây.

“Tôi ấy mà, một cuống rạ bơ vơ”. Câu thơ thân phận và xa xót ấy gợi nhớ những gì đã chìm khuất trong tuổi ấu thơ của Hữu Thỉnh. Nhiều tư liệu cho biết, ông đã phải trải qua những năm vất vả, thiếu thốn thuở đầu đời và mãi sau hòa bình lập lại năm 1954 mới có điều kiện được đi học. Hơn 20 tuổi, Hữu Thỉnh nhập ngũ và trở thành lính xe tăng, từng tham gia những trận chiến khốc liệt như Quảng Trị, Tây Nguyên, Đường 9 Nam Lào và nhiều chiến dịch lớn khác cho đến khi giải phóng Sài Gòn, kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ.

Hữu Thỉnh có lần nói rằng: “Hiện thực chiến tranh, cuộc sống của người lính dội vào tôi mạnh đến mức vượt ra khỏi một thời đoạn, một đề tài. Nó thành một tâm thế”. ở thời kỳ đầu, khi bút lực sung mãn, với lối tư duy mở rộng mọi kích cỡ của cảm xúc và suy ngẫm, Hữu Thỉnh đã dồn sức cho thể loại trường ca. Và, có thể nói, thành công nổi bật của ông chính là ở thể loại này với các tác phẩm tiêu biểu Sức bền của đất; Đường tới thành phố; Trường ca Biển, Trăng Tân Trào.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trao tặng Huân chương Độc lập Hạng Nhì cho Nhà thơ Nguyễn Hữu Thỉnh, 5.2022. Ảnh: Thống Nhất – TTXVN

Sức bền của đất được sáng tác ngay trong dịp tết Ất Mão, sau đó cùng với bài thơ Chuyến đò đêm giáp ranh, tác phẩm này đã được trao giải Nhất cuộc thi thơ Báo Văn Nghệ 1975-1976. Trường ca này cấu trúc gồm những trường đoạn kế tiếp nhau, có sự đồng hiện giữa hiện tại và ký ức, giữa tiền tuyến với hậu phương, đan xen những cảnh chiến trận và tính trữ tình. Cách dàn dựng chủ yếu theo một tuyến thẳng, nghĩa là khá bình dị, chưa có sự đa dạng trong các thủ pháp nghệ thuật. Song, ở đây cũng đã bộc lộ những yếu tố trở thành căn cốt trong sáng tác của Hữu Thỉnh sau này, đó là giọng điệu trữ tình hồn hậu, sự nghiệm suy vào sâu thẳm cội nguồn văn hóa dân tộc và thiên hướng phác dựng lên bức tranh lớn hào hùng, bi tráng của cuộc chiến tranh.

Hữu Thỉnh đạt được độ chín chỉ vài năm sau đó khi ông đặt bút viết Đường tới thành phố vào năm 1977. Đây là một trường ca đồ sộ, công phu. Có thể nói, nó như dồn tụ toàn bộ vốn sống tích lũy được suốt cuộc đời lính chiến, và hầu như những ưu tư, cảm niệm suốt một thời tuổi trẻ của ông. Trường ca Đường tới thành phố là một sự phát huy tổng lực, một cuộc quyết chí của Hữu Thỉnh trên con đường sáng tạo. Sự cố gắng ấy của ông đã tạo nên được một thành công xứng đáng, tạo nên vị trí nổi bật của Hữu Thỉnh trong các nhà thơ trẻ xuất hiện thời chống Mỹ.

Trong tư duy và hình tượng thơ, Đường tới thành phố ít nhiều có kế thừa Sức bền của đất. Tuy nhiên, tất cả đã được đẩy cao hơn và biên độ của cấu trúc đã được mở rộng. Cấu trúc mạch thẳng được tiếp tục, nhưng cùng với đó là sự mở rộng của không gian, tạo ra bề rộng của liên tưởng, tưởng tượng. Thế giới nghệ thuật trong Đường tới thành phố đã được dựng lên thành một tổng phổ đa tầng, nhiều mảng miếng, nhiều cung bậc, nhiều tuyến đan chéo nhau tạo nên sự cộng hưởng. Đấy là câu chuyện của người lính, nhưng cũng là câu chuyện của cả tiền tuyến và hậu phương, của cả một dân tộc trong cái khoảnh khắc đặc biệt của lịch sử tiến lên giành thắng lợi cuối cùng trong một cuộc chiến vào loại khủng khiếp nhất trong lịch sử dân tộc hàng ngàn năm. Cái độc đáo là ở chỗ, Hữu Thỉnh đã nói được cả cái thời sự, cái hùng tráng, cái dữ dội, lại nói được cả những cái thẳm sâu, lặng lẽ, ẩn khuất trong lòng người. Cái lớn và cái nhỏ, cái hiện hữu và cái vô hình, niềm vui và nỗi buồn, đau thương và kiêu hãnh… Tất cả những yếu tố ấy làm cho Đường tới thành phố trở nên phong phú, sống động và có sức ám ảnh.

Trường ca Biển là một sự kế tục và cũng là một cuộc vượt thoát trong nghệ thuật viết trường ca của Hữu Thỉnh. Trước hết là sự thay đổi bối cảnh. Nếu như ở hai trường ca trước, bối cảnh chính là cái khoảnh khắc khốc liệt cuối cùng của chiến tranh, thì ở đây là cái dữ dội của biển trên một vùng đảo nhỏ xa xôi của Tổ quốc trong sự nhòm ngó, xâm lăng của kẻ thù. Kết cấu Trường ca Biển đã khác nhiều so với Sức bền của đất và Đường tới thành phố. Yếu tố tuyến tính, mạch thẳng đã bị thay thế bằng kết cấu song hành giữa một bên là câu chuyện của người lính, một bên là lời của sóng; giữa những cuộc đối thoại biển với người lính và bên kia là những cuộc độc thoại. Kỹ thuật cắt đoạn và bố trí các chương với sự giãn nở biên độ tạo ra những khoảng lặng, khoảng trống gợi liên tưởng và tưởng tượng ở người đọc, đã tạo cho trường ca này có màu sắc hiện đại và mang dáng vẻ của một bản giao hưởng ngôn từ với điệp trùng các tuyến, các vỉa tầng ngữ nghĩa, các cung bậc cảm xúc và chi tiết biến hóa.

Cái độc đáo của Hữu Thỉnh là ông tư duy mạnh ở cái lớn, cái ôm trùm, có tính thời đại và đặt chân vào những sự kiện trung tâm của thời cuộc. Điều này tạo cho sáng tác của ông có cái nóng hổi của thời thế. Tuy nhiên, một bí quyết khác của Hữu Thỉnh là đánh vào cảm xúc của công chúng bằng những yếu tố trữ tình khi ông khoét sâu vào nỗi đau của những phận người trong chiến tranh và dành nhiều trường đoạn khắc họa nội tâm.

“Chị đợi chờ quay mặt vào đêm

Hai mươi năm mong trời chóng tối

Hai mươi năm cơm phần để nguội (…)

Một mình một mâm cơm

Ngồi bên nào cũng lệch

Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền

(Đường tới thành phố)

Chính điều này neo giữ những sáng tác của ông vào tâm trí người đọc.

Cái ám ảnh khi tiếp xúc với thơ Hữu Thỉnh là giọng điệu trữ tình hồn hậu. Yếu tố này mạnh đến nỗi, ngay cả khi Hữu Thỉnh viết trường ca về chiến tranh, mạch trữ tình vẫn là chủ đạo và quán xuyến từ đầu đến cuối. Và, đặc biệt, tính trữ tình có điều kiện phát huy khi nó trở thành một thành tố độc lập, chủ đạo trong những bài thơ ngắn của ông.

Nói đến đặc điểm thơ Hữu Thỉnh không thể không nói đến cái vẻ mộc mạc, cái chất “nhà quê” thôn dã vốn đã thấm vào trong hồn cốt thơ ông. Xuyên suốt trong các trường ca và những bài thơ ngắn sau này, cái thế giới “nhà quê” đó luôn luôn trở đi, trở lại với những hình ảnh thân thương, đẹp đẽ. Cảnh quê luôn gắn với người quê, đó là những sợi dây máu thịt chằng nối con người với cội nguồn xứ sở, với truyền thống cổ xưa, với những đau thương và khát vọng muôn đời.

Nguyễn Trọng Tạo có lần nói: “Thơ có hồn hay không, có phong phú đa nghĩa, đậm đà hay không trước hết là ở giọng. Cái giọng độc đáo nhà quê ấy đã tạo nên thần sắc thơ Hữu Thỉnh” – Nguyễn Trọng Tạo đưa thêm một nhận định: “Có lẽ trong các nhà thơ cùng thế hệ, Hữu Thỉnh là thi sĩ của nhiều câu thơ đầy ma lực, như chứa dược tố mooc -phin gây mê nghiện, nó nhập vào người đọc như nhập đồng, nó lôi dắt đối tượng như thôi miên. Thú thực có lúc tôi phải tự mỉm cười khi nghĩ rằng Hữu Thỉnh là một nhà phù thủy ngôn từ, cái nhà phù thủy vừa đáng yêu, đáng phục, vừa đáng sợ, đáng chờn”.

Sau chiến tranh, Hữu Thỉnh vào học khóa 1 Trường viết văn Nguyễn Du và làm báo, làm thơ. Cuộc sống những năm tháng ấy nhiều khó khăn, vất vả.

Vất vả là thế, nhưng lòng vẫn đầy hồn nhiên, vẫn tràn ngập khát vọng sống và viết. Cũng thời kỳ này, Sang thu – một trong những bài thơ thành công nhất của Hữu Thỉnh đã ra đời.

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về

Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu

Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi”.

Bài thơ này ông viết vào mùa thu năm 1977. Sau những năm máu lửa chiến tranh, Hữu Thỉnh, trong một khoảnh khắc đã cảm nhận và tái tạo nên một bức tranh thu vừa gần gũi, vừa đẹp đẽ. Hơn thế, ở đây dường như kết tinh những vẻ khôi nguyên, tươi mới và bình dị của những năm tháng hòa bình đầu tiên. Bài thơ viết bằng cảm nhận. Nó cho thấy tác giả rất mạnh ở trực giác, bắt nhập vào hương sắc, nhịp điệu, âm thanh của tạo vật.

Sang thu, như một cột mốc, đánh dấu dòng chảy mới trong những sáng tác của Hữu Thỉnh về cuộc sống thời hậu chiến. Niềm vui nhanh chóng qua đi. Đất nước hòa bình, thống nhất nhưng cuộc sống lại đặt ra những vấn đề mới không ít nghiệt ngã. Thơ Hữu Thỉnh cũng dần dần đi vào những ưu tư, thức ngộ mới về thời cuộc:

“Anh cứ tưởng sau chiến tranh thì toàn là hạnh phúc

Chúng ta đã từng vò võ đợi nhau

Nhưng không phải em ơi, cuốc kêu không phải thế”

“Tôi cứ tưởng không còn ai xấu nữa

Tôi cứ tưởng tốt với nhau bao nhiêu cũng còn chưa đủ

Nhưng không phải, trời ơi, cuốc kêu không phải thế”

(Nghe tiếng cuốc kêu)

Và đây nữa, những bi kịch lặng thầm nào ai đã nghĩ đến trong năm tháng chiến tranh:

“Ta đâu có đề phòng từ phía những người yêu

Cây đổ về nơi không có vết rìu

Ôi hoa tặng, chiều nay ai giẫm nát

Mưa dập vỡ trên đường em trở gót”.

(Tự thú)

Nếu nhà thơ là người ghi lại lịch sử tâm hồn của thời đại mình, thì Hữu Thỉnh chính là một trường hợp như thế. Thư mùa đông đã chạm vào những chỗ cuộn xoáy của lòng người thời hậu chiến. Cái bi kịch khi con người chợt nhận ra giữa thực tế và lý tưởng một thời là một khoảng cách xa tắp đến mù mịt; khát vọng về sự tốt đẹp, lương thiện không ngăn nổi cái nghịch lý, trớ trêu, cái xấu cái ác hoành hành đã được Hữu Thỉnh đề cập một cách đau đớn.

Nếu như Thư mùa đông giàu cảm xúc và nhiều khi cái thảng thốt xuyên thấm trong các hình tượng thơ thì đến Thương lượng với thời gian sự suy nghiệm, chất trí tuệ trở thành nhân tố chủ đạo.

Ta bắt gặp một câu hỏi đau đớn:

“Có gì bền? Nhân nghĩa có còn đây?”

(Nghẹn)

Và đây là một suy tư đắng chát:

“Cõi thiện xa xăm câu kinh vượt dốc

Mây vừa đi vừa ngoái lại trông người

(Ngẫu cảm)

Hữu Thỉnh cũng không ngại ngùng khi viết những câu thơ trần trụi:

“Kẻ phản phúc vừa lau tay sạch sẽ

Cười súng sính

Trong bộ cánh thớ lợ”

“Luật nhân quả

Ngủ gật trên bậc cửa”

(Bất hạnh)

Dù vậy, Hữu Thỉnh thường thoát ra khỏi bế tắc để tìm được một an ủi, hay một triết lý sống. Vì lẽ đó, thơ ông, dù về sau này chất chứa tâm trạng buồn mà vẫn không lạnh lẽo, mà vẫn toát lên vẻ hồn hậu của một tâm hồn luôn biết gạn lọc để vượt lên trên bùn lầy của cuộc sống.

“Tôi cố lách qua cặn lắng của đời mình

Dưới đáy cốc của hy vọng”

(Cặn lắng)

Thông qua lời nhắn nhủ của mẹ, ông nêu một phương châm sống:

“- Hãy yêu lấy con người

Dù trăm cay nghìn đắng

Đến với ai gặp nạn

Xong rồi, chơi với cây”

(Lời mẹ)

Cùng với thời gian, thơ Hữu Thỉnh không chỉ thêm điêu luyện mà còn đạt được sự hàm súc. Đôi khi gân guốc, mộc mạc đến tưởng chừng không thể mộc mạc hơn, nhưng cũng có khi sâu lắng, đầy sức gợi, chỉ mấy câu, mấy hình ảnh mà để lại nỗi ưu tư vô tận:

“Vừa trong mơ cùng tôi

Cây ra đường đã bụi

Vừa dào dạt cùng tôi

Biển đã thành sương khói”.

(Vừa trong mơ cùng tôi)

Nhạc thơ chậm và buồn, tứ thơ sâu thẳm. Viết được thế thì người thi sĩ đã quá hiểu cái hư vô của cuộc đời.

Hiểu đời đến thế, thì thử hỏi, ông còn cần gì hơn là tình người?.

14/5/2022

Thiên Sơn

Theo https://vanhocsaigon.com/

  Phát triển văn học thành thương hiệu mạnh của quốc gia, tại sao không? Văn học là sản phẩm văn hóa cao cấp, là sản phẩm cốt lõi thể hiện...