Chiếc mũ cối
Con có biết những người
lính đã hy sinh nhiều như thế nào không? Họ phải rời xa gia đình, xa những người
thân yêu để cầm súng bảo vệ đất nước. Không chỉ thế họ còn phải chịu đựng nhiều
hiểm nguy gian khổ nơi chiến trường chỉ để mang lại hòa bình, bảo vệ nơi sống
của những người họ yêu thương. Gặp nhau một lần thực chất là bớt đi một lần,
con đừng nên để mình phải hối hận.
Ông Tấn ngồi trên chiếc ghế đẩu ở khoảng sân trước nhà một lúc lâu, thi thoảng lại ngước nhìn về phía trong nhà xem chừng đồng hồ đến độ mấy giờ. Nắng mùa hè từng tia vàng vọt bắt đầu vươn dậy chào ngày mới, chiếu từng luồng ánh sáng xuyên qua giàn hoa giấy được chính ông gieo trồng tạo hình, thả giàn chạy khắp phía trên sân tạo bóng mát. Mùa hè là mùa của hoa giấy, nở đỏ vàng cả một khoảng trời, ánh nắng nhảy nhót trên giàn hoa rồi cũng nhẹ nhàng đậu trên vai ông, theo từng làn gió mà khẽ xao động. Cứ như những con bướm tinh nghịch nhảy từ chỗ này qua chỗ khác để mua vui cho người cựu binh. Ông vẫn ngồi im lặng đôi mắt ra chiều xa xăm. Đồng hồ điểm tám giờ sáng, khuôn mặt ông trở nên tươi tỉnh hơn chốc vội đứng dậy, lấy chiếc mũ cối để ở cái ghế đẩu bên cạnh đội lên đầu thủng thẳng ra khỏi nhà, vội đến nỗi sắp quên đóng hờ cái cổng.
Hôm nay là ngày hội ngộ cựu
chiến binh, ông háo hức từ bận đêm qua. Già cả rồi, mỗi năm hội ngộ lại ít đi
vài người, ông như người viết sử cũ, mỗi năm đều chịu trách nhiệm khuấy động kể
lại những kỉ niệm xưa với những người đồng đội. Trách nhiệm nghe tưởng chừng
đơn giản nhưng lại là cầu nối của dòng chảy lịch sử trong mỗi người. Năm nào
cũng thế, khi những người đồng đội cũ tụ họp nơi phòng họp nhỏ này, ông Tấn sẽ
luôn là người cầm một chiếc micro cũ để chỉnh đốn:
– Mọi người đã đến đông đủ
hết chưa? Giờ thì bắt đầu chương trình thôi!
Dù nhiệm vụ rất đơn giản
nhưng ông luôn cảm thấy rất tự hào, hôm nào cũng quần áo đóng thùng chỉnh tề gọn
gàng và vận chiếc mũ cối quen thuộc làm mắt xích quan trọng của chương trình.
Ngày đó, khi ông mới về hưu, bên Ủy ban đề nghị ông làm chủ trì hội nghị cho những
ngày kỉ niệm ngày 27 tháng 7 sau này và ngót nghét cũng đã rất nhiều năm trôi
qua. Kỉ niệm vẫn sống dậy vào ngày này mỗi năm, đó là những năm tháng chiến đấu
oanh liệt hào hùng, những giọt máu xen lẫn mồ hôi rơi trên những chiến trường đỏ
lửa năm ấy; những khát vọng hòa bình cùng những niềm tin chiến thắng bất diệt
trong trái tim mỗi người để rồi đổi lại là những năm tháng sau này đất nước hòa
bình cho bao thế hệ mai sau. Ngày trước khi còn chiến đấu ông cũng là một người
lính rất can trường và thậm chí còn là một đội trưởng rất giỏi được nhiều đồng
đội tin tưởng và nể phục nên cả đến bây giờ mỗi khi ông đến đều luôn được nhiều
người lính già dang rộng tay chào đón.
Bên Ủy ban đến ngày
thương binh liệt sĩ hằng năm vẫn luôn dành một phòng họp nhỏ để những người
lính già tụ tập với nhau. Nhưng cũng chính ông từ những ngày đầu tiên để mọi
người có cảm giác vui vẻ và thân mật nên đã “ra lệnh”:
– Dẹp bàn ghế, ngồi quây
quần bên nhau như hồi còn chiến đấu.
Thế là không câu nệ xa rời
thực tế trên những bộ bàn ghế nghe những bài diễn văn dài quen thuộc, họ tụ tập
ở ngay giữa phòng, cùng ngồi bệt trên nền đất mà sau này được trải những chiếc
chiếu thân thiết nói chuyện, tâm sự, ăn uống và kể về những năm tháng xưa kia.
Kí ức như những thước phim quay chậm có màu vàng vọt, từ từ những mảnh kí ức
người nhớ được ít nhiều bắt đầu chắp vá vào nhau trở thành những cuốn phim tua
chậm để tất cả đều được sống dậy thêm một lần nữa.
***
Ba ông đi lính và mất
trong một trận càn của địch. Ngày đó ông còn rất nhỏ, số lần gặp mặt cha tính
là thưa thớt vì ngay cả lúc ông sinh ra cũng đã không thấy mặt cha. Mẹ ở nhà vững
lòng tin hậu phương đợi chồng trở về và nuôi đứa con đỏ hỏn ngày một lớn khôn.
Đến khi ông lên năm, theo như lời mẹ kể đó là lần đầu tiên ông gặp mặt cha mình
nhưng vì còn quá nhỏ nên ông không thể nào nhớ nổi. Phải đến hai năm sau khi
tình hình chiến trận dịu bớt, những người lính mới được phần nào trở về quê ít
ngày thì ông mới thực sự biết được về ba mình.
Người đàn ông ấy xuất hiện
trước mặt ông trong bộ quân phục màu xanh còn bám bụi đường và cả chiếc balo
sau lưng cũng đã sờn cũ. Hôm ấy, ông vừa đi đổi thóc về, vừa về đã thấy bóng
dáng người đàn ông lạ trong ngôi nhà. Ông đã mường tượng biết được đó là ai vì
guơng mặt ông giống ông ấy như tạc. Người đàn ông có làn da đen nhẻm và một vết
sẹo lớn bên má trái, khác hẳn với hình ảnh một người trai trẻ mẹ đã từng cho
xem trong một tấm ảnh rất cũ. Dù thế vẫn có nét phảng phất của sự thân quen
nhưng vết sẹo đã làm ông sợ và ông… chạy ra nấp sau lưng mẹ. Ông còn nhớ ba ông
đã rất buồn nhưng nhất thời ông chưa biết phải nói gì với người mà ông nhận thức
được là lần đầu gặp. Trong suốt ba ngày ba ông ở lại nhà ông luôn duy trì một
khoảng cách rất xa cho đến khi ông biết được ngày mai ba sẽ tiếp tục lên đường
chinh chiến.
Đó là một đêm trăng treo
trên những bụi tre đầu làng và xóm làng thực sự yên bình khi tất cả đang chìm
vào giấc ngủ. Gió thổi nhè nhẹ, thi thoảng có những tiếng chó sủa ma inh ỏi rồi
im bặt. Tầm giờ này ông thường ngủ sớm nhưng hôm nay trằn trọc không ngủ được,
mẹ ông vỗ bụng ông nhè nhẹ trên chiếc phản nói nhỏ:
– Con có biết những người lính đã hi sinh nhiều như thế nào không? Họ phải rời xa gia đình, xa những người thân yêu để cầm súng bảo vệ đất nước. Không chỉ thế họ còn phải chịu đựng nhiều hiểm nguy gian khổ nơi chiến trường chỉ để mang lại hòa bình, bảo vệ nơi sống cuả những người họ yêu thương. Gặp nhau một lần thực chất là bớt đi một lần, con đừng nên để mình phải hối hận.
Ông chui ra khỏi mùng, đi
ra chiếc lán nhỏ phía sau nhà. Ba ông chưa ngủ, đang ngồi sửa lại chiếc chõng
tre. Mấy ngày qua ở nhà ba ông luôn cố gắng tìm thật nhiều việc nặng để làm, để
sửa vì hiểu được vợ con ông đã phải tự lập khi không có bàn tay người đàn ông
trong nhà một thời gian rất dài. Đó là một cách ông bù đắp và chỉ mong đất nước
mau hòa bình sẽ sớm ngày đoàn tụ.
– Ba phải lấy cái manh
này đan vào nữa, mai ba sửa lại cái cũi nữa là xong rồi.
Đó là lần đầu ba ông nghe
tiếng gọi “ba” của ông. Đêm đó hai cha con ngồi cạnh nhau nói đủ chuyện rất
lâu, cũng là lần đầu ông thấy chiếc mũ cối mà ba vẫn hay giữ bên mình. Ba ông
nói tuy mỗi người lính đều được phát một chiếc nhưng đây lại là chiếc mũ được
“đổi” từ một người bạn rất thân. Đó là một người đồng đội đã vào sinh ra tử
cùng ba của ông, sau đó được chuyển sang đơn vị khác và cũng là lần đầu tiên
hai người tách ra sau khi đã cùng hỗ trợ nhau như những người lính ăn ý. Và vào
ngày cuối cùng đồng chí ấy nói với ba ông:
– Tớ giữ mũ cậu, cậu giữ
mũ tớ, mãi là những người đồng chí nhìn vào những đồ vật thân quen mà nhớ nhau.
Hôm sau, sau khi đóng một
chiếc cũi mới để nơi bếp nhỏ cho hai mẹ con, xe tới đón ba ông đi. Ông cố gắng
không khóc nhưng cũng hối tiếc vì những cảm xúc của mình mà để tới tận đêm cuối
cùng mới có thể nói chuyện với ba.
Vài tháng sau, ông được
tin ba mất trong một trận càn cuả địch, người đồng đội báo tin để lại di vật
người lính chiến, những thứ ba ông luôn mang theo trong người đó là tấm hình mẹ
ông bế ông trên tay, những bức thư tay và cả một mẩu nứa nhỏ có khắc tên ba và
ông do chính ông làm. Chiếc mũ cối cũng được gửi về như di nguyện người đã khuất,
có lần ba ông đã nói với đồng đội: “ Nếu tôi có chuyện gì hãy gửi vật này về
cho con trai tôi. Nó là món quà tôi nhận được trong nghĩa tình, cũng là động lực
để con tôi đi tiếp”. Khi thấy ông cố không rơi nước mắt, người đồng đội cuả ba
ông đã khẽ đội chiếc mũ cối lên đầu ông. Nó quá to so với một đứa trẻ nhưng đủ
để che đôi mắt đã nhuốm mày hoàng hôn cuả nó.
Đất nước vẫn còn khói lửa
chiến tranh và ông đã biết chọn con đường đi tiếp như cách ba mình để lại di
ngôn. Khi còn nhỏ vì thông thạo đường rừng ông đã nhiều lần giúp quân ta trốn
thoát trong những đợt truy bắt của quân địch. Lần đầu tiên ông tiếp xúc với bộ
đội ta là trong một lần đi bẻ măng rừng thì thấy các chiến sĩ đang trốn địch,
và bằng sự quen thuộc với những con đường rừng ông đã dẫn họ đến nơi trú ẩn an
toàn. Sau lần đó, ông dần được quân ta tin tưởng, có những nhiệm vụ đột kịch hoặc
cần dẫn đường đều nhờ đến ông, vì ông nhỏ người có thể đánh lạc hướng quân địch
hoặc luồn lách tìm đường ngắn nhất. Đôi khi ông lâm vào sự nguy hiểm nên nhiều
người lính đã từ chối sự giúp đỡ cuả ông nhưng hình bóng một đứa nhóc đội trên
đầu chiếc mũ cối to hơn đầu của nó khiến nhiều người thấy khảng khái:
– Tuổi nhỏ làm việc nhỏ,
lớn lên nếu còn chiến tranh con vẫn sẽ cầm súng chiến đấu.
Năm mười tám, ông từ biệt
mẹ lên đường đi lính, ông gửi lại mẹ chiếc mũ cối như một lời hứa rằng mình sẽ
trở lại, nhờ mẹ giữ hộ di vật của cha. Trong suốt những năm tháng chiến tranh
nhiều vất vả gian khó, nhiều lần trải qua bom đạn chiến tranh ông đã gặp được
những người đồng đội mà ông xem như ruột thịt dù không cùng dòng máu.
– Đội trưởng Tấn đây mà,
thế lát nữa tan họp tôi lại đèo ông sang bên kia thành phố nữa nhé.
Hiện tại như được kéo ra
khỏi dòng hồi tưởng trước tiếng gọi của người đồng đội cũ – ông Hùng. Trong những
trận chiến ác liệt nơi chiến trường xưa ở đơn vị của ông có một bộ ba thân thiết
bao gồm ông Tấn – ông Hùng và người đồng đội ở bên kia thành phố mà năm nào đều
đặn sau cuộc họp cựu chiến binh hai ông cũng sang thăm đó là ông Hạnh. Những
năm đầu sum họp thì ông Hạnh còn đi được nhưng những năm sau vì sức khỏe yếu
nên ông không còn tham dự được những cuộc hội ngộ. Không chỉ thế nhà ông còn ở
khá xa nên cứ sau mỗi cuộc họp, hai người bạn lính chí cốt năm xưa lại tranh thủ
đèo nhau sang thăm ông Hạnh. Họ cũng rất lâu mới gặp nhau vì đều ở cách xa nhau
và tuổi tác không còn cho phép đi lại nhiều, duy chỉ có ngày 27/7 mỗi năm đều cố
gắng gặp nhau ít nhất một lần.
Bộ ba ấy thân thiết từ lần
đầu gặp nhau khi cùng đi lính trong một ngày. Người xóm trên xóm dưới tuy trạc
tuổi nhưng lại ít khi nói chuyện với nhau vì đều là bôn ba với cuộc sống, mãi
cho đến khi cùng lên đường nhập ngũ, nhận ra cùng quê mới thực sự thân thiết.
Ông Hạnh là anh nuôi của đội, ông Tấn sau vài năm cống hiến trở thành đội trưởng
còn ông Hùng là tham mưu dù không giữ chức vụ gì cụ thể, giống như những người
lính khác. Ở họ mỗi người mỗi công việc nhưng đều phục vụ quân đội cống hiến sức
lực cho nước nhà. Họ cũng rất ít khi cãi nhau duy chỉ có một lần ông Hạnh bị
chính ông Tấn kỉ luật rất nặng.
Thời ấy, chiến tranh đầy
gian khó, nhiệm vụ chính của anh nuôi là luôn phải cố gắng nấu đủ mỗi bữa cơm gồm
một món mặn, một món nhạt và bát canh. Nhưng điều kiện ăn uống thiếu thốn, thịt
đôi khi phải thái lát mỏng tới mức hay bị đùa là để trước gió, gió cũng thổi
bay. Năm ấy bận Tết, đơn vị cuả ông đóng quân trong rừng, trong khi bọn địch
thì cũng rất hay càn địa thế ấy duy chỉ không dám tiến sâu sợ mai phục. Ông Hạnh
thương những người chiến sĩ bươn chải nơi rừng sâu không có một bữa cơm đổi vị
mừng tết, lần đó ông quyết định trốn ra khỏi rừng để về bản đặng mua ít thịt để
coi như mừng Tết. Lần đó ông bị kỉ luật rất nặng, không nói về tình nhưng nếu
có sơ suất chính ông lại đẩy đơn vị mình vào nguy hiểm vì có thể bị địch bám
theo dẫn đường về nơi trú ẩn. Hơn nữa lần đó ông đi vì biết sẽ không được cho
phép nên còn không xin phép cấp trên. Đội trưởng vẫn để ông nấu bữa ăn mừng Tết
nhưng sau đó cũng phạt ông một đêm không được ăn uống. Đêm đó, ông Hạnh không
ngủ được, ông cũng ăn năn khi nhìn thấy ông Tấn vừa lo mắt đỏ hoe, vừa giận mà
còn phải đích thân kỉ luật người bạn thân thiết của mình. Trong phòng phạt ông
nghe tiếng đập qua tre nứa: là hai người bạn, họ mang cho ông ít thịt, coi như
cùng ăn trải qua ngày Tết.
– Nãy kỉ luật thì là cấp
trên, giờ thì chỉ là hai thằng bạn đến coi thằng còn lại ăn uống thế nào.
Bóng nắng từ từ trải dài
xuống sân của ngôi nhà nhỏ quen thuộc, một người phụ nữ nom cũng luống tuổi
đang đổ nước ra trước mảnh sân nhỏ để bớt nóng nhìn thấy hai người lính già đầy
cửa bước vào thì vội cười:
– Hai bác sang thăm bố
con ạ?
Chị dẫn vào nhà. Một người
lính già khác đang nằm trên chiếc giường tre cố hướng ánh nhìn về phía hai người
vừa bước vào nhưng vẫn bất động không nói gì.
– Bố con bị tai biến cách
đây ít lâu, từ đó không nhận ra ai nữa, cũng không nói mấy và không ăn mấy.
Hai ông đều im lặng, chỉ
cảm thấy thời gian dường như không buông tha bất kì ai cả, từ từ cướp đi tất cả
của mọi người. Thế nhưng họ vội trấn tĩnh ngay, nhìn nhau và bắt cái ghế ngồi
bên cạnh giường ông Hạnh. Họ vẫn nói chuyện, kể chuyện về ngày trước, thi thoảng
nói về cuộc sống hiện tại giống như người đồng đội của họ vẫn đang nghe và hiểu
được. Không phải họ không chấp nhận hiện tại mà là họ muốn mọi thứ vẫn như trước,
đó là cách người lính đối diện với hiện thực bằng sự lạc quan nhất. Cho đến khi
trời bắt đầu về chiều như cách thời gian tiếp tục đổ ráng chiều cướp đi từng
chút một những gì còn lại hai người mới ra về vì nhà ở xa thì bỗng nhiên một lời
nói thều thào khiến cả hai bật khóc:
– Hai thằng bây…đừng có
lén trộm rượu chuối tao ngâm mà uống nữa…
Thường thì sau đó ông
Hùng sẽ về nhà ông Tấn ngủ một hôm vì ông Tấn sau khi các người con trưởng
thành đều ra riêng, vợ ông mất cách đây ít năm nên chỉ mình ông ở. Sáng hôm sau
khi hai người lính già tỉnh dậy thì ông Hùng lại tiếp tục nhiệm vụ của mình là
chở ông Tấn ra nghĩa trang liệt sĩ địa phương để thắp nhang tưởng nhớ những người
đã khuất. Năm nào cũng vậy, hai ông luôn làm như vậy, khi còn sức khỏe thì sẽ cố
gắng họp cựu chiến binh mỗi năm để gặp đồng đội cũ. Nếu có đủ sức khỏe sẽ ghé
thăm những người không tới được. Và kết thúc dịp kỉ niệm hàng năm sẽ luộn đến
thắp nhang cho những đồng đội đã ngã xuống. Đó là cách các ông nhớ về họ, nhớ về
những năm tháng chiến tranh khói lửa hào hùng.
Và sau mỗi cuối ngày khi
chỉ còn một mình trong ngôi nhà nhỏ, ông Tấn sẽ luôn để chiếc mũ cối bên cạnh
nhìn lên bàn thờ nghi ngút khói, nơi để di ảnh của ba ông – người đã hun đúc
cho ông tình yêu quê hương đất nước và hướng ông đường đi đúng đắn vào tương
lai mà ông đã trải qua để góp phần mang lại hòa bình cho đất nước. Chiếc
mũ cối vừa là di vật, vừa là câu chuyện, vừa là món quà tinh thần mà cũng là hồi
ức đẹp, một thước phim vàng vọt ông vẫn nhớ như in về một buổi đêm, khi hai cha
con lần đầu tiên ngồi tâm sự chuyện trò với nhau.
30/4/2026
Lê Hứa Huyền Trân
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét