Thứ Tư, 1 tháng 3, 2023
Hoài Sơn - Một hồn thơ chiến sĩ
Hoài Sơn tên thật là Ung Ngọc Ky (1920-2001), còn
ký với bút danh Trường Sơn Chí là nhà thơ thành viên của Duy Việt Văn Đoàn,
nơi tập họp nhiều cây bút yêu nước tại Nam bộ trong giai đoạn 1930-1945. Anh là
gốc người Cần Thơ vốn là một dân quân du kích địa phương. Hoài Sơn xuất thân là
một thanh niên nông dân hiền lành, mới vào đời còn hay nghĩ đến chuyện tình ái
yêu đương: Khi Thu Cúc lạnh lùng toan cất bước/ Rời xa ta, tha thướt/Bỏ ta về
(Tơ vương)
Mai đây hòa bình
Mai đây hòa bình?
Có lẽ nhân loại, sau trận dịch bệnh này, sẽ hiểu rằng, ý tưởng
về chiến tranh sinh học là ý tưởng xuẩn ngốc nhất trong việc cạnh tranh với
nhau, không kẻ nào là kẻ an toàn nếu cuộc chiến ấy xảy ra, kể cả kẻ truyền tấn
công.
Ảnh: Phan Hồng Đức
Dù thế nào đi nữa, thế giới mà chúng ta đã biết hồi trước Tết
cũng đã không còn, sau trận dịch này. Lâu lắm rồi, chắc phải từ Thế chiến hai tới
nay, một cuộc khủng hoảng ở cấp độ toàn cầu như vậy mới xảy ra. Tức là cuộc chiến
khiến đồng lúc ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ phải giới nghiêm, đóng cửa,
phong tỏa, tuyên bố khẩn cấp… Sự đình trệ diễn ra ở cấp độ toàn cầu. Cuộc chiến
này, khác hoàn toàn với các chiến tranh nhỏ lẻ, quốc gia hay khu vực, khi mà
bom rơi nơi này thì nơi kia vẫn sáng đèn màu mê hoặc, những tiếng súng vang ở
khu vực này là cơ hội cho công nghệ và kinh tế khu vực khác cất cánh… Cuộc chiến
này đẩy tất cả quốc gia vào trạng thái chiến đấu. mỗi cá nhân đều cảm nhận rõ
hơi lạnh của thời cuộc khó khăn, của đe dọa kiệt quệ sức khỏe phả ra gần tóc
mai, ngay sau lớp lông tơ ở gáy. Không ai là kẻ đứng ngoài cuộc, đứng trên, phè
phỡn nổi với cuộc chiến này.
Như mọi cuộc chiến, rồi cũng sẽ tàn, cuộc chiến này đang được
dự báo sẽ tàn nhanh khi sự đương cự của nhân loại bằng khoa học, y học diễn ra mạnh
mẽ. Nhưng cũng như mọi cuộc chiến mang tính toàn cầu, sau khi ngã ngũ, thế giới
trước cuộc chiến ấy sẽ không còn. Những phân chia lại quyền lực, các phe phái, ấm
lạnh quan hệ các quốc gia, sự nhìn nhận sức mạnh các quốc gia, sức mạnh mềm, biện
pháp cứng… gì gì đó sẽ khiến thế giới khác đi sau mỗi cuộc chiến. Có lẽ đó là
điều mỗi người sẽ tự vẽ lên lúc này, và từ đó định hướng các hành động của mình
khi “chiến cuộc virus tàn”. Nói như Võ Phiến là “hòa bình nghĩ gì làm gì?”. Có
thể tích cực hơn, xông xáo hơn tìm kiếm các thị trường mới, công nghệ mới, lao
mình vào cuộc chảy mới đang được vẽ ra sau chặng chảy chậm lại bởi chiến tranh
virus. Có thể tĩnh lặng hơn, bớt nhu cầu, bớt tiện nghi, sống chậm và sâu hơn,
dành thời gian cho những việc cụ thể của bản thân, những đẹp đẽ mà trước cuộc
chiến này ta không thấy. Lựa chọn nào cũng được, vì rằng, dù gì, thế giới đã
không còn như cũ nữa, mỗi lựa chọn sẽ là dành cho thế giới mới.
Nhưng những ngày này, đã có những người bơ vơ trong lựa chọn,
những công nhân không còn việc từ sau Tết, những người giúp việc nhà không còn
người thuê, những chị lượm ve chai thở dài “Sao không còn ai bỏ cái gì bán được”.
Và những nông dân nhìn lúa chết khô, những trẻ em không dám xối cho đầy gáo nước
khi tắm, trong cằn cỗi hạn mặn miền Tây, rồi miền Trung, và còn nhiều vùng khác
đang dần bị đe dọa. Dù có muốn làm gì trong thế giới mới khi thắng được virus
này, xin cũng để chút nghĩ về họ, thậm chí ngay trong lúc này khi còn đang chiến
đấu. Những người nghèo khổ nhất là những nạn nhân trước nhất của mỗi cuộc chiến,
kể cả cuộc chiến chống lại bệnh tật. Những người nghèo sẽ là đơn vị bị thiệt hại
nặng nề nhất trong cuộc chiến này, thiệt hại của họ, từ đó sẽ gây ảnh hưởng lên
toàn bộ an sinh, an toàn xã hội. Tìm kiếm những giải pháp đảm bảo an sinh trong
thời điểm này cho những người dễ tổn thương cũng cấp bách như lập các tiền đồn
trấn giữ và đẩy lùi bệnh tật.
Một điều nữa, có lẽ nhân loại, sau trận dịch bệnh này, sẽ hiểu
rằng, ý tưởng về chiến tranh sinh học là ý tưởng xuẩn ngốc nhất trong việc cạnh
tranh với nhau, không kẻ nào là kẻ an toàn nếu cuộc chiến ấy xảy ra, kể cả kẻ
truyền tấn công.
19/3/2020
Trần Vương Thuấn
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Nhận diện thêm một góc của đời qua thơ Bùi Phan Thảo
Nhận diện thêm một góc
của đời qua thơ Bùi Phan Thảo
Một thái độ dấn thân cần thiết của người nghệ sĩ: “lấy
máu mà đốt”, “cạn bấc tim”. Thơ ta nhiều năm nay thiếu vắng tiếng nói của những
khát vọng lớn. Bùi Phan Thảo đã hình tượng hóa khát vọng khá sinh động mà không
bị “lên gân” và còn đạt mong muốn “sáng được đôi điều”. Một sự điềm
tĩnh của trải nghiệm khiến câu thơ có chiều sâu tư tưởng.
Nhà thơ Bùi Phan Thảo
Dấu ấn nghề báo trong thơ Bùi Phan Thảo thấy rõ ở những bài
thuộc các đề tài về sự kiện xã hội và các chuyến đi. Bài “Ba tấm ảnh” nói về một
quan chức: trong phòng làm việc của ông treo hai tấm ảnh lớn: khởi công và cắt
băng khánh thành công trình. Riêng tấm ảnh thứ ba: “Ngày công an đến đưa
ông đi… hôm sau tràn đầy các trang báo”. Anh sử dụng thủ pháp nghệ thuật tương
phản và đối lập rất khá nhưng vẫn rõ chất thông tấn (Bùi Phan Thảo hiện làm việc
tại Báo Người Lao Động, Hội viên Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh). Đến bài “Điệu
ru buồn của phố” thì đã khác nhiều:
Đêm tôi rời Ban Mê chỉ có những vì sao tiễn đưa
và đám mây sũng nước.
Tác nghiệp của nhà báo trên những miền xa xôi, đến và đi đâu
có cần người đón và đưa nhưng các anh vẫn có “những vì sao tiễn đưa và đám mây
sũng nước” thì đã thấy chất thơ lấp lánh trên trang viết. Nội dung thì vẫn là
thông tin bình thường: “tôi rời Ban Mê lúc nửa đêm, trời sắp mưa to”. Mới biết
thơ và không thơ chỉ cách nhau “bằng sợi tóc” nhưng vượt qua khoảng cánh này là
cả một thách đố ghê gớm và thực tế cho thấy nhiều người không vượt được. Các
nhà báo làm thơ có thuận lợi nhưng cũng có những khó khăn không nhỏ.
Cũng trong bài thơ trên, Bùi Phan Thảo có câu rất thơ:
Sợi tóc bay về phía hồ xa trắng cả màu chiều
Chất thơ ẩn hiện suy tưởng và siêu thực. Có một thời siêu thực
bị “kết tội” nặng nề nhưng thực ra siêu thực là sự phát triển ở tầm cao của hiện
thực. Nếu hiện thực là gốc rễ thì siêu thực là phấn hương… Thơ Bùi Phan Thảo
nhiều bài hài hòa được hai mặt này, một nỗ lực rất đáng hoan nghênh.
Trong bài “Guitar 2”:
Nhặt thời gian rơi vãi
gom về cho mai sau
đo buổi chiều bằng ngón tay đau
rải thanh âm gọi đêm về tĩnh tại
“Đo buổi chiều” thì trừu tượng, “ngón tay đau” thì cụ
thể. Một sự kết hợp tinh tế và rất hiệu quả. Lại nhớ “Bốn dây rỏ máu năm đầu
ngón tay” (Kiều – Nguyễn Du), đau hơn nhiều. Thơ Bùi Phan Thảo đổi mới mạnh mẽ
nhưng rất có ý thức trong sự tiếp nối các giá trị truyền thống.
Tôi không đốn cây hoài nghi
mặc nó bên đời
bên những đóa hoa chân thật.
(Bên cây hoài nghi)
Hoài nghi và chân thật là hai khái niệm trừu tượng nhưng tác
giả hình tượng hóa bằng cây và hoa thì bỗng dưng chúng có hình khối màu sắc, sống
động lạ lùng. Nhưng điều này còn đáng quý hơn, ấy là thấp thoáng một triết lý đời
sống đáng suy ngẫm: tôn trọng sự chân thật nhưng đừng ngại hoài nghi phản biện,
cả hai mặt đều cần thiết cho cuộc đời.
Quan sát đời sống là công việc quan trọng nhất của người cầm
bút:
Anh nhận diện thêm một góc của đời
con xúc xắc may rủi.
(Guitar 3)
Vâng, “nhận diện thêm một góc của đời”, một góc hay nhiều góc
càng tốt. Lâu nay nhiều người vẫn kêu là thơ ta thiếu chất đời sống mà thừa chất
hoang tưởng hão huyền. Rất mong các nhà báo nhà thơ đi nhiều, quan sát nhiều
hãy đưa vào trang viết nhiều chất liệu của đời sống ngoài kia đang rùng rùng
chuyển động, sục sôi từng phút từng giờ.
Và hình như trong cái chén úp con xúc xắc may rủi kia
lại chỉ có bóng đêm và ảo tưởng:
Đêm
han rỉ tế bào
mục ruỗng suy tưởng.
(Đêm gạt tàn đầy)
Ảo tưởng hay hoang tưởng, đôi khi điểm xuyết chút xíu cho cuộc
sống thêm gia vị, nhưng để nó trở thành căn bệnh thì sẽ hỏng từ tế bào cho đến
suy tưởng. Nhà thơ cảnh báo như thế cũng là cần thiết chăng? Thủ pháp nghệ thuật
cụ thể hóa cái trừu tượng và ngược lại cùng những kết hợp từ mới lạ độc đáo kiểu
như “han rỉ tế bào”… thường được Bùi Phan Thảo sử dụng khá nhiều và tạo nên những
hiệu ứng thẩm mỹ thú vị.
Gió từ đất sâu âm u
vì sao tắt ngúm
lấy máu mà đốt lên cho ấm
cạn bấc tim cũng sáng được đôi điều.
(Ngã)
Một thái độ dấn thân cần thiết của người nghệ sĩ: “lấy
máu mà đốt”, “cạn bấc tim”. Thơ ta nhiều năm nay thiếu vắng tiếng nói của những
khát vọng lớn. Bùi Phan Thảo đã hình tượng hóa khát vọng khá sinh động mà không
bị “lên gân” và còn đạt mong muốn “sáng được đôi điều”. Một sự điềm
tĩnh của trải nghiệm khiến câu thơ có chiều sâu tư tưởng.
Mở đầu bài “Xanh suốt thiên thu” Bùi Phan Thảo có câu thơ khá
gần với cách ngôn:
Ngày cứ mới
nên tình rồi cũng cũ
trong mắt người đã dựng một non cao
Ý thơ không mới nhưng một sự đúc kết vào thơ như thế hơi bị
hiếm nên đọc vẫn thấy lý thú nhất là dòng thơ thứ ba, anh dùng hình ảnh “non
cao” trong mắt khá ấn tượng.
Vẫn cảm hứng ấy, ở một bài khác:
Nếu vực sâu không vọng lại tiếng chim đập cánh
không còn lời nguyền trên phiến đá xanh.
(Viết từ thị trấn trong cơn mê sảng)
“Lời nguyền trên phiến đá” thì hơi cũ, nhưng “tiếng chim
đập cánh vọng từ dưới vực sâu” thì mới. Chi tiết nghịch lý này khiến câu thơ đa
tầng đa nghĩa khá mới lạ. Nói chung, muốn có được chút thành quả sáng tạo, người
viết phải tìm tòi khám phá khổ công tu luyện nhiều lắm, dễ dãi buông xuôi là
thơ bị non lép xanh xao èo uột ngay.
Trong bài “Có thể, một ngày”, một bài thơ hơi khó hiểu nhưng
dư âm:
Nhưng anh sẽ không chờ những giấc mơ
anh chỉ chờ người đến bên chiếc ghế phía sau tay phải
dán dấu niêm phong một thánh đường
và chôn chiếc chìa khóa nhỏ xuống dưới đất sâu.
Có giấc mơ, có người vắng mặt, có thánh đường, có chìa khóa
chôn dưới đất sâu… nhưng để nói lên điều gì? Câu hỏi này đặt ra hình như vô
nghĩa với thơ. Hãy cứ thưởng thức vẻ đẹp của thơ cái đã, chuyện khác tính sau,
như xem tranh trừu tượng, nghe nhạc không lời vậy. Đừng bắt thơ phải giải đáp tất
cả… Có phải thế chăng?
Tương tự như thế ở bài “Vết xước”:
Quờ tìm viên thuốc giấu trong ký ức
dỗ dành chiêm bao
những viên sỏi không chịu vụn vỡ
đủ làm đau một vết chai.
Những ẩn dụ: viên thuốc, viên sỏi, vết chai… chả xa lạ gì
trong đời sống thường nhật và thực ra đoạn thơ cũng không khó hiểu lắm đâu, chỉ
có điều mình quen đọc mãi thơ dễ hiểu mà thôi. Nghệ thuật nói chung, nhất là
thơ cần đa dạng, phong phú, tránh đơn điệu.
Thơ Bùi Phan Thảo thuộc loại kén độc giả, tinh ý một chút sẽ
bắt gặp nhiều khúc thơ khá và hay. Đôi khi anh cũng mạo hiểm, đi xa hơn vào cõi
huyền bí hư vô:
Thò tay mượn đỡ vì sao
soi đọc lâm râm một hàng mộ chí…
Tôi dùng chữ mạo hiểm e chưa thỏa đáng nhưng trong lĩnh vực
nghệ thuật, từ một hệ quy chiếu nào đấy, mạo hiểm là một “giải cứu” cho sáng tạo,
nó kích hoạt sự tìm tòi khám phá làm nên những sản phẩm nghệ thuật độc đáo chưa
từng có. Tôi thuộc lòng và rất thích đoạn văn ở sách giáo khoa từ hồi tiểu học:
“Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông.
Xưa nay những đấng anh hùng làm nên nghiệp lớn cũng nhờ có gan mạo hiểm…”
Đọc thơ Bùi Phan Thảo hơi mệt, có cảm giác như lạc vào khu rừng
thâm u, nhiều khi hoang mang không biết đâu là lối chính lối phụ, rất dễ lạc đường.
Bù lại đôi khi gặp những bất ngờ thú vị, đó là những câu thơ, đoạn thơ hay, bỗng
dưng cái sự “mệt” kia tan biến ngay. Một số dẫn chứng trên đây đã đủ minh chứng
cho điều này chưa nhỉ? Hình như thơ đương đại, hậu hiện đại bây giờ có chung dạng
thức như vậy!
Nhưng thà mệt như thế còn hơn là đọc những bài thơ giản đơn
toàn những lối mòn đến nhàm chán. Có phải vì thế không mà thi đàn ta rơi vào
tình trạng bị độc giả thờ ơ quay lưng lại từ vài chục năm nay? Hy vọng Bùi Phan
Thảo và các bạn làm thơ trẻ khác khắc phục mặt yếu này để góp phần tạo nên những
mới mẻ khởi sắc cho thơ ca của chúng ta hiện đang bị trì trệ. Và tất nhiên là
loại thơ khó hiểu kiểu “đánh đố, tắc tị” không có trong danh mục này.
N.V.T
19/3/2020
Nguyễn Vũ Tiềm
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Dạ cổ hoài lang - Bài ca vua vọng cổ của Cao Văn Lầu
Dạ cổ hoài lang - Bài ca vua
vọng cổ của Cao Văn Lầu
Trong lịch sử ca nhạc sân khấu ở phương nam, sự xuất hiện của
bản Vọng cổ trong dòng nhạc cải lương thực sự đã đem lại một luồng sinh khí mới
có thể coi là một cuộc cách mạng lớn trong nghệ thuật đờn ca tài tử, làm thay đổi
bộ mặt âm nhạc truyền thống dân tộc.
Khán giả mê ánh đèn màu lấp lánh trước cánh màn nhung, trong
hai thập niên 50 và 60 của thế kỷ trước vốn được coi là thời đại hoàng kim của
cải lương, chắc hẵn sẽ không bao giờ quên được không khí hoạt động vô cùng sôi
nổi của các gánh hát và giới nghệ sĩ cải lương lúc bấy giờ. Trong những đêm hát
ở rạp Nguyễn Văn Hảo, đường Trần Hưng Đạo, cứ mỗi lần trên sân khấu, những danh
ca như: Út Trà Ôn (1919-2001), Minh Cảnh (sinh năm 1938), Thanh Nga
(1942-1978), Phượng Liên (sinh 1947)… sau khi hò, hát điệu lý, nói lối vài câu
hoặc hát một bản ngắn như: Thủ phong nguyệt, Kiều nương hay Hoài tình… rồi dứt
tiếng hò… ngọt ngào, muồi mẫn ở cuối câu, mở đầu bản vọng cổ, nghe rất đã tai,
là cả một rừng pháo tay của khán giả nổ dòn dã, dậy cả hí trường. Và tiếp ngay sau
đó là những tờ giấy bạc của người mộ điệu hào phóng, đua nhau được tới tắp bay
lên sân khấu, để tặng thưởng cho nghệ sĩ vừa bắt đầu bài ca vua, không
khác gì đàn bướm lượn. Sức hấp dẫn và lôi cuốn đến độ cuồng nhiệt của bản vọng
cổ mà tiền thân là bài Dạ cổ hoài lang, của Cao Văn Lầu, thật vô cùng ấn
tượng.
Nghệ sĩ Cao Văn Lầu (1892-1976), còn gọi Sáu Lầu – vì là con
thứ 6 trong gia đình – sinh ra tại xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An. Cha
của Cao Văn Lầu là Cao Văn Giỏi, (Chín Giỏi), mẹ là Thạch Thị Tài là những nông
dân hiền lành, lam lũ Xuất thân từ một thành phần lao động nghèo khó vì bị áp bức,
bóc lột bởi bọn cường hào ác bá, tay chân của thực dân, mới lên 4 tuổi (1896),
cha của Sáu Lầu mang cả gia đình gồm vợ và 6 con, tìm nơi khác sinh sống. Tha
phương cầu thực đến tận Bạc Liêu, buổi đầu, ông Chín Giỏi đến tá túc trên đất của
một người bà con ở Gia Hội (Bạc Liêu). Sau 9 tháng đi làm mướn cật lực mà không
đủ ăn, gia đình ông lại phải dời sang Xà Phiên (nay thuộc quận Long Mỹ, tỉnh Hậu
Giang), khẩn hoang làm ruộng. Chỉ một năm sau, hơn 40 công đất có được do công
lao khó nhọc, bị chúa đất tìm cách chiếm đoạt. Được người thương tình giúp đỡ
và giới thiệu, gia đình ông Chín Giỏi dọn về Họng Chàng Bè (Giá Rai, Bạc Liêu)
tiếp tục khẩn hoang nhưng rốt cuộc số đất này cũng về tay người khác.
Thương cảnh lận đận, trắng tay của ông Chín Giỏi, hương sư
Chơn ở làng Vĩnh Lợi, tổng Thạnh Hóa (Bạc Liêu), cho ông cất một căn chòi lá
trên đất công điền, gần chùa Vĩnh Phước An (nay thuộc phường 2, thị xã Bạc Liêu).
Nơi đó, vợ chồng ông Chín Giỏi và các con hàng ngày phải khổ sở đi làm mướn, đi
câu, chạy gạo lo ăn từng bữa. Thấy vậy, hòa thượng Minh Bảo (? – 1912) trụ trì
chùa Vĩnh Phước An thông cảm, tìm cách giúp đỡ gia đình ông đang trong cảnh ngặt
nghèo. Vị Hòa thượng giàu lòng nhân ái đề nghị với ông Chín Giỏi cho Cao Văn Lầu,
khi đó mới lên 8 tuổi, vào chùa ở để chia sẻ gánh nặng với gia đình ông Chín. Kể
từ đó, chú bé Sáu Lầu, vừa làm công việc đánh nhờ trống dọng chuông, vừa đọc
kinh kệ lại được nhà sư dạy cho chữ Nho.
Đến năm 1903, ông Chín Giỏi nhớ thương và lo lắng cho tương
lai của con trai, đến xin hòa thượng Minh Bảo cho Cao Văn Lầu được trở về nhà để
đi học chữ Quốc ngữ. Nhưng chỉ học đến “lớp Nhì năm thứ hai” (Cours Moyen 2e Année)
tức lớp 4 ngày nay, Cao Văn Lầu phải nghỉ học vì nhà lại gặp cảnh khó khăn đơn
chiếc: anh đi ở rể, chị phải theo chồng và cha mẹ già yếu, nay ốm mai đau. Như
vậy là, năm 17 tuổi (1907), Cao Văn Lầu đã phải thay cha và anh chị, đi tìm
công việc làm mướn để nuôi cả gia đình. Lúc bấy giờ, tại xóm Rạch Ông Bổn, có một
thầy đàn nổi tiếng tên Lê Tài Khí, thường gọi Hai Khị hay Nhạc Khị, gốc người
Minh hương. Cha của Nhạc Khị là một thầy đờn kiêm luôn bầu Hát bội, thường được
gọi là Bầu An, có một gánh hát. Nhạc Khị từ nhỏ thân thể ốm yếu, bị bệnh mù cả
hai mắt, lại thêm hai chân bị liệt. Bầu An thấy con tàn tật, ra sức truyền nghề
lại cho con.
Chỉ vài năm sau, Hai Khị đã trở thành một nhạc sĩ lừng danh,
một mình chơi thông thạo được nhiều loại đàn, và trống, kèn. Độc đáo nhất là cùng
một lúc mà Hai Khị vẫn chơi được nhiều thứ nhạc cụ chẳng thua gì một quái kiệt.
Ngón đàn điêu luyện – trong nhạc tài tử và nhạc lễ – làm ông nổi tiếng không chỉ
ở Bạc Liêu mà khắp cả Nam kỳ lục tỉnh. Con của Hai Khị là Lê Văn Chột (Ba Chột)
và rể là Trịnh Thiên Tư cũng đều giỏi cổ nhạc như ông. Học giả Vương Hồng
Sển (1902-1996) trong cuốn Hồi ký 50 năm mê hát, năm mươi năm cải lương của
ông đã nhắc lại: “Ông Hai Khị đau cổ xạ, hai ngón tay co rút và ngo ngoe rất
khó. Thế mà ông có tài nhạc riêng, không ai bắt chước được. Ai muốn thử tài
đàn, cứ đến nhà ông ”.
Nhạc sĩ Cao Văn Lầu.
Bẩm sinh vốn mê nhạc, năm 16 tuổi (1908), nghe danh Hai Khị,
Cao Văn Lầu nhờ cha dẫn đến thầy Hai Khị để tranh thủ thì giờ, xin học đàn mỗi
đêm vì ban ngày phải đi làm mướn. Nhờ đam mê và siêng năng, tính tình hiền
lành, được thầy thương, nên khoảng bốn năm sau, Cao Văn Lầu đã nhanh
chóng sử dụng thành thạo các nhạc cụ như: đàn tranh, cò, kìm, trống lể và trở
thành một nhạc sĩ nòng cốt trong ban cổ nhạc của thầy. Trong buổi Hội Lễ nhạc
tài tử Bạc Liêu do hương sư Chơn đứng ra tổ chức nhằm mục đích thi tài giữa ban
nhạc các tỉnh tại Bạc Liêu, Cao Văn Lầu được thầy Khị cho phép chỉ huy Ban nhạc
của thầy, điều khiển thành công rực rỡ khiến người xem nhiệt liệt tán thưởng.
Năm 20 tuổi (1912), Cao Văn Lầu bắt đầu đi hát với Sáu Thìn và cô Phấn bài Tứ đại
oán Bùi Kiệm thi rớt.
Trong những năm học đàn tại nhà Thầy Khị, Sáu Lầu đem lòng
yêu cô Hai Thân (còn gọi là Hai Sang), trưởng nữ của Thầy. Cô Hai Thân cũng
dành tình cảm đặc biệt cho chàng thanh niên học trò tài hoa giỏi nhạc của cha
mình, thể hiện trong mỗi khi hai người có dịp gặp nhau. Nhưng Cao Văn Lầu mặc cảm
gia đình mình quá nghèo nên không dám mở lời với cô Hai. Tuổi ngày một lớn, cô
Hai phải lấy chồng khi có người đến cầu hôn. Hôm lễ cưới cô Hai, Ban Nhạc Bạc
Liêu do Cao Văn Lầu thay thầy điều khiển, đã chơi một đêm khiến những người đến
dự phải nhớ đời.
Tiếng đàn tranh điêu luyện, chứa đựng tâm sự thầm kín, réo rắt
bổng trầm, từ những ngón tay rỉ máu, dặt dìu uyển chuyển như than như oán của
chàng nhạc sĩ tài danh Cao Văn Lầu, đã làm ngây ngất bao người, và cũng âm thầm
lay động không ít đến trái tim của người đẹp sắp sửa lên xe hoa vào sáng hôm
sau! Năm 21 tuổi (1913), Cao Văn Lầu sáng tác được một bản ngắn có tên: Bá điểu
(sau đổi tên là Thu phong, gồm tám câu, nhịp 4. Về sau, bản nhạc này được soạn
giả Trịnh Thiên Tư đặt thêm lời ca và đổi thành tên mới là Mừng khi gặp bạn.
Năm 1917, Cao Văn Lầu sáng tác thêm một một khúc gồm 22 câu
theo một chủ đề của thầy Nhạc Khị đề xướng “Chinh phụ vọng chinh phu” mà nội
dung dực vào bản Nam ai “Tô Huệ chức cẩm hồi văn”. Cũng trong năm
này, vâng lệnh cha mẹ, Cao Văn Lầu đi cưới vợ, cô Trần Thị Tấn, một cô gái
nết na hiền lành đang ở đợ cho chủ điền Tư Ô (Chung Bá Khánh). Một cơ hội để
Cao Văn Lầu tạm quên đi một mối tình câm đầu đời không vẹn. Nhưng cũng chính
người vợ do cha mẹ sắp đặt này đã làm cho tên tuổi Cao Văn Lầu mãi sáng
chói và trở thành bất tử trong nền âm nhạc tài tử cải lương với
bản Dạ cổ hoài lang.
Do gia đình nghèo, phải vay mượn tiền bạc để cưới vợ cho con,
nên đã lâm cảnh nợ nần, ông Chín Giỏi phải xoay trở bằng cách đi xuống vùng Họng
Chàng Bè (thuộc xã Định Thành, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu) để khai phá đất rừng
làm ruộng. Nhưng Bạc Liêu, Cà Mau thuộc vùng nước mặn, đất bị nhiễm phèn, cọng
thêm sự phá hoại nặng nề của loài chim, chuột, sâu rầy nên việc làm ruộng của
ông Chín Giỏi cũng không khá lên được. Cuối cùng ông bà Chín Giỏi phải trở về Bạc
Liêu, làm công việc mò ốc, bắt cua và giao lại miếng đất mới khai thác cho vợ
chồng Sáu Lầu. Nhưng chưa quen làm ruộng, nên không phát triển được nghề nông,
chỉ mới làm được một mùa, miếng đất của Sáu Lầu đành để rơi vào tay chủ điền Trần
Trinh Trạch – cha của Hắc công tử Trần Trinh Huy, còn gọi là Công tử Bạc
Liêu. Nhưng cái đau mất đất không bằng nỗi đau phải thôi vợ (còn gọi là để vợ
hay trả vợ) của Sáu Lầu.
Sau khi hai vợ chồng ở với nhau được hơn 4 năm, Trần Thị Tấn
vẫn không cho ông bà Chín Giỏi một đứa cháu nội nào dù là trai hay gái. Trong
khi cha mẹ chồng mong vợ chồng Sáu Lầu có con để nối dõi tông đường để tránh khỏi
phải đi vào con đường tuyệt tự ở đứa con mà gia đình cực khổ nuôi dưỡng và đầu
tư công sức lo cho ăn học và đã thành danh. Cô dâu Trần Thị Tấn vô tình đã
không làm tròn thiên chức của người vợ, người mẹ và luôn cả đứa con dâu trong
gia đình. Khổ đau, trăn trở giữa hoàn cảnh éo le bên tình bên hiếu, Sáu Lầu phải
nghe theo cha mẹ xa người vợ tào khang, gian khổ với mình đã nhiều năm qua dù
trong lòng ông vẫn không quên câu nói về nghĩa tình vợ chồng sâu nặng của người
xưa “Nhất dạ phu thê, bá dạ ân” (tình chồng vợ một đêm cũng nặng nghĩa trăm
năm).
Ngày xưa, vợ chồng ăn ở với nhau không có con, nguyên nhân dẫn
đến tuyệt tự đều đỗ lỗi cho người đàn bà chứ không do người đàn ông! Ngày nay,
sự tiến bộ của y học đã khẳng định sự cố ấy xuất phát từ một trong hai người
như trường hợp của Cao Văn Lầu. Dù thương vợ rất nhiều, sau hơn bốn năm chăn gối,
Cao Văn Lầu vẫn phải vâng lời cha mẹ. Ông bà Chín Giỏi quyết định đem nàng dâu
Trần Thị Tấn trả về cho nhà gái, khiến vợ chồng ông phải đau đớn chịu cảnh phân
ly. Hằng đêm, Cao Văn Lầu một mình thao thức, âu sầu đếm từng tiếng trống điểm
canh, đầu óc luôn nghĩ về người vợ khổ đau đang ở cách đó không xa mà sao như cảnh
én bắc nhạn nam. Cao Văn Lầu tư tưởng rằng trong không gian tiếng trống này, vợ
mình cũng nghe được và đang âm thầm đau khổ nhớ chồng! Cao Văn Lầu mường tượng
ra hoàn cảnh, tâm trạng vợ mình bây giờ chẳng khác nào một chinh phụ, đang mỏi
mòn đêm đêm trông ngóng tin chồng nơi biên ải xa xôi.
Lòng người chinh phụ lúc nào cũng mong cho người chinh phụ được
bình an và thiết tha ước nguyện cảnh chồng vợ sum vầy. Khoảng một năm sau
(1918), trong tâm trạng thương nhớ vợ, bản nhạc trên được đem ra soạn lại. Nghe
lời bạn đồng môn Ba Chột, ông bỏ bớt hai câu trùng lặp, bản nhạc còn chẵn 20
câu nhịp đôi. Đúng và Tết Trung Thu năm Mậu Ngọ (nhằm ngày 19/9/1918 dương lịch),
Cao Văn Lầu cùng các bạn đến thăm thầy, trình bản nhạc chưa có tên cho thầy xem
và thầy Nhạc Khị hết sức khen ngợi. Nhân đêm đó có nhà sư Nguyệt Chiếu cùng có
mặt, thầy nhạc Khị nhờ nhà sư đặt tên cho bản nhạc. Nhà sư nói: “Tuy nhạc và lời
còn vài chỗ chưa khớp, nhưng nhìn chung bài ca vẫn diễn tả được tâm tư của nàng
Tô Huệ”.
Vậy cứ theo sự tích này mà đặt tên cho bài ca là “Dạ cổ hoài
lang”, có nghĩa là: Nghe tiếng trống đêm, nhớ chồng. Kể từ hôm đó, bài ca này
được loan truyền nhanh chóng vì tính cách nghệ thuật mới lạ và nội dung cảm động
của bài ca. Thế là bao nỗi khắc khoải ở ông như một chàng chinh phu, cộng với
tâm tư đau đáu ở người vợ hiền xa cách mà ông tưởng tượng ra, đã bật dậy lên
như triều sóng tình cảm miên man vô bờ, khiến Cao Văn Lầu nhả ra thành vần điệu,
thanh âm não nùng trong từng nốt nhạc của bản Dạ cổ hoài lang, mà về sau, qua
thời gian, đã trở thành bản Vọng cổ, bài ca tài tử ấn tượng của nhạc cổ và là
bài ca vua của sân khấu cải lương. Đến năm 1919, Cao Văn Lầu làm nhạc công
cho gánh hát cải lương của Ba Xú (Bạc Liêu).
Như vậy, thời điểm khai sinh ra bản Dạ cổ hoài lang là
năm 1919. Trước tiên, bài ca được sáng tác trong 20 câu, nhịp hai (hay hai nhịp).
Sau khi phát triển thành nhịp tư, được trình bày đầu tiên vào năm 1921, trên
sân khấu cải lương Tập Ích Ban của ông bầu Tư Chơi, tức Huỳnh Thủ Trung (sinh
năm 1906) thành nhịp tám trên sân khấu Tái Đồng Ban vào năm 1922. Nghệ
sĩ Lư Hòa Nghĩa (Năm Nghĩa, 1911-1959), ông bầu của đoàn Cải lương Thanh Minh
(sau này là Thanh Minh – Thanh Nga), đã đưa bản nhạc cổ này lên thành nhịp 16 với
tên mới là Vọng cổ Bạc Liêu vào năm 1936.
Một bước tiến quan trọng của bản Vọng cổ cải biên là từ nhịp
16 của Mộng Vân với 20 câu, lên nhịp 32 rút lại còn 6 câu của Trần Tấn Hưng. Sự
kiện xảy ra vào ngày 12/08/1941 trong ngày giỗ tổ Cải lương tại Bạc Liêu. Được
phép của thầy Nhạc Khị và nhạc trưởng Sáu Lầu, Năm Nhỏ (Trần Tấn Hưng) đã độc tấu
bằng đàn guitar phím lõm bản Vọng cổ nhịp 32 do ông cải biên và được sự nhuận sắc
của Cao Văn Lầu. Khoảng đầu năm 1951, nghệ sĩ Nguyễn Thành Út (Út Trà Ôn-
1919-2001) đã biến thành bản Vọng cổ nhịp 32. Và sau cùng là nhịp 64 cải tiến của
Lý Khi mà đa phần nghệ sĩ cải lương hiện nay vẫn còn hát.
Nhớ lại, từ ngày bị trả về nhà cha mẹ ruột, bà Trần Thị Tấn
đau khổ nhớ chồng, ngày đêm quên ăn, biếng ngủ, ngồi đâu khóc đó ngay cả những
lúc đang làm công việc, khiến thân thể ngày càng tiều tụy héo mòn. Trước thảm cảnh
này, mẹ vợ Sáu Lầu liên lạc cùng ông, đưa vợ đến ở nhờ nhà ông Chín Đại để vợ
chồng có thể gặp nhau vào những khi có cơ hội thuận tiện. Nhưng gởi vợ ở lâu một
chỗ sợ bị cha mẹ mình phát giác, Sáu Lầu lại gởi vợ sang ở nhờ nhà bà Ba Xịu, một
nơi khuất xa, trẹo đường, không sợ cha mẹ mình biết. Hơn một năm sau, người vợ
khổ đau đó đã cho chồng biết là mình đã có mang. Thế là nàng dâu được mẹ chồng
rước về nhà ông Chín Giỏi để vợ chồng Sáu Lầu được tái hợp và sống mãi với nhau
suốt đời. (Tại đây, nàng hạ sinh cho chồng một cậu con trai đầu lòng trong số bảy
đứa con: năm trai và hai gái của ông bà sau này).
Cách mạng tháng Tám thành công, cũng như nhiều văn nghệ sĩ
yêu nước khác, Cao Văn Lầu tham gia Mặt trận Liên Việt tại ấp Vĩnh Phước, xã
Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Năm 1947, Cao Văn Lầu nhận nhiệm vụ đặc biệt, rất quan
trọng là cứu một số cán bộ tử tù bị thực dân Pháp bắt còn đang giam giữ trong
ngục. Để giải cứu các chiến sĩ cách mạng, nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã nghĩ ra cách tổ
chức một buổi đờn ca tài tử ở gần trại giam. Lòng nôn nao làm sao phải giải
thoát cho kỳ được các chiến sĩ yêu nước trong lao tù, chỉ còn chờ ngày ra máy
chém, đêm hôm đó, Cao Văn Lầu cùng các bạn đã đem hết tâm huyết và nghệ thuật để
chơi xuất thần một buổi văn nghệ như chưa từng có, trong đó có bản Dạ cổ hoài
lang.
Trước mũi súng của kẻ thù, tỏ ra bình thản sử dụng tùy lúc
đàn tranh ru hồn và trống ta dòn dã để làm cho kẻ thù ngây ngất lắng nghe, đồng
thời cũng tạo được âm thanh và bối cảnh thuận lợi cho hiện trường bí mật của đội
cảm tử đang âm thầm hoạt động trong đêm. Không mấy chốc, các chiến sĩ đặc công
quyết tử quả cảm, đã an toàn lọt vào trại giam, giải cứu thành công toàn bộ cán
bộ và chiến sĩ cách mạng sắp phải chịu án tử hình. Sau đó, để tránh bị bại lộ,
Cao Văn Lầu hòa mình dòng sinh hoạt ca nhạc đó dây bằng vỏ bọc của một chàng nhạc
sĩ lãng tử giang hồ.
Đánh giá bản Dạ cổ hoài lang mà hậu duệ là bài ca vua Vọng
cổ sau này, Chủ tịch Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh đã có ý kiến:
Dạ cổ hoài lang là “một báu vật của nền âm nhạc cải lương Nam bộ”.
Năm 1938, nhạc sư Vĩnh Bảo (1918-2015), người nghệ sĩ cao niên nổi tiếng về âm
nhạc dân tộc, đã đàn cho cô Năm Cần Thơ (1917-2007) hát bài Dạ cổ
hoài lang, nói: “Tôi đã từng gặp ông Cao Văn Lầu, tác giả của bản Dạ cổ
hoài lang và thấy ông ấy là một con người rất giản dị…, ông học hỏi được rất
nhiều giá trị âm nhạc từ kho tàng cổ nhạc của dân tộc mà viết nên tác phẩm ấy”.
GS.TS. Trần Văn Khê khẳng định: “Trong cổ nhạc Việt Nam, chưa
có bài bản nào được như “Dạ cổ hoài lang” đã biến thành Vọng cổ. Từ một sáng
tác cá nhân đã biến thành sáng tác tập thể,… sẽ còn sống mãi trong lòng người
Việt”. Với tinh thần thiết tha yêu nghệ thuật và lòng yêu tổ quốc nồng nàn
trong suốt cuộc đời, Cao Văn Lầu đã sáng tác và lưu lại cho hậu thế bài ca vua
Vọng cổ độc đáo, với giai điệu, âm hưởng tuyệt vời, mang đậm tính nghệ thuật
dân tộc và nhân văn sâu sắc. Tôn vinh nhà nghệ sĩ âm nhạc tài hoa có óc
sáng tạo đặc biệt, nhà nước đã xếp hạng Khu Lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu tại
thành phố Bạc Liêu vào: Di tích lịch sử – Văn hóa quốc gia vào tháng 4 năm
2014. Và cơ quan quốc tế UNESCO cũng ra nghị quyết công nhận Đờn ca tài tử Nam
bộ trong đó nổi trội là bài ca Dạ cổ hoài lang tức tiền thân của bản
Vọng cổ, bài ca vua sân khấu cải lương – trong số 20 bài tổ: 6 Bắc, 3
Nam, 7 Hạ, 4 Oán – là di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc.
Tương Như
19/3/2020
Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Những người thương nhớ dắt nhau đi
Những người thương nhớ dắt nhau đi
Đọc văn khi bắt được cái giọng của nhà văn, sự tiếp nhận văn
bản được xem là lý tưởng. Nhà thơ Lê Thanh My đã chọn giọng cho độc giả, khi chị
chọn tiêu đề của tập thơ bằng một câu thơ “Những người thương nhớ dắt nhau
đi” trong bài thơ “Thức dậy lúc không giờ” (bỏ đi một hư từ “chỉ”).
Bìa tập thơ Những người thương nhớ dắt nhau đi
Tôi đã đọc thơ chị trong một ngày đông mưa phùn, gió bấc, lạnh
lẽo của xứ Huế, trong tôi bất ngờ xuất hiện những cuộc đối thoại cùng chị, thi
nhân ơi, sao chị viết thơ như đang kể chuyện của nhiều người vậy:
“em nhớ anh/ loanh quanh/ dường như không thoát được/ anh
quăng lưới vào ý nghĩ/ trói buộc em/ khi thở cũng thơm mùi khói thuốc/ nhìn mây
tưởng tượng bồng bềnh/ ngày xa/ tháng xa/ năm xa… chẵn và lẻ xếp hàng chăn gối/
em sờ quanh có chín mươi chín triệu thiên hà/ miền nào cũng lạ/ con kiến bò
loanh quanh/ ừ, có lẽ đã điên vì nhớ” (Nhớ)
Loanh quanh vì nhớ, quẩn quanh vì nhớ, tương tư vì nhớ, điên
lên vì nhớ… chỉ có những tình yêu đích thực, tình yêu sâu sắc, tình yêu mộng
mơ, tình yêu xa ngái… thì mới có cái cảm xúc da diết, dâng tràn, chân thành và
giản dị đến thế. Tôi đã từng đọc câu thơ “nàng nhớ mùi thuốc lá của chồng” (Khỏa
thu – Phan Thanh Bình), rồi nhận ra, thì ra khi xa nhau người phụ nữ thường
nhớ mùi thuốc lá của chồng – một mùi vị đặc trưng của người đàn ông, cho dù bây
giờ người ta đang “tẩy chay” thuốc lá, thì mùi khói thuốc như là cái cớ để nhớ
về nhau.
Giọng thủ thỉ, tâm tình của chị đã bày tỏ các cung bậc cảm
xúc của tình yêu: nhớ nhung, trông mong, chờ đợi, rồi khắc khoải… “biết ngày
xa/ hoang phế sẽ khôn lường/ cuồng dại yêu thương dễ tan thành bọt nước/ làm
sao anh biết được/ khi hoàng hôn nhấn chìm nửa bầu trời/ biển của em/ sụt sùi/
khóc” (Biển của em). Có lúc nhà thơ tự vấn: “đã có tì vết nào trong lòng mình
chưa?” để rồi nhận ra một điều hiển nhiên, giản dị: “Những câu thơ em viết cứ như
đùa/ một ngày nắng sẽ phai/ một ngày gió thổi bay/ còn lại sau cùng/ là vòng
tay anh rụt rè nơi bậc cửa” (Đã có tì vết nào trong lòng mình chưa?). Như
đốn ngộ, như nhận chân giá trị cuộc đời, những vần thơ của chị đã thức tỉnh biết
bao tâm hồn còn đắm đuối trong “bến mê”, hãy nhận chân giá trị của tình yêu mà
gìn giữ “vòng tay anh”.
Tứ thơ “đêm qua” trùng điệp trong bài thơ “Hỏi thăm” là điểm
nhấn trong suốt bài thơ. “Đêm qua/ con đường bỏ tôi một mình… đêm qua/ ghế đá
công viên thức trắng rầu rầu… đêm qua/ tôi nghe những bước chân tìm nhau… đêm
qua/ tôi nhớ một người ở tận đâu đâu”… Chị viết như không viết vậy, những câu
thơ tràn trên giấy, còn lại suy tưởng chìm sâu. Lấy thời gian đêm qua để đo
không gian, đo tâm tưởng. Vẫn lối nói quen thuộc của dân gian, nhưng ngữ liệu
thì mới, hiện đại, mang âm hưởng nhộn nhạo của phố phường, tâm tưởng thì chìm
sâu vào nỗi nhớ. Tưởng chừng cái tôi đang để chuyện ai, nhưng không, cái tôi ẩn
giấu đến tận cùng mới thốt ra: Tôi nhớ một người ở tận đâu đâu – mơ hồ mà
đa nghĩa, bởi ai đó chắc đã nhận ra; con đường, ghế đá công viên, bước
chân… đã từng có kỉ niệm với ai.
Tôi rất thích tứ trong bài thơ “Ngộ”, 6 câu thơ như kể lể, thở
than, rồi bất ngờ hạ một câu kết làm sáng cả bài thơ: “em khâu nỗi nhớ từ chiều
qua cho đến hôm nay/ bằng sợi chỉ nôn nao/ bằng thở dài bối rối/ bằng nhịp đồng
hồ nông nổi/ ngày dại khờ/ đêm mòn mỏi thở than/ thì ra nhớ nhau đâu có dịu
dàng”. Đúng vậy, nhớ nhau đâu chỉ dịu dàng, nôn nao, bồn chồn, nông nổi, vội
vàng, như chàng trai trong ca dao thuở xưa vừa “trèo lên” lại lúng túng “bước
xuống”: “Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”. Nhưng
cái lúng túng của chàng trai trong ca dao là cái lúng túng của thuở ban đầu
chưa kịp trao lời để rồi hối tiếc. Còn nỗi nhớ trong bài thơ “Nhớ” là đã từng
có kỉ niệm, đã từng dặn dò, chỉ là thời gian quá chậm so với cái nôn nao của
lòng người mà thôi, cho nên “nỗi nhớ đâu có dịu dàng”…
Có những vần thơ nhẹ nhàng, êm ái, đọc lên cứ du dương, ru
lòng ta nhè nhẹ, ai cũng có một thời tuổi trẻ, ai cũng có một thời mộng mơ, ai
cũng có những cái nắm tay thề thốt suốt cuộc đời: “mỗi người bước đi bằng hơi
thở của chính mình/ tay nắm chặt để em đừng nghi ngại/ ta chú thích vào tương
lai thân ái/ con đường có tên đêm xa…” (Chú thích đêm)
Thơ viết về cõi riêng của tình yêu thật đẹp: “nói gì/ khi ta
yêu nhau/ không nói gì/ khi ta yêu nhau/ bóng tối làm lu mờ xác thịt/ lại rực rỡ
xúc cảm phần người/ góc nhỏ này của riêng ta thôi/ nhớ nhau ta tự tìm về… ngôi
nhà người tình hư hao theo năm tháng nhạt nhòa/ hóa sứ đỏ nở nôn nao một góc/
bao thăng trầm mệt nhọc/ rồi cũng hết trăm năm/ lối thông hành của tim là một
con đường hun hút xa xăm/ chờ trong li biệt/ chờ trong da diết/ những dòng tin
nhắn như chim bay mỏi cánh/ chẳng có lời nói nào ở ban công/ đêm/ nở lập lòe nụ
môi giã biệt” (Góc riêng ta). Những vần thơ tự sự, tâm tình rất nữ tính. Ở góc
nhỏ tình yêu người phụ nữ đã tỉ mỉ nhớ lại từng chi tiết nhỏ nhất, đó là nỗi nhớ
trong trái tim đã yêu, đang yêu và vẫn còn yêu. Dù “lối thông hành của tim là một
con đường hun hút xa xăm”. Ta nói đó là thủy chung. Ta nói đó là chung tình. Ta
cũng nói đó là thất tình. Điều ta nhận ra là tình này thật đẹp. Kỷ niệm thật
đáng yêu. Bởi tình yêu khi đã đắm say, dâng hiến thì “lại rực rỡ xúc cảm phần
người”, nó như tiểu thuyết, mỗi ngày mở ra mỗi trang là nhớ về một kỉ niệm.
“biết làm sao quên/ tiếng chuông vọng vào miền thao thức/ hơi
thở gấp truyền qua lồng ngực/ đêm hoang vu trở về// không giờ// dường như tất cả
đã ngủ mê/ bóng đèn đường rụt rè bật sáng/ ở giữa lối thông hành lãng mạn/ chỉ
những người thương nhớ dắt nhau đi” (Thức dậy lúc không giờ). Cái thao thức của
trái tim khao khát yêu thương trở nên đáng yêu bởi có “lối thông hành lãng mạn”;
trong cái tĩnh lặng về đêm dường như kí ức và nỗi nhớ cùng ùa về, để trái tim
tình yêu nhận ra một điều rất giản dị: “chỉ những người thương nhớ dắt nhau đi”,
khi đã trao trái tim thương nhớ cho nhau, dù có xa ngái, cũng chỉ là tạm thời.
Nói như ai đó là “tình yêu trong xa cách được ví như ngọn lửa trong gió. Gió thổi
tắt những ngọn lửa nhỏ và thổi bùng những ngọn lửa lớn”.
Dường như mỗi sắc màu của nỗi nhớ tình yêu đi vào thơ chị như
một câu chuyện kể về một kí ức, một kỉ niệm, với không gian và thời gian đồng
hiện. Và rồi, tứ thơ “chỉ khi con tim biết nói lời yêu thương/ hạnh phúc sẽ
theo ta đến cuối con đường” như một chân lý hiển hiện trong toàn bộ tập thơ của
nhà thơ Lê Thanh My. Một tập thơ không nhiều chỉ với 50 bài, cầm lên tay nhẹ
tênh, nhưng chứa đựng sức nặng của một trái tim phụ nữ thi nhân thật chân tình,
hồn hậu, chị đã nói thay cho biết bao người phụ nữ đang yêu, đang kháo khát
tình yêu, đang đợi chờ, rằng khi yêu thương bằng chính trái tim mình, thì hạnh
phúc sẽ mỉm cười.
Đọc thơ của nhà thơ Lê Thanh My, tôi nhận ra giọng thơ của
nhà thơ Nam bộ, thủ thỉ, tâm tình, giản dị, chân thành, thẳng thắn khi giải bày
các trạng thái cảm xúc của tình yêu… không cố tỏ ra bóng bẩy hay trau chuốt cho
cái tôi kiêu hãnh trong tình yêu. Thơ chị như “người đàn bà” kể, câu chuyện kể
mỗi ngày làm sáng lên một vùng kí ức, gợi về một vùng kỉ niệm và biết đâu đó
cũng là kinh nghiệm riêng cho mỗi người. Con đường tình yêu, chỉ là một hành
lang hẹp, nếu ai đó biết nắm tay thật chặt, thật tự tin thì đi đến cuối con đường.
Nếu vụng dại, không may hay lỡ lầm thì đó cũng chưa phải là tận cùng, và hãy nhớ
“trong lòng người đàn ông/ nụ cười người đàn bà hơn tất cả thế gian”. Bài thơ
“Khi con tim biết nói lời yêu thương” với kết cấu đầu cuối tương ứng là sự đúc
kết những trải nghiệm của cái tôi thi sĩ trước tình yêu và cuộc đời. Bài thơ thật
có giá trị nhân văn cho những ai đã yêu, đang yêu và sẽ yêu.
Đến với tập thơ Những người thương nhớ dắt nhau đi, tôi
nhận ra một điều rất giản dị là hãy đọc chậm, đọc kỹ, đọc nhiều lần một văn bản
thơ, bởi đặc trưng mơ hồ và đa nghĩa của thơ ca, và cũng bởi lối bày tỏ cảm xúc
của nhà thơ từ tốn, chậm rãi… giá trị nhận thức của văn chương chính là ở chỗ
giúp ta tự ngộ ra, tự biết thêm về mình, về mọi người; dường như đó cũng là
thông điệp của nhà thơ với cuộc sống hối hả hiện nay với những ai có thói quen
“bấm” và “lướt” mỗi ngày, nếu chỉ bấm và lướt quá nhanh bạn sẽ không thể cảm nhận
hết cái đẹp của tình yêu và cuộc đời bởi vì “ở giữa lối thông hành và lãng mạn/
chỉ những người thương nhớ dắt nhau đi”
Huế
ngày 6/1/2019
H.T.T.T
19/3/2020
Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
"Bông hồng vàng" - Bút ký của Châu La Việt
"Bông hồng vàng" - Bút ký
của Châu La Việt
Năm 1971, mặt trận Lào đang chiến dịch “cù kiệt” (trả hận),
bom đạn tóa lửa trên trời dưới đất, bỗng một sáng anh Trung Nhân đi giao ban cơ
quan Chính trị về, bảo rằng:” Hoài ơi, em chuẩn bị ra Hà nội tham gia trại viết
của Tổng cục nhé.”… Thế là chiều tối ấy, khoác ba lô chào anh em ra barie đón
xe từ Phunokcok về đèo Đất, bom đạn vẫn cứ ầm ầm xung quanh, rồi đêm sau đón xe
từ Đèo Đất về Mường xén, vẫn cứ máy bay bay theo xả hàng loạt đạn bom… Cho đến
khi về tới Mường xén thuộc đất mình mới tạm yên ổn, rồi nhảy xe BT 11 từ Mường
xén về ga Si đón tàu về Hà Nội…
Nhà thơ Châu La Việt
Phải nói từ mặt trận về trại viết khi ấy cứ như từ địa ngục
khét lẹt đan bom về thiên đường. Trại viết ở tại công trường 800 (Nay là đường
Hoàng Quốc Việt), cùng với đoàn chèo Tổng cục, những chị Tuất chị Sửu chị Quỳnh
Dung em Oanh em Hoàng đẹp mê man , hát múa ngúng nguẩy cứ như tiên nữ hết lượt
(Trong ánh mắt những thằng lính từ mặt trận mới về). Lại được ăn cơm tiểu táo,
ngày ba bữa cứ đánh tì tì, lại chuyên tâm chỉ mỗi việc viết lách, có thầy giỏi
là những văn nghệ sỹ nổi tiếng kèm tay, lại thêm có ông thầy Tào Mạt nhiệt tình
đến mức nửa đêm còn dựng trò dạy hát chèo cho nghe, miệng hát tay khua cứ như
lên đồng… Mới thầm nghĩ thiên đường là đây chứ còn là đâu nữa !
… Quả với tôi, văn chương đàn hát từ ngày ấy thực sự là thiên
đường. Tôi chẳng thiết gì khác ngoài nó. Khổ đau cùng cực hay ăn đói mặc rách
vì nó cũng chẳng sá gì!…
Sau trại viết ấy về, một thời gian sau, binh trạm lại cử tôi
ra Hà nội học một lớp điện ảnh. Ở đây tôi gặp một thằng tân binh người Tày cũng
rất thích làm thơ là Hứa Vĩnh Sước. Thế là hai thằng chẳng học điện ảnh mấy,
(thực chất là chiếu bóng không làm tôi mấy hứng thú so với việc làm thơ viết
văn), nên chỉ cùng Hừa Vĩnh Sước suốt ngày đàm đạo thơ ca và chở nhau đi khắp
Hà Nội theo đuổi văn chương… Sau này Hứa Vĩnh Sước kể lại về con đường thơ ca của
chúng tôi:
“Dạo ấy đang là mùa hè. Việt nhễ nhại đèo tôi bằng chiếc xe đạp
Thống Nhất đi từ Thanh Trì lên nội thành Hà Nội. Việt dẫn tôi đến ngôi nhà số 4
phố Lý Nam Đế. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi được bước chân vào ngôi nhà
Văn nghệ Quân đội. Cảm xúc lâng lâng thật khó tả. Ngạc nhiên có. Sờ sợ có.
Choáng ngợp có. Thinh thích có. Và người đầu tiên, Việt giới thiệu với tôi. Đây
là nhà thơ Xuân Sách. Còn đây là nhà thơ Văn Thảo Nguyên. Họ là nhà thơ ư ? Sao
họ cũng ăn ở sạch sẽ, chỉnh chu, bình thường như mọi người. Thậm chí hai nhà
thơ này chỉ nhúm cười thân mật. Họ ít nói về mình, càng không nói gì về thơ văn
cả. Trời ơi! Tôi đã đọc họ rồi. Thậm chí còn thuộc khá nhiều bài của họ. Nhưng
sao nhà thơ… Lẽ ra họ… không biết nói thế nào về những người này. Trong mắt
tôi, họ là những người âm u bí hiểm. Đại loại như mấy ông thày mo thày tào trên
quê tôi. Đại loại họ bẩn bẩn một chút. Hôi hôi một chút. Tóc dài, râu dài, móng
tay quăn tít như hoa móng rồng. Họ nói như ma nói. Âm thanh giọng người phát ra
như chuông rè, đầy màu sắc mộng mị…
Kỉ niệm ấy không bao giờ quên. Nó nhắc đi nhắc lại trong tôi.
Nhà thơ là thế đó. Bình thường như mọi người. Dễ mắc sai lầm hơn mọi người. Ảo
tưởng mơ mộng thì nhiều hơn mọi người. Khóc vì nỗi đau nhân thế nhiều hơn mọi
người. Buồn vì tay mình luôn ngắn hơn ống tay áo. Làm thơ có gì sướng, thi nhau
lăn lưng vào là sao nhỉ?..
Châu La Việt là người đưa tôi đến ngôi nhà văn chương một
cách ngẫu nhiên thôi. Việt bảo tao đưa mày đi chơi cho biết Hà Nội. Dạo ấy tôi
đâu đã thiết tha với cái nghiệp thi ca văn chương, chỉ muốn đi cho biết Hà Nội
nó to như thế nào. Lúc đầu chỉ là thỏa mãn trí tò mò. Tò mò mãi đâm ra thành
quen. Ngày đầu mới chỉ làm quen văn chương thôi. Sau này và kể cả bây giờ, tôi
“chết” như rệp. “Chết” là bởi cái đẹp của sự sáng tạo nghệ thuật ngôn từ…”
Năm 2017, tôi lại về Nha Trang dự một trại viết về người
lính, cũng của NXB Quân đội tổ chức. Trước khi tham gia trại, tôi có hai tập
sách là tiểu thuyết “Triền dâu xanh ngát” và tập truyện ngắn” Binh trạm phía
tây” in ở NXB, có lẽ bởi thấy tôi tâm huyết với đề tài người lính nên anh em đã
mời tôi tham gia trại ( cùng các nhà văn, nhà thơ Mai Nam Thắng, Chi Phan, Nguyễn
Trọng Tân, Nguyễn Minh Ngọc, Lê Huy Quang, Trần Bích Nga, Nguyễn xuân Hùng, Đỗ
Ngọc Yên…).Chính ở Nha trang, tôi vô cùng xúc động gặp lại dấu vết người sư
đoàn trưởng đầu tiên của tôi: Thiếu tướng Hà VI Tùng, sư trưởng sư đoàn 320 b.
Thế là lẳng lặng thuê một chiếc taxi, rồi xe ôm, đường loằng ngoằng lắm, tìm đến
nhà lưu niệm của thủ trưởng để dâng hương lên thủ trưởng.Tôi nhớ lúc thắp hương
xong, tôi cứ đứng lẩm nhẩm vừa như báo cáo, lại vừa như tâm sự với Sư đoàn trưởng,
lại cả đọc thơ cho sư trưởng nghe nữa…
– Thưa thủ trưởng – Tôi thầm thì cùng ông – Chúng em (Ngày ấy
chúng tôi hay xưng là em với các thủ trưởng) là những người người lính sư đoàn
320b năm xưa được thủ trưởng dìu dắt và huấn luyện, sau đó được bổ sung cho các
mặt trận, chiến trường. Chúng em trở thành những người lính chiến dũng cảm,
hoàn thành sứ mệnh với quê hương đất nước cũng một phần từ chính sự huấn luyện,
giáo dục, yêu thương của các thủ trưởng”
Bất giác, tôi thầm đọc ông nghe một bài thơ tôi viết về những
người lính Hà nội ngày ấy do ông huấn luyện, vào chiến đấu ở mặt trận và anh
dũng hy sinh: “ Hà nội ơi có biết bao chàng trai/Như bạn tôi đã không về nữa/Sông
Hồng vẫn trôi và mây trắng vẫn bay/Nhưng lắng nghe từ trong hương hoa sữa/Như
có mùa thu của ngày ấy lên đường/Nhưng lắng nghe từ trong hương hoa sữa/Có bạn
về trong mỗi làn hương…”
Vâng, thưa thủ trưởng, chúng em đã chiến đấu, đã sống xứng
đáng với những gì thủ trưởng đã trao, đã dạy dỗ,huấn luyện, xứng đáng với truyền
thống của sư đoàn 320 B ngày ấy. Mãi mãi chúng em không bao giờ quên các thủ
trưởng, quên người sư đoàn trưởng đầu tiên của mình…
Và ngay đêm ấy, trong một niềm xúc động dâng trào, tôi đã viết
ký sự:”Sư đoàn trưởng của tôi”, bổ sung ngay để hoàn chỉnh cho tập sách “ Một
người lính Nam tiến” về Sư trưởng của tôi – Tướng Hà Vi Tùng.
Trại viết về người lính 2019 Vũng Tàu…
Tôi ngồi lặng lẽ trong một căn phòng của Trại viết, và nhìn
ra biển rộng. Văng vẳng bên tai tôi, hòa trong tiếng sóng biển, là lời Nhà văn
Paustovsky trong truyện ngắn Bụi quý :” Giống như bông hồng vàng của người thợ
hót rác già kia làm ra là để cho Xuyzan được hạnh phúc, sáng tác của chúng ta
là để cho cái đẹp của Trái Đất, cho lời kêu gọi đấu tranh vì hạnh phúc, vì niềm
vui và tự do, cho cái cao rộng của tâm hồn và sức mạnh của trí tuệ chiến thắng
bóng tối, cho chúng ta rực rỡ như một mặt trời không bao giờ tắt.”
Và lời Nhà văn Đỗ Chu yêu thương dặn riêng cho nghiệp cầm
bút của tôi: ”Việt ơi, hãy viết như mẹ em từng đã hát. Ngậm từng chữ, nhả từng
câu ,đau như lòng tằm và quý phái như tấm lụa tơ tằm. Say mê tột cùng và thương
nhớ cũng tột cùng…”
Và rồi trong sóng biển Vũng Tàu, tôi viết trường ca “
Dòng sông thơm hương cỏ xương bồ”. Viết theo thể thơ 7 chữ cổ kính, đúng như thể
thơ nhà thơ Tố Hữu đã viết trường ca “Theo chân Bác”.
Tôi chỉ thầm nghĩ một điều: Phía trước là kỷ niệm 100 năm
ngày sinh của Tố Hữu- Một nhà thơ lớn, người đã có những vần thơ tuyệt vời về Đất
nước, Nhân dân, về những người chiến sỹ, và đặc biệt là về Bác Hồ. Có lẽ nào
không có những vần thơ, những trường ca hay đẹp viết về ông? Có lẽ nào tôi
không có một bông hồng vàng để kính dâng ông, một nhà thơ lớn, một nhà thơ đã
ru hồn thế hệ chúng tôi từ tuổi ấu thơ, đã sát cánh chúng tôi trên con đường ra
trận mà thơ ông như tiếng kèn thôi thúc. Và với riêng gia đình tôi, ông là người
đã nâng đỡ và mang rất nhiều hạnh phúc đến cho mẹ tôi, cũng là người bố vợ đằm
thắm và giàu tình cảm vô cùng cho cuộc đời em ruột tôi?
… Sóng Vũng tàu cứ mải mê vỗ suốt đêm, và từng vần thơ của
tôi cũng vang lên trong tiếng sóng biển ấy. Tôi khao khát có một bông hồng vàng
kính dâng ông - Nhà thơ Tố Hữu…
19/3/2020
Châu La Việt
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...





