Phê bình như là tự truyện
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Phê bình cũng là tự truyện, cái tín niệm này khởi sinh và
thành hình dần trong tôi đã lâu. Một hôm nào đó, lật giở ấn phẩm Viết và đọc
chuyên đề mùa hạ 2021, đọc nhà phê bình Vương Trí Nhàn trả lời phỏng vấn Yên
Ba, tôi đặc biệt khoái thú khi đến đoạn này:
“Thánh Thán là một ngòi bút đa dạng. Nhưng cái đặc biệt của
Thánh Thán mà tôi muốn theo: ông ấy công khai nói rõ chỉ mượn những cái tìm thấy
ở người khác, để nói về mình. Tức là tôi thích Thánh Thán ở chỗ rất chủ quan
như cách nói của ta bây giờ. Thú thực, tôi cố ý không lảng tránh sự can dự chủ
quan trên trang viết. Tôi chẳng bao giờ khách quan như một số người đòi hỏi.
(…) Trong những bài viết ấy luôn có bản thân tôi, những vui buồn và những từng
trải của tôi”.
Và khi nhìn rất lâu vào tên cuốn sách mới nhất của Trịnh Lữ –
Vẽ gì cũng là tự họa – thì thêm lần nữa củng cố trong tôi xác tín: phê bình văn
học cũng là tự truyện – tự truyện của nhà phê bình.
Trong dòng chảy của văn học, bên cạnh người sáng tác là người
phê bình – người làm công việc lý giải, đánh giá và soi sáng tác phẩm. Nếu sáng
tác là hành trình khai mở thế giới nội tâm của nhà văn thông qua hình tượng nghệ
thuật, thì phê bình – tưởng như thuần lý trí và khách quan – cũng ẩn chứa trong
đó những tầng sâu cá nhân của nhà phê bình. Phê bình văn học cũng là tự truyện,
nhận định này không chỉ làm rõ một phần bản chất của phê bình văn học, mà còn gợi
suy ngẫm về mối quan hệ giữa cái tôi cá nhân và hoạt động nhận thức bộ môn nghệ
thuật ngôn từ, đặc biệt là trong thời đại mà cái tôi cá nhân và sự trung thực nội
tâm được cổ xúy và tôn trọng.
Trước hết, phê bình cũng là tự sự
Suy cho cùng, không riêng gì với hoạt động phê bình, mà đằng
sau tất cả hoạt động tư duy của con người đều có một cái lõi cốt truyện. Con
người có nhu cầu kể chuyện dưới mọi hình thức. Kể chuyện là cách họ giao tiếp với
thế giới, trình hiện chính mình.
Trong thư Ban biên tập Viết và đọc chuyên đề mùa thu 2018,
nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tự sự: “Chuyên đề Viết & đọc ra đời chỉ như một
nỗ lực dựng lên một ngôi nhà nhỏ cho những người kể chuyện chân chính của thế
gian bước vào, nhóm lên ngọn lửa và cất tiếng. Mỗi một nhà văn, nhà thơ, mỗi một
họa sĩ, mỗi một nhà nghiên cứu, mỗi một nhà báo, mỗi một người giảng dạy trong
nhà trường… và mỗi một bạn đọc chính là một người kể chuyện của thế gian này.
Không còn cách nào khác, tất cả chúng ta hãy bước đi và cất tiếng về những điều
tốt đẹp đang bị vùi lấp bởi chính con người”.
Nhà phê bình đồng thời là nhà văn người Ý Umberto Eco từng
chia sẻ, chỉ sau khi viết xong tiểu thuyết đầu tay khá lâu ông mới nhận ra rằng
tất cả những tác phẩm phê bình của ông tự thân chúng đã mang tính tự sự. Sau đó
ông hay nói đùa rằng ông đã bắt đầu viết tiểu luận với Tên của đóa hồng, trước
đó ông chỉ viết tiểu thuyết như Tác phẩm mở hoặc Cấu trúc thiếu hay những cuốn
khác. Nhưng nói một cách nghiêm túc, ông luôn luôn muốn kể chuyện, ngay cả khi
chấp bút các công trình khoa học: “Tôi kể chuyện, vì tôi đã kể vô khối chuyện
cho các con tôi hồi chúng còn bé, do vậy việc lấy câu chuyện làm trung tâm đã
thấm vào tôi. Rồi nhiều năm sau này bỗng nhiên tôi thấy muốn thay đổi phương thức
kể chuyện đã quen của mình. Không phải là tôi đổi từ không viết tự sự sang viết
tự sự, mà đơn giản chỉ là thay đổi cách kể chuyện. Những cuốn tiểu thuyết đầu
tiên của tôi đã ra đời như thế”.
Phê bình, lâu nay, thường bị hình dung như một thao tác lạnh:
phân tích, bóc tách, lí giải. Nhưng thực ra, phê bình cũng là một hình thức tự
sự: nhà phê bình đi xuyên qua ngôn ngữ của người khác để trích xuất câu chuyện
của chính mình.
Với chủ thể phê bình, đọc một văn bản, bản chất là bước vào một
thế giới đã được ai đó kể lại. Và nếu như nhà văn kể chuyện bằng nhân vật, bối
cảnh, giọng điệu, thì người làm phê bình kể lại chính trải nghiệm đọc đó – bằng
những chất liệu của ngôn ngữ phân tích, nhưng cũng đầy cảm xúc, kí ức, và cả những
khoảng lặng riêng tư. Một bài phê bình thực sự chạm tới, là khi kể lại được câu
chuyện về “một cuộc gặp gỡ”: giữa người đọc với văn bản; giữa “điển”, “tầm đón
nhận” với hình tượng; giữa chủ thể tiếp nhận và chủ thể sáng tạo…
Phê bình, như vậy, là một dạng nhật kí đọc và sống, là một
cách nhà phê bình lưu giữ lại những điều chạm vào mình. Khi ấy, phê bình không
cao giọng giảng giải dạy dỗ, mà bình thản thủ thỉ kể chuyện: về đối tượng phê
bình, và qua đó, về chính chủ thể phê bình. Lúc này, tự sự cũng là tự truyện.
Phê bình và tự truyện – tưởng khác mà gần
Phê bình là một hoạt động tư duy có tính khoa học, nhằm phân
tích, lí giải và định hướng giá trị của một hiện tượng văn học. Tự truyện, ngược
lại, là hình thức người viết kể lại cuộc đời, cảm xúc, quan điểm của chính mình
– nơi cái tôi được đặt ở trung tâm. Nhưng thú vị thay, trong những bài phê bình
tưởng như khách quan và “lạnh”, cái tôi của người viết vẫn hiển thị sinh động.
Khi một nhà phê bình lựa chọn và đưa ra nhận định về một hiện tượng văn học, họ
không chỉ nói về hiện tượng văn học đó, mà đồng thời hé lộ hệ giá trị, quan điểm
thẩm mĩ, vốn sống và cả tâm thức của chính mình. Nói cách khác, người phê bình
không thể thoát khỏi cái bóng của chính họ trong khi nhìn vào người khác – và
đó là lúc phê bình trở thành một dạng “tự truyện gián tiếp”: người này thiên về
“lấy hồn ta để hiểu hồn người”, người khác lại thiên về dùng lí tính, tư duy
logic để giải phẫu những kĩ thuật thuộc về mặt hình thức của văn bản; người này
bị hút cuốn bởi hấp lực của nỗi buồn niềm đau nơi tác phẩm, người khác lại chỉ
muốn đọc những cái viết nhẹ nhõm vui tươi… Nghĩa là, cứ xem nhà phê bình chọn đọc
gì và đọc như thế nào, ta sẽ định danh được họ.
Với Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh không chỉ là một người sưu
tầm và phân loại thơ của phong trào Thơ mới, mà còn là một “thi sĩ trong vỏ bọc
nhà phê bình”. Cách ông lựa chọn thơ, trừu xuất từng hồn thơ… phản ánh một cái
tôi phê bình mơ mộng duy cảm duy mĩ. Phê bình kiểu Hoài Thanh không chỉ giúp ta
thông hiểu Thơ mới, mà còn phơi mở bản đồ tâm hồn nhà phê bình với khung thẩm
mĩ, với “trực giác”, “ấn tượng”… riêng tây.
Nhà văn Việt Nam hiện đại – chân dung và phong cách của Nguyễn
Đăng Mạnh là một “tự truyện học thuật” được viết bằng chính trải nghiệm cá nhân
của nhà phê bình với văn chương và đời sống.
Nhà văn, nhà phê bình người Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk (Nobel văn
chương 2006) từng chia sẻ, một mùa hè khi mang cuốn sách Tu viện thành Parme của
nhà văn người Pháp Stendhal theo người, nhiều lần ông tự hỏi tại sao chỉ cần biết
cuốn sách ở bên đã thấy khoái như vậy, và thôi thúc ông nói về cuốn sách – niềm
vui thú đó của mình. Khi chìm đắm tuyệt đối vào tâm hồn cuốn sách, ông thấy như
thể tác giả của nó thầm thì toàn bộ sự thông thái vào tai ông, chia sẻ những sự
những niềm chỉ cho riêng ông. Ông xúc động bộc giãi: “Đến gần như vậy trong trí
óc và tinh thần của một nhà văn rỡ ràng dường này giúp tôi tự tin, và nhờ đó,
như với mọi người hạnh phúc khác, niềm tự tôn trong tôi dâng trào”.
Những màu khác là tuyển tập tản văn, diễn văn, tiểu luận được
Orhan Pamuk chủ ý tập hợp để tạo thành một cuốn sách hoàn toàn mới lấy yếu tố tự
truyện làm trung tâm. Những bài phê bình xuất hiện trong đây ở các phần tách biệt
như một chuỗi phân mảnh để phản ánh cùng một câu chuyện mang tính tự truyện của
cuốn sách. Nói về Istanbul, hay bàn luận về các cuốn sách, tác giả, bức tranh
mà bản thân yêu thích nhất, với Orhan Pamuk luôn luôn là một cái cớ để nói về
cuộc đời. Phần “Nhìn ra cửa sổ”, câu chuyện ở cuối sách, theo ông, mang tính chất
tự truyện mạnh đến nỗi tên nhân vật rất có thể là Orhan Pamuk. Khi soạn cuốn
sách này ông bàng hoàng nhận ra bản thân có mối quan tâm đặc biệt và khuynh hướng
thiên về các thảm họa tự nhiên (động đất) và thảm họa xã hội (chính trị). Ông
luôn luôn tin rằng ắt phải có một kẻ cuồng viết tham lam và gần như không thể
lay chuyển thường trú trong bản thân – “một sinh vật không thể bao giờ viết cho
đủ, kẻ lúc nào cũng biến cuộc sống thành từ ngữ” – và để cho hắn ta vui lòng
ông cần phải tiếp tục viết. Đây là cuốn sách được đặt trong một cái khung để gợi
ra một trung tâm mà ông cố gắng che giấu. Với ông, cuốn sách này “là hồ sơ – là
bằng chứng – của một đời sống nội tâm”.
Ngay cả trong phân tích hậu cấu trúc, nơi tưởng như triệt
tiêu cái tôi, nhà phê bình người Pháp Roland Barthes cũng vô thức kể lại bản thể
mình qua S/Z (P/S). Đây là một tác phẩm phê bình văn học, cụ thể là một phân
tích chi tiết về truyện ngắn Sarrasine của đại văn hào người Pháp Balzac. Nhà
phê bình Thụy Khuê truy vấn và tường giải: Tại sao Barthes lại chọn truyện ngắn
Sarrasine của Balzac? Lối phân tích vừa cắt vừa dán của Barthes khiến chúng ta
có thể thấy tất cả những nét lồi lõm của một tác phẩm cổ điển tưởng là nhẵn nhụi
bằng phẳng. Cái nhan đề S/Z của Roland Barthes biểu trưng tính chất bí mật của
toàn thể tác phẩm qua hai nhân vật chính: S là chữ đầu tiên tên Sarrasine, người
họa sĩ tài danh đam mê, và Z là chữ đầu tiên tên Zambinella, một danh ca bị thiến
từ nhỏ để giữ giọng kim tuyệt vời. Hai người đàn ông này, liên hệ tới sự đồng
tính của Barthes, đều mang tên đàn bà, tuy đứng ở hai phía nhưng cùng một nòi:
tài hoa bạc mệnh.
Cũng theo Thụy Khuê, nhà phê bình người Bỉ Georges Poulet từng
nói về lối phê bình của Madame de Staël – nữ văn sĩ người Pháp gốc Thụy Sĩ –
như sau: “Đó là một lối phê bình ích kỉ nhất và vô vụ lợi nhất, đưa đến sự tìm
biết sâu xa chính mình, trong say đắm, đem cái tôi của mình hòa nhập với cái
tôi của người khác”. Georges Poulet đưa ra khái niệm sự thấu minh
(transparence), tức là sự thông suốt, giữa người viết và người đọc. Theo ông, sự
hòa hợp giữa những tâm hồn qua văn chương cũng giống như một cuộc hôn nhân hạnh
phúc.
Ngày nay, với sự phát triển của internet và mạng xã hội, hoạt
động phê bình văn học không còn tự trị, chỉ đi sâu vào tháp ngà hàn lâm, mà trở
nên dân chủ, đi rộng ra đời sống. Những bài review, cảm nhận tác phẩm trên
blog, diễn đàn, facebook… thường không theo chuẩn mực khoa học nghiêm ngặt,
nhưng lại bộc lộ rõ cái tôi cá nhân. Người viết chia sẻ những gì họ thấy, cảm,
nghĩ – và chính điều đó làm cho mỗi bài phê bình trở thành một mảnh ghép chân
thực của “nhật kí tinh thần” người viết.
Phê bình như tự truyện – nghĩa lý và lưu ý
Về nghĩa lí, phê bình như tự truyện giúp giải phóng cái tôi
trong phê bình, biến phê bình thành một hành vi sáng tạo thực sự. Nhà phê bình
không chỉ làm công việc “phụ trợ” cho tác phẩm, mà trở thành người đối thoại,
người đồng hành, đồng sáng tạo.
Phê bình kiểu tự truyện làm cho phê bình trở nên gần gũi hơn
với độc giả, đặc biệt là trong thời đại mà con người ngày càng cần kết nối
tương tác, cần được lắng nghe tiếng nói khác. Một bài phê bình giàu tính chủ
quan có phần cực đoan là một bài giàu tính kích thích, giàu khả năng sinh sự, tạo
hiệu ứng hoặc chia sẻ đồng cảm hoặc tranh luận đối thoại – đúng như tinh thần của
một xã hội đa chiều.
Phê bình mang dấu ấn tự truyện cũng phản ánh sự trung thực
trí tuệ và tâm hồn của người viết. Người ta không thể che giấu toàn bộ bản thân
khi kể chuyện về một điều gì đó một cách sâu sắc – đặc biệt là khi kể chuyện về
cái đẹp, cái thiện, và cả những giới hạn của con người.
Theo nhà phê bình Từ Huy, Alain Robbe-Grillet, nhà văn và nhà
làm phim người Pháp, đã nói về những bài viết của Barthes bàn về các tác phẩm Kẻ
nhìn trộm và Những chiếc tẩy của ông như sau: “Tôi đã tin rằng Barthes không hề
nói gì về tôi, mà ngược lại, ông nói về chính ông, không phải theo một cách thức
chặt chẽ, chính xác…, mà lỏng…”. Chính điều này lại hấp dẫn Robbe-Grillet. Ông
hoàn toàn chấp nhận việc nhà phê bình có thể dùng tác phẩm của mình như một cái
cớ để triển khai tư tưởng của chính họ, bất chấp việc những tư tưởng đó có thể
hoàn toàn không ăn nhập gì với ý đồ sáng tạo, với cách hiểu của nhà văn về tác
phẩm của mình. Bởi vì suy cho cùng, ý đồ của nhà văn sau khi tác phẩm đã được
viết ra sẽ chỉ tồn tại như một cách thức diễn giải giữa vô vàn cách thức diễn
giải khác. Điều quan trọng là tác phẩm có khả năng kích thích những tiềm năng của
diễn giải.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, không phải cứ phê bình là tự truyện,
càng không thể đánh đồng phê bình với tùy bút, dẫn phê bình đến tùy tiện. Phê
bình là khoa học, đúng hơn, là “con vật lưỡng thê” dùng dằng giữa khoa học và
nghệ thuật. Trái tim nóng nghệ thuật rất cần cái đầu lạnh khoa học phối tiết.
Nhà phê bình người Đức Erich Auerbach từng nhấn mạnh: “Phương pháp phân tích văn bản cho người nghiên cứu một sự tự do nào đó trong cách diễn giải: tức là tự do lựa chọn và tô đậm chỗ nào anh ta thích. Tuy vậy, cái điểm mà anh xác định luôn luôn phải có trong văn bản. Những cách giải thích của tôi, chắc chắn là bị hướng dẫn bởi một ý hướng nhất định, nhưng ý hướng này không có sẵn mà nó được hình thành dần dần, từng trang, từng trang, cùng với luận điểm giải thích văn bản mà tôi đang nghiên cứu, và trong nhiều trang, tôi để cho văn bản hướng dẫn mình. (…) Tôi không hề có ý định chỉ trình bày những gì phù hợp với những phát biểu của tôi; ngược lại, tôi cố gắng dành chỗ cho sự đa dạng và giữ sự mềm dẻo trong lập luận…”.
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần
với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học,
diễn ngôn học văn chương, hay mỹ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện
diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê
bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến,
thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện
tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống,
đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Những phân mảnh phê bình mang tính tự truyện lưu lại những mối
quan tâm, niềm nhiệt hứng của chủ thể phê bình. Với họ, đọc là ân điển, viết là
lạc thú. Những lần khởi bút viết phê bình được Orhan Pamuk gọi là “những khoảnh
khắc vụt hiện”, “những khoảnh khắc kỳ lạ khi chân lý bằng cách nào đó được rọi
sáng”, còn nữ văn sĩ người Anh Virginia Woolf gọi là “những khoảnh khắc hiện hữu”.
Phải thôi, khi mà có vô hạn hiện tượng văn học, tại sao nhà phê bình chỉ chọn đọc
hữu hạn hiện tượng này thôi, và đến lượt, trong hữu hạn hiện tượng đã đọc, họ
chỉ dừng lại chấp bút phê bình một phần nhỏ này thôi. Và ta hiểu, tại sao nhiều
nhà phê bình lại run rẩy xúc động ghi đề tặng cố hương, cố nhân, người thân…
vào đầu mỗi cuốn sách phê bình của mình.
Với nhà phê bình, viết là một cách để nói họ đang sống, họ
đang hiện diện, họ đã yêu cái đẹp này theo cách của họ. Từ đó có thể thấy, phê
bình – như một tự truyện gián tiếp – không chỉ là nỗ lực của nhà phê bình trong
việc giải phẫu hiện tượng văn học, đặc biệt là tác phẩm văn học, mà còn là hiện
thân của khát vọng trình hiện bản thân, của nhu cầu tương giao với thế giới và
nhìn sâu vào chính mình của chính họ.
Vì lẽ đó, như đã nói, trong mỗi bài phê bình đích thực, ta
không chỉ thấy được văn bản văn học mà còn thấy được đời sống tinh thần của người
đọc nó. Những xúc cảm, tổn thương, vẻ đẹp và những vùng tối trong tâm thức – tất
cả được viết ra như thể người viết đang soi gương dưới ánh sáng lấp lánh và mờ
đục của văn chương. Như ánh đèn chiếu vào sương, những thứ tưởng không hình hài
bỗng hiện rõ – một khoảnh khắc vụt sáng giữa vô vàn tiếng ồn im lặng.
Phê bình không chỉ là diễn giải người khác, mà là tự soi
mình. Không chỉ là lý giải, mà còn là tự khải. Không chỉ là khách thể hóa, mà
còn là hành trình chủ thể hiện diện trong ngôn từ.
Nhà phê bình không viết để phô phang kiến thức, mà viết để lần
tìm linh hồn của mình.
Trong hành trình ấy, nhà phê bình không bao giờ có thể chạm được vào cái tuyệt đối – nhưng ít nhất, họ đã dấn bước. Và một điều chắc chắn, họ không thể “tuyệt không dấu vết”.
30/12/2025
Hoàng Đăng Khoa
Nguồn:VanVn
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét