Một góc nhìn đức tài của nhà văn
I. Đạo đức của nhà văn - một bộ phận của đạo đức công dân là
chuẩn mực điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với cộng đồng, với
thiên nhiên, với con người theo chuẩn giá trị: Thiện - Ác, Tốt - Xấu, là nghĩa
vụ phải làm và điều không được làm. Đạo đức thường gắn với nhân cách văn hóa.
F. Engels coi “đạo đức thật sự có tính nhân đạo, khi nó vượt lên trên giai cấp
và quên đi mọi hồi ức về sự đối lập giai cấp” (1). Một kiến giải rộng, mở sẽ là:
Văn hóa đạo đức vượt qua mọi thời đại, đến gần với Con người - bản chất
tính người, Con người mang tính người (K. Marx).
Trong triết học Á Đông, các bậc tiền nhân nước ta khi nói đến
quan hệ giữa Đức và Tài đã tổng kết thành châm ngôn: lập Đức, lập Công, lập Ngôn.
Nhưng văn không khi nào bị coi là ngọn. Văn chương là gốc lớn để lập thân. Văn
chương không chỉ là nghệ thuật ngôn từ mà còn liên quan tới phạm trù đạo đức
- thẩm mỹ: Văn, Đạo, Tâm, Chí, Mỹ là những nội dung triết học nhập thế
của bậc tu nho.
Từ ý niệm giản lược đó, chúng tôi nói đến tài năng, phần
vừa cộng hưởng vừa đối lập của đạo đức nhà văn. Cộng hưởng là khi anh viết về cái
Tôi cá nhân trùng khít với cái Ta cộng đồng; còn đối lập là động cơ tà đạo, tà
tâm trước cuộc sống và con người. Tài năng có nhiều thứ hạng: Thiên tài, tài
năng, năng khiếu, xu hướng đam mê, v.v… Từ thời cổ đại cho đến ngày nay, những
hiện tượng siêu nhiên, thăng hoa là động lực, can thiệp vào tài năng của chủ thể
sáng tạo. Tiếng nói huyền diệu của Nàng thơ, hiện tượng “xuất thần”, “thần
nhập” cho đến những hiện tượng sinh lý thiên bẩm, gien di truyền, những giấc
mơ, tầm bay của trí tưởng tượng đều được học giới nghệ thuật thừa nhận. Mối
quan hệ giữa Đức và Tài của nhà văn, nghệ sĩ thường là trùng khít; Đức được đo
bằng tài năng, bằng tác phẩm, còn những yếu tố khác đều lặn chìm trong tài
năng, chứ không ràng buộc bởi cá tính hay cách ứng xử cá nhân.
Thời nào cũng vậy, nước nào cũng vậy, những nhà thơ tài năng
là do ánh sáng lý tưởng xã hội soi sáng cho đường thơ. A. Puskin đề cao vai trò
lý tưởng và trí tuệ trong thơ: “Lịch sử thơ ca thuộc về nhà thơ” và chính ông
được các chính khách đương thời của nước Nga sùng ái gọi là “Prômêthê” mới. Biểu
tượng Prométhé mới bắt nguồn từ Prométhé trong thời thoại Hy Lạp. Đến
năm 1843, khi tờ Sông Ranh bị cấm, báo chí Đức đăng một biểu tượng mới:
“Marx Prométhé” - tức là Marx bị xiềng, đại bàng moi gan, phía dưới là nhân loại
vươn tới. Theo thần thoại trên mỗi lần bị đại bàng mổ cắn, thân thể Marx bị liền
lại y nguyên. Là “mặt trời thi ca Nga”, bởi toàn bộ thơ trữ tình, trường ca, tiểu
thuyết văn xuôi của ông là sự cộng hưởng giữa cái riêng và cái chung, giữa tự
do thi ca và lý tưởng cách mạng tháng Chạp (1825) mà ông là thành viên và là bạn
trung thành của lãnh tụ Pesten - một trong những trí tuệ độc đáo nhất nước Nga
đầu thế kỷ XIX. Phẩm chất chính trị siêu đẳng của nhà văn hóa là tác phẩm
hay phản ánh lý tưởng xã hội tiên tiến.
Bên cạnh lý tưởng, Nhà văn trước hết là một công dân tử tế:
Puskin đề cao nguyên lý công dân trong thơ, văn. Tính công dân cũng
thường gặp ở hầu hết các nhà văn hóa thế giới. Trong văn chương tài năng gắn liền
với cái Thiện, cái Đức của nhà văn. Mọi thứ tưởng tượng rối loạn,
ngôn từ bệnh hoạn (Motmalade), cách diễn tả rối rắm, gượng gạo, thì trước sau sẽ
bị lật tẩy, xa lạ với tính dân tộc - hiện đại và bị bạn đọc xa lánh.
Văn hóa là một yếu tố quan trọng. Phông văn hóa rộng (culture
generale) chính là môi trường văn hóa và lực đẩy của tư duy và cảm hứng sáng tạo,
tầm nhìn đa chiều đời sống của văn nghệ sĩ. Các văn gia đại bút thường dạy: “Bản
chất của văn chương vốn từ học vấn mà ra, học vấn uyên bác thì văn mới hay…”.
Câu này của Lê Quý Đôn (1726 -1784) trong Vân đài loại ngũ. Những ý niệm
tương tự trong văn chương thời trung cận đại: Phan Huy Chú (1782 - 1840) nói đại
ý: Để có thể vừa là tước tác, vừa là nhà thơ thì phải đủ cái uyên bác, lại có
nguồn cảm hứng bay bổng… Nhữ Bá Sĩ (1788 - 1867) coi “đức hạnh và học thức là
cái gốc của văn chương”. Ở thời đại chúng ta, nhà văn hóa Phạm Văn Đồng là người
nâng đỡ nhiều tài năng. Mỗi lần đến với văn nghệ sĩ, ông thường có đề tài nóng:
“… Phải công phu trong việc trau dồi hình thức, cần coi trọng chất văn, làm văn
nghệ phải có khiếu, có tài… Thậm chí phải trau dồi ngoại ngữ, v.v…”(2). Nhà văn
không chỉ có kiến thức và khoa học xã hội, mà không quên khoa học tự nhiên, triết
thuyết tiền Marx, chủ nghĩa Marx, các Kinh Vệ đà của Phật giáo, Tân
ước, Cựu ước của cơ đốc giáo, thơ và âm nhạc, thơ và vật lý, thơ và hội họa
đều là láng giềng của nhau. Trục tam giác loại hình: triết học, nghệ thuật, tôn
giáo thường hiện diện trong nhiều tác phẩm cổ điển. Nếu nói Thơ là một loại tôn
giáo cũng không quá lời, và ở đó có Niềm tin, Cái đẹp và ý nghĩa
triết lý.
II. Thị hiếu văn nghệ là năng lực hiểu biết và đánh giá
cái giá trị thẩm mỹ của tác phẩm, là thuộc tính tương đối bền vững của cá nhân.
Thị hiếu mỗi người lúc đầu biểu hiện ở cách đánh giá cảm tính (thích hay không
thích), dần dần được trang bị tối thiểu về đặc trưng và ngôn ngữ nghệ thuật,
chúng hiểu tại sao lại thích, từ đó mà nhận biết được cuốn sách này hay hay dở,
bức tranh kia đẹp hay xấu. Những yếu tố chủ quan (tri thức đánh giá) và nhân tố
khách quan (tác phẩm được đánh giá) thường có độ vênh do thị hiếu cá nhân,
trình độ dân trí của người đánh giá lịch sử ra đời của tác phẩm; hiệu quả xã hội,
hiệu quả thẩm mỹ của tác phẩm, v.v… quy định. Thị hiếu không phải bất biến. Thời
đại nào cũng vậy, dân tộc nào cũng vậy, tác phẩm vốn có đa đồng, đa nghĩa, việc
đánh giá tác phẩm nghệ thuật khác nhau là chuyện không lạ, thậm chí cả khi tác
phẩm được vinh danh vẫn có ý kiến thẩm định ngược lại. Người ta gọi đó là thị
hiếu phức hợp. Vì vậy khi bàn về thị hiếu nghệ thuật phức hợp cần chú ý đến
tính khả biến:
- Cảm thụ nghệ thuật là môtíp tâm lý chủ
quan của cá nhân. Nó gây phấn chấn không khác mấy so với uống rượu sâm banh,
thưởng thức ly cà phê, nghe nhạc giao hưởng, v.v… Cần tôn trọng vai trò của
tình cảm, sở thích, trải nghiệm sinh hoạt của cá nhân. Song lại phải chú ý đến
chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ của xã hội, chứ không hoàn toàn như sở thích về
trang phục, về một kiểu tóc thời trang hay một “mác” xe hơi hiện đại. Ở đây, thị
hiếu nghệ thuật có mẫu số chung của cộng đồng, nên mới có thị hiếu xã hội.
Trước đây, Đài Tiếng nói Việt Nam, có tiết mục ngâm thơ, trong đó có những
trích đoạn về Truyện Kiều được nhiều người nghe ngưỡng mộ. Nhưng, bây
giờ, nếu ta cứ ngâm nga Kiều trên đài Tiếng nói quốc gia là việc quảng
bá không hợp với thị hiếu số đông, nhất là lớp trẻ, khó chấp nhận với nhịp điệu
cuộc sống đương đại.
- Thị hiếu thay đổi theo giai đoạn lịch sử,
bộc lộ quan điểm nghệ thuật của người đọc, người nghe. Từ khi Đổi mới đến nay,
một bộ phận văn học - nghệ thuật hải ngoại của hơn bốn triệu đồng bào, đã được
hình thành và phát triển, có những đóng góp quan trọng ở các lĩnh vực văn học,
điện ảnh, mỹ thuật, sân khấu nước nhà. Bên cạnh nhiều tác phẩm hữu ích, vẫn tồn
tại một số tác phẩm, bài viết chưa thật sự khách quan, có hại cho sự nghiệp đại
đoàn kết. Phản ánh quan điểm lỗi thời của một bộ phận rất ít những người lưu
vong do thiếu thông tin, nhất là thông tin về học thuật, không tiếp xúc với
không khí đổi mới của đất nước.
- Thơ trẻ và thị hiếu bạn đọc đương đại. Phông
văn hóa tổng quát rộng, ý thức về cái đẹp, cao, độ chênh giữa cái Tôi nhà thơ
và cái Ta cộng đồng càng thu hẹp… sẽ là hiệu ứng của thơ hay, thơ có ích khi
nhà thơ hóa thân vào những cảnh đời của đồng loại. Ai đó nói rằng, thơ hay thường
thiên về nỗi buồn. Tôi không phản đối, nhưng chưa đủ. M. Gorki thường khuyên
các nhà văn trẻ hãy sáng tác sao cho cái mình “xé thịt đẻ ra” có hiệu ứng xã hội,
được người đời đón đợi. Ông phân biệt nhà thơ và người thợ thơ.
Người thứ nhất quan tâm đến “tâm lý sự kiện”, tính đa nghĩa của tứ thơ, sự tìm
tòi ngôn từ. Người thứ hai thường bắt chước, háo hức muốn cách tân nhưng “dục tốc
bất đạt”, thích làm sáng, cường điệu, tâm lý ăn non, khi quả chưa chín. Tệ hơn,
là do lý thuyết sai, định đề thẩm mỹ lầm lẫn dẫn đến sáng tác chệch hướng, mất
lòng bạn đọc, khi họ không hiểu, thì làm sao biết thơ hay hay dở.
Thơ là phi lý tính, có khi là siêu thực, là nhận thức và cảm thức, trí tuệ và bản
năng. Trong thơ không có chuyện đúng - sai v.v… nhưng nhờ tài năng, hình tượng
thơ mới ra đời, tình cảm của nhà thơ mới được thăng hoa, dồn nén một năng lượng tinh,
khí, thần, ngôn ngữ thơ đa sắc, có khi chỉ một chữ một câu làm sáng cả bài thơ
để đời. Lê Đạt là nhà thơ sớm có ý thức đổi mới cách làm thơ. Trong bài Thơ
và vật lý (3) ông phê phán sự cứng nhắc, bảo thủ của thơ đã ngự trị trên
thi đàn, rồi đưa ra định nghĩa: “Thơ là hành vi phát nghĩa, coi cấu trúc
gián đoạn là nền tảng của thơ hiện đại, phá vỡ cấu trúc liên tục (thơ
cũ), nhưng khi vận dụng lý thuyết này vào bài Hoa mười giờ thì thật vất
vả người đọc tìm ra được nghĩa của câu thơ: Hoa em đền hoa má/ Thơm má
hoa mười giờ/ Mưa rửa đền hoa tuổi trăng lau quên”. Các nhà thơ trẻ cần giữ vững
bản lĩnh khi tìm cái mới, cái lạ. Nhạc sĩ F.Schubert có lần khuyên lớp trẻ:
“Các tác phẩm của anh có nhiều cái hay, cái mới. Tuy nhiên cái hay thì không mới,
còn cái mới thì không hay”.
Cái trước là bắt chước, còn cái sau là sự bất lực của tài năng. Mà trò đời, đã bắt chước mà giống như người ta là sự ngu ngốc. Một họa sĩ Đức ví von rằng, vẽ một con chó mà giống hệt như nó, thì anh có hai con chó, chứ không có nghệ thuật. Thơ trẻ tự nhận rằng, vào mươi, mười lăm năm nay, dù có những ý tưởng thành thật trong thơ, dù có sốt ruột trong tìm kiếm tứ thơ, vẫn không lấp được khoảng cách giữa thơ trẻ và bạn đọc. Đỗ Doãn Phương, nhiều năm trước, có sự đánh giá thẳng thắn: “Trong mười năm trở lại đây, đời sống thơ ca hiện đại ồn ả, loạn xạ và đôi khi cũng ngầu bụi vì những dòng thơ phô bày những thú vui xác thịt và bất xứng với những dòng thơ thanh cao; nhiều khi lại được tôn vinh như những kỳ tích đã vén cả tấm chăn cá nhân lên cho thiên hạ cười”. Thật vậy, trong thơ hiện nay không có vùng cấm. Anh, chị có thể viết nhiều đề tài bằng nhiều thi pháp khác lạ, nhưng muốn cho thơ phả được hơi thở cuộc sống muôn màu của cây đời, tạp chất của bụi đời vào những vần thơ của mình, v.v… đòi hỏi chỗ đứng, cách nhìn, tính công dân của nhà thơ hiện đại. Ở lĩnh vực này có sự tự do và tinh thần trách nhiệm của người viết. Lòng tự tin và sự lựa chọn thông minh của người đọc.
Cái trước là bắt chước, còn cái sau là sự bất lực của tài năng. Mà trò đời, đã bắt chước mà giống như người ta là sự ngu ngốc. Một họa sĩ Đức ví von rằng, vẽ một con chó mà giống hệt như nó, thì anh có hai con chó, chứ không có nghệ thuật. Thơ trẻ tự nhận rằng, vào mươi, mười lăm năm nay, dù có những ý tưởng thành thật trong thơ, dù có sốt ruột trong tìm kiếm tứ thơ, vẫn không lấp được khoảng cách giữa thơ trẻ và bạn đọc. Đỗ Doãn Phương, nhiều năm trước, có sự đánh giá thẳng thắn: “Trong mười năm trở lại đây, đời sống thơ ca hiện đại ồn ả, loạn xạ và đôi khi cũng ngầu bụi vì những dòng thơ phô bày những thú vui xác thịt và bất xứng với những dòng thơ thanh cao; nhiều khi lại được tôn vinh như những kỳ tích đã vén cả tấm chăn cá nhân lên cho thiên hạ cười”. Thật vậy, trong thơ hiện nay không có vùng cấm. Anh, chị có thể viết nhiều đề tài bằng nhiều thi pháp khác lạ, nhưng muốn cho thơ phả được hơi thở cuộc sống muôn màu của cây đời, tạp chất của bụi đời vào những vần thơ của mình, v.v… đòi hỏi chỗ đứng, cách nhìn, tính công dân của nhà thơ hiện đại. Ở lĩnh vực này có sự tự do và tinh thần trách nhiệm của người viết. Lòng tự tin và sự lựa chọn thông minh của người đọc.
Tôi tin thơ trẻ sẽ nở rộ vòng tay cách tân, sáng tạo đúng hướng,
đúng độ của tầm thức văn hóa, của tâm hồn lộng gió, bớt đi những cái kỳ quặc,
thô kệch của dòng thơ nhập từ bên ngoài, những suy tư bệnh hoạn, những ngôn từ
rối rắm và xoàng xỉnh, cách diễn đạt thô thiển, gượng gạo, mô phỏng vờ vĩnh về
mọi đề tài. Nhất định thơ trẻ là nơi gặp gỡ giữa thơ với đời, giữa cái Tôi và
cái Ta. Hãy đập vào trái tim mình, nơi đó chính là tài năng thơ trẻ.
Ghi chú:
(2) Dẫn theo: Về văn hóa - văn nghệ, Nxb Văn hóa,
1972, tr. 370 - 375.
(3) Báo Văn nghệ số 25 đặc san thơ, 2005.
5/3/2015
Hồ Sĩ Vinh
Nguồn: Tạp chí Cửa Việt số 242, tháng 11 năm 2014





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét