Ông “tổng” đang nghỉ ngơi. Phải công nhận một điều, thời hiện
đại, làm quan sướng đủ điều. Này nhé: về mặt chiến lược đường lối, tầm vĩ mô có
cấp cao hơn cấp “tổng’ lo. Về mặt chiến thuật, từng bước tác chiến cụ thể có cấp
dưới của “tổng” lo. “Tổng” như hắn chỉ lo ăn chơi, nhảy múa. Cả dàn của hắn như
vậy. Nhưng mà lại rất bận rộn, nhiều cái bận vớ vẩn mất cả ngày là chuyện thường.
Ai hiểu được nỗi khổ này? Hắn hiểu, lão “sếp” hàng xóm hiểu và cười khì. Còn nữa:
người hư ảo bên hắn, luôn đồng hành với hắn hiểu.
Vẫn là cái giọng xa xa văng vẳng, vẫn tiếng nhỏ tiếng to thì
thầm, ngay cạnh đây mà lại như hư ảo đâu đó, phiêu du, lãng đãng, xa xăm:
- Ngôì trên ghế này ông đã thấy mãn nguyện?
- Lúc thấy được, lúc thấy chưa…
- Cũng dễ hiểu thôi..Im ắng một thôi dài. Con người ai chả thế.
Ham muốn với đam mê. Một cái là “tham” còn một cái là “say”. Cũng có khi hai là
một, cũng có khi một là hai… Phải tùy thời thế!
- Vậy cái khổ của ông là gì?
- Chẳng lẽ ông lại không biết? Cái khổ của tôi là khổ của thằng
làm quan phải đi ăn xin, cái khổ của tôi là cái khổ bằng ngần này rôi, mang tiếng
là “tổng” vẫn phải săn đón hầu hạ. Đôi lúc muốn “sừng” lên. Một thằng oắt con,
chỉ có điều nó ở cái cấp cao, có quyền chi phối, nó dám gọi mình là “thằng”, nó
bắt mình chờ nó, hầu nó, rồi khi gặp nó, nó nói tưng tửng, hiểu kiểu gì cũng được.
Lại hầu tiếp, lại săn đón, lại xoa tay nhăn nhở, bóp mồm, bóp miệng để cười nịnh
từ lúc gõ cửa vào nhà nó hay vào phòng làm việc của nó. Khốn nạn là như vậy, nhục
nhã là như vậy.
- Nhưng ông vẫn thích là “tổng”?
- Đúng quá rồi còn gì. Tôi “làm việc” với các quan trên một
ngày, hai ngày, thậm chí là cả tuần đi nữa. “Làm việc “tức là đi “hầu” đấy Thời
gian còn lại, tôi lại được bọn đàn em “làm việc” lại. Đời nó là như vậy! Lúc nhục,
lúc vinh. Hưởng thụ nhiều hơn mất mát. Vinh nhiều hơn nhục. Ông biết điều đó chứ.
Nhưng quan trọng hơn, ông có biết cái “đầu vào” của quan “tổng” như thế nào
không? Không biết chứ gì? Đúng thôi, muôn hình vạn trạng mà cả chức quan, như
ông “sếp” hàng xóm của tôi đấy, oai thì oai đấy, nhưng làm gì bằng được quan “tổng”.
Quan “tổng” nắm tiền tươi thóc thật. Đó là mục đích cuối cùng của công việc. Tất
nhiên nhiều sự vụ cũng có thoả thuận trước rồi. Tập thể chỉ là danh nghĩa, chỉ
là lá chắn. Ai cũng biết mà chẳng ai dám nói. Cũng là thói đời cả mà thôi. Vậy ở
cái chức “tổng”, với quyền sinh quyền sát như vậy, hỏi ai là người không ham hố?
- Ư, vậy là vinh nhiều hơn nhục, tiền tươi thóc thật quý hơn
tiền từ chữ ký, quyền thế nhiều hơn xu nịnh bợ đỡ… Mà nghe lại có vẻ thanh
thoát, nhẹ nợ, ít trách nhiệm hơn?
- Có thể là vậy, nhưng vẫn là hạng đầu sai. Vẫn là loại tốt
đen, khi xung trận và trong trận mạc, nếu trận chiến thua, tử trận nắm cái phần
chắc.
Có một điều hơi lạ: vợ tổng và vợ sếp lại thân nhau. Kiểu đàn
bà thân nhau thì cũng khó lường hết được. Có thể lúc nào cũng cặp kè chị chị em
em ngọt sớt đấy mà sểnh ra, gặp người đàn bà khác, lại có thể nói xấu ngay cái
bà chị hoặc cô em thân thiết kia. Cũng có thể thân thiết theo mùa nóng lạnh,
chuyện thời tiết ấy mà. Thôi thì đã gọi là đàn bà thì chuyện của họ cứ để họ giải
quyết. Đàn ông có dính vào thì họ nói: “Kệ chuyện đàn bà chúng tôi”.
Một hôm, vợ “tổng” thì thào với vợ “sếp”:
- Kỳ lắm chị ạ. Dạo này không hiểu sao nhà em nó cứ hay lẩm bẩm
một mình. Em có hỏi thì hắn lại bảo: “Để cho người ta yên! Đàn bà cứ dính mũi
vào làm gì?” Mà em có dính mũi với dính mắt gì đâu cơ chứ. Hay là lại có chuyện
gì trên công ty, hay là lại có bồ bịch gì đâu đó. Chuyện này dễ là có lắm. Các
lão bây giờ tiền nhiều, tiền nhiều dễ đổ đốn… Thế ông bác bên đó thế nào? Ngày
xưa có hiện tượng đó không?
Vợ “tổng” nói liền một hơi. Hết chuyện nơi này đến chuyện nơi
khác, hết ông nọ đến ông kia. Sao mà chị ta thu thập tin về các ông “tổng”, ông “sếp” thời nay nhiều thế. Toàn chuyện trai gái lăng nhăng. “Đấy, báo
chí nói rõ ràng mười mươi, cái vụ án tham ô, hối lộ đấy, to nhất từ trước đến
nay đấy, biết bao nhiêu là cách ăn chơi sa đoạ…” Vợ “tổng” không nói nữa, lặng
im để nghe vợ “sếp” phán.
- Phải cẩn thận! Vợ “sếp” cũng thì thào ra cái điều bí ẩn
– Phải cẩn thận. Chuyện sinh hư của các lão bây giờ nhiều lắm. Chẳng thế mà nhà
nghỉ bây giờ mọc lên như nấm. Phải cảnh giác. Chú ấy trẻ và tài ba như vậy, đi
đâu mà gái nó chẳng bám. Mà cái bọn gái mới lớn đó mới trơ trẽn làm sao cơ chứ…
Vợ “sếp” ra vẻ rất thông cảm và chia sẻ băn khoăn với vợ “tổng”.
Họ còn nói gì với nhau cả tiếng đồng hồ nữa rồi mới chia tay,
ai về nhà nấy.
Vài hôm sau, không phải vợ “tổng” mà là vợ “sếp” tìm vợ “tổng”
để nói:
- Nghe chuyện của cô hôm trước, tôi về để ý lão già nhà mình.
Cũng lạ. Thỉnh thoảng lại thấy lão bật lên một tiếng, như chửi rủa, như mắng mỏ… Mình
nghe rõ hẳn hoi mà hỏi lão thì lão lại nói chẳng có chuyện gì. Rồi thì lão thức,
rồi thì lão ngủ, nhưng nó vẫn có cái vẻ không yên. Ban ngày, lão trầm ngâm, ít
nói hẳn đi.
- Lại vậy ư? Chị xem thế nào. Sao cũng giống nhà em vậy?
- Có gì lạ đâu. Bình tĩnh đi các bà! Hai bà không ai nhìn ai,
lại như lắng nghe tiếng ai đó từ xa xăm vọng lại. Một phút lặng im, và lại nghe
từ đâu đó có những lời thoại hư hư thật thật, xa xa ảo ảo:
- Vợ “tổng” còn trẻ, chồng lại mới lên chức, chắc chưa nắm được
mọi vấn đề như vợ lão “sếp” già kia đâu.
- Làm gì có chuyện không biết. Không biết đây chỉ là mấy ông
bà nông dân mắt toét, không biết đây chỉ là mấy cô cậu công nhân từ ruộng đồng
bước hẳn vào mấy cái liên doanh cắm ngay trên cánh đồng của mình.
- Tất cả đều do thói quen. Quen được cung phụng chiều chuộng.
Quen cả cái cảnh giả tạo của chồng. Quen cả sự nịnh bợ chạy chọt nữa. Thói quen
lâu nhiều khi ngấm vào máu và cứ tưởng như ta đương nhiên được hưởng. Mà những
chuyện khuất tất thì các bà rõ nhất. Mấy ông bà cắm đầu xuống ruộng hay kiệt sức
bên bàn máy biết thế quái nào được. Dạo này ta thi thoảng nói đôi điều để cho
các lão cảnh tỉnh, thức dậy cái tâm để nhìn vào sự thật, khiến các lão phải suy
nghĩ, thay đổi tâm tính.
Hai bà vợ cùng như chợt tỉnh khi cái lời thoại bên tai họ bay
đi. Cũng phải mất một lúc để định lại tâm tưởng. Vợ “tổng” trẻ người nhanh nhẹn,
nói được trước:
- Chị ơi, chị có nghe thấy gì không? Tiếng đâu như tiếng thần,
tiếng thánh. Nhắc nhở, khuyên bảo điều gì thì phải.
- Không, chị lại như nghe thấy thần thánh nói về cái nết ăn nết
ở. Mà này, em thừa biết, chuyện của vợ là chuyện của chồng. Đâu phải mọi sự nó
lại như vậy. Thằng chồng em thì lẩm bẩm lầm bầm như nói chuyện với ma, còn lão
chồng chị thì suốt ngày trầm ngâm, thỉnh thoảng lại bật ra những tiếng mắng chửi
hay cáu bẳn gì đó.
- Lạ! Vợ “sếp” ghé tai vợ “tổng” nói nhỏ: “Phải giải hạn cho
các lão thôi em ạ…”
- Hạn gì mà giải hả chị?
- Hạn đời đấy em ạ…
- Chị nói nghe ghê chết! - Đúng đấy, hạn đời… Nợ đời… Phải giải,
phải trả thôi…” Vợ “sếp” thẫn thờ quay đi để mặc vợ “tổng” đứng đó nhìn theo.
Chuyện giải hạn cho chồng làm gì mà thị không biết. Thị còn làm thường xuyên là
đằng khác ấy chứ. Có điều nghe nói vậy là thị lo, thị lo cho cái ghế của chồng
mà thị cùng chồng chung sức “chiến đấu” mới có được. Việc đó “sếp” già biết, cả
vợ “sếp” cũng biết. Và đương nhiên, cũng đương nhiên thôi, người hư ảo nơi xa
xăm tất nhiên phải biết.
Chẳng hiểu hai bà vợ có đi giải hạn cho hai ông chồng hay
không mà hai lão đàn ông dạo này hay nói chuyện với nhau tệ. Cũng chẳng biết
trong bụng các lão nghĩ gì, “còn chọc ngoáy nữa hay không?”, theo cách đánh giá
của “tổng” trẻ và có phải là “ngựa non háu đá nữa không?” theo nhìn nhận của “sếp”
già, mà “sếp” già thỉnh thoảng lại hay gọi “tổng” trẻ sang uống nước:
- Dạo này có gì mới không?
- Nhiều cái mới lắm, nhưng cung cách cũng chẳng khác mấy ngày
xưa. Đường lối các bác đã vạch ra rồi, bọn em cứ vậy mà đi.
- Làm gì có chuyện đó. Đổi mới là phải kiên quyết, phải thay
từ nếp nghĩ đến hành động. Các cậu sáng tạo hơn bọn tớ ngày xưa nhiều. Tớ biết! Cả
về cách sống và cách làm. Đúng không? Sao lại nói “cù như vẫn”? Chỉ được
cái giả vờ! Cách nói đó là cách khinh bọn tớ ngày xưa đấy. Tớ biết tỏng cái giọng
điệu đó…Tất cả những vốn quí được trình bày bằng các “hồi ký” chỉ để truyền tay
nhau đọc cho vui và thoả tính tò mò. Chuyện trên bàn nước của các cụ để đưa đẩy,
ra cái điều ta đây vẫn còn biết các chuyện nơi “thâm cung bí sử” ấy mà.
- Vậy theo “sếp”, bây giờ phải làm gì trước? Cái gì được coi
là “tồn tại” nhiều nhất?
- Mình dạo này hay nhớ về ngày xưa. Già rồi, tương lai
còn có một đoạn, quá khứ lại trùng trùng điệp điệp, hay nhớ về ngày xưa là đúng
thôi. Có một chuyện thế này, chẳng hiểu là mơ hay thật, tớ kể cậu nghe:
- Chuyện thần linh hiển hiện có một hồi mấy ai tin. Nhiều lúc
còn bị khép vào cái tội mê tín dị đoan. Cái ngày đó, dù bị khép vào tội gì cũng
đều là nặng nề và rất dễ bị thành kiến. Vào cái tuổi của cậu, có lẽ cũng biết
sơ sơ. Thế ông có nghe thấy, chỉ đôi khi thôi, khi ta làm cái điều gì đó khuất
tất, ta bỗng thấy hiện ra những hình ảnh ghê rợn, có lúc lại là vực thẳm chơi
vơi, có thể về đêm là một cơn ác mộng. Nhưng để tự ta xác định được cái điều mà
ta gọi là khuất tất cũng đâu có dễ. Trong đời quan chức của tớ, làm đến cái chức
như tớ, ngày mà cậu còn là thằng lính nhì nhằng cũng khối chuyện. Nghiêm minh
cũng có và khuất tất cũng có. Chuyện tớ kể đây cũng không phải là nghiêm minh,
cũng chẳng phải là khuất tất. Nó cứ lồ lộ ra mà có ai phản đối lấy một tiếng
dõng dạc. Phải là một người có bản lĩnh lắm mới dám nhìn thẳng vào
mình. Tôi hỏi cậu, trên đời có mấy con người được như thế. Nếu là người
thành đạt, họ chỉ thấy quanh họ là ánh hào quang và chỉ quen nghe những lời
tung hô. Nếu là người thất bại trong cuộc đời, họ chỉ thấy quanh họ là bóng tối
và quen nghe những lời than vãn. Người tự đứng tách ra để suy ngẫm, để phán xét
mình và từ đó có thể có những phán xét người khác là rất hiếm.
Chuyện kể là có một ông nhà văn, cậu là dân kinh doanh chắc
ít biết về cái giới văn nghệ sĩ lông bông đó, nói mấy ông đó lông bông
cũng chẳng phải là sai, nhưng từ lông bông người ta hay dùng để chỉ
bọn cầu bơ cầu bất, ăn chơi bạt mạng, coi trời bằng vung. Sự đời là thế!
Người ta, đôi khi cũng tự cho mình cái quyền cao hơn người khác và đánh giá con
người qua cái sự lông bông đó. Khốn cho cái ông nhà văn đó cũng chưa phải
là nhà văn có hạng số một số hai, mà ngày đó người ta trọng cái chức hơn là cái
danh nhà văn hão huyền. Khối ông có tài văn bút vẫn bỏ đi làm chính trị đấy
thôi. Mà nhà văn nhà thơ nào chẳng hão huyền.
Nó cũng như cái định lý đảo “không hão huyền thì đâu có thể là nhà văn nhà thơ”. Ông nhà văn thì đi nhiều nơi, chỗ nào cũng muốn đi, chỗ nào cũng muốn thăm. Số đời là đi đêm lắm có ngày gặp ma. Ông nhà văn đi lắm cũng có ngày gặp chuyện. Chuyện của ông ta liên quan đến một ngôi đền cổ vùng ven biển. Ngôi đền có gần hai trăm tuổi. Cái sự thiêng chỉ còn ở những người già, mà người già thì mỗi ngày một ít đi, gặp phải cái thời mà dân ta cứ thấy đền chùa miếu mạo là phá đổ hoặc nếu may mắn hơn, tốt hơn thì cũng bị bỏ hoang, coi như là phế tích. Đền chùa là chốn linh thiêng mà không hương khói, chỉ toàn hơi ẩm mốc với lá rụng lưu cữu làm cho đền càng quạnh hiu. Nếu ai có việc phải đi qua đền đều thấy ở đó có cái lạnh toát ra. Một phần cái lạnh là do sự hoang vu, một phần cái lạnh là do cái tâm linh. Con người ta vốn vẫn sợ bóng sợ gió mà. Cứ nói cứng, chứ ai cũng đều có cái miền linh thiêng riêng, động chạm vào đó là động vào chỗ thâm bí nhất của con người đấy.
Nó cũng như cái định lý đảo “không hão huyền thì đâu có thể là nhà văn nhà thơ”. Ông nhà văn thì đi nhiều nơi, chỗ nào cũng muốn đi, chỗ nào cũng muốn thăm. Số đời là đi đêm lắm có ngày gặp ma. Ông nhà văn đi lắm cũng có ngày gặp chuyện. Chuyện của ông ta liên quan đến một ngôi đền cổ vùng ven biển. Ngôi đền có gần hai trăm tuổi. Cái sự thiêng chỉ còn ở những người già, mà người già thì mỗi ngày một ít đi, gặp phải cái thời mà dân ta cứ thấy đền chùa miếu mạo là phá đổ hoặc nếu may mắn hơn, tốt hơn thì cũng bị bỏ hoang, coi như là phế tích. Đền chùa là chốn linh thiêng mà không hương khói, chỉ toàn hơi ẩm mốc với lá rụng lưu cữu làm cho đền càng quạnh hiu. Nếu ai có việc phải đi qua đền đều thấy ở đó có cái lạnh toát ra. Một phần cái lạnh là do sự hoang vu, một phần cái lạnh là do cái tâm linh. Con người ta vốn vẫn sợ bóng sợ gió mà. Cứ nói cứng, chứ ai cũng đều có cái miền linh thiêng riêng, động chạm vào đó là động vào chỗ thâm bí nhất của con người đấy.
Lão “sếp” dừng lại cầm cốc trà, nhấm một tí. “Uống trà là một
nghệ thuật! Chỉ có bọn dỗi hơi, không biết dùng thời gian vào việc gì mới nghĩ
ra lắm kiểu để chơi, để bình và ca ngợi, rồi lại còn nâng lên thành nghệ thuật,
thành trà đạo. Tôi hỏi ông, ở cái đất mấy chục triệu dân này, hỏi có mấy người
biết thưởng thức cái món đó, ăn còn chưa đủ, mười mấy hai chục phần trăm còn
đói nghèo đấy, mà đã chắc gì mấy ông thoát nghèo là thật, thoát năm nay, sang
năm lại nghèo thôi. Với lại thế nào là nghèo, ai không biết chứ, tớ thì quá rõ,
các nhà “thông thái học” xứ mình cũng còn “ní nuận” chán.
Quan “tổng” lại nghĩ đến bà vợ siêng lễ bái. Vợ quan đúng là
con nhang đệ tử của các nhà chùa. Đúng là nhiều thứ lễ bái quan đâu có biết,
quan đi theo và ông bị lây. Tất cả đều do có của sinh ra những thứ nhiêu khê
đó. Một cái lễ lên đồng, lên cốt gì đó mất chục triệu, hai chục triệu, dân thường
lấy đâu ra. Ơ đất văn vật còn phân ra từng loại chùa, có chùa cầu cho chồng thường
xuyên đi nước ngoài, có chùa cầu cho con cái học hành giỏi giang, có chùa cho
vay cho mượn vốn để làm ăn… Quan “tổng” không tin người lắm, không yêu người lắm,
nhưng rất kính trọng và yêu quí người nơi hư ảo, cái người xa lắc cõi nảo cõi
nào đó luôn phù hộ cho ông, rất hiểu và biết rõ ông. Có lẽ vì vậy mà con đường
công danh của ông nói chung là hanh thông. Quan còn tin người nơi xa xăm đó biết
rõ hết chuyện của mọi người. Chuyện của mọi người là chuyện gì? Tất nhiên chuyện
biết phải là chuyện bí mật. Cái bí mật đó thường là thuộc về đời riêng. Biết được
cái riêng đó là coi như… hiểu được người.
- Khổ một nỗi, cái hối của con người thường đến muộn. Ông “sếp”
già tiếp tục câu chuyện, chẳng chú ý đến quan “tổng” đang thả hồn cõi xa xăm.
Người đời hay nói là “Có hối cũng không kịp” là thế. Quan “tổng” do có nhuốm
một ít tín ngưỡng nên cũng có đôi lúc biết tự nhìn nhận và xem xét lại mình.
Đâu như Đức Phật cũng đã dạy như vậy. Quan “tổng” mang máng nhớ lại mấy điều
răn mà quan đã đọc. Đó cũng là một của hiếm, một người hiếm thời nay! Khi ông
“sếp” già nói về cái khía đó, quan “tổng” không muốn thanh minh.
“Ông nhà văn của ta thấy ngôi đền gần hai thế kỷ là một của
hiếm, cần được bảo vệ, bởi cái đất nước mà chiến tranh liên miên này, mấy cái
gì gì “cổ hủ”của ngày xưa có được coi trọng đâu, mà mấy ai biết giá trị của nó
để mà coi với trọng. Giá trị nhất lúc bấy gìơ là cơm no, là áo ấm. Vận dụng cái
“ní nuận” đó dễ được ủng hộ của nhân dân. Ngôi đền được phá đi và một số người
sẽ có lợi. Ông nhà văn ta bí quá bèn vận ra cái tín ngưỡng vốn đang bị đả phá
nhưng lại rất dễ thương tổn, đó là cõi riêng rất thiêng của mỗi con người: “
Đây là ngôi đền thiêng liêng của cả làng, cả tổng. Nó là biểu hiện của sự tồn
vong làng xóm chúng ta. Phá nó, làng xóm sẽ mất người phù hộ, đi biển ắt sẽ gặp
nhiều tai hoạ. Chẳng lẽ cha ông ta xây ngôi đền này để cầu mong những điều tốt
đẹp cho làng xóm từ ngày xưa để con cháu bây giờ phá đi. Đó là đền thờ thuỷ thần.
Ai trong chúng ta không biết sức mạnh của thuỷ thần. Tôn trọng và bảo vệ chùa,
thần linh sẽ phù hộ cho bà con…” Ai nghe rồi cũng gật gù, thấy có lý. Chỉ có mấy
ông lãnh đạo là tức nổ ruột. Ông nhà văn bị ngấm ngầm phản ánh lên cấp trên và
bị theo dõi là kẻ phá hoại chính sách của Đảng và Nhà nước. Tất nhiên án không
tuyên được, nhưng mà ông ta cứ lọ mọ như vậy suốt đời. Và cứ phải chấp nhận
trong hàng ngũ nhà văn loại hai hay ba gì đó. Đấy là cái án văn chương không ra
văn chương, chính trị không ra chính trị của một thời non nớt, hệ luỵ từ sự mất
dân chủ”.
“Thói đời mấy ông nhà văn có ông nào khen ông nào. Nếu ở dạng
sàn sàn, gàn gàn như nhau thì các ông ít đọc của nhau lắm, mà không đọc nhau
thì hiểu nhau thế nào được. Ông nhà văn đang bị cái án lơ lửng trên đầu, càng
không dễ hiểu bởi tác phẩm của ông có được in ấn đâu. Ông như biến mất. Những
cuộc họp mà phải trao đổi văn chương, những bài phê binh và lý luận, thứ vũ khí
chiến đấu của một thời, với ông không tác dụng, ông như hiểu hết và như đã miễn
dịch. Chẳng vậy mà có ông nhà văn vào loại “cây đa cây đề” đã nói đại ý: ra gặp
vào chạm mà “phê” nhau thì còn đâu là thân thiết, còn đâu muốn nhìn mặt nhau nữa”.
“Lại nữa, vẫn có rất nhiều diễn giả đứng trên bục cao rao giảng,
liệu có mấy điều mà diễn giả trên kia đang hùng hồn, lọt vào tai cử toạ ngồi dưới.
It lắm! Nhưng khốn nỗi nước mình vẫn còn nhiều nhà “ní nuận” ăn theo lắm. Ông
có công nhận với tôi rằng cái gì rồi cũng lỗi thời, cũng trở thành cũ kỹ lạc hậu
không? Vậy mà ở xứ ta, những thứ lý luận từ các thế kỷ trước, bao gồm cả lý luận
về cách mạng, về văn hóa và các mặt khác của cuộc sống con người, chúng ta cứ
khư khư dạy bảo nhau, dạy nhau theo các bài giảng đã được người ta dạy cho. Khổ
thế! Có gì mới trong các thứ lý luận đó không? Chắc là có, nếu bảo
không thì các nhà “ní nuận” của ta lại không nổi khùng lên ấy á. Nhưng tớ nói
thật nhé, các thứ lý luận đó nó cứ nhang nhác cũ, nhang nhác của ai ấy, chứ đâu
là sáng tạo của ta mà ta cứ vênh vang. Tôi khổ nhất là đọc những viện
dẫn từ các “ông ốp, ông ép, ông Đào, ông Lỗ” từ thế kỷ mười tám, mười chín. Đau
đầu lắm! Đó chẳng là thứ lý luận ăn theo, nói theo là gì!”
“Có điều đau khổ không kém, như một thứ lễ giáo, đa số những
người gọi là hiểu biết lại vẫn cứ im lặng, thậm chí vẫn làm theo, không tỏ thái
độ. Một thái độ rất khó hiểu với những người được gọi là “kẻ sĩ”. Tôi nói đây
là đa số vì tôi rút ra được từ chính cuộc đời tôi. Trong trường hợp này, đa số
là cái “chết tiệt”. Đa số xu thời thì có!” “Sếp” già tự nhiên như bực
mình, to tiếng với cử toạ chỉ có mỗi một quan “tổng”. (Thảo nào mà bà vợ “sếp”
vẫn đôi khi nghe thấy ông quát nạt mắng mỏ). Tớ cũng tự liệt vào cái loại mạt hạng
đó. Biết đấy mà cứ im, không hiểu có bao số phận đau khổ vì cái im của mình.”
“Sếp” già như ăn năn với một thời của mình.
Chẳng biết có phải vì cái sự “tự kiểm điểm” của lão hàng xóm
không mà quan “tổng” cũng ngất ngây theo những chuyến làm ăn trên đường thăng
quan của mình. Quan nghĩ đến những buổi đưa đón quan trên. Con đường đi của các
quan có ảnh hưởng đến cái ghế của hắn được cài bằng bản hành khúc: “Bác vẫn
cùng chúng cháu hành quân” , sôi nổi và mạnh mẽ, đồng thời cũng rất dạt dào
tình cảm “Tổng” nhớ lại những ngày cuối của cuộc chiến tranh, Trường Sơn trăng
sáng lắm và hắn cũng thật trong sáng làm sao. Còn đận cuối vừa mới đây, cái đận
chiến đấu vì cái “ghế tổng” mà hắn đang ngồi bây giờ, sao nó nham hiểm chết người,
ghê rợn như thế. Vậy mà hắn cũng vượt qua. Hắn vẫn nhớ cảm giác ngày hắn ngồi
vào cái “ghế tổng” đầy quyền uy, đầy ma lực và cũng vô cùng nhơ nhuốc.
- Em nói cho bác biết cái vị trí của em giá bao nhiêu nhé.
Quan “tổng” đổi cách xưng hô với “sếp” già, cách xưng hô thân thiết, khác hẳn
thường ngày, không có sự xu nịnh ở đây.
- Không cần nói. Ai mà chẳng biết. Tất cả mọi chuyện bây
giờ, nói nôm na như ông bà ta, là đều được quy ra thóc hết. Quy ra thóc là đơn
vị đo dễ hiểu nhất. Đừng giả vờ là trong sạch, đừng giả vờ cán bộ ta nói chung
là tốt, cũng đừng giả vờ là không biết cái quy định bất thành văn này. Thừa nhận
cái sự tồn tại này trong cuộc sống là sự dũng cảm nhất trong nhiều điều cần
dũng cảm. Nghĩa là dám công nhận cái số đông đa số trong chúng ta đều có vấn đề
về đạo đức và trách nhiệm. Có như vậy mới làm trong sạch được đội ngũ, mới lấy
lại được niềm tin của nhân dân. Đau xót nhất là họ mua và bán cả những danh hiệu
thiêng liêng, danh hiệu thời của tớ phải đổi bằng máu và thời của cậu phải đổi
bằng mồ hôi thật sự. Lại nữa, giáo sư với tiến sĩ bây giờ nhiều thế. Đồ dởm
cả đấy. Mười ông thì sáu bảy ông dởm. Ngẫm mà đau lòng, mà chua xót!
Từ trong thinh không như vẳng lại tiếng chuông chùa, tiếng
ngân của nó lai láng, uyển chuyển và nhập hồn lắm. Hai lão đàn ông lắng nghe, một
luồng gió mát dịu thổi qua, nhanh chóng thấm lan vào cơ thể hai lão. Quan “tổng”
vươn vai thể hiện sức trẻ, vặn lưng, xương kêu răng rắc: “Già đến nơi rồi!” Lão
“sếp” già khoan khoái hít một hơi dài: “Như cảm thấy sự tươi mới lan khắp cơ thể…
Cảm như trẻ lại vài tuổi”. Hai bà vợ vẫn đang quấn bên nhau, theo dõi hai lão.
Bất ngờ hai bà cùng nói: “Hình như họ làm kiểm điểm xong rồi, nhìn mặt các lão,
thấy mình cũng nhẹ cả người.”.








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét