Thứ Tư, 1 tháng 3, 2023

Hoài Sơn - Một hồn thơ chiến sĩ

Hoài Sơn - Một hồn thơ chiến sĩ

Hoài Sơn tên thật là Ung Ngọc Ky (1920-2001), còn ký với bút danh Trường Sơn Chí là nhà thơ thành viên của Duy Việt Văn Đoàn, nơi tập họp nhiều cây bút yêu nước tại Nam bộ trong giai đoạn 1930-1945. Anh là gốc người Cần Thơ vốn là một dân quân du kích địa phương. Hoài Sơn xuất thân là một thanh niên nông dân hiền lành, mới vào đời còn hay nghĩ đến chuyện tình ái yêu đương: Khi Thu Cúc lạnh lùng toan cất bước/ Rời xa ta, tha thướt/Bỏ ta về (Tơ vương)
Nhà thơ Hoài Sơn.
Tại các đô thị miền Nam, trước ngày thống nhất đất nước, trừ một số tạp chí có lập trường tiến bộ khá rõ nét như Nhân loại, Tin văn, Đối diện… được ấn hành hợp pháp ở Sài Gòn, còn lại là các tạp san khai sinh từ Đại học và Trung học được coi là những bệ phóng khá an toàn cho những bài viết có nội dung yêu nước chống thực dân đế quốc trong vùng bị tạm chiếm. Trong bài giới thiệu “Phan Văn Trị – nhà thơ yêu nước miền Nam”(1) trên đặc san Xuân Nắng Mới 1972 của trường Trung học Đệ Nhị cấp Cái Răng,Thành phố Cần Thơ, ông Nguyễn Tấn Thành, chủ biên tạp san đã mượn lại bốn câu thơ của Hoài Sơn để mở đầu: Bốn mươi chiến sĩ tiến về Cái Răng/Quần tua áo khíu nóp chầm/Đầu không nón đội, chân không đủ giày/Không súng máy thiếu súng dài/Phi tiêu bốn chục, dao vài bốn mươi (Tiến về Cái Răng) để chỉ cảnh tượng hào hùng của đoàn quân Lê Bình hiên ngang tiến về đánh chiếm Cái Răng vào ngày 12.11.1945, trên con đường lịch sử dẫn ngang qua ấp Lợi Nguyên, thuộc địa phận quận Cái Răng, Thành phố Cần Thơ: Lợi Nguyên dù chẳng hơn người/Cũng công đánh trận ngày mười hai tây/Tiếp Lê Bình chống quân Tây” (Khúc quân hành- Hoài Sơn). Nhà thơ Hoài Sơn xứng đáng tự hào là một chiến sĩ đã có mặt trong đoàn vệ binh dũng cảm đó.
Cuộc cách mạng tháng Tám bùng nổ, đi đến thành công đã đánh thức tâm hồn mộng mơ uỷ mỵ của anh: Từ lúc ấy, đời tôi thôi uỷ mỵ/Và đất trời như thấm đượm hồng tươi/Cả non sông như vẳng tiếng vui cười/Người nưóc Việt như vừa tươi trẻ lại.(Thay lời tựa – Hương lòng)
Hoài Sơn sớm nhận đường và không ngần ngại bắt đầu dấn thân hết mình vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bằng thơ văn và bằng cả cuộc sống thực tế gian khổ của đời mình: Ra đi ta quyết đua tài/Dẹp tan quân địch xéo giày non sông (Khúc quân hành). Không như sáng tác trước đây, các bài viết của anh từ năm 1949 đăng trên những tờ báo lành mạnh lúc bấy giờ luôn nói lên một tình yêu quê hương tha thiết, những trang văn có lửa và lời thơ yêu nườc của Hoài Sơn chan hoà niềm tự hào dân tộc, bộc lộ khí phách giống nòi và ngùn ngụt khí thế đấu tranh: Tôi là người Việt – Nước tôi, Nhành lúa mới…. là chủ đề những đoạn văn của Hoài Sơn được nhiều nhà giáo trích ra để giảng dạy trong giờ Việt văn  hoặc cho học sinh dịch ra tiếng nước ngoài trong giờ học ngoại ngữ. (Giáo sư Anh ngữ Tạ Tuyên đã chọn đến ba đoạn văn có nội dung tiêu biểu in ở phần đầu sách giáo khoa nhan đề: Bài  dịch  Việt – Anh). Hoài Sơn Ung Ngọc Ky đã chính thức trước bạ cuộc đời thơ của anh trên thi đàn với hai thi tập: Hương lòng (Đuốc Việt – Sài Gòn, 1949) và Kiếp gió sương (Nam Việt -Sài Gòn, 1949) với nguồn thi hứng dạt dào và nghệ thuật điêu luyện, nội dung thấm đẫm tình yêu đất nước chân thành và hừng hực khí thế quật khởi đấu tranh.
Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam chính thức giành lại được độc lập tự chủ trên một nửa miền đất nước. Hoài Sơn không tập kết ra Bắc mà được điều về công tác tại Cần Thơ. Anh bắt đầu tham gia đấu tranh, yêu cầu thực dân Pháp và chính quyền tay sai thi hành đúng hiệp định Genève vừa được ký kết vào ngày 20-7-1954, hô hào đòi hoà bình thống nhất đất nước. Tạm gác lại nghiệp văn chương sang bên lề con đường đấu tranh cho sự nghiệp cứu nước, chàng thanh niên yêu nước Ung Ngọc Ky có dịp được xả thân hoạt động trên mảnh đất quê hương Tây Đô ruột thịt của mình. Nhưng thực tế tình hình chính tri lúc bấy giờ tại địa phương yêu cầu phải có được một lợi thế trong đấu tranh công khai và hợp pháp giữa lòng địch, một vị trí công tác xã hội và chính trị trong cộng đồng quần chúng trí thức, công chức, nhân sĩ, tôn giáo nhất là trong từng lớp đông đảo sinh viên học sinh.
Đầu năm 1955, với sự giúp đỡ tận tình của bà con và các cơ sở cách mạng trong thành phố, Hoài Sơn đã nhanh chóng trở thành một giáo sư Trung học Tư thục dạy các môn Văn, Sử Địa và Công dân giáo dục tại trường Võ Văn, Hưng Việt. Không bao lâu sau đó, Hoài Sơn tiếp tục dạy thêm ở trường Phụ huynh Học sinh vốn là một trung học tư thục được thành lập vào năm 1955-1956 do anh và các đồng nghiệp có tâm huyết đứng ra vận động giới nhân sĩ trí thức yêu nước. Trong giới nhân sĩ, trí thức tiến bộ này, ta không thể nào quên công lao của Bác sĩ Lê Văn Thuấn, cụ Lương Kiêm – chủ hãng Nước mắm Đồng Hương, Bác Lê Quang Nghị – Giám đốc Công ty Xe khách Đại Đồng. Các môn khoa học xã hội nói trên rất thuận lợi cho nhà giáo bất đắc dĩ Ung Ngọc Ky kết hợp việc giáo dục tư tưởng yêu nước và tinh thần quật khởi đấu tranh ở học sinh như thường thấy ở một số  nhà giáo tiến bộ bạo phổi ở Cần Thơ trước năm 1975 như: GS. Pháp văn Nguyễn Bá Thảo (2), , GS. Việt văn Trần Quang Long (2) GS. Âm nhạc Nguyễn Đức Minh (4) ….
Lúc bấy giờ, học sinh các nơi hầu hết thuộc gia đình lao động nghèo hoặc thuộc thành phần trung lưu nên đã có sẵn tinh thần yêu nước. Do vậy, không bao lâu sau đó, Ung Ngọc Ky cùng các anh Trương Văn Biên** và Lê Thiết xây dựng được một số cơ sở tốt trong nhóm các em học sinh. Thế là thầy trò Ung Ngọc Ky hăng hái lao ngay vào cuộc đấu tranh chống chế độ bù nhìn tay sai của đế quốc Mỹ. Phát pháo khai hoả mở đầu là cuộc đấu tranh đả phá trò hề trưng cầu dân ý để bầu chọn “Tổng thống Việt Nam Cộng hoà” giữa Bảo Đại và Ngô Đình Diệm. Nhóm tranh đấu của Ung Ngọc Ky chống cả hai. Nhưng vì kẻ thù của nhân dân ta lúc bấy giờ là đế quốc Mỹ xâm lược nên những lá phiếu có ảnh của Ngô Đình Diệm – tay sai số một của đế quốc Mỹ – bị xé, bị gạch, bị đâm thủng mắt, bị viết đầy vào bằng những câu đả kích nặng nề. Bắt đầu từ đó cuộc đấu tranh chống Mỹ -Diệm ngày càng gia tăng quyết liệt: truyền đơn xuất hiện nhiều nơi trong thành phố. Những dòng chữ: Đả đảo Mỹ – nguỵ / Đả đảo đế quốc Mỹ và bọn tay sai Ngô Đình Diệm / Phải thi hành Hiệp định Genève: 20-7-1954 v.v… đầy dẫy trên vách các rạp hát, công sở hoặc trên mặt đường nhựa. Đó là phong trào đấu tranh sôi nổ của các em học sinh có ý thức qua sự điều động của những nhà giáo yêu nước tại Cần Thơ trong đó có Hoài Sơn Ung Ngọc Ky. Đáp trả lại, địch cũng viết ngay trên vách trường học các câu: Xử tử bọn ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản/Đả đảo bọn Cộng sản nằm vùng v.v…
Nhờ sự ra đời của Tư thục Phụ huynh Học sinh, Hoài Sơn cùng các anh Trương Văn Biên, Lê Thiết và vài giáo sư trung học tư thục khác cùng các em học sinh nòng cốt có nơi hội họp sinh hoạt để bàn bạc việc đấu tranh. Đó cũng là địa điểm thuận lợi để các giáo sư Việt Cộng thảo luận trao đổi luôn công việc của Tư thục Phụ huynh học sinh, của hội Truyền bá Quốc ngữ và hội Khuyến học Cần Thơ với sự hiện diện đầy tâm huyết của những nhân sĩ yêu nước đã đứng ra thành lập và hăng hái hoạt động cho hai tổ chức văn hoá xã hội lành mạnh này ở thành phố Cần Thơ.
Tuy nhiên, vốn là nhà thơ lại chưa có kinh nghiệm hoạt động trong công tác đấu tranh công khai ở đô thị nên nhóm tổ chức đã để lộ nhiều sơ hở, khó qua khỏi mắt địch. Hoài Sơn Ung Ngọc Ky bắt đầu bị địch ra lệnh truy nã mà chưa hay biết. Một buổi sáng vào đầu tháng 7 năm 1957, sau một ngày làm lễ bế giảng năm học 1956-1957, Hoài Sơn thong dong dẫn một đoàn học sinh giàu tâm huyết từ thành phố Cần Thơ đến Bạc Liêu trình diễn văn nghệ lấy tiền giúp học sinh nghèo. Đêm ấy, tại thị xã quê hương của bản Dạ cổ hoài lang, khi còn hơn nửa giờ bắt đầu chương trình biểu diễn thì một sự cố không ổn bất ngờ xảy ra. Ông Lương Học Sanh, con của cụ Lương Kiêm, hiệu trưởng trường Tư thục Phụ huynh học sinh  từ Cần Thơ vội vã lài xe đến Bạc Liêu tìm Hoài Sơn có việc quan trọng. Để mọi người xung quanh không ai biết và tránh gây xôn xao, ông Lương Học Sanh thì thầm bằng tiếng Pháp với Hoài Sơn mấy câu:
– Sáng nay, sau khi anh vừa rời Cần Thơ độ 15 phút thì bọn công an ập đến vây nhà để bắt anh. Bọn chúng lục soát hơn nửa giờ mà không tìm được cả anh và chị. Chắc là chị đã đi chợ cùng các cháu. Chúng im ỉm ra về nhưng chắc chắn còn rình rập theo dõi quanh quẩn nhà anh và bố trí người ẩn náu ở đầu cầu Cái Răng hoặc bến bắc Cần Thơ… để tóm anh. Do vậy, tôi xin gợi ý là ngay bây giờ anh cùng lên xe đi với tôi để tạm lánh vài hôm ở Sài Gòn. Về đến Cái tắc, chúng ta sẽ lách sang ngả Long Xuyên để tránh đầu cầu Cái Răng và bến bắc Cần Thơ.
Sau một thoáng lắng nghe tin chẳng lành, Hoài Sơn cố giữ bình tĩnh. Sự việc mà anh đã đoán trước khi mình bắt đầu cuộc chiến đấu ở nội thành giờ đã thục sự xảy ra ? Lặng yên trong vài phút, Hoài Sơn suy nghĩ, chạnh lòng: Tội nghiệp ông Hiệu trưởng của nhà thơ vẫn đứng im  bên cạnh để đón nghe thái độ của anh trong khoảnh khắc căng thẳng đứng tim này. Cuối cùng, Hoài Sơn cũng cố thì thầm bằng tiếng Pháp với ông Lương Học Sanh:
– Tôi thật sự xúc động và cám ơn anh rất nhiều, nhiều lắm. Nhưng thưa anh Hiệu trưởng, tôi không thể đi vì chưa nhận được lệnh. Đi đột ngột như thế này là coi như bỏ nhiệm sở, tức là bỏ chạy trước kẻ thù. Tôi không được hành động như vậy: Địch quân còn chiếm, nguyện không ngày về (Hương lòng). Hơn nữa tất cả các em học sinh đang trông cậy vào tôi, và như anh đã biết giờ hát sẽ bắt đầu trong ít phút nữa thôi. Một lần nữa tôi xin hết lòng cám ơn anh .
Hoài Sơn siết chặc tay ông Hiệu trưởng. Rồi hai người yên lặng ôm nhau và chia tay.
Hoài Sơn như muốn âm thầm nhắc lại trong lòng để khẳng định: Thề quyết thàng công một chuyến đi (Bân Bân nữ sĩ- “Chiếc lá thị thành”)
Sáng hôm sau, trở về thành phố Cần Thơ, Hoài Sơn dự định khi đến vùng Cái Răng Bé sẽ tạt vào đó nghe ngóng tình hình và tìm cách liên lạc với lãnh đạo để nhận lệnh. Nhưng đoàn của Hoài Sơn vừa về ngang thị xã Sóc Trăng thì đã có anh Cao Minh Hiệu và vài cán bộ  thành phố cùng một nhóm học sinh đứng chờ sẵn báo tin: có lệnh của lãnh đạo thành phố dặn Hoài Sơn không được về Cần Thơ mà phải từ Sóc Trăng này tạt qua Trà Vinh rồi đi thẳng lên Sài Gòn tạm lánh cho đến khi có lệnh mới.
Ít hôm sau, anh Trương văn Biên từ thành phố Cần Thơ lên Sài Gòn liên lạc với Hoài Sơn và trao cho anh một bản sao lệnh truy nã của địch và dặn Hoài Sơn hãy tìm nơi ẩn náu cẩn thận trong một thời gian. Hoài Sơn không bao giờ nghĩ rằng từ đó anh phải rời xa mãi mãi các mái trường thân yêu cùng các em học sinh dễ thương, các vị nhân sĩ trí thức đầy tâm huyết, các bạn chiến đấu vô cùng thân thiết của thành phố quê hương.
Cũng từ đó, do yêu cầu của cuộc đấu tranh chống Mỹ, Hoài Sơn lại bắt đầu lao vào những nhiệm vụ mới: lúc anh làm thơ ký cho toà soạn  tuần báo Hoà bình Trung lập của Ban Tuyên huấn Xứ uỷ tại Phnôm-pênh trong ba năm, khi thì hoạt động trong Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt nam suốt mười lăm năm trong những khu rừng đại ngàn của chiến khu D. Hoài Sơn bồi hồi nhớ lại vào khoảng năm 1962, một đêm căng võng bên bờ suối Mã Đà, anh Lê Thiết từ Uỷ ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Tây Nam bộ được Trung ương Cục điều về “R” báo tin cho anh hay là anh Trương Văn Biên đã bị bắt. Và anh Lê Thiết đọc thuộc lòng với giọng đầy cảm xúc những câu thơ chứa chan khí tiết và yêu thương của anh Trương Văn Biên gởi vợ cũng đang bị địch bắt cầm tù. Anh Lê Thiết cũng tâm sự chân tình với Hoài Sơn: Các em học sinh đã rủ nhau đi mua những cuốn sách có chữ ký Hoài Sơn – mà vợ nhà thơ đã bán tất cả để làm lộ phí tìm đường đi theo chồng – để giữ lại chút kỷ niệm của người thầy mà các em đã sát cánh trong cuộc đấu tranh chung vì đại nghĩa dân tộc. Càng nghĩ lại kỷ niệm ngày qua, Hoài Sơn chan hoà nước mắt vì quá yêu thương anh, chị Biên và các em học sinh. Hoài Sơn cũng chợt nhớ đến Hoàng, một em nam học sinh. Một hôm trong những ngày ẩn náu ở Sài Gòn, Hoài Sơn đang đạp xe trên đường Hai bà Trưng thì em Hoàng đột nhiên cặp xe sát bên anh, nói nhỏ rất nhanh: “Thưa thầy, xin thấy tránh con đường này vì Thầy S. thường đi qua đây”. Rồi Hoàng biến rất nhanh giữa dòng người xe rộn rịp (S. là giáo sư nổi tiếng chống cách mạng, loại gián điệp chìm). Trải qua hai mươi mốt năm dài gian nan chống Mỹ, Hoài Sơn chỉ có ba năm dạy học ở thành phố Cần Thơ chôn nhau cắt rún nhưng đó là ba năm đấu tranh vô cùng sôi nổi dạt dào hạnh phúc và thắm đượm yêu thương…
Chưa tính những ngày sau đó, Hoài Sơn trở lại chiến khu Tây Ninh sau khi MTDTGP Miền Nam ra đời, Hoài Sơn phải tạm gác bút xa Nàng Thơ vì nhu cầu chính trị, hoạt động gian khổ và hiểm nguy dưới mưa bom bão đạn của đế quốc Mỹ, Tại Cục “R”, Hoài Sơn Ung Ngọc Ky được phân công giữ chức vụ Chánh văn phòng Chính phủ kiêm Thứ trưởng phủ Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam. Sau năm 1975, khi đất nước đã hoà bình, Hoài Sơn giữ chức Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh cho đến ngày nghỉ hưu.
Với lòng ngưỡng mộ cuộc đời đấu tranh và sư nghiệp văn chương của nhà thơ Hoài Sơn, tôi nhớ lại cũng có những ngày vừa dạy học tại Cần Thơ và Cái Răng – quê hương của tác giả Hương lòng và Kiếp gió sương– vừa chủ biên thực hiện các đặc san Xuân Nắng Mới liên tiếp trong ba năm (1972, 1973, 1974). Tôi có dịp hướng dẫn các em học sinh đi viếng mộ thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa- con Rồng vàng ở đất Đồng Nai – tại Bình Thuỷ, mộ nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị ở Phong Điền để thuyềt trình tại phần mộ cuộc đời đấu tranh và sự nghiệp văn chương đáng trân trọng của các danh nhân văn hoá lịch sử đó. Khi đi ngang qua vùng đất Lợi Nguyên huyền thoại anh hùng, thầy trò tôi được nhà thơ Trần Huê Phong (5), người Đầu Sấu – GS. Việt văn tại Trung học Bán Công Cái Răng cũng như nhà văn Nguyễn Bá Thế (6) ngày trước cả hai văn nghệ sĩ này là những bạn văn tri kỷ của Hoài Sơn – cũng gốc người Cái Răng- đã giúp tôi hiểu thêm rất nhiều về Hoài Sơn Ung Ngọc Ky. Từ đó tôi không khỏi ngâm ngùi nhận ra thêm về cuộc đời làm văn nghệ tiến bộ trước đây thật đầy hệ luỵ truân chuyên, vui nhiều mà buồn cũng không ít – Vui vì được hạnh phúc cầm bút nói lên cảm xúc  của mình nhưng cũng buồn vì quê hương còn chịu lắm đau thương vì bom đạn của kẻ thù. Từ đó khi nhớ đến tác giả Hương lòng, tôi càng mến thương kính trọng thêm tâm hồn và nhân cách của nhà thơ yêu nước Hoài Sơn: một hồn thơ chiến sĩ mang phong cách nhà giáo nửa mùa với câu văn ngập tràn lòng yêu nước của anh mà tôi còn nhớ mãi đến bây giờ: “Tôi yêu nước tôi, tôi mến dân tộc tôi. Một cành cây, một tấc đất của non sông hoa gấm này, không một ai được quyền xâm phạm.”  (Tôi là người Việt – Hoài Sơn).
Nguyễn Thanh
Chú thích:
(1 Nguyễn Tấn Thành (Nguyễn Thanh,…) – GV Văn và Mỹ thuật Trường Phan Thanh Gỉản, C3.TP Cần Thơ, PTTH Châu Văn Liêm. Sau 1975 là Tổng Thơ ký Hội Văn nghệ Giải phóng TP Cần Thơ:
– Phan Văn Trị – nhà thơ yêu nước miền Nam 
* Trương Văn Biên, Cán bộ Giáo dục, nguyên Trưởng ty Giáo dục Tỉnh Hậu Giang (1979) nay là TP Cần Thơ
(2) Nguyễn Bá Thảo,GS Pháp văn, nguyên Phó Chủ tịch MTDTGP Khu Tây Nam bộ
(3) Tác giả: Bông cúc vàng (truyện), Thưa mẹ trái tim (thơ) hy sinh năm 1968 tại chiến khu D
(4) Nguyễn Đức Minh, GS Âm nhạc, nhạc sĩ. Sau 1975 là Đồn trưởng CA phường An Nghiệp Cần Thơ.
(5) Nhà thơ, thuộc thế hệ của Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà… có nhiều bài thơ khá nổi tiếng đăng trên các nhật báo và tạp chí văn nghệ trong giai đọan (1949-1959).
(6) Nhà văn (1925-1996) chuyên sưu khảo cùng thế hệ với nhà thơ Hoài Sơn (1945-1965) viết báo, tiểu thuyết, sưu khảo, sau 1975 là là Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng Thành phố Cần Thơ.
*Bài viết có tham khảo :
– Văn chương tranh đấu Miền nam – Nguyễn Văn Sâm, NXB Kỷ Nguyên, Sài Gòn, 1969
– Văn chương Nam bộ và cuộc kháng Pháp 1945-1950-Nguyễn Văn Sâm, NXB Lửa thiêng, Sài Gòn 1972
– Nhân vật và sự kiện – GD-ĐT Cần Thơ, 2005
– Tạp chí Văn nghệ Cần Thơ số 54 Tháng 9+10/2010, Liên Hiệp Các Hội VHNT TP Cần Thơ
– Và nhiều tư liệu khác…
 
19/3/2020
Nguyễn Thanh
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
 
 

Mai đây hòa bình

Mai đây hòa bình?

Có lẽ nhân loại, sau trận dịch bệnh này, sẽ hiểu rằng, ý tưởng về chiến tranh sinh học là ý tưởng xuẩn ngốc nhất trong việc cạnh tranh với nhau, không kẻ nào là kẻ an toàn nếu cuộc chiến ấy xảy ra, kể cả kẻ truyền tấn công. 
Ảnh: Phan Hồng Đức
Dù thế nào đi nữa, thế giới mà chúng ta đã biết hồi trước Tết cũng đã không còn, sau trận dịch này. Lâu lắm rồi, chắc phải từ Thế chiến hai tới nay, một cuộc khủng hoảng ở cấp độ toàn cầu như vậy mới xảy ra. Tức là cuộc chiến khiến đồng lúc ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ phải giới nghiêm, đóng cửa, phong tỏa, tuyên bố khẩn cấp… Sự đình trệ diễn ra ở cấp độ toàn cầu. Cuộc chiến này, khác hoàn toàn với các chiến tranh nhỏ lẻ, quốc gia hay khu vực, khi mà bom rơi nơi này thì nơi kia vẫn sáng đèn màu mê hoặc, những tiếng súng vang ở khu vực này là cơ hội cho công nghệ và kinh tế khu vực khác cất cánh… Cuộc chiến này đẩy tất cả quốc gia vào trạng thái chiến đấu. mỗi cá nhân đều cảm nhận rõ hơi lạnh của thời cuộc khó khăn, của đe dọa kiệt quệ sức khỏe phả ra gần tóc mai, ngay sau lớp lông tơ ở gáy. Không ai là kẻ đứng ngoài cuộc, đứng trên, phè phỡn nổi với cuộc chiến này.
Như mọi cuộc chiến, rồi cũng sẽ tàn, cuộc chiến này đang được dự báo sẽ tàn nhanh khi sự đương cự của nhân loại bằng khoa học, y học diễn ra mạnh mẽ. Nhưng cũng như mọi cuộc chiến mang tính toàn cầu, sau khi ngã ngũ, thế giới trước cuộc chiến ấy sẽ không còn. Những phân chia lại quyền lực, các phe phái, ấm lạnh quan hệ các quốc gia, sự nhìn nhận sức mạnh các quốc gia, sức mạnh mềm, biện pháp cứng… gì gì đó sẽ khiến thế giới khác đi sau mỗi cuộc chiến. Có lẽ đó là điều mỗi người sẽ tự vẽ lên lúc này, và từ đó định hướng các hành động của mình khi “chiến cuộc virus tàn”. Nói như Võ Phiến là “hòa bình nghĩ gì làm gì?”. Có thể tích cực hơn, xông xáo hơn tìm kiếm các thị trường mới, công nghệ mới, lao mình vào cuộc chảy mới đang được vẽ ra sau chặng chảy chậm lại bởi chiến tranh virus. Có thể tĩnh lặng hơn, bớt nhu cầu, bớt tiện nghi, sống chậm và sâu hơn, dành thời gian cho những việc cụ thể của bản thân, những đẹp đẽ mà trước cuộc chiến này ta không thấy. Lựa chọn nào cũng được, vì rằng, dù gì, thế giới đã không còn như cũ nữa, mỗi lựa chọn sẽ là dành cho thế giới mới.
Nhưng những ngày này, đã có những người bơ vơ trong lựa chọn, những công nhân không còn việc từ sau Tết, những người giúp việc nhà không còn người thuê, những chị lượm ve chai thở dài “Sao không còn ai bỏ cái gì bán được”. Và những nông dân nhìn lúa chết khô, những trẻ em không dám xối cho đầy gáo nước khi tắm, trong cằn cỗi hạn mặn miền Tây, rồi miền Trung, và còn nhiều vùng khác đang dần bị đe dọa. Dù có muốn làm gì trong thế giới mới khi thắng được virus này, xin cũng để chút nghĩ về họ, thậm chí ngay trong lúc này khi còn đang chiến đấu. Những người nghèo khổ nhất là những nạn nhân trước nhất của mỗi cuộc chiến, kể cả cuộc chiến chống lại bệnh tật. Những người nghèo sẽ là đơn vị bị thiệt hại nặng nề nhất trong cuộc chiến này, thiệt hại của họ, từ đó sẽ gây ảnh hưởng lên toàn bộ an sinh, an toàn xã hội. Tìm kiếm những giải pháp đảm bảo an sinh trong thời điểm này cho những người dễ tổn thương cũng cấp bách như lập các tiền đồn trấn giữ và đẩy lùi bệnh tật.
Một điều nữa, có lẽ nhân loại, sau trận dịch bệnh này, sẽ hiểu rằng, ý tưởng về chiến tranh sinh học là ý tưởng xuẩn ngốc nhất trong việc cạnh tranh với nhau, không kẻ nào là kẻ an toàn nếu cuộc chiến ấy xảy ra, kể cả kẻ truyền tấn công.
19/3/2020
Trần Vương Thuấn
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
 

Nhận diện thêm một góc của đời qua thơ Bùi Phan Thảo

Nhận diện thêm một góc
của đời qua thơ Bùi Phan Thảo

Một thái độ dấn thân cần thiết của người nghệ sĩ: “lấy máu mà đốt”, “cạn bấc tim”. Thơ ta nhiều năm nay thiếu vắng tiếng nói của những khát vọng lớn. Bùi Phan Thảo đã hình tượng hóa khát vọng khá sinh động mà không bị “lên gân” và còn đạt mong muốn “sáng được đôi điều”. Một sự điềm tĩnh của trải nghiệm khiến câu thơ có chiều sâu tư tưởng.
Nhà thơ Bùi Phan Thảo
Dấu ấn nghề báo trong thơ Bùi Phan Thảo thấy rõ ở những bài thuộc các đề tài về sự kiện xã hội và các chuyến đi. Bài “Ba tấm ảnh” nói về một quan chức: trong phòng làm việc của ông treo hai tấm ảnh lớn: khởi công và cắt băng khánh thành công trình. Riêng tấm ảnh thứ ba: “Ngày công an đến đưa ông đi… hôm sau tràn đầy các trang báo”. Anh sử dụng thủ pháp nghệ thuật tương phản và đối lập rất khá nhưng vẫn rõ chất thông tấn (Bùi Phan Thảo hiện làm việc tại Báo Người Lao Động, Hội viên Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh). Đến bài  “Điệu ru buồn của phố” thì đã khác nhiều:
Đêm tôi rời Ban Mê chỉ có những vì sao tiễn đưa
và đám mây sũng nước.
Tác nghiệp của nhà báo trên những miền xa xôi, đến và đi đâu có cần người đón và đưa nhưng các anh vẫn có “những vì sao tiễn đưa và đám mây sũng nước” thì đã thấy chất thơ lấp lánh trên trang viết. Nội dung thì vẫn là thông tin bình thường: “tôi rời Ban Mê lúc nửa đêm, trời sắp mưa to”. Mới biết thơ và không thơ chỉ cách nhau “bằng sợi tóc” nhưng vượt qua khoảng cánh này là cả một thách đố ghê gớm và thực tế cho thấy nhiều người không vượt được. Các nhà báo làm thơ có thuận lợi nhưng cũng có những khó khăn không nhỏ.
Cũng trong bài thơ trên, Bùi Phan Thảo có câu rất thơ:
Sợi tóc bay về phía hồ xa trắng cả màu chiều
Chất thơ ẩn hiện suy tưởng và siêu thực. Có một thời siêu thực bị “kết tội” nặng nề nhưng thực ra siêu thực là sự phát triển ở tầm cao của hiện thực. Nếu hiện thực là gốc rễ thì siêu thực là phấn hương… Thơ Bùi Phan Thảo nhiều bài hài hòa được hai mặt này, một nỗ lực rất đáng hoan nghênh.
Trong bài “Guitar 2”:
Nhặt thời gian rơi vãi
gom về cho mai sau
đo buổi chiều bằng ngón tay đau
rải thanh âm gọi đêm về tĩnh tại
“Đo buổi chiều” thì trừu tượng, “ngón tay đau” thì cụ thể. Một sự kết hợp tinh tế và rất hiệu quả. Lại nhớ “Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay” (Kiều – Nguyễn Du), đau hơn nhiều. Thơ Bùi Phan Thảo đổi mới mạnh mẽ nhưng rất có ý thức trong sự tiếp nối các giá trị truyền thống.
Tôi không đốn cây hoài nghi
mặc nó bên đời
bên những đóa hoa chân thật.
(Bên cây hoài nghi)
Hoài nghi và chân thật là hai khái niệm trừu tượng nhưng tác giả hình tượng hóa bằng cây và hoa thì bỗng dưng chúng có hình khối màu sắc, sống động lạ lùng. Nhưng điều này còn đáng quý hơn, ấy là thấp thoáng một triết lý đời sống đáng suy ngẫm: tôn trọng sự chân thật nhưng đừng ngại hoài nghi phản biện, cả hai mặt đều cần thiết cho cuộc đời.
Quan sát đời sống là công việc quan trọng nhất của người cầm bút:
Anh nhận diện thêm một góc của đời
con xúc xắc may rủi.
(Guitar 3)
Vâng, “nhận diện thêm một góc của đời”, một góc hay nhiều góc càng tốt. Lâu nay nhiều người vẫn kêu là thơ ta thiếu chất đời sống mà thừa chất hoang tưởng hão huyền. Rất mong các nhà báo nhà thơ đi nhiều, quan sát nhiều hãy đưa vào trang viết nhiều chất liệu của đời sống ngoài kia đang rùng rùng chuyển động, sục sôi từng phút từng giờ.
Và hình như trong cái chén úp con xúc xắc may rủi kia lại chỉ có bóng đêm và  ảo tưởng:
Đêm
han rỉ tế bào
mục ruỗng suy tưởng.
(Đêm gạt tàn đầy)
Ảo tưởng hay hoang tưởng, đôi khi điểm xuyết chút xíu cho cuộc sống thêm gia vị, nhưng để nó trở thành căn bệnh thì sẽ hỏng từ tế bào cho đến suy tưởng. Nhà thơ cảnh báo như thế cũng là cần thiết chăng? Thủ pháp nghệ thuật cụ thể hóa cái trừu tượng và ngược lại cùng những kết hợp từ mới lạ độc đáo kiểu như “han rỉ tế bào”… thường được Bùi Phan Thảo sử dụng khá nhiều và tạo nên những hiệu ứng thẩm mỹ thú vị.
Gió từ đất sâu âm u
vì sao tắt ngúm
lấy máu mà đốt lên cho ấm
cạn bấc tim cũng sáng được đôi điều.
(Ngã)
Một thái độ dấn thân cần thiết của người nghệ sĩ: “lấy máu mà đốt”, “cạn bấc tim”. Thơ ta nhiều năm nay thiếu vắng tiếng nói của những khát vọng lớn. Bùi Phan Thảo đã hình tượng hóa khát vọng khá sinh động mà không bị “lên gân” và còn đạt mong muốn “sáng được đôi điều”. Một sự điềm tĩnh của trải nghiệm khiến câu thơ có chiều sâu tư tưởng.
Mở đầu bài “Xanh suốt thiên thu” Bùi Phan Thảo có câu thơ khá gần với cách ngôn:
Ngày cứ mới
nên tình rồi cũng cũ
trong mắt người đã dựng một non cao
Ý thơ không mới nhưng một sự đúc kết vào thơ như thế hơi bị hiếm nên đọc vẫn thấy lý thú nhất là dòng thơ thứ ba, anh dùng hình ảnh “non cao” trong mắt khá ấn tượng.
Vẫn cảm hứng ấy, ở một bài khác:
Nếu vực sâu không vọng lại tiếng chim đập cánh
không còn lời nguyền trên phiến đá xanh.
(Viết từ thị trấn trong cơn mê sảng)
“Lời nguyền trên phiến đá” thì hơi cũ, nhưng “tiếng chim đập cánh vọng từ dưới vực sâu” thì mới. Chi tiết nghịch lý này khiến câu thơ đa tầng đa nghĩa khá mới lạ. Nói chung, muốn có được chút thành quả sáng tạo, người viết phải tìm tòi khám phá khổ công tu luyện nhiều lắm, dễ dãi buông xuôi là thơ bị non lép xanh xao èo uột ngay.
Trong bài “Có thể, một ngày”, một bài thơ hơi khó hiểu nhưng dư âm:
Nhưng anh sẽ không chờ những giấc mơ
anh chỉ chờ người đến bên chiếc ghế phía sau tay phải
dán dấu niêm phong một thánh đường
và chôn chiếc chìa khóa nhỏ xuống dưới đất sâu.
Có giấc mơ, có người vắng mặt, có thánh đường, có chìa khóa chôn dưới đất sâu… nhưng để nói lên điều gì? Câu hỏi này đặt ra hình như vô nghĩa với thơ. Hãy cứ thưởng thức vẻ đẹp của thơ cái đã, chuyện khác tính sau, như xem tranh trừu tượng, nghe nhạc không lời vậy. Đừng bắt thơ phải giải đáp tất cả… Có phải thế chăng?
Tương tự như thế ở bài “Vết xước”:
Quờ tìm viên thuốc giấu trong ký ức
dỗ dành chiêm bao
những viên sỏi không chịu vụn vỡ
đủ làm đau một vết chai.
Những ẩn dụ: viên thuốc, viên sỏi, vết chai… chả xa lạ gì trong đời sống thường nhật và thực ra đoạn thơ cũng không khó hiểu lắm đâu, chỉ có điều mình quen đọc mãi thơ dễ hiểu mà thôi. Nghệ thuật nói chung, nhất là thơ cần đa dạng, phong phú, tránh đơn điệu.
Thơ Bùi Phan Thảo thuộc loại kén độc giả, tinh ý một chút sẽ bắt gặp nhiều khúc thơ khá và hay. Đôi khi anh cũng mạo hiểm, đi xa hơn vào cõi huyền bí hư vô:
Thò tay mượn đỡ vì sao
soi đọc lâm râm một hàng mộ chí…
Tôi dùng chữ mạo hiểm e chưa thỏa đáng nhưng trong lĩnh vực nghệ thuật, từ một hệ quy chiếu nào đấy, mạo hiểm là một “giải cứu” cho sáng tạo, nó kích hoạt sự tìm tòi khám phá làm nên những sản phẩm nghệ thuật độc đáo chưa từng có. Tôi thuộc lòng và rất thích đoạn văn ở sách giáo khoa từ hồi tiểu học: “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông. Xưa nay những đấng anh hùng làm nên nghiệp lớn cũng nhờ có gan mạo hiểm…”
Đọc thơ Bùi Phan Thảo hơi mệt, có cảm giác như lạc vào khu rừng thâm u, nhiều khi hoang mang không biết đâu là lối chính lối phụ, rất dễ lạc đường. Bù lại đôi khi gặp những bất ngờ thú vị, đó là những câu thơ, đoạn thơ hay, bỗng dưng cái sự “mệt” kia tan biến ngay. Một số dẫn chứng trên đây đã đủ minh chứng cho điều này chưa nhỉ? Hình như thơ đương đại, hậu hiện đại bây giờ có chung dạng thức như vậy!
Nhưng thà mệt như thế còn hơn là đọc những bài thơ giản đơn toàn những lối mòn đến nhàm chán. Có phải vì thế không mà thi đàn ta rơi vào tình trạng bị độc giả thờ ơ quay lưng lại từ vài chục năm nay? Hy vọng Bùi Phan Thảo và các bạn làm thơ trẻ khác khắc phục mặt yếu này để góp phần tạo nên những mới mẻ khởi sắc cho thơ ca của chúng ta hiện đang bị trì trệ. Và tất nhiên là loại thơ khó hiểu kiểu “đánh đố, tắc tị” không có trong danh mục này.
N.V.T
 
19/3/2020
Nguyễn Vũ Tiềm
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
 
 

Dạ cổ hoài lang - Bài ca vua vọng cổ của Cao Văn Lầu

Dạ cổ hoài lang - Bài ca vua
vọng cổ của Cao Văn Lầu

Trong lịch sử ca nhạc sân khấu ở phương nam, sự xuất hiện của bản Vọng cổ trong dòng nhạc cải lương thực sự đã đem lại một luồng sinh khí mới có thể coi là một cuộc cách mạng lớn trong nghệ thuật đờn ca tài tử, làm thay đổi bộ mặt âm nhạc truyền thống dân tộc.
Khán giả mê ánh đèn màu lấp lánh trước cánh màn nhung, trong hai thập niên 50 và 60 của thế kỷ trước vốn được coi là thời đại hoàng kim của cải lương, chắc hẵn sẽ không bao giờ quên được không khí hoạt động vô cùng sôi nổi của các gánh hát và giới nghệ sĩ cải lương lúc bấy giờ. Trong những đêm hát ở rạp Nguyễn Văn Hảo, đường Trần Hưng Đạo, cứ mỗi lần trên sân khấu, những danh ca như: Út Trà Ôn (1919-2001), Minh Cảnh (sinh năm 1938), Thanh Nga (1942-1978), Phượng Liên (sinh 1947)… sau khi hò, hát điệu lý, nói lối vài câu hoặc hát một bản ngắn như: Thủ phong nguyệt, Kiều nương hay Hoài tình… rồi dứt tiếng hò… ngọt ngào, muồi mẫn ở cuối câu, mở đầu bản vọng cổ, nghe rất đã tai, là cả một rừng pháo tay của khán giả nổ dòn dã, dậy cả hí trường. Và tiếp ngay sau đó là những tờ giấy bạc của người mộ điệu hào phóng, đua nhau được tới tắp bay lên sân khấu, để tặng thưởng cho nghệ sĩ vừa bắt đầu bài ca vua, không khác gì đàn bướm lượn. Sức hấp dẫn và lôi cuốn đến độ cuồng nhiệt của bản vọng cổ mà tiền thân là bài Dạ cổ hoài lang, của Cao Văn Lầu, thật vô cùng ấn tượng.
Nghệ sĩ Cao Văn Lầu (1892-1976), còn gọi Sáu Lầu – vì là con thứ 6 trong gia đình – sinh ra tại xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An. Cha của Cao Văn Lầu là Cao Văn Giỏi, (Chín Giỏi), mẹ là Thạch Thị Tài là những nông dân hiền lành, lam lũ Xuất thân từ một thành phần lao động nghèo khó vì bị áp bức, bóc lột bởi bọn cường hào ác bá, tay chân của thực dân, mới lên 4 tuổi (1896), cha của Sáu Lầu mang cả gia đình gồm vợ và 6 con, tìm nơi khác sinh sống. Tha phương cầu thực đến tận Bạc Liêu, buổi đầu, ông Chín Giỏi đến tá túc trên đất của một người bà con ở Gia Hội (Bạc Liêu). Sau 9 tháng đi làm mướn cật lực mà không đủ ăn, gia đình ông lại phải dời sang Xà Phiên (nay thuộc quận Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang), khẩn hoang làm ruộng. Chỉ một năm sau, hơn 40 công đất có được do công lao khó nhọc, bị chúa đất tìm cách chiếm đoạt. Được người thương tình giúp đỡ và giới thiệu, gia đình ông Chín Giỏi dọn về Họng Chàng Bè (Giá Rai, Bạc Liêu) tiếp tục khẩn hoang nhưng rốt cuộc số đất này cũng về tay người khác.
Thương cảnh lận đận, trắng tay của ông Chín Giỏi, hương sư Chơn ở làng Vĩnh Lợi, tổng Thạnh Hóa (Bạc Liêu), cho ông cất một căn chòi lá trên đất công điền, gần chùa Vĩnh Phước An (nay thuộc phường 2, thị xã Bạc Liêu). Nơi đó, vợ chồng ông Chín Giỏi và các con hàng ngày phải khổ sở đi làm mướn, đi câu, chạy gạo lo ăn từng bữa. Thấy vậy, hòa thượng Minh Bảo (? – 1912) trụ trì chùa Vĩnh Phước An thông cảm, tìm cách giúp đỡ gia đình ông đang trong cảnh ngặt nghèo. Vị Hòa thượng giàu lòng nhân ái đề nghị với ông Chín Giỏi cho Cao Văn Lầu, khi đó mới lên 8 tuổi, vào chùa ở để chia sẻ gánh nặng với gia đình ông Chín. Kể từ đó, chú bé Sáu Lầu, vừa làm công việc đánh nhờ trống dọng chuông, vừa đọc kinh kệ lại được nhà sư dạy cho chữ Nho.
Đến năm 1903, ông Chín Giỏi nhớ thương và lo lắng cho tương lai của con trai, đến xin hòa thượng Minh Bảo cho Cao Văn Lầu được trở về nhà để đi học chữ Quốc ngữ. Nhưng chỉ học đến “lớp Nhì năm thứ hai” (Cours Moyen 2e Année) tức lớp 4 ngày nay, Cao Văn Lầu phải nghỉ học vì nhà lại gặp cảnh khó khăn đơn chiếc: anh đi ở rể, chị phải theo chồng và cha mẹ già yếu, nay ốm mai đau. Như vậy là, năm 17 tuổi (1907), Cao Văn Lầu đã phải thay cha và anh chị, đi tìm công việc làm mướn để nuôi cả gia đình. Lúc bấy giờ, tại xóm Rạch Ông Bổn, có một thầy đàn nổi tiếng tên Lê Tài Khí, thường gọi Hai Khị hay Nhạc Khị, gốc người Minh hương. Cha của Nhạc Khị là một thầy đờn kiêm luôn bầu Hát bội, thường được gọi là Bầu An, có một gánh hát. Nhạc Khị từ nhỏ thân thể ốm yếu, bị bệnh mù cả hai mắt, lại thêm hai chân bị liệt. Bầu An thấy con tàn tật, ra sức truyền nghề lại cho con.
Chỉ vài năm sau, Hai Khị đã trở thành một nhạc sĩ lừng danh, một mình chơi thông thạo được nhiều loại đàn, và trống, kèn. Độc đáo nhất là cùng một lúc mà Hai Khị vẫn chơi được nhiều thứ nhạc cụ chẳng thua gì một quái kiệt. Ngón đàn điêu luyện – trong nhạc tài tử và nhạc lễ – làm ông nổi tiếng không chỉ ở Bạc Liêu mà khắp cả Nam kỳ lục tỉnh. Con của Hai Khị là Lê Văn Chột (Ba Chột) và rể là Trịnh Thiên Tư  cũng đều giỏi cổ nhạc như ông. Học giả Vương Hồng Sển (1902-1996) trong cuốn Hồi ký 50 năm mê hát, năm mươi năm cải lương của ông đã nhắc lại: “Ông Hai Khị đau cổ xạ, hai ngón tay co rút và ngo ngoe rất khó. Thế mà ông có tài nhạc riêng, không ai bắt chước được. Ai muốn thử tài đàn, cứ đến nhà ông ”.
Nhạc sĩ Cao Văn Lầu.
Bẩm sinh vốn mê nhạc, năm 16 tuổi (1908), nghe danh Hai Khị, Cao Văn Lầu nhờ cha dẫn đến thầy Hai Khị để tranh thủ thì giờ, xin học đàn mỗi đêm vì ban ngày phải đi làm mướn. Nhờ đam mê và siêng năng, tính tình hiền lành, được thầy thương, nên khoảng  bốn năm sau, Cao Văn Lầu đã nhanh chóng sử dụng thành thạo các nhạc cụ như: đàn tranh, cò, kìm, trống lể và trở thành một nhạc sĩ nòng cốt trong ban cổ nhạc của thầy. Trong buổi Hội Lễ nhạc tài tử Bạc Liêu do hương sư Chơn đứng ra tổ chức nhằm mục đích thi tài giữa ban nhạc các tỉnh tại Bạc Liêu, Cao Văn Lầu được thầy Khị cho phép chỉ huy Ban nhạc của thầy, điều khiển thành công rực rỡ khiến người xem nhiệt liệt tán thưởng. Năm 20 tuổi (1912), Cao Văn Lầu bắt đầu đi hát với Sáu Thìn và cô Phấn bài Tứ đại oán Bùi Kiệm thi rớt.
Trong những năm học đàn tại nhà Thầy Khị, Sáu Lầu đem lòng yêu cô Hai Thân (còn gọi là Hai Sang), trưởng nữ của Thầy. Cô Hai Thân cũng dành tình cảm đặc biệt cho chàng thanh niên học trò tài hoa giỏi nhạc của cha mình, thể hiện trong mỗi khi hai người có dịp gặp nhau. Nhưng Cao Văn Lầu mặc cảm gia đình mình quá nghèo nên không dám mở lời với cô Hai. Tuổi ngày một lớn, cô Hai phải lấy chồng khi có người đến cầu hôn. Hôm lễ cưới cô Hai, Ban Nhạc Bạc Liêu do Cao Văn Lầu thay thầy điều khiển, đã chơi một đêm khiến những người đến dự phải nhớ đời.
Tiếng đàn tranh điêu luyện, chứa đựng tâm sự thầm kín, réo rắt bổng trầm, từ những ngón tay rỉ máu, dặt dìu uyển chuyển như than như oán của chàng nhạc sĩ tài danh Cao Văn Lầu, đã làm ngây ngất bao người, và cũng âm thầm lay động không ít đến trái tim của người đẹp sắp sửa lên xe hoa vào sáng hôm sau! Năm 21 tuổi (1913), Cao Văn Lầu sáng tác được một bản ngắn có tên: Bá điểu (sau đổi tên là Thu phong, gồm tám câu, nhịp 4. Về sau, bản nhạc này được soạn giả Trịnh Thiên Tư đặt thêm lời ca và đổi thành tên mới là Mừng khi gặp bạn.
Năm 1917, Cao Văn Lầu sáng tác thêm một một khúc gồm 22 câu theo một chủ đề của thầy Nhạc Khị đề xướng “Chinh phụ vọng chinh phu” mà nội dung dực vào bản Nam ai “Tô Huệ chức cẩm hồi văn”. Cũng trong năm này, vâng lệnh cha mẹ, Cao Văn Lầu đi cưới vợ, cô Trần Thị Tấn, một cô gái nết na hiền lành đang ở đợ cho chủ điền Tư Ô (Chung Bá Khánh). Một cơ hội để Cao Văn Lầu tạm quên đi một mối tình câm đầu đời không vẹn. Nhưng cũng chính người vợ do cha mẹ sắp đặt này đã làm cho tên tuổi Cao Văn Lầu mãi sáng chói và trở thành bất tử trong nền âm nhạc tài tử cải lương với bản Dạ cổ hoài lang.
Do gia đình nghèo, phải vay mượn tiền bạc để cưới vợ cho con, nên đã lâm cảnh nợ nần, ông Chín Giỏi phải xoay trở bằng cách đi xuống vùng Họng Chàng Bè (thuộc xã Định Thành, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu) để khai phá đất rừng làm ruộng. Nhưng Bạc Liêu, Cà Mau thuộc vùng nước mặn, đất bị nhiễm phèn, cọng thêm sự phá hoại nặng nề của loài chim, chuột, sâu rầy nên việc làm ruộng của ông Chín Giỏi cũng không khá lên được. Cuối cùng ông bà Chín Giỏi phải trở về Bạc Liêu, làm công việc mò ốc, bắt cua và giao lại miếng đất mới khai thác cho vợ chồng Sáu Lầu. Nhưng chưa quen làm ruộng, nên không phát triển được nghề nông, chỉ mới làm được một mùa, miếng đất của Sáu Lầu đành để rơi vào tay chủ điền Trần Trinh Trạch – cha của Hắc công tử Trần Trinh Huy, còn gọi là Công tử Bạc Liêu. Nhưng cái đau mất đất không bằng nỗi đau phải thôi vợ (còn gọi là để vợ hay trả vợ) của Sáu Lầu.
Sau khi hai vợ chồng ở với nhau được hơn 4 năm, Trần Thị Tấn vẫn không cho ông bà Chín Giỏi một đứa cháu nội nào dù là trai hay gái. Trong khi cha mẹ chồng mong vợ chồng Sáu Lầu có con để nối dõi tông đường để tránh khỏi phải đi vào con đường tuyệt tự ở đứa con mà gia đình cực khổ nuôi dưỡng và đầu tư công sức lo cho ăn học và đã thành danh. Cô dâu Trần Thị Tấn vô tình đã không làm tròn thiên chức của người vợ, người mẹ và luôn cả đứa con dâu trong gia đình. Khổ đau, trăn trở giữa hoàn cảnh éo le bên tình bên hiếu, Sáu Lầu phải nghe theo cha mẹ xa người vợ tào khang, gian khổ với mình đã nhiều năm qua dù trong lòng ông vẫn không quên câu nói về nghĩa tình vợ chồng sâu nặng của người xưa “Nhất dạ phu thê, bá dạ ân” (tình chồng vợ một đêm cũng nặng nghĩa trăm năm).
Ngày xưa, vợ chồng ăn ở với nhau không có con, nguyên nhân dẫn đến tuyệt tự đều đỗ lỗi cho người đàn bà chứ không do người đàn ông! Ngày nay, sự tiến bộ của y học đã khẳng định sự cố ấy xuất phát từ một trong hai người như trường hợp của Cao Văn Lầu. Dù thương vợ rất nhiều, sau hơn bốn năm chăn gối, Cao Văn Lầu vẫn phải vâng lời cha mẹ. Ông bà Chín Giỏi quyết định đem nàng dâu Trần Thị Tấn trả về cho nhà gái, khiến vợ chồng ông phải đau đớn chịu cảnh phân ly. Hằng đêm, Cao Văn Lầu một mình thao thức, âu sầu đếm từng tiếng trống điểm canh, đầu óc luôn nghĩ về người vợ khổ đau đang ở cách đó không xa mà sao như cảnh én bắc nhạn nam. Cao Văn Lầu tư tưởng rằng trong không gian tiếng trống này, vợ mình cũng nghe được và đang âm thầm đau khổ nhớ chồng! Cao Văn Lầu mường tượng ra hoàn cảnh, tâm trạng vợ mình bây giờ chẳng khác nào một chinh phụ, đang mỏi mòn đêm đêm trông ngóng tin chồng nơi biên ải xa xôi.
Lòng người chinh phụ lúc nào cũng mong cho người chinh phụ được bình an và thiết tha ước nguyện cảnh chồng vợ sum vầy. Khoảng một năm sau (1918), trong tâm trạng thương nhớ vợ, bản nhạc trên được đem ra soạn lại. Nghe lời bạn đồng môn Ba Chột, ông bỏ bớt hai câu trùng lặp, bản nhạc còn chẵn 20 câu nhịp đôi. Đúng và Tết Trung Thu năm Mậu Ngọ (nhằm ngày 19/9/1918 dương lịch), Cao Văn Lầu cùng các bạn đến thăm thầy, trình bản nhạc chưa có tên cho thầy xem và thầy Nhạc Khị hết sức khen ngợi. Nhân đêm đó có nhà sư Nguyệt Chiếu cùng có mặt, thầy nhạc Khị nhờ nhà sư đặt tên cho bản nhạc. Nhà sư nói: “Tuy nhạc và lời còn vài chỗ chưa khớp, nhưng nhìn chung bài ca vẫn diễn tả được tâm tư của nàng Tô Huệ”.
Vậy cứ theo sự tích này mà đặt tên cho bài ca là “Dạ cổ hoài lang”, có nghĩa là: Nghe tiếng trống đêm, nhớ chồng. Kể từ hôm đó, bài ca này được loan truyền nhanh chóng vì tính cách nghệ thuật mới lạ và nội dung cảm động của bài ca. Thế là bao nỗi khắc khoải ở ông như một chàng chinh phu, cộng với tâm tư đau đáu ở người vợ hiền xa cách mà ông tưởng tượng ra, đã bật dậy lên như triều sóng tình cảm miên man vô bờ, khiến Cao Văn Lầu nhả ra thành vần điệu, thanh âm não nùng trong từng nốt nhạc của bản Dạ cổ hoài lang, mà về sau, qua thời gian, đã trở thành bản Vọng cổ, bài ca tài tử ấn tượng của nhạc cổ và là bài ca vua của sân khấu cải lương. Đến năm 1919, Cao Văn Lầu làm nhạc công cho gánh hát cải lương của Ba Xú (Bạc Liêu).
Như vậy, thời điểm khai sinh ra bản Dạ cổ hoài lang là năm 1919. Trước tiên, bài ca được sáng tác trong 20 câu, nhịp hai (hay hai nhịp). Sau khi phát triển thành nhịp tư, được trình bày đầu tiên vào năm 1921, trên sân khấu cải lương Tập Ích Ban của ông bầu Tư Chơi, tức Huỳnh Thủ Trung (sinh năm 1906) thành nhịp tám trên sân khấu Tái Đồng Ban vào năm 1922. Nghệ sĩ Lư Hòa Nghĩa (Năm Nghĩa, 1911-1959), ông bầu của đoàn Cải lương Thanh Minh (sau này là Thanh Minh – Thanh Nga), đã đưa bản nhạc cổ này lên thành nhịp 16 với tên mới là Vọng cổ Bạc Liêu vào năm 1936.
Một bước tiến quan trọng của bản Vọng cổ cải biên là từ nhịp 16 của Mộng Vân với 20 câu, lên nhịp 32 rút lại còn 6 câu của Trần Tấn Hưng. Sự kiện xảy ra vào ngày 12/08/1941 trong ngày giỗ tổ Cải lương tại Bạc Liêu. Được phép của thầy Nhạc Khị và nhạc trưởng Sáu Lầu, Năm Nhỏ (Trần Tấn Hưng) đã độc tấu bằng đàn guitar phím lõm bản Vọng cổ nhịp 32 do ông cải biên và được sự nhuận sắc của Cao Văn Lầu. Khoảng đầu năm 1951, nghệ sĩ Nguyễn Thành Út  (Út Trà Ôn- 1919-2001) đã biến thành bản Vọng cổ nhịp 32. Và sau cùng là nhịp 64 cải tiến của Lý Khi mà đa phần nghệ sĩ cải lương hiện nay vẫn còn hát.
Nhớ lại, từ ngày bị trả về nhà cha mẹ ruột, bà Trần Thị Tấn đau khổ nhớ chồng, ngày đêm quên ăn, biếng ngủ, ngồi đâu khóc đó ngay cả những lúc đang làm công việc, khiến thân thể ngày càng tiều tụy héo mòn. Trước thảm cảnh này, mẹ vợ Sáu Lầu liên lạc cùng ông, đưa vợ đến ở nhờ nhà ông Chín Đại để vợ chồng có thể gặp nhau vào những khi có cơ hội thuận tiện. Nhưng gởi vợ ở lâu một chỗ sợ bị cha mẹ mình phát giác, Sáu Lầu lại gởi vợ sang ở nhờ nhà bà Ba Xịu, một nơi khuất xa, trẹo đường, không sợ cha mẹ mình biết. Hơn một năm sau, người vợ khổ đau đó đã cho chồng biết là mình đã có mang. Thế là nàng dâu được mẹ chồng rước về nhà ông Chín Giỏi để vợ chồng Sáu Lầu được tái hợp và sống mãi với nhau suốt đời. (Tại đây, nàng hạ sinh cho chồng một cậu con trai đầu lòng trong số bảy đứa con: năm trai và hai gái của ông bà sau này).
Cách mạng tháng Tám thành công, cũng như nhiều văn nghệ sĩ yêu nước khác, Cao Văn Lầu tham gia Mặt trận Liên Việt tại ấp Vĩnh Phước, xã Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Năm 1947, Cao Văn Lầu nhận nhiệm vụ đặc biệt, rất quan trọng là cứu một số cán bộ tử tù bị thực dân Pháp bắt còn đang giam giữ trong ngục. Để giải cứu các chiến sĩ cách mạng, nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã nghĩ ra cách tổ chức một buổi đờn ca tài tử ở gần trại giam. Lòng nôn nao làm sao phải giải thoát cho kỳ được các chiến sĩ yêu nước trong lao tù, chỉ còn chờ ngày ra máy chém, đêm hôm đó, Cao Văn Lầu cùng các bạn đã đem hết tâm huyết và nghệ thuật để chơi xuất thần một buổi văn nghệ như chưa từng có, trong đó có bản Dạ cổ hoài lang.
Trước mũi súng của kẻ thù, tỏ ra bình thản sử dụng tùy lúc đàn tranh ru hồn và trống ta dòn dã để làm cho kẻ thù ngây ngất lắng nghe, đồng thời cũng tạo được âm thanh và bối cảnh thuận lợi cho hiện trường bí mật của đội cảm tử đang âm thầm hoạt động trong đêm. Không mấy chốc, các chiến sĩ đặc công quyết tử quả cảm, đã an toàn lọt vào trại giam, giải cứu thành công toàn bộ cán bộ và chiến sĩ cách mạng sắp phải chịu án tử hình. Sau đó, để tránh bị bại lộ, Cao Văn Lầu hòa mình dòng sinh hoạt ca nhạc đó dây bằng vỏ bọc của một chàng nhạc sĩ lãng tử giang hồ.
Đánh giá bản Dạ cổ hoài lang mà hậu duệ là bài ca vua Vọng cổ sau này, Chủ tịch Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh đã có ý kiến: Dạ cổ hoài lang là “một báu vật của nền âm nhạc cải lương Nam bộ”. Năm 1938, nhạc sư Vĩnh Bảo (1918-2015), người nghệ sĩ cao niên nổi tiếng về âm nhạc dân tộc, đã đàn cho cô Năm Cần Thơ (1917-2007) hát bài Dạ cổ hoài lang, nói: “Tôi đã từng gặp ông Cao Văn Lầu, tác giả của bản Dạ cổ hoài lang và thấy ông ấy là một con người rất giản dị…, ông học hỏi được rất nhiều giá trị âm nhạc từ kho tàng cổ nhạc của dân tộc mà viết nên tác phẩm ấy”.
GS.TS. Trần Văn Khê khẳng định: “Trong cổ nhạc Việt Nam, chưa có bài bản nào được như “Dạ cổ hoài lang” đã biến thành Vọng cổ. Từ một sáng tác cá nhân đã biến thành sáng tác tập thể,… sẽ còn sống mãi trong lòng người Việt”. Với tinh thần thiết tha yêu nghệ thuật và lòng yêu tổ quốc nồng nàn trong suốt cuộc đời, Cao Văn Lầu đã sáng tác và lưu lại cho hậu thế bài ca vua Vọng cổ độc đáo, với giai điệu, âm hưởng tuyệt vời, mang đậm tính nghệ thuật dân tộc và nhân văn sâu sắc. Tôn vinh nhà nghệ sĩ âm nhạc tài hoa có óc sáng tạo đặc biệt, nhà nước đã xếp hạng Khu Lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu tại thành phố Bạc Liêu vào: Di tích lịch sử – Văn hóa quốc gia vào tháng 4 năm 2014. Và cơ quan quốc tế UNESCO cũng ra nghị quyết công nhận Đờn ca tài tử Nam bộ trong đó nổi trội là bài ca Dạ cổ hoài lang tức tiền thân của bản Vọng cổ, bài ca vua sân khấu cải lương – trong số 20 bài tổ: 6 Bắc, 3 Nam, 7 Hạ, 4 Oán – là di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc.
Tương Như
 
19/3/2020
Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
 

Những người thương nhớ dắt nhau đi

Những người thương nhớ dắt nhau đi

Đọc văn khi bắt được cái giọng của nhà văn, sự tiếp nhận văn bản được xem là lý tưởng. Nhà thơ Lê Thanh My đã chọn giọng cho độc giả, khi chị chọn tiêu đề của tập thơ bằng một câu thơ “Những người thương nhớ dắt nhau đi” trong bài thơ “Thức dậy lúc không giờ” (bỏ đi một hư từ “chỉ”).
Bìa tập thơ Những người thương nhớ dắt nhau đi
Tôi đã đọc thơ chị trong một ngày đông mưa phùn, gió bấc, lạnh lẽo của xứ Huế, trong tôi bất ngờ xuất hiện những cuộc đối thoại cùng chị, thi nhân ơi, sao chị viết thơ như đang kể chuyện của nhiều người vậy:
“em nhớ anh/ loanh quanh/ dường như không thoát được/ anh quăng lưới vào ý nghĩ/ trói buộc em/ khi thở cũng thơm mùi khói thuốc/ nhìn mây tưởng tượng bồng bềnh/ ngày xa/ tháng xa/ năm xa… chẵn và lẻ xếp hàng chăn gối/ em sờ quanh có chín mươi chín triệu thiên hà/ miền nào cũng lạ/ con kiến bò loanh quanh/ ừ, có lẽ đã điên vì nhớ” (Nhớ)
Loanh quanh vì nhớ, quẩn quanh vì nhớ, tương tư vì nhớ, điên lên vì nhớ… chỉ có những tình yêu đích thực, tình yêu sâu sắc, tình yêu mộng mơ, tình yêu xa ngái… thì mới có cái cảm xúc da diết, dâng tràn, chân thành và giản dị đến thế. Tôi đã từng đọc câu thơ “nàng nhớ mùi thuốc lá của chồng” (Khỏa thu – Phan Thanh Bình), rồi nhận ra, thì ra khi xa nhau người phụ nữ thường nhớ mùi thuốc lá của chồng – một mùi vị đặc trưng của người đàn ông, cho dù bây giờ người ta đang “tẩy chay” thuốc lá, thì mùi khói thuốc như là cái cớ để nhớ về nhau.
Giọng thủ thỉ, tâm tình của chị đã bày tỏ các cung bậc cảm xúc của tình yêu: nhớ nhung, trông mong, chờ đợi, rồi khắc khoải… “biết ngày xa/ hoang phế sẽ khôn lường/ cuồng dại yêu thương dễ tan thành bọt nước/ làm sao anh biết được/ khi hoàng hôn nhấn chìm nửa bầu trời/ biển của em/ sụt sùi/ khóc” (Biển của em). Có lúc nhà thơ tự vấn: “đã có tì vết nào trong lòng mình chưa?” để rồi nhận ra một điều hiển nhiên, giản dị: “Những câu thơ em viết cứ như đùa/ một ngày nắng sẽ phai/ một ngày gió thổi bay/ còn lại sau cùng/ là vòng tay anh rụt rè nơi bậc cửa” (Đã có tì vết nào trong lòng mình chưa?). Như đốn ngộ, như nhận chân giá trị cuộc đời, những vần thơ của chị đã thức tỉnh biết bao tâm hồn còn đắm đuối trong “bến mê”, hãy nhận chân giá trị của tình yêu mà gìn giữ “vòng tay anh”.
Tứ thơ “đêm qua” trùng điệp trong bài thơ “Hỏi thăm” là điểm nhấn trong suốt bài thơ. “Đêm qua/ con đường bỏ tôi một mình… đêm qua/ ghế đá công viên thức trắng rầu rầu… đêm qua/ tôi nghe những bước chân tìm nhau… đêm qua/ tôi nhớ một người ở tận đâu đâu”… Chị viết như không viết vậy, những câu thơ tràn trên giấy, còn lại suy tưởng chìm sâu. Lấy thời gian đêm qua để đo không gian, đo tâm tưởng. Vẫn lối nói quen thuộc của dân gian, nhưng ngữ liệu thì mới, hiện đại, mang âm hưởng nhộn nhạo của phố phường, tâm tưởng thì chìm sâu vào nỗi nhớ. Tưởng chừng cái tôi đang để chuyện ai, nhưng không, cái tôi ẩn giấu đến tận cùng mới thốt ra: Tôi nhớ một người ở tận đâu đâu – mơ hồ mà đa nghĩa, bởi ai đó chắc đã nhận ra; con đường, ghế đá công viên, bước chân… đã từng có kỉ niệm với ai.
Tôi rất thích tứ trong bài thơ “Ngộ”, 6 câu thơ như kể lể, thở than, rồi bất ngờ hạ một câu kết làm sáng cả bài thơ: “em khâu nỗi nhớ từ chiều qua cho đến hôm nay/ bằng sợi chỉ nôn nao/ bằng thở dài bối rối/ bằng nhịp đồng hồ nông nổi/ ngày dại khờ/ đêm mòn mỏi thở than/ thì ra nhớ nhau đâu có dịu dàng”. Đúng vậy, nhớ nhau đâu chỉ dịu dàng, nôn nao, bồn chồn, nông nổi, vội vàng, như chàng trai trong ca dao thuở xưa vừa “trèo lên” lại lúng túng “bước xuống”: “Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”. Nhưng cái lúng túng của chàng trai trong ca dao là cái lúng túng của thuở ban đầu chưa kịp trao lời để rồi hối tiếc. Còn nỗi nhớ trong bài thơ “Nhớ” là đã từng có kỉ niệm, đã từng dặn dò, chỉ là thời gian quá chậm so với cái nôn nao của lòng người mà thôi, cho nên “nỗi nhớ đâu có dịu dàng”…
Có những vần thơ nhẹ nhàng, êm ái, đọc lên cứ du dương, ru lòng ta nhè nhẹ, ai cũng có một thời tuổi trẻ, ai cũng có một thời mộng mơ, ai cũng có những cái nắm tay thề thốt suốt cuộc đời: “mỗi người bước đi bằng hơi thở của chính mình/ tay nắm chặt để em đừng nghi ngại/ ta chú thích vào tương lai thân ái/ con đường có tên đêm xa…” (Chú thích đêm)
Thơ viết về cõi riêng của tình yêu thật đẹp: “nói gì/ khi ta yêu nhau/ không nói gì/ khi ta yêu nhau/ bóng tối làm lu mờ xác thịt/ lại rực rỡ xúc cảm phần người/ góc nhỏ này của riêng ta thôi/ nhớ nhau ta tự tìm về… ngôi nhà người tình hư hao theo năm tháng nhạt nhòa/ hóa sứ đỏ nở nôn nao một góc/ bao thăng trầm mệt nhọc/ rồi cũng hết trăm năm/ lối thông hành của tim là một con đường hun hút xa xăm/ chờ trong li biệt/ chờ trong da diết/ những dòng tin nhắn như chim bay mỏi cánh/ chẳng có lời nói nào ở ban công/ đêm/ nở lập lòe nụ môi giã biệt” (Góc riêng ta). Những vần thơ tự sự, tâm tình rất nữ tính. Ở góc nhỏ tình yêu người phụ nữ đã tỉ mỉ nhớ lại từng chi tiết nhỏ nhất, đó là nỗi nhớ trong trái tim đã yêu, đang yêu và vẫn còn yêu. Dù “lối thông hành của tim là một con đường hun hút xa xăm”. Ta nói đó là thủy chung. Ta nói đó là chung tình. Ta cũng nói đó là thất tình. Điều ta nhận ra là tình này thật đẹp. Kỷ niệm thật đáng yêu. Bởi tình yêu khi đã đắm say, dâng hiến thì “lại rực rỡ xúc cảm phần người”, nó như tiểu thuyết, mỗi ngày mở ra mỗi trang là nhớ về một kỉ niệm.
“biết làm sao quên/ tiếng chuông vọng vào miền thao thức/ hơi thở gấp truyền qua lồng ngực/ đêm hoang vu trở về// không giờ// dường như tất cả đã ngủ mê/ bóng đèn đường rụt rè bật sáng/ ở giữa lối thông hành lãng mạn/ chỉ những người thương nhớ dắt nhau đi” (Thức dậy lúc không giờ). Cái thao thức của trái tim khao khát yêu thương trở nên đáng yêu bởi có “lối thông hành lãng mạn”; trong cái tĩnh lặng về đêm dường như kí ức và nỗi nhớ cùng ùa về, để trái tim tình yêu nhận ra một điều rất giản dị: “chỉ những người thương nhớ dắt nhau đi”, khi đã trao trái tim thương nhớ cho nhau, dù có xa ngái, cũng chỉ là tạm thời. Nói như ai đó là “tình yêu trong xa cách được ví như ngọn lửa trong gió. Gió thổi tắt những ngọn lửa nhỏ và thổi bùng những ngọn lửa lớn”.
Dường như mỗi sắc màu của nỗi nhớ tình yêu đi vào thơ chị như một câu chuyện kể về một kí ức, một kỉ niệm, với không gian và thời gian đồng hiện. Và rồi, tứ thơ “chỉ khi con tim biết nói lời yêu thương/ hạnh phúc sẽ theo ta đến cuối con đường” như một chân lý hiển hiện trong toàn bộ tập thơ của nhà thơ Lê Thanh My. Một tập thơ không nhiều chỉ với 50 bài, cầm lên tay nhẹ tênh, nhưng chứa đựng sức nặng của một trái tim phụ nữ thi nhân thật chân tình, hồn hậu, chị đã nói thay cho biết bao người phụ nữ đang yêu, đang kháo khát tình yêu, đang đợi chờ, rằng khi yêu thương bằng chính trái tim mình, thì hạnh phúc sẽ mỉm cười.
Đọc thơ của nhà thơ Lê Thanh My, tôi nhận ra giọng thơ của nhà thơ Nam bộ, thủ thỉ, tâm tình, giản dị, chân thành, thẳng thắn khi giải bày các trạng thái cảm xúc của tình yêu… không cố tỏ ra bóng bẩy hay trau chuốt cho cái tôi kiêu hãnh trong tình yêu. Thơ chị như “người đàn bà” kể, câu chuyện kể mỗi ngày làm sáng lên một vùng kí ức, gợi về một vùng kỉ niệm và biết đâu đó cũng là kinh nghiệm riêng cho mỗi người. Con đường tình yêu, chỉ là một hành lang hẹp, nếu ai đó biết nắm tay thật chặt, thật tự tin thì đi đến cuối con đường. Nếu vụng dại, không may hay lỡ lầm thì đó cũng chưa phải là tận cùng, và hãy nhớ “trong lòng người đàn ông/ nụ cười người đàn bà hơn tất cả thế gian”. Bài thơ “Khi con tim biết nói lời yêu thương” với kết cấu đầu cuối tương ứng là sự đúc kết những trải nghiệm của cái tôi thi sĩ trước tình yêu và cuộc đời. Bài thơ thật có giá trị nhân văn cho những ai đã yêu, đang yêu và sẽ yêu.
Đến với tập thơ Những người thương nhớ dắt nhau đi, tôi nhận ra một điều rất giản dị là hãy đọc chậm, đọc kỹ, đọc nhiều lần một văn bản thơ, bởi đặc trưng mơ hồ và đa nghĩa của thơ ca, và cũng bởi lối bày tỏ cảm xúc của nhà thơ từ tốn, chậm rãi… giá trị nhận thức của văn chương chính là ở chỗ giúp ta tự ngộ ra, tự biết thêm về mình, về mọi người; dường như đó cũng là thông điệp của nhà thơ với cuộc sống hối hả hiện nay với những ai có thói quen “bấm” và “lướt” mỗi ngày, nếu chỉ bấm và lướt quá nhanh bạn sẽ không thể cảm nhận hết cái đẹp của tình yêu và cuộc đời bởi vì “ở giữa lối thông hành và lãng mạn/ chỉ những người thương nhớ dắt nhau đi”
Huế ngày 6/1/2019
H.T.T.T
 
19/3/2020
Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
 
 

"Bông hồng vàng" - Bút ký của Châu La Việt

"Bông hồng vàng" - Bút ký
của Châu La Việt

Năm 1971, mặt trận Lào đang chiến dịch “cù kiệt” (trả hận), bom đạn tóa lửa trên trời dưới đất, bỗng một sáng anh Trung Nhân đi giao ban cơ quan Chính trị về, bảo rằng:” Hoài ơi, em chuẩn bị ra Hà nội tham gia trại viết của Tổng cục nhé.”… Thế là chiều tối ấy, khoác ba lô chào anh em ra barie đón xe từ Phunokcok về đèo Đất, bom đạn vẫn cứ ầm ầm xung quanh, rồi đêm sau đón xe từ Đèo Đất về Mường xén, vẫn cứ máy bay bay theo xả hàng loạt đạn bom… Cho đến khi về tới Mường xén thuộc đất mình mới tạm yên ổn, rồi nhảy xe BT 11 từ Mường xén về ga Si đón tàu về Hà Nội…
Nhà thơ Châu La Việt
Phải nói từ mặt trận về trại viết khi ấy cứ như từ địa ngục khét lẹt đan bom về thiên đường. Trại viết ở tại công trường 800 (Nay là đường Hoàng Quốc Việt), cùng với đoàn chèo Tổng cục, những chị Tuất chị Sửu chị Quỳnh Dung em Oanh em Hoàng đẹp mê man , hát múa ngúng nguẩy cứ như tiên nữ hết lượt (Trong ánh mắt những thằng lính từ mặt trận mới về). Lại được ăn cơm tiểu táo, ngày ba bữa cứ đánh tì tì, lại chuyên tâm chỉ mỗi việc viết lách, có thầy giỏi là những văn nghệ sỹ nổi tiếng kèm tay, lại thêm có ông thầy Tào Mạt nhiệt tình đến mức nửa đêm còn dựng trò dạy hát chèo cho nghe, miệng hát tay khua cứ như lên đồng… Mới thầm nghĩ thiên đường là đây chứ còn là đâu nữa !
… Quả với tôi, văn chương đàn hát từ ngày ấy thực sự là thiên đường. Tôi chẳng thiết gì khác ngoài nó. Khổ đau cùng cực hay ăn đói mặc rách vì nó cũng chẳng sá gì!…
Sau trại viết ấy về, một thời gian sau, binh trạm lại cử tôi ra Hà nội học một lớp điện ảnh. Ở đây tôi gặp một thằng tân binh người Tày cũng rất thích làm thơ là Hứa Vĩnh Sước. Thế là hai thằng chẳng học điện ảnh mấy, (thực chất là chiếu bóng không làm tôi mấy hứng thú so với việc làm thơ viết văn), nên chỉ cùng Hừa Vĩnh Sước suốt ngày đàm đạo thơ ca và chở nhau đi khắp Hà Nội theo đuổi văn chương… Sau này Hứa Vĩnh Sước kể lại về con đường thơ ca của chúng tôi:
“Dạo ấy đang là mùa hè. Việt nhễ nhại đèo tôi bằng chiếc xe đạp Thống Nhất đi từ Thanh Trì lên nội thành Hà Nội. Việt dẫn tôi đến ngôi nhà số 4 phố Lý Nam Đế. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi được bước chân vào ngôi nhà Văn nghệ Quân đội. Cảm xúc lâng lâng thật khó tả. Ngạc nhiên có. Sờ sợ có. Choáng ngợp có. Thinh thích có. Và người đầu tiên, Việt giới thiệu với tôi. Đây là nhà thơ Xuân Sách. Còn đây là nhà thơ Văn Thảo Nguyên. Họ là nhà thơ ư ? Sao họ cũng ăn ở sạch sẽ, chỉnh chu, bình thường như mọi người. Thậm chí hai nhà thơ này chỉ nhúm cười thân mật. Họ ít nói về mình, càng không nói gì về thơ văn cả. Trời ơi! Tôi đã đọc họ rồi. Thậm chí còn thuộc khá nhiều bài của họ. Nhưng sao nhà thơ… Lẽ ra họ… không biết nói thế nào về những người này. Trong mắt tôi, họ là những người âm u bí hiểm. Đại loại như mấy ông thày mo thày tào trên quê tôi. Đại loại họ bẩn bẩn một chút. Hôi hôi một chút. Tóc dài, râu dài, móng tay quăn tít như hoa móng rồng. Họ nói như ma nói. Âm thanh giọng người phát ra như chuông rè, đầy màu sắc mộng mị…
Kỉ niệm ấy không bao giờ quên. Nó nhắc đi nhắc lại trong tôi. Nhà thơ là thế đó. Bình thường như mọi người. Dễ mắc sai lầm hơn mọi người. Ảo tưởng mơ mộng thì nhiều hơn mọi người. Khóc vì nỗi đau nhân thế nhiều hơn mọi người. Buồn vì tay mình luôn ngắn hơn ống tay áo. Làm thơ có gì sướng, thi nhau lăn lưng vào là sao nhỉ?..
Châu La Việt là người đưa tôi đến ngôi nhà văn chương một cách ngẫu nhiên thôi. Việt bảo tao đưa mày đi chơi cho biết Hà Nội. Dạo ấy tôi đâu đã thiết tha với cái nghiệp thi ca văn chương, chỉ muốn đi cho biết Hà Nội nó to như thế nào. Lúc đầu chỉ là thỏa mãn trí tò mò. Tò mò mãi đâm ra thành quen. Ngày đầu mới chỉ làm quen văn chương thôi. Sau này và kể cả bây giờ, tôi “chết” như rệp. “Chết” là bởi cái đẹp của sự sáng tạo nghệ thuật ngôn từ…”
Năm 2017, tôi lại về Nha Trang dự một trại viết về người lính, cũng của NXB Quân đội tổ chức. Trước khi tham gia trại, tôi có hai tập sách là tiểu thuyết “Triền dâu xanh ngát” và tập truyện ngắn” Binh trạm phía tây” in ở NXB, có lẽ bởi thấy tôi tâm huyết với đề tài người lính nên anh em đã mời tôi tham gia trại ( cùng các nhà văn, nhà thơ Mai Nam Thắng, Chi Phan, Nguyễn Trọng Tân, Nguyễn Minh Ngọc, Lê Huy Quang, Trần Bích Nga, Nguyễn xuân Hùng, Đỗ Ngọc Yên…).Chính ở Nha trang, tôi vô cùng xúc động gặp lại dấu vết người sư đoàn trưởng đầu tiên của tôi: Thiếu tướng Hà VI Tùng, sư trưởng sư đoàn 320 b. Thế là lẳng lặng thuê một chiếc taxi, rồi xe ôm, đường loằng ngoằng lắm, tìm đến nhà lưu niệm của thủ trưởng để dâng hương lên thủ trưởng.Tôi nhớ lúc thắp hương xong, tôi cứ đứng lẩm nhẩm vừa như báo cáo, lại vừa như tâm sự với Sư đoàn trưởng, lại cả đọc thơ cho sư trưởng nghe nữa…
– Thưa thủ trưởng – Tôi thầm thì cùng ông – Chúng em (Ngày ấy chúng tôi hay xưng là em với các thủ trưởng) là những người người lính sư đoàn 320b năm xưa được thủ trưởng dìu dắt và huấn luyện, sau đó được bổ sung cho các mặt trận, chiến trường. Chúng em trở thành những người lính chiến dũng cảm, hoàn thành sứ mệnh với quê hương đất nước cũng một phần từ chính sự huấn luyện, giáo dục, yêu thương của các thủ trưởng”
Bất giác, tôi thầm đọc ông nghe một bài thơ tôi viết về những người lính Hà nội ngày ấy do ông huấn luyện, vào chiến đấu ở mặt trận và anh dũng hy sinh: “ Hà nội ơi có biết bao chàng trai/Như bạn tôi đã không về nữa/Sông Hồng vẫn trôi và mây trắng vẫn bay/Nhưng lắng nghe từ trong hương hoa sữa/Như có mùa thu của ngày ấy lên đường/Nhưng lắng nghe từ trong hương hoa sữa/Có bạn về trong mỗi làn hương…”
Vâng, thưa thủ trưởng, chúng em đã chiến đấu, đã sống xứng đáng với những gì thủ trưởng đã trao, đã dạy dỗ,huấn luyện, xứng đáng với truyền thống của sư đoàn 320 B ngày ấy. Mãi mãi chúng em không bao giờ quên các thủ trưởng, quên người sư đoàn trưởng đầu tiên của mình…
Và ngay đêm ấy, trong một niềm xúc động dâng trào, tôi đã viết ký sự:”Sư đoàn trưởng của tôi”, bổ sung ngay để hoàn chỉnh cho tập sách “ Một người lính Nam tiến” về Sư trưởng của tôi – Tướng Hà Vi Tùng.
Trại viết về người lính 2019 Vũng Tàu…
Tôi ngồi lặng lẽ trong một căn phòng của Trại viết, và nhìn ra biển rộng. Văng vẳng bên tai tôi, hòa trong tiếng sóng biển, là lời Nhà văn Paustovsky trong truyện ngắn Bụi quý :” Giống như bông hồng vàng của người thợ hót rác già kia làm ra là để cho Xuyzan được hạnh phúc, sáng tác của chúng ta là để cho cái đẹp của Trái Đất, cho lời kêu gọi đấu tranh vì hạnh phúc, vì niềm vui và tự do, cho cái cao rộng của tâm hồn và sức mạnh của trí tuệ chiến thắng bóng tối, cho chúng ta rực rỡ như một mặt trời không bao giờ tắt.”
 Và lời Nhà văn Đỗ Chu yêu thương dặn riêng cho nghiệp cầm bút của tôi: ”Việt ơi, hãy viết như mẹ em từng đã hát. Ngậm từng chữ, nhả từng câu ,đau như lòng tằm và quý phái như tấm lụa tơ tằm. Say mê tột cùng và thương nhớ cũng tột cùng…”
 Và rồi trong sóng biển Vũng Tàu, tôi viết trường ca “ Dòng sông thơm hương cỏ xương bồ”. Viết theo thể thơ 7 chữ cổ kính, đúng như thể thơ nhà thơ Tố Hữu đã viết trường ca “Theo chân Bác”.
Tôi chỉ thầm nghĩ một điều: Phía trước là kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Tố Hữu- Một nhà thơ lớn, người đã có những vần thơ tuyệt vời về Đất nước, Nhân dân, về những người chiến sỹ, và đặc biệt là về Bác Hồ. Có lẽ nào không có những vần thơ, những trường ca hay đẹp viết về ông? Có lẽ nào tôi không có một bông hồng vàng để kính dâng ông, một nhà thơ lớn, một nhà thơ đã ru hồn thế hệ chúng tôi từ tuổi ấu thơ, đã sát cánh chúng tôi trên con đường ra trận mà thơ ông như tiếng kèn thôi thúc. Và với riêng gia đình tôi, ông là người đã nâng đỡ và mang rất nhiều hạnh phúc đến cho mẹ tôi, cũng là người bố vợ đằm thắm và giàu tình cảm vô cùng cho cuộc đời em ruột tôi?
… Sóng Vũng tàu cứ mải mê vỗ suốt đêm, và từng vần thơ của tôi cũng vang lên trong tiếng sóng biển ấy. Tôi khao khát có một bông hồng vàng kính dâng ông - Nhà thơ Tố Hữu…
19/3/2020
Châu La Việt
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
 

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của  Anatole France, "Tôi đi học"  của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...