Thứ Tư, 31 tháng 7, 2019

Nguyễn Bình Phương và một Hà Nội chìm trong không gian mê đắm

Nguyễn Bình Phương và một Hà Nội 
chìm trong không gian mê đắm
Arnaud Vaulerin - Về Tiểu thuyết Chân trời khác (Un autre ciel) của Nguyễn Bình Phương, do Emmanuel Poisson chuyển sang Pháp ngữ, in tại nhà xuất bản Riveneuve (Paris). Một đại tá quân đội nhân dân. Một nhà văn thực thụ. Cả hai yếu tố này đã làm nên một Nguyễn Bình Phương.
Có thể nói, trong ông luôn ẩn chứa niềm hứng khởi và sự tò mò về tham vọng viết một cuốn tiểu thuyết thoát xa thực tại theo cách lạ thường. Với Trí nhớ suy tàn, Nguyễn Bình Phương kể về «em» - một cô gái trẻ, 26 tuổi, người Hà Nội. Trong «em» luôn chứa đựng “sự phức tạp của phố phường, đôi lúc không tránh khỏi những giờ phút mơ mộng hão huyền từ thời sinh viên để lại”. Qua vài dòng đầu tiên của tác phẩm, chúng ta dễ lầm tưởng rằng đây chỉ là câu chuyện giản đơn được viết theo lối Bildungsroman (tiểu thuyết giáo dục) về một vấn đề đang hiện hữu trong đô thị châu Á còn bao hỗn loạn. Nhưng chỉ thoáng sau đó, sau những dòng cảm xúc nhòa nhạt ban đầu, câu chuyện dẫn dắt chúng ta đến những cảnh giới cùng những chân trời mơ hồ và lảng bảng.
Trí nhớ suy tàn giống như nơi chứa đựng sự cô độc của chốn phồn hoa đô thị cùng những bấp bênh của kiếp người, được diễn tả qua bao mảnh hình ảnh, qua sự kết tinh của thơ và qua tính cô đọng đầy chất hiện sinh. «Em» có “giọng nói của trời, làn da của trời, con mắt của trời. […]. Thời điểm ít mong nhớ, những cơn gió quẩn trên các ngọn cây, ấn tượng chung là chán nản tuy chưa phải tàn cuộc.”. Cuốn tiểu thuyết thoát hẳn ra khỏi khuôn mẫu với lối tự sự cực riêng biệt. "Rất khó để tóm tắt những cuốn sách của tôi", Nguyễn Bình Phương nói khi đang cố gắng định nghĩa chính tác phẩm Trí nhớ suy tàn. "Đây là những trạng thái cảm xúc của một cô gái sống ở Hà Nội đang phải đối mặt với những thay đổi trong cuộc sống."
Ông mỉm cười cho biết đây là cuốn tiểu thuyết thứ hai của mình được dịch sang tiếng Pháp. Nhà văn không có đề cương khi viết tác phẩm này. "Những dòng ý tưởng, những hình ảnh cứ thế mà đến. Tôi nghĩ chúng đã hiện hữu sẵn trong tiềm thức của mình, để rồi cứ thế nảy mầm, mà chẳng chờ đến khi tôi dựng đề cương hay cắt nghĩa. Tôi chỉ ngồi xuống và viết, có vậy thôi."
Một buổi chiều tháng 5 đầy nắng, bên chén trà xanh, tôi được Nguyễn Bình Phương tiếp ngay tại phòng làm việc của ông. Căn phòng dành cho Tổng biên tập của tạp chí Văn Nghệ quân đội nằm ở tầng hai của ngôi nhà Pháp cổ, tường phủ sơn vàng, tọa lạc trên phố Lý Nam Đế, trung tâm thủ đô văn hiến.
Chiều hôm ấy, người tiếp đón tôi không có dáng dấp của một vị đại tá quân đội hay người đã từng có mặt tại biên giới phía Bắc năm 1984 - 1987 mà là một nhà văn có tầm vóc và đầy sức hút. Người đàn ông điềm đạm ở tuổi 53 này nói về sự ‘phân thân’ của mình: "Khi làm biên tập, tôi rất nghiêm túc. Tôi ý thức rất rõ về những nguyên tắc mà mình phải tuân thủ. Nhưng khi sáng tác, tôi sẽ giải phóng tâm trí và ý nghĩ của mình. Tôi viết những gì tôi muốn. Không một ai có thể ra lệnh cho tôi."
Từ 20 năm nay, những câu hỏi, những bình luận hay sự ngờ vực vẫn luôn bủa vây quanh sự «phân thân» ngoạn mục của người nghệ sĩ xuất thân trong một gia đình trung lưu và nếm trải mùi vị chiến tranh từ rất sớm này. "Đôi lúc chính tôi còn không thể lý giải được vì sao tôi ở lại được với chức vụ này. Tôi không tự “kiểm duyệt” các tác phẩm của mình. Ở nước tôi, nhà văn có thể viết về những mặt trái của xã hội, nhưng với điều kiện là chỉ trích trên tinh thần xây dựng chứ không phải để đạp đổ."
Trong tác phẩm Thoạt kỳ thủy (nhà xuất bản Riveneuve, 2014), Nguyễn Bình Phương mô tả một ngôi làng bị giằng xé, bủa vây bởi sự điên loạn, độc đoán và phi lý tựa bản chất của chiến tranh. Đó cũng chính là nỗi ám ảnh của người dân Việt Nam trong suốt cuộc chiến tại miền Bắc Việt Nam. Nước, lửa, ánh trăng và bóng tối tạo nên tấm màn bí ẩn cho cuốn tiểu thuyết đó. Lần này, ở Trí nhớ suy tàn, tác giả đắm mình vào một Hà Nội cuối thế kỷ XX, "sôi động, khuất tất, một tổ mối ven sông với cơ cấu tổ chức hỗn loạn không mảy may tự do". Cuốn tiểu thuyết là sự thăm dò "tâm trạng của một phụ nữ trẻ mắc kẹt giữa hai người đàn ông, [...] người đã trốn tránh tình yêu." Trong đó có Tuấn, người "ra đi như một đám mây, một đám mây không đầu thai trở lại"; Vũ - người tình nhân với chiếc xe máy - kẻ "thích đi, yêu sự khó hiểu, đặc biệt say mê bầu trời". Ở đó nhân vật chính là "em" - cô gái trẻ thướt tha đi vào câu chuyện và dẫn dắt mạch kể qua việc tự vấn để tìm lại chính bản ngã của mình. Trong vô số nhân vật, nơi chốn, cảm xúc và khoảnh khắc của thời thơ ấu, bệnh tật, tình bạn, lưu vong,... tác giả cũng đặt vào trong đó những chiêm nghiệm đương thời của đất nước.
Từng chứng kiến ​​một "quá khứ của những trận chiến, sự tàn bạo, nỗi sợ hãi, nạn đói", giờ đây nhìn vào "thế hệ mới đang hướng đến tương lai» Nguyễn Bình Phương nhận thấy: «Con trai tôi hoàn toàn thờ ơ với chiến tranh. Đối với nó, đó chỉ đơn thuần là vài dòng viết trong sách giáo khoa lịch sử”. Cuốn tiểu thuyết của ông có tên là Trí nhớ suy tàn còn tại Pháp, nó được xuất bản dưới tên gọi: Một bầu trời khác. Nó mở sang một trang mới của văn chương Nguyễn Bình Phương - nơi không có chiến tranh và đường biên giới.
11/3/2019
Arnaud Vaulerin
Thanh Tâm dịch từ Libération, 
Đặc san cuối tuần, 16 - 17 tháng Hai 2019
Theo http://vanvn.net/

Những hình ảnh ái tình của thi ca truyền thống Việt Nam

Những hình ảnh ái tình của 
thi ca truyền thống Việt Nam
Minina Julia Dmitrievna * Phan Sơn Hải dịch từ tiếng Nga - Những hình ảnh ái tình của thơ ca truyền thống Việt Nam: khi thiên nhiên trở nên gợi cảm. Ở Việt Nam thời tiền thuộc địa xuất hiện hai truyền thống thơ ca, hai thế giới khác biệt, đầy giá trị, gần như không tương tác với nhau.
Hai truyền thống ấy đã sử dụng ngôn ngữ và phương tiện biểu đạt khác nhau, giải quyết các vấn đề khác nhau, và tất nhiên, độc giả đón nhận cũng khác. Thơ ca cung đình dựa trên các quy luật thơ ca Trung Quốc, và để có thể thâm nhập vào hình ảnh và biểu tượng (hoặc ít nhất là chỉ đọc những gì đã được viết!), cần một người có giáo dục sâu sắc và nghiên cứu hàng ngàn chữ tượng hình. Ngược lại, thơ ca dân gian được liên kết tại các làng quê ca hát, nơi phát triển nhờ những truyền thuyết và tín ngưỡng tôn giáo, các thể loại ca nhạc, các mẩu truyện tích xưa và những lời thơ ngắn. Để đánh giá được vẻ đẹp của loại hình văn học như vậy, không cần gì nhiều ngoài đôi tai và một trái tim nông dân thuần túy.
Nữ thi sĩ Việt Nam Hồ Xuân Hương (khoảng năm 1775, năm 1820) đã dũng cảm làm cuộc cách mạng thi ca thực sự, khi kết hợp văn hóa cao cấp của giới thượng lưu với những nét đẹp của làng quê Việt Nam mà bấy lâu bị chối bỏ, không được công nhận bởi giới cầm quyền.
Trong các tác phẩm của Hồ Xuân Hương, lời bài hát mang đậm tính hình tượng, rất đặc trưng của các nhà thơ Trung Quốc và Việt Nam, chiếm một vị trí quan trọng. Nhưng những phác họa cảnh quan này cũng khá bất thường. Các miêu tả mỹ miều về các cảnh quan hùng vĩ như bị xâm biếm bởi những hình ảnh mang tính gợi dục xác thịt. Nữ thi sĩ tạo ra những bài thơ hai mặt, trong đó, cùng với phong cảnh, một hình ảnh kỳ lạ của cơ thể con người xuất hiện, hòa quyện với đất trời, với những chỗ căng lên và lõm xuống. Để đạt được điều này phải nhờ các tính năng của tiếng Việt qua một số lượng lớn từ đồng âm, từ đa nghĩa, và hệ thống âm điệu. Nhà thơ thường sử dụng các biểu tượng màu sắc truyền thống. Đối với thơ ái tình của Trung Quốc và Việt Nam các hình ảnh đặc trưng được sử dụng, được xây dựng trên sự kết hợp của màu đỏ và màu xanh lá cây. Màu xanh lá cây, bên cạnh việc kết hợp với thảm thực vật, còn thể hiện nhân cách hóa yếu tố nước và tính nữ. Màu đỏ tượng trưng cho da thịt con người, sự tán tỉnh, việc bước vào tuổi kết hôn, lễ cưới. Trong bài thơ “Đèo Ba Dọi” cũng xuất hiện hình ảnh hợp nhất giữa rêu xanh bao phủ lối vào hang động đỏ tươi.
Đèo Ba Dọi
Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa con đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.
Tiếc là, dù dịch như thế nào chăng nữa cũng vẫn làm nghèo đi ý thơ, điều này dường như đúng gấp đôi lần đối với bản dịch tác phẩm văn học Việt Nam,. Những từ của tiếng Nga thường dài và không đa nghĩa như vậy, chúng hầu như đã phơi bày những gì mà nữ thi sĩ có thể ẩn giấu đằng sau những gợi ý tinh tế.
Hồ Xuân Hương đã sáng tác nhiều bài thơ tôn vinh sự giản dị, rất đơn thuần, thoạt nhìn, như những hình ảnh đời sống bình dị. Nhưng ở đây cũng vậy, đằng sau sự mô tả đời sống sinh hoạt hàng ngày là cả một bộ phim về số phận, cảm xúc và cảnh đời của người phụ nữ.
Bánh trôi nước
Thân em thời trắng phận em tròn
Bảy nổi ba chìm mấy nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Nhưng em vẫn giữ tấm lòng son
Một nữ sinh lớp tám của trường phổ thông Việt Nam L.A.  giải thích ý nghĩa của bài thơ như sau: Ở đây nhân vật nữ của bài thơ nói về gánh nặng của chính mình. Bánh trôi tất nhiên là một phụ nữ, rất hấp dẫn. Ngày xưa, cơ thể đầy đặn mềm mại được coi là đẹp. Ý nghĩa của bài thơ, trên thực tế, thật đáng sợ. Một người phụ nữ nói rằng cô ấy đang nổi lên, đuối nước, nghĩa là bị buộc phải trao thân cho những người đàn ông không phải người mình yêu. Nhưng trong trái tim cô ấy luôn dành tình cảm cho một  người duy nhất. Và chúng ta thậm chí có thể cho rằng, chính anh ta là người khiến cô ấy làm trò tiêu khiển cho các vị khách trong một nơi vui vẻ, và cô ấy dù sao chăng nữa vẫn yêu anh ta.
Những bài thơ của Hồ Xuân Hương được đưa vào trong chương trình giảng dạy văn học từ lớp 8 - 10, nhưng chúng được kèm theo những bình luận sâu rộng và giải thích chi tiết của các giáo viên. Ngôn ngữ của nữ thi sĩ thường khó hiểu đối với người đọc hiện đại, trẻ em phải học từ mới theo nghĩa đen. Vào đầu thế kỷ trước, Việt Nam đã từ bỏ hệ thống chữ viết tượng hình để chuyển sang chữ viết theo ký tự La-tinh, giúp đơn giản hóa rất nhiều cho người học, nhưng lại có thể đọc được từ không hề có nghĩa thâm nhập vào ý nghĩa của văn bản.
Theo Hồ Xuân Hương, các nhà thơ Việt Nam bắt đầu kết hợp các hình thức thơ truyền thống với giản lược nghĩa bóng, và ngôn ngữ dần được sử dụng giản dị, giúp mở rộng độc giả. Theo thời gian, người ta dần chuyển thể thành văn bản ngay cả những bài hát và bài thơ dân gian, được cách điệu, điều mà ngày xưa không dễ làm được.
Tuy nhiên, cho đến ngày nay, tình yêu và ca từ gợi tình của Việt Nam mang đặc trưng bởi hình ảnh phức tạp, không hề tầm thường, liên tưởng đến các biểu tượng tự nhiên, tiếp thu các phương pháp của thơ ca xưa. Dưới đây tôi trình bày bản dịch bài thơ của riêng tôi, được viết bởi nhà thơ Việt Nam hiện đại Mai Văn Phấn (sinh năm 1955 ~) “Ngậm em trong miệng”. Bài thơ được viết theo thể tự do (những câu thơ tự do), không vần điệu, số lượng âm tiết và âm điệu trong một câu thơ không theo quy định như thơ truyền thống. Tuy nhiên, chính hình ảnh xây dựng thành bài thơ, và chính cái cất giữ trong miệng đã được đề cập trong thơ ca cổ Việt Nam. Đây là một loại ẩn dụ, nhờ đó có thể mô tả một thái độ nâng niu những cảm xúc thầm kín nhất.
Trong miệng, trên lưỡi hoặc dưới lưỡi gìn giữ một cách thân thương và vững bền tình yêu và ký ức về những người thân yêu là thứ quý giá và quan trọng nhất, được lưu trữ nhẹ nhàng và an toàn. Ở đây, tác giả dường như kết hợp cảm giác thân thể với xúc cảm tâm hồn, rất phổ quát, toàn diện đến mức biến việc miêu tả hành động yêu thương thành một tuyên ngôn chung thủy và khao khát đến đớn đau cho sự thoát xác.
Ngậm em trong miệng
Luôn tin có em trong miệng anh
Nơi không chiến tranh, dịch hạch
Mũi tên bắn lén tẩm độc
Thị phi, cạm bẫy, lọc lừa
Lối em đi không còn gai nhọn
Bão tràn qua anh dựng tường ngăn
Bình yên trong miệng anh
Em thúc nhẹ bờ vai
Vòm ngực, ngón chân vào má
Huyên thuyên và hát thầm
Hồn nhiên cho lưỡi và răng anh chạm vào cơ thể
Anh là con cá miệng giàn giụa trăng
Rời bỏ bầy đàn quẫy vào biển động
Y.D. Minina
Chú thích:
* Y.D. Minina, là giảng viên Khoa Ngôn ngữ và Lịch sử Châu Á, thuộc Trường Đại học Tổng hợp Liên bang Viễn Đông - Liên bang Nga.
24/4/2019
Minina Julia Dmitrievna
Phan Sơn Hải dịch
Theo http://vanvn.net/


Chu Văn Sơn - Minh triết của cái sống

Chu Văn Sơn - Minh triết của cái sống
Với nhà giáo, nhà phê bình văn học Chu Văn Sơn, cái sống là cái đẹp. Tôi tin đó là tín niệm suốt đời của con người sắc sảo, tài hoa ấy. Cho đến trước khi những ảnh hình trước mặt trở nên nhạt nhòa, ký ức trở nên mông lung, thầy vẫn cầm tay tôi và nhắn nhủ: phải sống động.
Điều gì đã không thể phai đi trong ý nghĩ, dịu xuống trong đôi mắt, để rồi chợt cất lên rành mạch giữa chuỗi vô định của lời? Đó chỉ có thể là một tín niệm về giá trị đã được nhận ra, được suy tư lâu dài, triệt để, bám chặt vào tâm trí, ăn sâu vào máu thịt, trở thành thước đo, thành thang bậc giá trị làm nên cốt cách con người Chu Văn Sơn như chúng ta đã gặp, đã biết.
Đời sống và văn chương nói lên tất cả tín niệm về cái đẹp của thầy Chu Văn Sơn. Sự sống, cuộc sống là đẹp, nhưng, với một người duy mĩ như thầy Sơn, đẹp phải là cái sống. Sống động, lay động gây được xúc động ấy là đẹp. Phải đẩy sự vật tới tận cùng giới hạn của nó để nhận ra chân tướng phía sauhình tướng, để nhận ra căn cốt duy trì cái đẹp chính là cái sống. Bản thân sống là diệu kỳ. Do vậy, cảm nhận được cái sống động ở trong lòng sự sống chính là năng lực đặc biệt làm nên sự tinh tế, tài hoa, lịch duyệt của Chu Văn Sơn.
Ba đỉnh cao Thơ mới là một chứng lý điển hình cho minh triết cái sống của Chu Văn Sơn. Phải lên cao mới nhìn rõ và bao quát, phải tổng kết các đỉnh cao mới có thể đánh giá một cách xác đáng về thành tựu của một giai đoạn, một trào lưu, khuynh hướng hay thể loại văn học. Chú ý đến Xuân Diệu, Chu Văn Sơn nhận ra bản mệnh của thi sĩ này là: Tù nhân của chữ Tình. Với Nguyễn Bính, Chu Văn Sơn cảm nhận đầy đủ cái sống thê thiết của Kiếp con chim lìa đàn (gần đây, ông viết tiểu luận Nguyễn Bính - hoài niệm cội nguồn tiếp tục làm tròn đầy ưu tư về Nguyễn Bính: “Nguyễn Bính là đứa con được sinh ra từ cuộc dan díu định mệnh giữa giọt mưa quê và hạt bụi phố khi trời đất dậy lên những cơn gió chuyển thời”). Còn với Hàn Mặc Tử - nhân vật có lẽ tốn nhiều tâm sức, trí lực nhất của Chu Văn Sơn, cái sống chính là mỹ cảm ở phía tột cùng (sau này ông viết thêm tiểu luận Hàn Mặc Tử - một định nghĩa bằng máu về thơ càng minh chứng cho xác tín về cái đẹp sống động/ lay động - dẫu đau thương, càng đau thương càng lay động, của Chu Văn Sơn). Ba đỉnh cao Thơ mới thực sự là một đỉnh cao trong nghiên cứu, phê bình Thơ mới nói riêng và phê bình văn học nói chung ở Việt Nam. Từ Thơ mới, những trường hợp khác của văn học Việt Nam cũng được soi rọi bằng cái nhìn thống suốt và quan điểm kiệt cùng ấy: Hoàng Cầm - gã phù du Kinh Bắc; Nguyễn Duy - thi sĩ thảo dân; Thanh Thảo - nghĩa khí và cách tân; Xuân Quỳnh - cánh chuồn trong giông bão; Trúc Thông - ngọn đèn xanh trong xứ mơ hồ; Vi Thùy Linh - thi sĩ ái quyền; Văn Thùy - cược mình vào lục bát; Sức sống mãnh liệt của lục bát; Vũ điệu của sắc màu, âm nhạc của đôi mắt… Càng đọc những bài viết, những chân dung nghệ thuật qua lăng kính của Chu Văn Sơn, chúng ta càng nhận ra chân tướng của các hiện tượng, giá trị và diện mạo của họ. Viết chân dung nghệ thuật và cả chân dung học thuật, như Chu Văn Sơn đã nói, phải toát lên tâm tính, khí cốt, thần thái, diện mạo của đối tượng. Hoàng Cầm, trong cái nhìn tinh anh của Chu Văn Sơn, mang thiên mệnh là gã phù du Kinh Bắc, một “Liêu trai trầm cảm”, một kết tinh uất nghẹn của đời, của tình, của chữ. Cũng bằng cái nhìn và quan niệm ấy, Chu Văn Sơn đã thâu tóm và chắt ra cốt tủy của lục bát Nguyễn Duy chính là một cây đàn hương hỏa, thứ rượu của chúng sinh ẩn chứa minh triết dân gian ngàn năm…

Với những người thầy, những nhà giáo, nhà khoa học mà Chu Văn Sơn yêu kính, gắn bó và thông hiểu, ông đều lẩy ra được những nét, những hình, những cốt cách đặc tả chân dung, tâm tính, khí chất của mỗi người. Đó là Nguyễn Đăng Mạnh: Sắc và Sáng; Hoàng Ngọc Hiến với Triết học ẩn dật trong văn học; Trần Đình Sử với lối văn kiêu hùng, văn của Lí - Trí (lời thì sắc - ý thì chắc - mạch thì chặt - hơi thì nóng); Nguyễn Đình Chú với sức mạnh của Tâm quyền và Trí quyền; Lưu Đức Trung lặng lẽ “Góc khuất hoa thầm”, trăng soi đáy nước (Thủy Nguyệt)… Sự thực, Chu Văn Sơn viết không nhiều, sách riêng chỉ đôi cuốn: Ba đỉnh cao Thơ mới, Thơ - điệu hồn và cấu trúc. Thế nhưng, mỗi bài viết trong từng cuốn sách đều khiến người khác phải thán phục vì sự tinh tế mà đủ đầy, diệu hoạt mà khúc chiết, bay bổng mà đằm thắm, nhu nhuyễn mà kiêu sa, tung tẩy nhưng đầy sắc sảo. Chu Văn Sơn là thế, đã nghĩ, đã viết là truy đuổi đến tận cùng của cái đẹp sống động, cái đẹp làm lay động lòng người.
Để rõ hơn ý niệm cái đẹp là cái sống có lẽ tản văn, tùy bút của Chu Văn Sơn sẽ là những bảo chứng (quan niệm cái đẹp sống động của Chu Văn Sơn cũng thể hiện rõ trong một số địa hạt khác như hội họa, âm nhạc, ẩm thực hay kiến trúc không gian sống…). Chu Văn Sơn nhận ra, cái sống của Trịnh Công Sơn chính là trở thành một giá trị văn hóa - văn hóa Trịnh, một thứ văn hóa mang đầy sức quyến rũ và lan tỏa. Cảm mến một loài hoa của xứ sở Tây Bắc - hoa ban, Chu Văn Sơn quả quyết rằng: “Ban thì phải là Tây Bắc, phải rừng suối núi ngàn mới là không gian của hoa ban. Chỉ trong xứ sở của nương đồi, trong miền văn hóa Thái, thì ban mới thực sự là ban, thực sự toả sáng cái vẻ đẹp lặng thầm thanh khiết của nó thôi. Ban là nhan sắc của thiên nhiên miền Tây. Ban là sự trinh bạch của độ xuân thì miền Tây. Ban là sự hiến tặng thầm kín và mong manh của đồi núi thung khe Tây Bắc. Ban là tấm danh thiếp của nền văn hóa Thái” (Lỡ hẹn với hoa ban). Khác với vẻ đẹp đầy ánh sáng của hoa ban, một loài hoa khác mang vẻ đẹp khiêm nhường, lặng lẽ mà cao cả - hoa lau: “Là thứ hoa đạm bạc vào bậc nhất, lau mang trong mình một chút thiền ý. Thiền ý về cái lẽ sắc không của tồn sinh. Không màu mè, không hình nét. Có sắc mà vô sắc. Là hoa mà như không phải hoa. Có mà như không có. Hoa lau nhắc ta nhiều nhất về sự chập chờn mong manh của phận người. Cũng là nhắc về cái bạc lý bạc nghĩa của sự tồn sinh. Có lẽ vì thế mà thiền nhân bao đời thường thấy nhân gian trong một thoáng hoa lau” (Phận hoa bên lề). Với Đà Lạt, cái sống của xứ sở này được cảm nhận thật sâu, thật tinh và ăm ắp nồng nàn. Đà Lạt: Ôn đới gần - xứ tình yêu - xứ Trịnh ca - xứ Thiền - chốn bình yên sâu khuất (Đà Lạt và tôi). Với Sơn Đoòng, đôi mắt luôn biết nhìn ra vẻ đẹp của cái sống đã xác quyết đó là một kỳ quan được hoài thai từ mối kỳ duyên của đá và nước. Đẹp, nhưng đầy thử thách, Sơn Đoòng cũng là “lò phân kim chất người” khi tại đó, nhân cách, bản lĩnh, giá trị của con người bỗng hiện ra một cách rõ rệt. Với Angkor, vẻ đẹp ấy chỉ có thể là sự hài hòa của những đối cực: con người và thần linh, kỳ vĩ và tinh xảo, giáo gươm và điệu múa, đá và cây, khoảnh khắc và vĩnh cửu. Những đối cực sống động làm nên “cái đẹp Angkor”. Có một Angkor đẹp, từ đó, qua những suy cảm của Chu Văn Sơn, chúng ta hình dung một Angkor sống với tất cả “tài hoa, tâm huyết” của con người xứ sở chùa tháp.
Cái sống làm hiện hình cái đẹp. Cái sống trong xác tín của Chu Văn Sơn ẩn chứa những điều kín nhiệm mà đời sống nhiều khi thờ ơ, vô cảm lướt qua: “Mặt đất ngàn đời quen tha thứ. Đại dương bao la quen độ lượng. Cánh rừng mênh mông quen trầm mặc. Những dòng sông quen chảy xuôi. Những hồ đầm quen nín lặng. Những nẻo đường quen nhẫn nhịn. Những góc vườn quen che giấu. Những thảm rêu vốn không biết dỗi hờn. Những đóa hoa không bao giờ chì chiết. Những giấc mơ chỉ một mực bao dung. Những yêu thương không bao giờ trả đũa… Và ta cứ yên chí đi qua thế giới này với bước chân quen xéo lên cỏ hoa. Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm, để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu” (Nên bị gai đâm). Chu Văn Sơn đã dừng lại thật lâu, lắng nghe thật tinh, nhìn ngắm thật kĩ, cảm nhận thật sâu những hình thái của cái sống. Có như vậy ông mới nhận ra những lay động của vạn vật, dù là bé bỏng út ít, dù là mong manh tội nghiệp, dù là thinh lặng khiêm nhường hay đơn sơ thanh đạm. Phải có một cõi lòng Thanh An, một khao khát Thanh An mới đủ sự ân cần, nâng niu đến thế đối với cõi sống, cái sống.
Cái sống diễn tả khía cạnh linh động, lay động của cái đẹp. Điều này Chu Văn Sơn luôn ý thức một cách riết róng và thường trực. Một lần thầy ví von hình tượng với tôi, cái ghế - sự vật này, là tồn tại. Nó tồn tại trong đời sống của chúng ta. Tuy nhiên, họa sĩ vẽ cái ghế là truyền cho nó vẻ đẹp, làm cho nó trở thành cái sống, sinh động trên bức tranh. Quả thực, núi thiêng vì có tiên đến ở, cũng như hoa mang vầng sáng diệu kì từ nhựa sống hân hoan trong thân thể nối vào lòng đất mẹ. Lòng có đẹp thì lời mới đẹp, cốt cách có cao khiết thì văn chương mới thanh nhã. Với Chu Văn Sơn, quan niệm không phải là cái có trước, mà cuộc đời, tài năng, thực tại sống là cái có trước, cái đẻ ra quan niệm. Bởi vậy, thực hành văn chương nghệ thuật có thể xem như là sự phóng chiếu thực tại sống của ông. Nếu để ý những bài viết của Chu Văn Sơn, chúng ta sẽ thấy những khoảng thời gian, không gian bắt đầu và hoàn thiện rất xa nhau, có khi đến mươi mười lăm năm, từ Nam ra Bắc, từ Đông lên Đoài. Mọi lúc, mọi nơi, những ý nghĩ theo đuổi, bám riết ông, đòi được hiện hình một cách tinh túy nhất, kỹ càng nhất, trong dạng thái sống động nhất. Xem ra như thế Chu Văn Sơn là người cầu toàn, nhưng đó là sự cầu toàn hướng đến hoàn mỹ vốn là yêu cầu hàng đầu của nghệ thuật. Ở một tầm mức khác, hành trình và phương thức ấy nói lên cơ chế sáng tạo cái đẹp mà bất kỳ nghệ sĩ nào cũng luôn cần phải ý thức. Đúc rút lại những thực hành nghệ thuật của mình, Chu Văn Sơn gọi tên nó bằng một cấu trúc với bốn trụ cột: Ý - Tình - Giọng - Chữ.
Ý - Tình là cốt lõi của tứ. Viết mà không có tứ đồng nghĩa với việc anh chưa biết viết cái gì, chưa thật rõ điều mà mình muốn viết. Tứ nói lên trạng thái sơ khởi của nội giới thi sĩ. Tứ rõ và sáng là khi ý đã đủ và tình đã đầy. Ý là tư duy để đi về phía sáng (hình thái Apollo), tình đi về phía xúc cảm (hình thái Dionysos) nhưng cuối cùng phải gặp nhau ở chót đỉnh đầy sống động, làm bật lên tứ. Dĩ nhiên, cơ chế sáng tạo chẳng bao giờ máy móc như thế, nó nhu nhuyễn một cách tự nhiên như máu trong huyết quản, như nhựa sống trong cây, như hương thơm không bao giờ phải cân nhắc, đắn đo hay ngập ngừng toan tính. Văn chương của Chu Văn Sơn là thế. Để gọi tên đích đáng Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Xuân Quỳnh, Trúc Thông… là ai, Chu Văn Sơn đã hun đúc, nung chảy mọi quặng vỉa, chắt ra thứ vàng ròng óng ánh của phận người, phận chữ - phần làm nên giá trị cũng là phần làm nên cái sống của mỗi cá nhân. Ai cũng có thể nói Nguyễn Bính mang cốt cách dân gian. Nhưng thử hỏi, vậy chất dân gian của Nguyễn Bính ở đâu thì ít người trả lời rõ ràng, mạch lạc mà lại thuyết phục như Chu Văn Sơn. Cái dễ thấy và cũng là dễ làm nhất là người ta sẽ thống kê những chất liệu mang dấu quê trong thơ Nguyễn Bính. Rồi thì thể thơ lục bát, rồi thành ngữ, tục ngữ, ca dao, hình ảnh, biểu tượng thấm đẫm không khí quê kiểng sẽ được dẫn ra một cách hùng hồn, tha thiết. Đó là một sự hời hợt mà Chu Văn Sơn không cho phép mình chấp nhận. Đào sâu hơn vào vỉa mạch của lời, ông nhận ra hồn quê nơi Nguyễn Bính chính là “điệu tâm hồn” của làng quê, của đời sống dân gian. Xác định được điều này cũng là khi Chu Văn Sơn bước chân vào địa hạt vô cùng mông lung, vi tế của tinh thần, tình cảm. Điệu tâm hồn là kết tinh của “điệu cảm xúc” biểu đạt bằng giọng, lời. Giải phẫu thế giới này đòi hỏi người viết phải có một tư duy vừa sâu, vừa sắc, vừa sáng lại vừa nhạy. Cái sống linh động vi diệu hiện ra khi Chu Văn Sơn phăn lần một cách tường tận điệu ghẹo và điệu than trong thơ ca dân gian mà Nguyễn Bính thụ hưởng. Vẫn chưa dừng lại, điệu than nghiêng về xót xa, hờn oán, trách người, trách mình, trách đời. Điệu ghẹo nghiêng về vui đùa, bông phèng. Nếu than nghiêng về thán, thì ghẹo nghiêng về tán. Nếu than thiên về vãn thì ghẹo thiên về cợt nhả, ỡm ờ… Giọng ấy, điệu ấy, lề lối ấy chính là hồn quê, cũng là thứ hương hỏa mà Nguyễn Bính đã thừa kế từ dân gian mang đậm hồn Việt. Nguyễn Bính sống là sống ở giá trị ấy, bởi lẽ, nếu chỉ dựa vào thể loại lục bát, các hình ảnh, biểu tượng, thành ngữ, tục ngữ, ca dao… thì, như Chu Văn Sơn đã phê phán, “… trong thơ của các thi sĩ khác thuộc dòng thơ quê đương thời và cả sau này nữa đều nhan nhản, nhưng sao ta không thấy đậm đà hồn quê” (Ba đỉnh cao Thơ mới).
Ý tình làm sống dậy cái đẹp, cái lay động, bám riết bền bỉ, đằng đẵng trong lòng nghệ sĩ. Tuy nhiên, có được ý tình, nhưng nếu không có giọng, anh sẽ lẫn vào muôn vàn những thanh âm khác của đời sống. Có giọng rồi mà không tổ chức nên điệu thì giọng vẫn nằm ở dạng thô mộc, rời rạc, chưa thành chỉnh thể nghệ thuật. Hiểu rõ điều này, lao động văn chương của Chu Văn Sơn lấy giọng điệu như là một tiêu chí xác lập hình thái sống. Giọng điệu làm hiện lên thái độ của tác giả đối với vấn đề, đối tượng được trình bày từ đó mà hình thành phong cách, cá tính nghệ thuật.
Có giọng hùng tráng, hào sảng, bi thiết, mai mỉa, khiêu khích, kiêu bạc, khinh ghét, tự trào, chua chát, vỗ về, đay đả, chì chiết, rên rỉ xót xa, hân hoan mừng rỡ; có giọng lý sự, giọng lý luận, giọng rao giảng, lại có giọng trầm mà sâu, sắc mà lạnh, giọng tử tế hay hỗn hào, giọng quê hay giọng phố, giọng sang hay giọng hèn, giọng cửa quyền bề trên hay giọng khiêm nhường kẻ dưới, giọng hách dịch, giọng dọa nạt, giọng mơn trớn, giọng ve vuốt, giọng ngọt ngào, giọng chanh chua đanh đá…, mỗi giọng là một thái độ, một tâm trạng, thể hiện mục đích mà chủ thể hướng tới cho chuỗi phát ngôn của mình. Giọng làm nên khác biệt, là cơ sở của cái sống trong cốt cách nghệ thuật của nghệ sĩ. Với Chu Văn Sơn, dù trong nghiên cứu, phê bình, trong giảng dạy hay trong sáng tác ta đều thấy ở ông một giọng luận giải đằm thắm, thiết tha mà ân cần. Chu Văn Sơn bày tỏ một thái độ “ân iu” trước cuộc đời và thơ ca của Xuân Quỳnh - cánh chuồn trong giông bão. Luận về hệ mỹ học của thơ ca thời chiến, Chu Văn Sơn cũng thể hiện một giọng điệu rất ân cần, không phê phán hay phủ nhận kịch liệt. Từng lời của ông toát lên vẻ đằm thắm của người đã thấu hiểu thực sự tâm tính, cốt cách của một thời đại thi ca: “… khi Tố Hữu tuyên bố: “Tôi muốn viết những dòng thơ tươi xanh/ Vẫn nóng viết những dòng thơ lửa cháy”, thì gần như một mĩ học của thơ Việt thời chiến đã được xác lập. Đó là thời lên ngôi của những “câu thơ lửa cháy”. Trong “thơ lửa cháy”, loại tình cảm cháy bỏng của con người công dân được ưu tiên (đặc biệt là yêu với căm); dạng tư tưởng sắt đá được nhấn mạnh (minh họa cho ý thức hệ); vẻ đẹp của cái hùng soán ngôi (cái phi thường trở thành phổ biến); loại hình tượng dồi dào và sắc nét được đề cao (chi tiết ngồn ngộn, đường nét khúc chiết, hình khối góc cạnh, sắc màu chói gắt - gam nóng của máu lửa bao trùm, thực lấn át ảo); giọng điệu có thể bi (ca) nhưng lĩnh xướng, hợp xướng vẫn là tráng (ca); ngôn ngữ có thể mềm, nhưng hệ lời chủ vẫn là rắn rỏi, khắc tạc, hô hào... Đó là những bình diện mĩ học cơ bản của thơ thời chiến. Tạm gọi là mĩ học của sự rành rẽ gắt gao. Nó thuộc phạm trù Cái Đậm. Không thế, làm sao có thể là “những câu thơ lửa cháy”? (Trúc Thông - Ngọn đèn xanh trong xứ mơ hồ). Giọng tha thiết ân cần, luận giải đằm thắm này ta sẽ gặp nhiều hơn, đậm hơn trong những tùy bút, tản văn của ông. Hãy đọc lại một lần nữa, Đà Lạt của tôi, Kiếp tượng nhà mồ, Góc khuất hoa thầm, Phận hoa bên lề, Lỗi hẹn với hoa ban, Ở đầm vạc viết cho cò… chúng ta sẽ nhận ra chất giọng rất riêng ấy của Chu Văn Sơn. Tư duy khúc chiết hiện lên thành những lời luận giải mẫn tiệp, còn cái tình ấm áp chân thành giữ cho giọng điệu tha thiết mà đằm thắm. Với Chu Văn Sơn, giọng điệu ấy chính là khí chất của con người ông, làm nên cốt cách, làm nên thái độ ứng xử của ông với vạn vật, văn chương và cuộc đời.
Tuy vậy, hành trình sáng tạo vẫn chưa phải đã hoàn kết. Khi đã có giọng, nghĩa là anh đã lựa chọn được thái độ để tiếp cận đối tượng. Điều cuối cùng mà chủ thể có thể làm, phải làm chính là tìm ra chữ, tìm được hình hài cho Ý - Tình - Giọng. Trong quan niệm của Chu Văn Sơn, cái đẹp là cái sống, những con chữ cũng phải sống động… Chữ phải đúng - trúng - hay - giàu sức biểu cảm, giàu nhịp điệu, làm hiện hình đối tượng, nổi hình nổi nét, linh động có hồn, say sưa phiêu cảm, lay động hồn người, thâm nhập vào linh cảm, giác quan của người. Ta biết vì sao ông trở đi trở lại với một bản thảo hàng chục năm trời. Ta hiểu vì sao còn một hơi thở mạnh ông còn chưa buông thôi ý nghĩ hoàn thiện thêm những con chữ của mình. Chu Văn Sơn đã đi từ yêu chữ đến kính chữ, và cuối cùng là sợ chữ. Bởi thế, mỗi lựa chọn chữ nghĩa của ông đều là kết quả của một quá trình khổ nhọc, cân nhắc, đắn đo. Có một sự thực là, đọc các bài viết của ông, người ta khó tìm thấy những câu, những chữ dư thừa, non lép về nghĩa hay các sắc thái biểu đạt khác. Công phu chữ nghĩa của Chu Văn Sơn như thế bắt nguồn từ xác tín: cái đẹp là cái sống. Mỗi con chữ đều có sinh mệnh, nhất là khi nó đứng trong một cấu trúc mang tính hoàn bị như nghệ thuật ngôn từ. Chữ cần có năng lượng để sống đời của nó, để triển hoạt cho tận cùng, tận độ các sắc thái của ý tình và giọng điệu, của thái độ và tư tưởng: “Tiếng chuông rền làm tổn thương hoàng hôn. Bước chân mau làm tổn thương những con đường. Gót giày khua làm tổn thương lối ngõ. Nếp áo nhàu làm tổn thương bao ấp iu của gió. Vệt lá lăn làm tổn thương thảm rêu nhung ẩm ướt bên thềm. Ngòi bút sắc làm đau trang giấy. Nét mực hoen làm đau con chữ gầy. Câu thơ suông làm tổn thương ánh đèn tri kỷ. Giọng ca trơn làm tổn thương điệu nhạc say đắm. Ngón tay bấm bâng quơ làm tổn thương bao âm giai ẩn trong mỗi phím đàn. Lần lỗi hẹn làm đau điểm hẹn. Cái bắt tay ơ hờ làm đau nhịp tim sâu. Nụ cười tắt mau làm tổn thương những thắc thỏm mong cầu. Tiếng thở dài làm tổn thương ánh nhìn ngân ngấn. Thoáng chau mày làm đau giọt mồ hôi lau vội lúc cuối ngày” (Nên bị gai đâm). Vì yêu chữ, kính chữ, sợ chữ, Chu Văn Sơn lại càng ân cần nâng niu con chữ, càng tha thiết đắm say với mỗi từ mỗi nhịp. Những con chữ làm hiện hình cái đẹp, cái sống và tự thân chữ cũng đẹp đến mê lòng.
Quả thật, như có lần Chu Văn Sơn đã viết, không có quan niệm đẻ ra tài năng, chỉ có tài năng đẻ ra quan niệm. Cuộc đời và văn chương của Chu Văn Sơn đã “bảo hành”, “bảo hiểm” cho quan niệm cái đẹp là cái sống của ông. Giữa những đêm dài không ngủ, giữa cơn đau triền miên, giữa biết bao âu lo, khi mọi thứ bỗng nhạt nhòa hư ảo, khi ký ức trở nên mông lung, thi thoảng ánh mắt thầy rực lên, lấp lánh và nụ cười nhẹ nhõm thoảng bay trên môi, tôi hiểu rằng, xác tín máu thịt kia đang cựa mình trỗi dậy và lời thầy vẫn ấm áp bên tai: Phải sống động hơn.

1/6/2019
Nguyễn Thanh Tâm
Nguồn: VNQĐ
Theo http://vanvn.net/


Cõi thơ như một bảo tàng ký ức

Cõi thơ như một bảo tàng ký ức 
(Đọc “Trăng và thơ đọc chậm”  
NXB Hội nhà văn, 2012)
Phối kết một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn dòng suy tưởng nhân văn truyền thống với tâm thế thiền trong một thi pháp mới mang tinh thần hậu hiện đại dưới lớp vỏ cổ điển, tập thơ mới của Nguyễn Việt Chiến đã tạo ra được những hô ứng âm vang trùng điệp và tinh tế.
Tập thơ pha trộn đan xen nỗi niềm hoài cổ và nỗi khắc khoải ở mức thượng thừa, với cái nhìn tích cực biết nhìn ra cái đẹp và khát vọng văn hóa ẩn sâu trong cái thực tại mù lòa, rách nát, bi thương. 
ÁM ẢNH NƯỚC VÀ KHÁT VỌNG “THOÁT NƯỚC”
Nguyễn Việt Chiến luôn sống trong tâm thế của người trí thức đi tìm chữ, nuôi nấng chữ, vớt chữ từ trong nước. “Mỗi ngày trước mắt anh là những trang sách mở ra”. Nhưng chữ không nằm sẵn trong trang sách ấy, mà bị vùi lấp trong mưa, lay lắt trong bóng đêm và lặn sâu trong đáy nước của những dòng sông cuồn cuộn mà những đại thi hào như Nguyễn Du cũng phải âm thầm kiên nhẫn ngồi câu từng chữ để có một Truyện Kiều. Thế giới thơ Nguyễn Việt Chiến luôn dập dềnh chìm nổi trong nước mưa, nước biển, nước sông, nước hồ và nước mắt. Nước luôn luôn là hình tượng nghệ thuật trung tâm để Nguyễn Việt Chiến gửi gắm những cảm xúc và thông điệp sâu sắc nhất về lịch sử và thế sự.
Trong “Trăng và thơ đọc chậm”, Nước hiện ra như là bản mệnh thi ca của Chiến cộng thông với bản mệnh của bao nhiêu kiếp người đau khổ trầm luân trên quê hương Việt Nam bất hạnh ngàn đời. Và trong thế giới thi ca đầy nước ấy, có “một người bị ướt thức trong ta”. “Người bị ướt” đó chính là cái Tôi trữ tình của Nguyễn Việt Chiến luôn thao thức trong tâm hồn nhà thơ để cùng hững chịu, sẻ chia với một thế gian đầy nước mưa, nước mắt:
Tiếng mưa đêm lăn vào giấc ngủ
Có một người bị ướt
thức trong ta
không có lẽ nước mắt nhiều đến thế
ta còn nguyên một đêm mưa về nhau chưa kịp đọc
nước mắt dễ bị vỡ
những mảnh vỡ làm hỏng
một người bị ướt thức trong ta
(Có một người bị ướt thức trong ta)
“Nước mắt không bao giờ ngừng chảy”, nó chảy ngược chảy xuôi như con thoi đan dệt những phận người đau khổ. Nước mắt vừa là không gian, vừa là nguyên liệu, vừa là những viên gạch xây nên ngôi đền nuôi giữ niềm tin và hy vọng:
bóng mẹ in trên vách thời gian
như pho tượng tạc bằng nước mắt
Mẹ bảo nước mắt ban ngày chảy xuôi
đánh thức những ngôi đền
còn ban đêm nước mắt chảy ngược vào trong
thấm đến một đức tin cứu rỗi...
rồi mẹ bảo: có ngôi đền chỉ làm bằng nước mắt
(Chiều xuống rồi, về nhà đi con)
Sông văn. Chảy. Dọc cuộc đời
Nguyễn ngồi câu chữ. Dưới trời mưa đêm
Có cô gái trẻ làng bên
Ra sông. Giặt lụa. Vào đêm Nguyễn về
Thế rồi. Đêm ấy. Bờ đê
Mưa. Thì đã tạnh. Trăng. Thề đã rơi
Hình như họ. Đã thành đôi
Sông thơ.Chảy. Suốt một trời. Nguyễn Du
(Gặp Nguyễn Du trên sông đêm)
Hồ Gươm với màu xanh ký ức ngàn năm vẫn được các thi nhân xưa nay ca ngợi và tin cậy. Nhưng trong ám ảnh nước đầu ưu tư  của Chiến, nước Hồ Gươm vẫn là nỗi âu lo cho sức sống của biểu tượng Rùa thiêng. Nước Hồ Gươm trong ký ức lịch sử là chốn thanh tao, là không gian thiền bình yên nơi cụ Rùa ngủ yên trong huyền thoại:
mặt hồ chiều
như một đóa sen xanh
cụ đang ngồi thiền trên sóng
đóa hoa chiều không tỏa hương
sốt mấy trăm năm
Tháp Rùa lạnh
cụ rùa đang ngủ
(Vẫn phải ngoi lên thở)
Nhưng nước Hồ Gươm hôm nay không còn giữ được cái thanh bình, tĩnh lặng, thanh khiết của huyền tích, mà đã bị khuấy đục trong những toan tính ô trọc và thực dụng của con người thời đại, khiến cụ Rùa bừng tỉnh giấc ngủ ngàn năm, “phải ngoi lên thở/ trên mặt báo hàng ngày”. Và ngay cả khi hy vọng nước hồ Gươm sẽ trong trở lại, nhà thơ vẫn thấy cụ Rùa phải ngoi lên:
nước có thể sẽ trong hơn
và huyền thoại về Hồ Gươm có thể sẽ thơ mộng hơn
Nhưng đâu phải chỉ có thế
Bởi cụ Rùa vẫn phải ngoi lên thở
Nghĩa là, cái sức sống văn hoá tâm linh của nước hồ Hoàn Kiếm không phải nằm trong vẻ thanh bình của nước hay trong cái thi vị của câu chuyện Vua Lê trả gươm, mà nằm trong trong thế thái nhân tình và tâm tưởng của con người thời đại. Nước trở thành nền móng, chất liệu và bệ phóng cho tứ thơ và suy tưởng thi ca.
Bài thơ Thương nhớ sâm cầm là một đám tang thi ca bên Hồ Tây buổi chiều vắng sóng và không nắng, với tiếng sáo buồn của anh xẩm mù như đưa tiễn những cánh chim sâm cầm thi vị gắn liền với Hồ Tây từ hang trăm năm  trước đã chết trong cả trong đời thực và trong ký ức của con người hôm nay. Câu thơ lục bát ngắt vụn ra một cách táo bạo bằng những dấu chấm liên tục, bất thường, gây cảm giác nấc nghẹn trước sự  mất mát văn hóa, mất mát ký ức  lịch sử, mất mát một cõi thơ hằng có trong tâm cảm ngàn xưa. Và, dường như nhà thơ cảm thấy tiếng chim xưa vẳng lại trong điệu sáo của người mù làm chúng ta như được khai sáng:
Đã mấy chục năm qua
Ông vẫn gọi mãi
bầy chim sâm cầm
Bằng tiếng sáo hoang sơ
Tiếng sáo trúc
Khiến ta
Thấy Tây Hồ chập chờn
Vỗ cánh bay về phía ngàn xưa
Thương nhớ
Sâm cầm
Điệu sáo của người mù
Khiến mắt chúng ta trong lại
Trong như một tiếng chuông
(Thương nhớ sâm cầm)
Nhà thơ đến bên hồ để tìm cánh chim xưa, nhưng lại thấy tiếng chim đã tắt còn vương trong tiếng sáo của người mù! Và người mù, bằng những tiếng sáo gọi chim đã có con mắt biệt nhãn bên trong nhìn sâu thẳm vào ký ức văn hóa cộng đồng, như gióng tiếng chuông chùa khai sáng văn hóa tâm linh cho những người sáng mắt. Chỉ mấy câu thơ ngắn mà Nguyễn Việt Chiến đã đi xuyên ba cõi: Cõi văn hóa tâm linh với ký ức sâm cầm, cõi khổ đau trần thế với tiếng sáo người mù mang khát vọng văn hóa âm thầm bền bỉ và cõi tâm linh khai sáng cái nhìn với tiếng chuông trong vắt.
Không chỉ nước mắt, nước mưa, nước biển, nước hồ, luôn ám ảnh quậy lộn và biến đổi trong thơ Nguyễn Việt Chiến, mà nước sông giờ đây cũng trôi đi không giống ngày xưa. Nó vừa ngủ vừa đi trong những không gian rách nát, phai tàn, lập lòe ma quái:
Sớm nay. Lác đác. Sen đồng
Một bài bông. Nở bên sông. Lập lòe
Con sông. Vừa ngủ. Vừa đi
Áp phù sa bạc. Mấy khi được lành
Em về. Vá áo sông anh
Về. Mau kẻo sóng. Nhuộm. Thành sông mê
(Mây tơ tằm)
Nước hồ nước sông nước biển trong thơ Chiến đều hòa trộn nước mưa và nước mắt và luôn trĩu nặng nỗi buồn mất mát: Mất ký ức, mất hình hài, mất im lặng, mất văn hóa, mất thơ, mất cõi thiêng, mất cái nguyên vẹn trong trẻo ngàn năm và mất cả những giá trị tâm linh đích thực.
Nhưng Rùa thiêng Hồ Gươm, sâm cầm thơ mộng Hồ Tây và những ký ức lịch sử văn hóa gắn bó với những dòng sông có thể bị chôn vùi trong nước, song vẫn sẽ sống mãi trong tâm tưởng con người, nơi ấp ủ muôn đời những tiếng sáo gọi chim và cũng là nơi mãi mãi cụ Rùa thiêng nương náu. Những liên tưởng hết sức tự nhiên mà táo bạo của Nguyễn Việt Chiến trong hang loạt bài thơ có hình tượng nước đã bộc lộ một khát vọng sâu thẳm của nhà thơ muốn “thoát nước”, thoát những hình tướng quen thuộc như nước mưa trong đêm cô đơn, nước hồ Gươm nhạt nhoà huyền tích, hay nước hồ Tây vắng bóng sâm cầm… để tìm kiếm ký ức trong tâm tưởng con người, thứ tâm tưởng không lệ thuộc vào hình tướng, như anh xẩm mù kia không thể nhìn thấy nước, nhưng tiếng sáo gọi chim cất lên từ tâm tưởng của anh, niềm thủy chung văn hóa của anh đã cất giữ cả tiếng chim và hồ nước ngàn năm. Những tâm tưởng cưu mang ký ức và văn hóa đó lại cộng sinh và kết nỗi với những chuỗi hình tượng và liên tưởng khác nhau, tạo nên hai cõi riêng trong thế giới nghệ thuật của tập thơ. Đó là Cõi thơ và Cõi trăng - hai cõi  đan xen nhau, cùng vương vấn cõi đời và ẩn hiện trong cõi mộng, nhưng mỗi cõi lại lung linh những ánh sáng nhân văn và thẩm mỹ khác nhau, tạo nên những cảnh giới thi ca riêng biệt, không thể lẫn vào nhau.
CÕI THƠ NHƯ MỘT BẢO TÀNG KÝ ỨC
Trong ý thức của Nguyễn Việt Chiến, thơ ca là nơi cất giữ những ký ức về cõi đời tục luỵ, gánh sứ mệnh bảo toàn quá khứ, không để mất đi một ký ức, một ấn tượng, một biểu tượng nào của cõi nhân văn, của tình thương trần thế:
Thưa mẹ
hôm nay bàn chuyện thơ đi về đâu
trong con vẫn còn một chuyến tàu
ba mươi năm trước chưa trở về
phải chăng vì thế
những câu thơ bây giờ
vẫn phải lên đường
làm một cuộc ra đi
Thơ ca là bảo tàng ký ức, luôn chất nặng những ký ức của cõi đời đau khổ, nơi nhà thơ cất giấu trong câu thơ chật hẹp của mình những may chiều, nắng hạn, gió đông, tri thức thuở xưa và hơi ấm của những câu hát cũ:
Bởi thế
Tôi chỉ dám cất giấu trong câu thơ chật hẹp của mình
một ít gió còm cõi từ mùa hạ cũ
một ít nắng đăm chiêu từ mùa đông cũ
một ít mây chiều bơ vơ trên mái phố cũ
một chút bụi tưởng rơi ra từ cuốn sách cũ
(Để nhớ về em, trang 25, 26).
Nhưng ngay cả khi đã làm tròn sứ mệnh với ký ức, thơ vẫn chưa đáp ứng được khát vọng nhân văn của nhà thơ với cõi đời đau khổ.
Không có lẽ
Mẹ chỉ là ký ức
một  tượng đài trầm mặc ở trong thơ
Ký ức vẫn níu kéo mẹ vào quá khứ, vào những mất mát chiến tranh thuở trước. Cõi thơ luôn lôi con người về quá khứ để “gặm nhấm trái tim yêu đuối của anh bằng những chiếc răng thú”, “những vết răng ngủ quên trong lớp muối sâu của dĩ vãng” (Muối). Tội lỗi lớn nhất của thơ là sự lãng quên.
khi làm xiếc
trên sợi dây ngôn ngữ
chúng tôi bắt chước thiên nhiên
gieo một tiếng thở dài
vào cái cây bóng tối
nhưng chúng tôi
lại quên lãng
rời xa tiếng thở dài
trên cái cây nhân loại...
sự lãng quên vô tình
hoặc cố ý
đang dập tắt tất cả
cả sự yên ổn trong tâm hồn và mỗi câu thơ
(Thơ đang bị lãng quên)
Nguyễn Việt Chiến coi thi ca luôn gắn với cõi đời hư ảo theo quan niệm nhà Phật, nên khi đi tìm nguồn gốc thi ca, nhà thơ giác ngộ lẽ vô thường của cõi thế:
khi chúng ta đi tìm nguồn gốc của thi ca
con người chợt nhận ra
đời sống này chỉ là
một cơn mơ ngắn ngủi
trong giấc ngủ dài tối tăm
có tên là cái chết                               
(Nguồn gốc của Thi ca)
Và, trong suy tưởng của thi nhân, thi ca có sức mạnh “vượt lên cõi chết”, nó có sức chịu đựng lớn lao: chịu đói rét, chịu cô đơn, để vượt qua hoang mạc:
bởi con lạc đà thi ca
đã từng cõng
một cơn khát trên lưng
đi qua bóng đêm
của một cơn khát lớn hơn
để vượt qua hoang mạc
(Nguồn gốc thi ca)
Có điều, con lạc đà thi ca đó chẳng biết mình sẽ đi đến đâu! Dường như nhà thơ cưỡi lên con lạc đà thi ca chở nặng những ký ức khổ đau trần thế để vượt qua cõi đời khổ đau và mộng ảo, nhưng lại ngước lên một vầng trăng vĩnh cứu luôn đi theo từng bước chú lạc đà thơ! Nhưng, cho đến khi con lạc đà ấy đã vượt qua sa mạc khổ đau, nó vẫn ở rất xa vầng trăng ấy. Vì vầng trăng ấy là một cảnh giới hoàn toàn khác mà cảm xúc và trí tưởng tượng thi ca của nhà thơ đã đạt tới như một bừng ngộ của thiền sư khi chăm chú nhìn sâu vào nghệ thuật, tình yêu.
CÕI TRĂNG - MỘT CẢNH GIỚI CỦA TÌNH YÊU VÀ CÁI ĐẸP
Nếu như nước là hình tượng phổ quát trong thơ Nguyễn Việt Chiến, nơi thi nhân ký gửi một thực tại đau khổ, một ký ức ngổn ngang nát vụn, một số phận đắng cay đầy may rủi, âu lo, thì cảm hứng vượt thoát khỏi nước, khỏi những ám ảnh trĩu nặng  lo âu để bay tới cõi trăng cao vợi - nơi tràn ngập ánh sáng của tình yêu và cái đẹp - là cảm hứng mãnh liệt nhất của nhà thơ. 
Trăng trong thơ Nguyễn Việt Chiến không đem đến một giọt nước cho kẻ lữ hành trên sa mạc vô thường, nhưng nó có một quyền năng vĩ đại: Nó cho thi nhân cảm giác về sự sống và ý thức về sự sinh tồn. Ánh trăng là hình tượng của nguồn sinh lực tối thượng có khả năng hồi sinh cho nước:
Sông Hồng
vẫn lặng chảy
giống một người đàn bà
khi đêm xuống (…)
nàng
lặng lẽ đón nhận
ánh trăng đêm
thấm vào thịt da mình
những giọt thanh xuân
(Sông Hồng của mẹ)
Ngược lại với cõi thơ chất đầy ký ức, cõi trăng lúc nào cũng cứ trong veo như tâm hồn trẻ thơ chưa từng vương kỷ niệm. Trăng trong thơ Chiến luôn vượt lên cõi tục, để toả sáng trong miền siêu thoát, lãng quên. Nhưng cũng có lúc nó sà xuống cõi trần để soi rọi miền ký ức lịch sử đầy thi vị:
Đêm nay. Vua Nguyễn ngủ đâu
Mấy cung nữ trẻ. Lên lầu ngắm trăng
Gặp Hàn Mặc Tử. Thi nhân
Người. Từ Vĩ Dạ. Về thăm. Hoàng thành
Lấy thơ làm mộng. Du hành
Lấy trăng. Làm chốn nhân tình ghé qua
(Trăm năm mắt Huế)
Trăng ở đây vẫn là “chốn nhân tình ghé qua” trong giây lát, là một thứ ký ức tiềm năng, không phải là trăng của cõi tịch nhiên tịch lặng ngập tràn ánh sáng của thiên đường tình yêu vĩnh cửu. Đây vẫn là vầng trăng của ký ức, của thơ, của cõi đời tục luỵ bể dâu, không phải cõi trăng thi sỹ hằng mơ đến. Cõi trăng dích thực của Nguyễn Việt Chiến luôn gắn liền với hình bóng người yêu:
Ta đã chìm rất sâu trong một đêm mưa lớn
không ai đến được với ta
nhưng ở nơi tận cùng của đáy sâu kia
ta vẫn nhận ra hơi ấm của em
vị mằn mặn của anh trăng
thưa ánh sáng không bị hủy hoại
bởi bùn tối của những đáy sâu
và có lẽ ta được cứu thoát bởi chất muối ấy
riêng điều bí mật này
em không được biết
ánh trăng không được biết
cả những đáy sâu cũng không được biết
khi ta lạc đường trong biển tối cô đơn
chỉ có trăng mới làm ta ấm được
người đàn bà trong suốt
đã đi vào trăng (…)
khi nàng tưới đẫm ta bằng những giọt trăng lành
để cho bụi bặm tối trôi khỏi cuộc đời ta
thì ta lại trốn vào những câu thơ mộng mị
nhưng ở nơi tận cùng của đáy sâu kia
ta vẫn nhận thấy hơi ấm của em
vị mằn mặn của ánh trăng
thứ ánh sáng không bị hủy hoại bởi bùn tối của những đáy sâu
Nếu cõi thơ là nơi cất giữ những ký ức trần thế đầy nước mắt, thì cõi trăng là nơi cư trú vĩnh viễn của ánh sáng tình yêu và cái đẹp vĩnh hằng.
Sau năm trăm năm nữa
Trăng trên hồ còn soi
(Hoàn Kiếm hồ)
Cái ánh trăng vĩnh cửu đó cõi thơ không chứa nổi. Nguyễn Việt Chiến lần đầu tiên xác định cái hữu hạn về dung lượng nhân văn và kích thước vĩnh hằng của thơ ca.
Nếu trước đây các thi sỹ nói riêng và người yêu thơ nói chung coi trăng chỉ là vật trang sức vĩnh cửu của thơ, thì nay Nguyễn Việt Chiến đưa vầng trăng lên ngôi vị mới, ngôi vị của một cõi thiêng, thánh đường của tình yêu nơi giao hoà ánh sáng huyền diệu của tình yêu và cái đẹp:
trước mùa trăng sinh nở
Nguyễn Du là người mộng du ân ái cũng trăng
nhưng chưa đến nửa đêm thì Truyện Kiều đã viết xong
và Nguyễn Du đạp mây trở về sông Tiền Đường
để lại một bông trăng
nở trong chiếc bình đêm
nở thành một nàng Kiều trắng trong
giữa vẩn đục cõi người
(Trăng Nguyễn Du)
Không phải gánh nặng ký ức như cõi thơ, cõi trăng trong thơ Chiến là nơi gửi gắm những khát vọng về cái siêu tuyệt, nơi thi nhân giải thoát khỏi cõi đời tục luỵ để lâng lâng phiêu diêu bay lên cõi thiên thai, sống với tình yêu và cái đẹp trong ánh sáng ẩn dụ của một tôn giáo thi ca tinh khiết:
Lần tay. Mở áo đêm ra
Trăng. Nhu nhú sáng. Như. Là trăng non…
Trăng ngoài kia. Đã san hô
Mà trăng anh. Vẫn còn mờ mịt trăng
(Thời gian của trăng)
Trăng thật ngoài kia vẫn là thứ san hô tỉnh táo khô cằn trong vũ trụ, còn trăng trong cõi yêu cõi đẹp của thi nhân là vầng trăng mãi mãi mịt mờ hư ảo. Cái mịt mờ hư ảo của trăng ở đây mới sâu, mới đắt làm sao! Nó là niềm kiêu hãnh của những mê man trong giao hoà, những mơ hồ trong ân ái, những hoà trộn tận cùng của cảm xúc vượt lên những tỉnh táo và toán tình đời thường:
Vầng trăng trong thơ Chiến đã soi chiếu vào cuộc đời những ánh sáng tình yêu, nó rút tỉa và chưng cất những gì trong ánh tinh khiết nhất của tình yêu và cái đẹp để làm nên cõi trăng nơi thi nhân có thể thanh thản sống với những gì đẹp nhất của cõi thơ trần thế:
Ta hỏi quê trăng ở đâu
sao trăng không trả lời
hình như ta và trăng lâu rồi
đều đã mất quê
(Quê)
Cái tiêu đề “Trăng và thơ đọc chậm” là một Slogan thi ca hiện đại, nhuốm đậm màu thiền. Giống như các thiền sư “quán bức tường” tập trung nhìn thật lâu vào một điểm trên bức tường để đến một khoảnh khắc đạt tới sự bừng ngộ, thi nhân cũng đọc chậm thơ và đọc chậm vầng trăng để ngộ ra ánh sáng của tình yêu rọi về từ cõi khác:
Và anh đã gặp em
trên con đường thật chậm
trăng và những câu thơ đọc chậm
đôi mắt em mở ra
một đêm mưa lớn
anh chẳng thể tìm được ánh trăng xưa
thành phố cũ ngủ quên trong lá
(Trăng và thơ đọc chậm)
Nhà thơ luôn tìm trăng, luôn mơ trăng, luôn giành cho vầng trăng những liên tưởng về một cõi đẹp miên trường, vĩnh cửu, đầy phép lạ, đầy những hình ảnh thanh tao mà mê dụ của tình yêu. Và nhà thơ nuôi nấng vầng trăng ấy bằng những lời ca buồn, chậm:
Anh đặt cọng lá đêm lên môi
thổi một điệu ca rỗng buồn thật chậm
mong đánh thức
mấy que diêm vừa cháy
đêm mai chúng sẽ mọc thành trăng
(Trăng và thơ đọc chậm)
SỰ GIAO THOA CÕI TRĂNG, CÕI THƠ VÀ CÕI TỤC
Dù là những cõi thuộc những cảnh giới khác nhau, nhưng cõi trăng, cõi thơ và cõi đời tục luỵ trong thơ Nguyễn Việt Chiến không tách biệt nhau một cách thô thiển và lộ liễu, mà vẫn phản chiếu nhau, lồng ghép vào nhau trong một hoà điệu trữ tình đa dạng và tinh tế. Vẫn quằn quại day dứt trong cõi đời và lẩn trốn trong cõi thơ, nhưng cõi trăng của Nguyễn Việt Chiến không phải là thứ tháp ngà của thơ mới, cũng không phải là cõi tịch nhiên tịch lặng trong suốt, thảnh thơi như trong thơ Nguyễn Đình Thi, mà vẫn đầy ứ những giằng xé giữa ranh giới của cõi Thiền và cõi tục. Luôn thể hiện một khao khát mỹ học của cái siêu tuyệt, muốn vượt lên chủ nghĩa nhân văn truyền thống, vượt thoát cõi tục để nhập vào cõi đẹp, cõi yêu, vươn tới một thứ ánh sáng của cõi trăng vĩnh cửu “không  bị hủy hoại bởi bùn tối của những đáy sâu”, nhưng nhà thơ vẫn không muốn dứt bỏ cái cảm thức đau đời thương người  của một dòng thơ gắn với thế gian đầy bụi, đầy nước mắt.
Bài thơ văn xuôi Sự nổi loạn của tranh thể hiện rõ quan niệm của Nguyễn Việt Chiến về tương quan giữa cõi Đời, cõi trăng và cõi đẹp, theo đó, cõi đẹp, cõi thơ cũng đều mang âm vang của những khổ đau trần thế, thi sĩ cũng phản ứng với những vui buồn yêu thương tục luỵ, nhưng vẫn là những cõi riêng với những chuẩn mực nhân văn và thẩm mỹ khác nhau. Thơ là một cảnh giới gắn với những cảm xúc linh thiêng, day dứt, oai hùng, yêu thương dữ dội. Còn trăng là một cảnh giới khác gắn với sự siêu thoát nhẹ nhàng, vô hình, vô địa chỉ. Trăng là sự thăng hoa của tình yêu và cái đẹp vượt lên mọi ký ức, nhưng vẫn cho nó một khả năng phục sinh. Nguyễn Việt Chiến lặn ngụp trong cõi đời ồn ào, nhốn nháo và ô trọc, nhưng anh lại hướng tới lắng nghe những tiếng nói khẽ khàng, rụt rè, ấp úng của tình yêu, từ những hình nhân trong tranh, trong cõi đẹp.
Cõi trăng của Nguyễn Việt Chiến là cõi thiên thai dịu lành xa thẳm, nhưng lại cũng là cõi hiểm nguy khi nó luôn gần kề chiếu rọi vào cuộc sống trần ai để mời gọi những con người đang bơi trong bể khổ. Bài thơ văn xuôi “Nước mắt của trăng” dựng lên cảnh tượng những con người khổ đau, đói nghèo và nhếch nhác trong cõi tục cố dìu nhau  bay tới cõi trăng:
Ánh trăng trên sân ga đọng thành vũng trên cỏ tối mấp mô. Nó chợt thấy một người đàn bà điên ngồi phía bên này sân ga. Chị ta cởi trần mình cho ánh trăng ve vuốt, rồi chị bế nựng vầng trăng đêm trong vòng tay xương xẩu của mình
Chốc chốc người đàn bà điên lại cất lời ru vầng trăng bằng cái giọng khan khan u ám của mình. Thỉnh thoảng chị ta lại cười rú lên, khạc nhổ vào những thanh ray sắt và cái đầu tàu đen ngòm cứ định câu móc vầng trăng kia vào cái chốt nối toa, đặt lên đường ray rồi sềnh sệch kéo tuột vào bóng đêm cho mất dạng (…)
Nhờ có một vài lát sang mờ ảo của trăng đêm lọt qua vách tàu, thằng bé mới phát hiện thấy máy người trong toa đều cởi trần giống như người đàn bà điên ngoài sân ga. Thằng bé còn phát hiện thấy trên sàn chiếc toa đen những thân thể cuốn lấy nhau như muốn vắt kiệt ánh trăng thành nước.
Bóng tối là một thứ áo quần mà tự do phân phát cho những kẻ không cam chịu tù túng. Vậy mà thằng bé lo cho họ. Nó nghĩ mấy người ấy sắp hóa điên, giống như người đàn bà ở truồng, đang ru nựng vầng trăng ở phía bên kia sân ga.
Nó đập vào thành tàu, để đánh thức con sốt của mấy kẻ đang vật vã âu yếm nhau với những mảng lung, mảng ngực trần nhờn nhẫy mồ hôi trăng…
Thằng bé không biết những người trần truồng đó đang vươn tới sống trong cõi trăng của Nguyễn Việt Chiến. Khi thấy đầu tàu khổng lồ đang lũi lúi lao thẳng về toa tàu tình ái đầy ánh trăng ấy, nó đã sợ hãi bằng nỗi lo của cõi tục, nó quyết cứu họ khỏi bị nghiền nát bằng cách đứng giữa đường tàu khua tay ngăn đoàn tàu lại:
Thằng bé bắt chước người phụ tàu, hàng ngày vẫn dùng cờ hiệu để nối toa và cắt toa trên sân ga. Trong tay chú bé lúc ấy, vật duy nhất có, không phải lá cờ hiệu mà lại là vầng trăng xanh xao.
Nó vừa chạy lùi trên những thanh ray, vừa dùng tay phất lên đầu thứ ánh sáng nhợt nhạt kia, mong người lái tàu thấy nó mà dừng lại. Nhưng chiếc đầu tàu hung hãn như con trâu sắt vừa mù vừa điếc vẫn lao thẳng đến. Chú bé vấp ngã và những bánh sắt nhảy chồm lên, đề nát tiếng kêu trẻ thơ dưới vòng quay man rợ…         
Bài thơ mô tả một cách ấn tượng và dữ dội khoảnh khắc những con người khổ đau quằn quại trong cõi thế giác ngộ thấy cõi trăng. Một chiều kích vũ trụ của cõi trăng phát lộ bất ngờ trong đời sống trở nên một hành vi điên dại. Cái khoảnh khắc giao thoa giữa cõi tục và cõi trăng mới khốc liệt làm sao. Con người không thể dễ dàng bay lên cõi trăng bằng cách quên đời. Cõi đời khốc liệt vẫn luôn rình rập để níu con người lại trong bẻ khổ. Những nhân vật trong truyện ngắn thơ này giống như Lý Bạch nhảy xuống nước vớt trăng. Nhưng họ không chết một mình như Lý Bạch mà còn làm cho đứa bé ngay thơ lao xuống hồ cứu họ phải lìa đời! Bài thơ rất thản nhiên mà sâu sắc, khắc nghiệt và đau xót!
Các bài Nguồn gốc thi ca, Thời gian của trăng, Trăng và thơ đọc chậm cho ta thấy rõ hơn cõi trăng của Chiến đã liên thông với cõi tục ra sao. Hoá ra Cõi trăng kia không phải là cõi mộng mị thoát tục, mà lại là kho báu cất giữ những ký ức nhân văn hóa thân từ cõi đời tục luỵ. Ký ức của trăng mang phép lạ giải thoát, mở ra một cánh cửa khác cho nhà thơ thoát khỏi những bế tắc và bệnh tật trong thực tại. Nhưng muốn bước qua cánh cửa giải thoát siêu tuyệt đó, con người cần sống chậm:
Người nuốt
những cơn ho thật chậm
vào lúc trăng say
rồi thở ra một trăng tươi
màu rượu đục
Gương mặt ấy  như một quá rượu vắng
nơi người ta
có thể trở về thật chậm
và đi ra thật chậm
từ một cánh cửa khác
nhờ ký ức của trăng
(Trăng và thơ đọc chậm)
Các đoạn thơ về Trăng trong Thăng Long sử thi, Trăm năm mắt Huế… còn cho ta thấy Cõi trăng trong thơ Nguyễn Việt Chiến rất mong manh và tinh khiết. Đó là cõi sáng tạo sinh nở, cõi hóa thân, thoát tục, vĩnh hằng… Nhà thơ luôn mặc cảm bởi sự dấn thân vào cõi đời tục lụy, sự lẩn trốn vào cõi thơ mộng mị, xa cách cõi trăng thuần khiết thanh cao.
BÚT PHÁP HẬU HIỆN ĐẠI BẮT RỄ TỪ TÂM THỨC
Những dấu chấm câu bất thường ngắt vụn câu thơ ra được Nguyễn Việt Chiến sử dụng một táo bạo mà rất tự nhiên, như một thủ pháp mới mẻ và hiệu quả. Cách chấm câu bất chợt, bất chấp ngữ pháp này là một sáng tạo hậu hiện đại thành công, tạo ra những hiệu ứng thi ca nhấm nhẳng, đa chiều. Trước nguy cơ “mê hóa” của dòng sông, nhà thơ không đay nghiến, vỗ ngực kêu trời như thường thấy, mà dung những dấu chấm câu phá cách để thể hiện một cách ấn tượng sự nghẹn ngào, nén lại nỗi đau và đong đếm lại những mảng vụn ký ức của sông xưa:
Ngàn dâu. Xanh. Suốt thoi ngang
Đất. Như lụa dệt. Bóng. Làng quê xưa
Đầu làng.Ngựa đá. Gặm mưa
Cuối làng. Chó đá. Sủa chờ trăng lên
Xứ Đoài. Thăm thẳm. Mắt sen
Mây tơ tầm. Nở trên miền. Đá ong
Cũng là những dấu chấm câu phá cách táo bạo, bẻ vụn câu thơ giống những bài thơ về Hồ Tây, về Huế trong tập thơ này, nhưng nó lại đem đến một hiệu ứng thi ca hoàn toàn khác. Nó gợi lên sự nát vụn của không gian kỷ niệm, sự tần ngần kìm nén của nhà thơ trước bao nhiêu mất mát vô hình. Những dấu chấm đầy hồn vía, đầy năng lượng thi ca  vọt ra từ tâm thế, từ vô thức ấy đã đem đến cho bài thơ lục bát một khí vị nhấm nhẳng hậu hiện đại. Ký ức bị xé vụn, cắt dán, ngàn dâu hiện lên như một bức tranh ấn tượng về trạng thái rách nát của cảnh vật, không còn là cái ngàn dâu mượt mà nguyên vẹn của thơ xưa:
Cùng quay lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh mướt một màu
(Chinh phụ ngâm)
Cách bẻ gãy câu thơ đó vừa tạo sự vụn nát của thực tại, vừa tạo ấn tượng về sự nấc nghẹn của tâm tư lại vừa tạo nên cuộc ú tim của hình tượng thi ca khi chiếu rọi hình ảnh bằng những tia chớp vô thức mong manh vụt lóe. Những dấu chấm câu phá cách của Chiến đã đem lại cho câu thơ lục bát một hiệu ứng rất mới mẻ từ kiểu văn hóa chớp lóe, văn hóa đom đóm của thị trường quảng cáo trên TV mà những hình ảnh ngắn ấn tượng bắn thẳng vào tâm thức người xem đã tạo nên ám ảnh về hàng hóa trong tiềm thức. Hơn thế nữa, nó tạo ra một cảnh giới của thiền sư khi đăm đăm nhìn vào bức tường nham nhở của thực tại, để bóc tách tất cả những lớp vỏ ô trọc và tục luỵ đang che khuất “bản lai diện mục” của không gian văn hóa ngàn đời, phục hiện nó, làm cho nó hiện lên đậm nét, lung linh trong những tia chớp ngắn ngủi nhưng ám ảnh. Toát lên từ tất cả, ta cảm nhận được tâm trạng của một thi nhân luôn mong muốn “gắn hàn chút giá trị mong manh” vẫn ám ảnh trong nứt vỡ, tản mát và vụt lóe..
Cũng vẫn là những dấu chấm câu đột ngột như ở những câu thơ về sông mê, về nỗi tiếc sâm cầm Hồ Tây… nhưng khi đặt vào cảnh giới của cõi trăng, nó không làm cho câu thơ nấc nghẹn nữa, mà như có phép lạ làm hiện lên những lời yêu thương run rẩy, hổn hển - ngôn ngữ của cõi trăng pha trộn giữa thịt da, ánh sáng và tiết điệu chung của tình ái với thi ca.
Lần tay. Mở áo đêm ra
Trăng. Nhu nhú sáng. Như. Là trăng non
Đặt môi lên. Đỉnh trăng tròn
Để hư vô. Biết ta còn. Chiêm bao
(Thời gian của trăng)
Nếu việc viết về cái viết là dấu hiệu của bút pháp hậu hiện đại mới mẻ, thì Nguyễn Việt Chiến là một thi sỹ hậu hiện đại đưới dạng giả cổ điển. Cách viết về cái viết của Chiến bật lên từ tâm thức hậu hiện đại một cách tự nhiên, hữu cơ, có bản chất thẩm mỹ chứ không phải là thứ sản phẩm cắt dán, liên văn bản cơ học, thực chất là quảng cáo lén về tác giả, làm giả cõi hỗn độn để tạo dáng bề ngoài che dấu đại tự sự xưa cũ, chỉ đánh lừa được những nhà nghiên cứu phê bình hồ đồ dễ dãi.
Diễn ngôn mang tính chất tự thú trong thơ Nguyễn Việt Chiến xuất phát từ nỗi lo âu của người viết khi phải viết trong môi trường của nước, nơi nước mưa mang tập tính văn hoá của cả một thời trở nên có quyền lực thống trị người viết, sự viết, tạo nên những hình tượng mòn sáo và dễ dãi. Xuyên suốt thơ Nguyễn Việt Chiến là ám ảnh về đáy sâu, về sự chết chìm của cái đẹp, của sự sống, của thi ca dưới đáy nước hồ, nước sống, nước biển. Sự chết chìm đó không chỉ là sự hư mất tàn phai của ký ức văn hóa trong những không gian thực, mà sâu xa hơn, còn là sự chết chìm của trí tưởng tượng thi ca trong những khuôn mẫu chật hẹp mà nước đã tạo nên trong lịch sử văn hóa, thi ca:
Mưa
là một cái cây
trong lành và tươi tốt
đang đòi mọc rễ
trong cái đầu cũ kỹ của anh
Thức ăn của anh
bao năm chẳng có gì
ngoài mưa
và một nắm ngôn từ sống sít (…)
Chữ
là một cái cây
trong lành và tươi tốt
đang đòi nở hoa
trong cái đầu mệt mỏi của anh
(Mưa và chữ)
Thi sĩ sống bằng nước, cộng sinh với nước để sáng tạo thơ, rồi lại phải dần dần tách từng chữ, từng câu thơ ra khỏi bầu nước ối ngàn năm ấy để tạo thành tuyệt tác. Đó là cái hành trình sáng tạo của thi sỹ, được tổng kết cùng lúc với nỗi niềm về thân phận thi nhân. Nước mưa, nước sông ám ảnh của Chiến như một nhà tù giam cầm chữ nghĩa, giam cầm trí tưởng tượng. Nhưng nhà thơ vẫn không lẩn tránh, mà đối mặt với nó để qua nó bộc lộ cái đau của một trí tưởng tượng sáng tạo bị cầm tù. Như vậy, Nguyễn Việt Chiến không chỉ viết về cái viết, mà còn cùng lúc viết về sự cầm tù của người viết trong cái thế giới của những cảm xúc và liên tưởng khuôn mẫu, cũ mòn để qua đó viết về khát vọng vỡ ối của bào thai ngôn từ, khát vọng vượt thoát khỏi cái nhà giam êm đềm muôn thuở của thi ca. 
16/6/2018
Đỗ Minh Tuấn
Theo http://vanvn.net/

  Một ngày như mọi ngày X in vội vàng thưa ngay: Đây là một ngày của một ông già Việt Nam trên xứ Mỹ, một người đang dè dặt đặt những ...