Thứ Hai, 28 tháng 2, 2022
Hoàng Vũ Thuật và Người câu gió
Giữa những ngày gián cách vì Covid, nhà thơ Hoàng Vũ Thuật có
message cho tôi: Chúng ta thiên cổ cả rồi anh, ý nói đã già rồi, và
gửi một bài thơ Người câu gió (đã được giới thiệu trên Văn nghệ
Sài gòn.com).
Bình luận mỹ học: Cũ và mới
Bình luận mỹ học: Cũ và mới
Nhân có mấy bài viết trao đổi qua lại về mỹ học
giữa GS Hoàng Ngọc Hiến và TS Đỗ Văn Khang (Văn nghệ
số 24, 26/2009), chúng tôi thấy có những thâu nhận lý thú muốn được
bàn giải thêm.
Trong các bài viết của mình vấn đề mà hai vị quan
tâm trao đổi và độc giả thấy nhiều lý thú đều xoay quanh cách
hiểu về hình tượng nghệ thuật - một phạm trù cơ bản của mỹ học. Thật khó
mà cho là các vị nói không trúng về vấn đề này - vấn đề cơ bản mà
ai bước chân vào nghệ thuật đều có dịp làm quen, huống chi các vị
là những bậc thầy về văn chương, học thuật - tuy
nhiên khi nhìn dưới lăng kính đối sánh giữa mới và cũ thì
không phải không có điều đáng bàn. Xin đi vào mấy điểm hai
vị tranh luận:
1. Mỹ học là gì?. Ngoài định nghĩa Mỹ học là
triết học về nghệ thuật mà TS Đổ Văn Khang nhắc tới,
trong Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đã có mấy cách
lý giải khác nhau của nhiều tác giả: Mỹ học là thuật ngữ
chính xác nhất để chỉ bộ môn nghiên cứu cái đẹp. Mỹ học là một
ngành quan trọng trong các bộ môn nghệ thuật. Mỹ học là
một khoa triết học nghiên cứu quan hệ thẩm mỹ của con
người với hiện thực... Như vậy hiện nay
thuật ngữ này có những nội hàm không cố định, mà do người
dùng giới hạn trong từng văn cảnh.
2. Về hình tượng nghệ thuật, GS Hoàng Ngọc
Hiến nêu quan điểm: “Nghệ thuật nhận thức sự vật
bằng hình tượng cụ thể - cảm giác, chúng không có nhiệm vụ phản ánh
bản chất của sự vật, chúng tiếp cận tính cách của sự vật”.
TS Đổ Văn Khang phê phán: hình tượng nghệ thuật rất
phong phú, khi thì ước lệ,khi thì tả thực, khi thì huyền ảo chứ
không thể lúc nào cũng cụ thể - cảm giác, nói nghệ thuật “không
có nhiệm vụ phản ánh bản chất của sự vật” nói thế không
đúng, không hợp chức năng nhận thức của văn học - nghệ thuật! GS Hoàng Ngọc Hiến biện luận rằng hình tượng
nghệ thuật, chúng không có nhiệm vụ phản ánh bản chất của sự
vật, chúng tiếp cận tính cách của sự vật, ví như: các tác phẩm khoa học thể hiện bản chất người nông dân, còn văn
chương thể hiện tính cách Chí Phèo, ông Khúng. Nhà khoa học xác định
các vấn đề bản chất làng xã bằng các luận điểm khoa học,
qua chuyên luận khoa học, nhà văn thể hiện bằng hình tượng
nghệ thuật “tính cách làng Vũ đại”, “tính cách xóm làng Chùa” qua
tác phẩm văn chương và ông khẳng định thêm“ Tính cách bao
giờ cũng phong phú hơn bản chất” hay nói một cách khác nhiều tính
cách ngoài bản chất, yêu cầu nghệ thuật phản ánh bản chất
sự vật là bó hẹp tầm hoạt động của nó!
Chúng tôi cho rằng: Ý kiến các tác
giả đều là những suy nghĩ có cơ sở, tuy nhiên khi phân tích
sự sâu sắc, tính thuyết phục cần phải dựa vào
các lý giải đã được người đọc công nhận trong giới hạn
lịch sử cũng như tính thời sự của vấn đề. Cái thú vị ở
đây, vấn đề các vị bàn cãi không phải đã là những chân lý tuyệt
đối quá rõ ràng “đáng chán”, theo cách nói của Enghen
trong “Chống Đuyrinh” (1878), mà là những phạm trù đang thuộc chân
lý tương đối nên có sự thú vị khi tranh luận. Nó là khoảng giao thoa
giữa tối và sáng!. Đứng ở thời điểm này thì A có
lý, nhưng lệch sang thời điểm kia thì B thích hợp
hơn. Theo chúng tôi trong ý kiến của Hoàng Ngọc Hiến, yếu
tố cấp tiến rõ hơn. Đó là quan niệm về hình tượng nghệ thuật mà
các chủ thuyết, các tác giả hiện đại đang vận dụng và
từ lâu cũng đã được những nhà lý luận nổi tiếng giải
thích. Còn ý kiến Đỗ Văn Khang cũng thịnh hành một
thời, nhưng nay đã có khác! Nhà trường nhiều năm đã tạo
cho người đọc sự hiểu về hình tượng nghệ thuật khá phổ
biến: hình tượng nghệ thuật là cái phương tiện mà khi phản ánh thế
giới người nghệ sĩ hư cấu nên, ở nó có
sự thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ quan, giữa cái chung và cái riêng, giữa cảm tính và lý tính. Tuy nhiên theo thời gian, cái định
nghĩa trên có nhiều thay đổi, các yếu tố lý tính, kháí quát
giảm dần, nhường cho các yếu tố trực
giác, cảm tính và cái nhiệm vụ “phản ánh thế giới” cũng chẳng còn
là một chức năng nổi trội. Trong các công trình ngày nay, định nghĩa
về hình tượng nghệ thuật thường được xem là phương thức phản
ánh hiện thực một cách riêng biệt dưới
hình thức những “hiện tượng cụ
thể, sinh động, điển hình, được nhận thức trực tiếp bằng cảm tính”. Bách
Khoa Toàn Thư (BKTT) khi nói đến hình tượng nghệ thuật
tuy có nêu lên có ba đặc điểm chủ yếu: 1) Vừa phản ánh cái điển
hình, vừa có cá tính. 2) Vừa có tính khách quan của hiện thực, vừa có tính chủ
quan của tác giả. 3) Vừa xúc cảm, vừa duy lý... Nhưng bao trùm vẫn
công nhận “hình tượng nghệ thuật là phạm trù cơ bản của mỹ học, một
hình thức phản ánh hiện thực đặc thù. Hình tượng nghệ thuật khác với các
phạm trù của tư duy khoa học (khái niệm, phán đoán, diễn dịch), do tính
chất trực tiếp của nó”. Nói hình tượng nghệ thuật có tính
chất trực tiếp hay nhận thức trực tiếp bằng cảm tính khi
phản ánh hiện thực là muốn nói đến tính chất cụ thể - cảm giác
rồi đấy vì nếu không cụ thể-cảm giác thì khó mà tác
động trực tiếp cảm tính đến công chúng, khi đã trừu tượng
- lý tính thì không còn là hình tượng nghệ thuật mà bước sang địa
hạt các phán đoán của khoa học, buộc người ta gián tiếp suy ngẫm
mới lĩnh hội được! Bởi vậy nói về Hình tượng nghệ thuật, chúng tôi
cho rằng cụm từ “hình tượng cụ thể - cảm giác” của Hoàng
Ngọc Hiến là quan niệm mới nhưng không hoàn toàn xa lạ,
nó khác quan niệm cũ xem hình tượng nghệ thuật là bức
tranh vừa khái quát - cụ thể,vừa lý tính - cảm tính... Quan niệm đương
đại hình tượng nghệ thuật thiên về cảm giác, cụ thể,
khước từ lý tính, trừu tượng, tuy nó được thể
hiện bằng nhiều hình thức tổng hợp thẩm mỹ từ cụ thể -
lịch sử, sang tượng trưng - ước lệ, đến huyền ảo - vô
thức, sắc thái có khác nhưng đều có tính chất chung là trực tiếp, cụ
thể, đánh mạnh vào cảm giác, vào nhận thức trực tiếp cảm tính, coi trọng sự biểu hiện
ấn tượng, cảm xúc, hơn là sự tái hiện thực tại. Điều này
không phải là sự nâng cấp về hiểu biết nghệ thuật mà là do một
thời ta đi chệch, đồng nghĩa. Thế giới quan với Phương pháp
sáng tác, luôn đưa các yếu tố nhận thức lý trí lên hàng đầu,
nay trả cái bản lai diện mục của nghệ thuật về
cho nó. Hêghen đã từng phân tích vấn đề này:
“... Nó (nghệ thuật) đặt dưới mắt ta không phải là
sự trừu tượng của các đối tượng, mà là hiện thực cụ thể
của chúng, không phải là những ngẫu nhiên của sự tồn taị
mà là sự hiển nhiên, khiến chúng ta nắm được trực tiếp và toàn vẹn
thực chất qua hình thức bên ngoài;biểu tượng trọn vẹn về
sự vật và sự tồn tại của nó. Đó là sự khác nhau
lớn giữa tư duy hình tượng và những gì hiện lên
trước mắt ta bằng những phương thức biểu hiện khác. (Hêghen
- Mỹ học, những vấn đề căn bản - Nxb KHXH Hà Nội 1996, tr167). Cũng với cách hiểu này ông đã so sánh nghệ thuật và tôn giáo, và
làm rõ tính đặc thù của nghệ thuật: “... tác phẩm nghệ thuật biểu
hiện chân lý, tinh thần dưới hình thức cảm tính về một đối tượng
và nhìn thấy ở đối tượng sự biểu hiện thích hợp, trong
khi tôn giáo đưa tới sự suy ngẫm [...]. Sự suy ngẫm xa lạ với
nghệ thuật như vốn có (sđd, tr.297).
3. Vấn đề liên quan giữa hình tượng nghệ thuật và bản
chất sự vật, Hoàng Ngọc Hiến cho rằng hình
tượng nghệ thuật không phản ánh bản chất sự vật, là cũng theo một
quan niêm thịnh hành đương đại. Quan niệm cũ xem nghệ thuật là tấm
gương phản ánh cuộc sống, bởi vậy hình tượng nghệ thuật phải
phản ánh hiện thực đúng bản chất. Ngày nay,
giới sáng tạo hướng đến quan niệm nghệ thuật suy nghĩ về hiện
thực, tái tạo chân lý đời sống, bởi vậy hình tượng nghệ thuật
chỉ là phương tiện thể hiện những suy cảm của tác giả - chủ
thể sáng tạo - về cuộc sống. Một hiện thực có nhiều cách
suy nghĩ, đánh giá tuỳ những hoàn cảnh riêng!. Vả lại, quan niệm bây
giờ cũng khác trước về cái gọi là bản chất sự vật: Mỗi
sự vật có nhiều trình độ bản chất, còn mỗi bản chất được bộc lộ ra qua nhiều hiện
tượng. Con đường của nhận thức là từ nhiều hiện tượng đi đến bản chất, từ bản
chất cấp độ một đến bản chất cấp độ hai và cứ thế mãi. Không thể nhận thức
được bản chất sự vật một cách tổng thể, cố định, chỉ có
thể nhận thức quá trình phát triển từng giai đoạn,
từng hoàn cảnh của sự vật. Con người là một hiện hữu đa
nhân cách, nghệ thuật hiện đại thể hiện con người, khi
thế này khi thế kia vừa thế này vừa thế kia, không thể có cái gọi
bản chất cố định của một con người! Nói chung bàn
luận về nghệ thuật bây giờ người ta ít nói đến các khái niệm bản
chất, phản ánh bản chất để đánh giá tác phẩm, mà thiên
về xác định các suy nghĩ của người nghệ sĩ!
Biện luận của Hoàng Ngọc Hiến có nhắc đến khái
niệm tính cách của sự vật, cho rằng nghệ thuật tiếp
cận tính cách của sự vật. Tính cách trong cách hiểu
phổ biến là những đặc điểm về nội tâm của mỗi con
người được biểu hiện qua suy nghĩ, lời nói và hành động của người
đó. Còn BKTT có 2 giải thích: 1/ Tính
cách là tổng thể những đặc điểm tâm lý của nhân vật biểu hiện
trong đời sống, trong cách xử sự và trong thái độ của nhân vật ở các
tình huống cụ thể. 2/ Tính cách (như tính chất): Đặc điểm riêng, phân biệt sự
vật này với sự vật khác. Như vậy câu văn của Hoàng Ngọc
Hiến chỉ có thể hiểu tính cách (tính cách của sự vật) ở đây
thuộc nghĩa thứ hai, là tính chất. Cách giải thích của Hoàng Ngọc
Hiến về tính cách làng Vũ Đại, tính cách Làng Chùa đều
gần với cách hiểu này. (Có lẽ tác giả phải giới thuyết
thêm để tránh nhầm lẫn cho người đọc ở nghĩa thứ nhất (tính cách
nhân vật) nhưng như vậy thì câu văn không còn nghĩa ban đầu của cái
biểu đạt).
Thực tiễn trong các sáng tác sau thời kỳ đổi mới
của văn học ta, lối viết hậu hiện đại phát triển, các yếu
tố cụ thể - cảm giác chi phối rất nhiều so với yếu tố trừu tượng -
lý tính và việc thể hiện cái gọi là bản chất sự vật thì nhiều
tác giả đã không còn câu nệ như trước. Các tác phẩm viết
theo lối mới đã “giải thiêng” cái bản chất lịch sử như
đã từng quan niệm (Kiếm sắc, Vàng lửa) và thể hiện
một “thế giới hỗn dung” đa tầng đa tuyến đầy nghịch lý thay dần cái
gọi là bản chất xã hội (Tướng về hưu - Nguyễn Huy
Thiệp, Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh)...
Tóm lại điều mà các tác giả tranh luận là
những vấn đề chưa có hồi kết, ý kiến trao đổi của chúng tôi cũng
chỉ là những suy nghĩ có tính cầu thị, mong có một sự lý giải rõ
ràng hơn của các nhà nghiên cứu và các bạn đọc.
28-06-2009Yến Nhi
Nhà văn của những mảnh đời bất hạnh
Nhà văn của những mảnh đời bất hạnh!
Đọc “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác...” * của Nguyễn Ngọc Tư
Trong số các nhà văn Việt Nam từng nhận giải thưởng
văn học Asean Nguyễn Ngọc Tư có một vẻ riêng, không phải chị là nhà
văn nữ trẻ nhất, mà chính vì cái tâm niệm được thể
hiện trong bài viết kỷ niệm về sự kiện này – giải thưởng năm 2008,
chị nói “... nếu vẽ một biểu tượng của nghề viết mà tôi
đeo đuổi, tôi sẽ vẽ hình ảnh của giọt nước mắt” [...] “những tác
phẩm của tôi chưa có được sức mạnh của nước mắt nhưng tôi vẫn đang
cố gắng hết mình”**.Chính bởi cái tín niệm nghệ thuật đó chi phối
nên các tác phẩm của chị đều nghiêng đến những số phận,
những mảnh đời bất hạnh“. GIÓ LẺ và 9 câu chuyện khác”, tập
truyện mới phát hành của Nguyễn Ngọc Tư là một minh chứng.
Tác phẩm không xuất hiện một nhân vật “số đỏ”, hay
một con người hãnh tiến nào hết và hoàn cảnh sống trong tác phẩm
cũng tầm thường, nhàn nhạt nếu không nói là vô vị. Tuy nhiên
với cái nhìn nghệ thuật trên phương diện thẩm mỹ thì cuộc sống hiu
hắt ở cái Xứ Sầu lại đem đến cho tác giả nhiều ấn tượng
để viết thành văn. Nhờ cái “tài Văn” của tác giả mà những câu
chuyện đơn giản bổng trở nên lấp lánh, xoáy sâu vào tấm
lòng người đọc, làm vương vấn mãi dẫu khi trang sách đã gấp.
Đây là câu chuyện về xóm nghèo Thổ Sầu hàng ngày
đón khách du lịch tham quan. Niềm vui vì thu hoạch kinh tế du lịch cho
lớp người này nhưng u buồn và chua xót cho lớp người kia, vì cứ phô
bày mãi cái nghèo đói, cái hoang dã ra cho người ta tìm hiểu, xoi
mói, người ta ngạc nhiên, thương xót thì quả thật cũng vạn bất đắc
dĩ! (Thổ Sầu). Một cảnh núi lở làm tan hoang một vùng dân
cư và bao nhiêu ngang trái, thô kệch ngẫu nhiên phơi ra. Cuộc
sống lang chạ ê chề một cách tự nhiên hiện lên bất khả kháng trong
đổ nát, hổn độn làm ngơ ngác cả những tâm hồn bé dại
(Núi lở).
Tập truyện gợi buồn vì chúng ta gặp nhiều thân phận
không may mắn. Một nỗi buồn khôn khuây trùm lên gia đình nọ khi trong
cơn mê bà nội nhắc lại cái chết của thằng hai Út Hơn phía bên kia
chiến tuyến bị người anh bắn chết. Nỗi đau lớn qua đi,đứa con nhỏ
sót lại của Út Hơn dẫu được cả gia đình yêu thương đùm bọc, cuộc
sống thơ ngây của nó vẫn có nhiều vết gợn (Vết chim trời). Một nỗi
buồn khác vây lấy đoàn tàu chở hai cha con về quê xa, nơi có người
đàn bà đang chờ cha thằng bé về làm đám cưới. Thằng nhỏ
Sói đã xuống một ga lẻ bỏ đi, mặc người cha khốn khổ tìm
kiếm trong hoảng loạn đau đớn.Nó thương cha lắm nhưng mà việc làm của
cha nó, nó không san sẻ được (Ấu thơ tươi đẹp). Rồi cái chết của
Vĩnh một thanh niên ưa phiêu lãng sau những tháng ngày lang
bạt hoan lạc tiêu phí cả thời trai, muốn đi tìm cảm giác lạ trên
núi Puvan, chờ xem “hoa sầu” nở để rồi nhận một
cái chết vô nghĩa, trốn chạy những tháng ngày trống rỗng đang đợi
chờ trước mặt (Sầu trên đỉnh Puvan).
Nhiều số phận không may mắn như mặt nước
đầm hắt hiu buồn nhưng lại nổi lên những đóa hoa
súng sáng trong, tươi tắn - những tâm hồn binh dị, tinh tế,
phong phú.
Như chính Ngọc Tư thổ lộ, chị hướng ngòi bút đến
những thân phận nhỏ bé, những mảnh đời bất hạnh nhưng
ẩn sâu bên dưới là một nguồn năng lượng trầm tích khiến cuộc đời
không mất đi hy vọng. Người đọc thông cảm với nỗi day dứt
theo tháng ngày của người anh trước cái chết không may của người em,
cho dù đứng bên kia chiến tuyến, hay tâm trạng băn khoăn của người cha
trước ý nghĩa mập mờ của một câu thành ngữ khơi dậy trong ông một
mặc cảm về sự kém hiểu biết, ít vốn sống của mình. Tấm lòng trắc
ẩn của người ông trước đồng tiền kiếm được trên sự nhọc nhằn tủi
hổ của dân làng... Những trang miêu tả tâm lý của tác giả đằm sâu và
tinh tế: cô gái lái xe đã khước từ công việc quen thuộc êm,
nhàn vì phải tiếp xúc hàng ngày với ông chủ hào hoa nhưng nhạt nhẽo
và giả tạo. Một nhà nghiên cứu VHDZ cao tuổi sau những tháng ngày bươn
trãi sưu tầm khi chia tay với một nữ cộng tác viên
trẻ trung,phóng khoáng bỗng dâng trào nỗi nhớ nhung thuần khiết và
một xúc cảm đằm thắm. Tất cả đều đứng ở bờ ranh của sự trong sáng
và u tối, của cái thiện và cái ác, “cái tài” của Nguyễn
Ngọc Tư là nơi mấp mé bờ vực đó vẫn giữ
cho nhân vật một nét của thiên lương, để rồi chỉ chờ chút gió lành
của cuộc sống thoáng qua là bùng lên ánh sáng của nhân phẩm.
Ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư trong tập truyện
hướng nhiều đến trẻ em và phụ nữ. Những cậu bé như Vĩnh, Sói, và
các em bé không tên khác hiện lên trong các truyện là những em bé
nhạy cảm với nỗi u buồn về sự mất mát của bạn bè, người thân nhưng
luôn tự chủ trong hành động. Hơn một lần chúng ta đã gặp và cảm động
với những người phụ nữ đau thương mà nhân hậu ở vùng đất Cực Nam qua
tác phẩm khá nổi tiếng “Cánh đồng bất tận” của
chị. Trong tập truyện này vẫn hiện hữu những con người
đáng mến đó nhưng ở nhiều lối rẽ khác của cuộc đời. Thật khó nguôi
quên hình ảnh người đàn bà bất hạnh trong cuộc sống gia đình đến
với người đàn ông yêu thương giữa mùa mưa bão (Một chuyện hẹn hò).
Tình cảm chân thật mãnh liệt đã vượt khỏi những khắc nghiệt
của lề thói cũng như sự hung bạo của thiên nhiên. Họ đến
với nhau trong lo âu nhưng dịu ngọt, hiến dâng cho nhau một tình yêu đầy
thảng thốt. Cái hình ảnh người đàn ông lao theo thất
vọng trong mưa lũ và cái cảnh người đàn bà chới
với cô độc, giữa đầm nước mênh mông, sóng cồn lên giận
dữ đã gợi lên trong tâm thức người đọc một đau
xót khôn nguôi về thân phận người phụ nữ nơi miền đất hẻo lánh, dẫu
bao năm tháng đã đi qua với sóng gió bao cuộc chiến chinh nhỏ to chìm
nổi!
Đặc biệt hình tượng cô gái câm trong truyện “Gió
lẻ”.Cảm nhận về thiên truyện này cũng như với “Cánh đồng bất
tận” trước đây của người đọc không hoàn toàn
giống nhau. Nếu người đàn ông từng trải trong “Cánh đồng bất
tận” đã tìm cách trả thù đời một cách tàn nhẫn qua
mối quan hệ với phụ nữ, cho đến khi đứa con gái yêu thương bị nạn ông
mới thức tỉnh, thì trong “Gió lẻ” cô gái câm chỉ là một con chim sẻ
nhỏ ngờ nghệch ngây thơ cho đến cuối chặng đường, mới tự
phát làm được một việc có ích là kéo tay lái của
Dự cứu “đại ca Buồn” khỏi bị tông xuống vực. Trong cả hai thiên
truyện đều không có người tốt một cách đích thực và hoàn cảnh sống
đầy đủ “tính Người” dù chỉ thoáng qua, chỉ có mầm
mống của cái thiện ẩn chứa trong bao số phận, có dịp mới bùng
lên. Từ một cô bé ngây thơ trong sáng bị đẩy vào đời
bởi ông Tám Nhân Đạo, rời khỏi miệt rừng hoang vu cô trôi
nổi nhếch nhác trong các bến bãi cuộc đời, có lúc tưởng
đã mất tăm, có lúc như được gặp một hạnh phúc may
mắn nơi Dự - người “lơ” xe vô gia đình, nhưng lại sa
vào bàn tay đại ca Buồn lái xe một cách vô cảm nhưng hữu
lý trong cuộc đời bơ vơ bất lực trước mọi mưa gió của cô. Một cơn ghen trần thế mơ hồ xuýt gây thành án mạng. Nhưng trong giây
phút hiểm nghèo cái “tính thiện” của cô gái bừng tỉnh, cô đã gan dạ
mạnh mẽ “giằng tay lái của Dự và kiệt sức níu chiếc xe trôi nghiêng
về phía mình, phía không ông”. Cái phút xuất thần mạnh mẽ, thiên
lương nơi em bừng trổi dậy để rồi tắt đi vĩnh viễn theo số phận!. Cái
phút giây đó làm cho em thành Người đúng bản chất, làm cho cuộc đời
không mất hy vọng.Hai kẻ đi vào “bóng tối vô tận”, kẻ thứ ba “chơi
vơi bên mép vực rã rời trong gió lẻ, sương mù, đá và cây”. Còn lại
trong lòng người đọc không chỉ một nỗi xót thương dằng dặc mà còn
một “đốn ngộ” về thiên lương về nhân phẩm trong những mảnh đời tưởng
như đã bị bao bất hạnh làm thui chột nhân tính.
Thông điệp mà thiên truyện gửi đi: Xin đừng đẩy những
con người bé nhỏ vào nơi vô định. Hãy xót thương và tin tưởng cái
tốt có ở khắp mọi nơi dù le lói hay bừng sáng.
Người không may mắn trong cuộc đời tìm được nơi
tập truyện bao bầu bạn cùng cảnh ngộ. Kẻ may mắn
yêu hơn cuộc sống mình đang thụ hưởng, nhưng biết thông cảm
hơn với bao đồng loại đang khốn khó.
Tập truyện khẳng định thêm phong cách văn chương Nguyễn
Ngọc Tư: bình dị, chân thật, trong sáng, đậm đà hương vị miền Cực
Nam từ chi tiết, hình ảnh đến ngôn ngữ. Ta từng biết những nhân vật
Nam bộ thẳng thắn, ngoan cường, yêu ghét đến tận cùng gan ruột ở
các tác phẩm thế hệ trước như Anh Đức, Trần Hiếu Minh, Phan Tứ,
Nguyễn Quang Sáng... nay Nguyễn Ngọc Tư bổ sung vào đấy
những thân phận bé nhỏ, mảnh mai mà giàu tình thương và hy vọng.
Tập truyện cũng ghi nhận một tiếp cận của
Nguyễn Ngọc Tư vào trào lưu mới ở lối kết cấu đồng
hiện (Sầu trên đỉnh Puvan, Núi lở, Gió lẻ) và
sự hóa thân vào các ngôi 1, ngôi 3, và loài vật để kể chuyện (Vết
chim trời, Ấu thơ tươi đẹp, Một chuyện hẹn hò) làm thay
đổi tiết tấu tự sự ở từng thiên truyện cho thêm phần dí
dỏm, hứng thú. Nhưng dễ nhận dạng một phong cách
viết truyện khá ổn định của Nguyễn Ngọc Tư, chị không ồn
ào chạy theo các mẫu mã tân kỳ mà âm thầm nuôi dưỡng một cá tính
sáng tạo lấy sự chân tình, sự xót thương làm căn bản, lấy hương vị
nắng gió của một miệt đất quê Nam bộ đầy gian lao trắc trở nhưng
cũng lắm sắc màu làm điểm trang, Nguyễn Ngọc Tư nối tiếp
cái cách thể hiện quê kiểng chơn chất mà sâu lắng của các nhà
văn Sơn Nam, Đoàn Giỏi..., nhưng nó là cái phía này ồn ào
sóng nước bổ sung cho cái phía kia trầm mặc núi non của quê
Việt.
Văn chương chân chính mang lại cho độc giả
niềm hạnh phúc lớn lao là sau khi đọc xong tác phẩm đều
muốn tự soi rọi bản thân để nâng mình lên, đó là
hiệu ứng cao cả và thiêng liêng giúp nó luôn đứng vào thứ
hạng bậc cao trong kho tàng đời sống tinh thần nhân loại. Chẳng thế mà
khi gặp những trắc trở trong cuộc đời có tác
giả đã thốt lên: Tôi vịn câu thơ mà đứng
dậy!. Văn chương nhiều lúc được xem như vị cứu tinh
trong cuộc đời gian khó. Có được vị thế đó là nhờ trực
tiếp hay gián tiếp nó luôn tìm cách khơi dậy những suy cảm
của độc giả về cái thiện và cái ác, về nỗi đau và niềm
vui trong cuộc sống. Nó vừa có sự thuyết phục tức
thời vừa có sự ám ảnh lâu dài đến đời sống tinh thần con
người. “Gió lẻ...” đã ít nhiều mang đến cho độc giả cảm
nhận đó.
Chú thích:
* Nhà xuất bản Trẻ 9-2008
** Bài phát biểu tại lễ nhận giải văn học ASEAN 2008.
Tháng 12/2008Yến Nhi
Trường ca Việt, một cách nhìn
Trường ca Việt, một cách nhìn
Khoảng mấy năm gần đây trong nền văn chương nước nhà
thể tài trường ca đã gây được sự chú ý của không ít tác giả cả
trên hai phương diện lý luận lẫn sáng tác. Các tác giả Trần Thiện
Khanh, Nguyễn Văn Dân, Lại Nguyên Ân, Chu Văn Sơn có cuộc trao đổi khá
lý thú về Trường ca trên tạp chí Thơ 11-2009. Xin được
góp thêm vài suy nghĩ về thể tài này.
1- Về khái niệm Trường ca. Trường ca cũng
như nhiều thể tài khác trong văn chương theo quan niệm của
M.Bakhtin là những khái niệm “không bao giờ bị đông cứng”…Trường
ca , bởi vậy, để dễ tìm hiểu những đặc điểm trong sự phát triển
đương đại nên xem là một thể loại văn chương đang biến chuyển và còn chưa
định hình.
Không định nghĩa theo lối «duy danh»,
nhưng căn cứ vào sự kết hợp hai khái niệm «Trường» - «Ca» đã gợi ý cho chúng ta đây là một thể loại mà dung
lượng câu chữ phải dài (trường), phải có yếu tố ngôn ngữ
và có nhạc điệu (ca).Trong ý nghĩa nguyên thủy, nó không nhất thiết
là Thơ, loại nghệ thuật nào có hai yếu tố trên đều có thể gọi
là trường ca (nghĩa rộng). Chẳng hạn trong âm nhạc, trường ca (ca
từ và âm nhạc) thường có độ dài lớn hơn nhiều so với ca khúc, cấu
trúc tự do đi liền mạch được liên kết chặt chẽ bằng nhiều khúc đoạn .Thí dụ,
trường ca Hội trùng dương của Phạm Đình Chương, Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi, Sông Lô của Văn Cao, Đóa hoa vô thường của Trịnh Công Sơn,Ta tự hào đi lên ôi
Việt Nam của Chu Minh, gần đây là trường ca mang tên Người
Việt của nhạc sĩ Minh Châu... Tác phẩm văn xuôi - Những
linh hồn chết - của Gô gôn được ông đặt tên trường ca trên
ý nghĩa rộng rãi này, tác phẩm dài hơi, ngôn ngữ có tính nhạc!.
Lịch sử phát triển trường ca quả đã có
nhiều thay đổi.Trong truyền thống, nghĩ đến trường ca là
nghĩ đến “tác phẩm thơ có dung lượng lớn thường có cốt truyện tự
sự hay trữ tình”,nó có nhiều phân nhánh nhưng chủ đạo là thể loại có
cốt truyện lãng mạn với đề tài lịch sử cộng đồng. Dần dần trong trường ca các
đề tài cá nhân, triết lý, đạo đức được tăng cường, các yếu tố kịch, trữ tình
được khai thác dồi dào.Giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của trường ca là thời
đại của chủ nghĩa lãng mạn đầu thế kỷ 19. Sang thế kỷ 20 trường
ca phát triển theo hướng trữ tình, đề cao các phương diện tâm lý,
triết lý,các xúc cảm tâm linh. Dù là thời hoàng kim hay lúc phân rã thì
trường ca, “với tư cách một thể loại tổng hợp trữ tình-tự sự hoành tráng,
cho phép kết hợp những chấn động lớn, những xúc cảm trầm sâu và những quan niệm
về lịch sử, vẫn chiếm được vị trí nhất định trong thi ca thế giới, là thể
loại mà bất cứ nhà thơ lớn nào cũng đều muốn thử sức” (Bách khoa toàn thư mở
Wikipedia).
Ở Việt Nam, thời cổ đại có những trường ca nổi tiếng
của các dân tộc anh em như Đam San, Đam Di, Xing Nhã..., thời
trước CM cũng có một số trường ca gây được ấn tượng (trường ca của
Phạm Huy Thông), trong hai cuộc Kháng chiến và sau ngày thống nhất thì
thể loại này nở rộ. Trong cách nghĩ phổ biến đây là thể loại
văn học mà nội dung chủ yếu ca ngợi những hiện tượng mang tính lí tưởng
cao đẹp và phủ định những gì phản tiến bộ,u tối, trong trường ca nhà
thơ lý giải những vấn đề liên quan đến số phận của Dân tộc, của Cộng
đồng,của Con Người, (có thể của cả những cá thể như tình yêu, tình bạn,
lòng vị tha, đức hy sinh...) nhưng luôn có ý nghĩa xã hội rộng lớn. Về
cấu trúc, trường ca gồm nhiều chương, khúc mang tính chất
tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố: tự sự, trữ tình và cả kịch. Nhân vật của trường ca có thể là một anh
hùng, một vị tướng với nhiều chiến công lỗi lạc, mà cũng có thể là
một con người với tất cả cái riêng tư. Tuy nhiên số phận đầy thử thách,
khát vọng lớn lao, niềm tin yêu, lòng quả cảm vô song... là những yếu
tố thẩm mĩ hàng đầu mà trường ca hướng đến .Đặc
tính nổi bật của trường ca cổ điển là sự hướng
đến “tinh thần cao cả", trường ca sau
này (CN hiện thực xã hội chủ nghĩa) gắn với cảm hứng sử thi, với tính cách vĩ
đại của nhân dân của dân tộc.
2- Về sự phát triển thể tài này trong văn
chương Việt: Có ý kiến cho rằng trường ca hiện đại
phát triển theo hướng trữ tình hoá (cốt truyện phát
triển theo tâm trạng chủ thể), Thể loại trường ca tự
sự (có cốt truyện phát triển theo hành trạng nhân vật, hoàn
cảnh khách quan) không còn nữa vì đã có tiểu thuyết và điện ảnh
làm thay việc kể chuyện ,phản ánh hiện thực! Trên thế giới nhiều
nhà nghiên cứu cũng đã chú ý đến sự phân hoá của thể tài này. Họ
cho rằng: Trường ca hiện đại thường phát triển theo hướng trữ tình, tâm lý,
triết lý, các xúc cảm riêng tư đặt trong tương quan với những biến thiên lịch
sử, trong khi yếu tố cốt truyện được giảm thiểu. Tuy nhiên ở Việt
Nam,xét sự phát triển của thể loại này ,trên cái nền chung
các trường ca tiêu biểu hiện
đại ta thấy có hai khuynh hướng, một vẫn theo
truyền thống nặng về tính tự sự kết hợp trữ tình, một phía khác
nhiều tác phẩm theo khuynh hướng cách tân thiên về trữ tình.Có thể
kể tên một số tác phẩm tiêu biểu Bài ca chim chơ rao - Thu
Bồn, Theo chân Bác - Tố Hữu, Con đường của những vì sao - Nguyễn
Trọng Tạo, gần đây Người anh cả của toàn quân (Trường ca
về Tướng Giáp) - Hoàng Bình Trọng... thuộc loại thứ
nhất. Các trường ca này đều có nhân vật, có cái sườn tự
sự, thậm chí cả kịch tính. Đó là Bác Hồ, Tướng Giáp, hai
cán bộ Hùng và Rin,hai chiến sĩ Mùa và La, 10 cô gái Đồng
Lộc.., rất nhiều mảng tự sự về hai cuộc kháng chiến làm nền cho
hành trạng các nhân vật, đan xen bên cạnh những suy cảm trữ tình của
tác giả. Các trường ca Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh,Những
người đi tới biển - Thanh Thảo,Mặt đường khát vọng -
Nguyễn Khoa Điềm, Trầm tích - Hoàng Trần Cương, Trường Sơn - Nguyễn
Đức Mậu,Đổ bóng xuống mặt trời và Ngày đang mở sáng - Trần
Anh Thái... thuộc loại thứ hai. Các trường ca này chủ yếu thể hiện
những suy tưởng, những cảm xúc của chủ thể trữ tình.Mạch trữ tình
la cái sườn chính xâu chuỗi các khúc đoạn, yếu tố tự sự được giảm xuống
thứ yếu, chỉ còn đọng lại trong một vài chi tiết có tính
liên tưởng. Sự khác biệt này ta có thể tìm thấy qua lời thổ lộ
của hai tác giả Nguyễn Trọng Tạo và Trần Anh Thái.
Nguyễn Trọng Tạo cho rằng: “Tôi đã kết cấu trường ca
đan xen tự sự và trữ tình [...]. Những cô gái trong trường ca
này là thanh niên xung phong tham gia chiến đấu ngay dưới mưa bom bão
đạn quân thù,và chàng trai là người lính lái xe chở đạn vào chiến
trường, qua hai nhân vật này tôi muốn làm hiện lên thân phận và tâm trạng
của người công dân trong cuộc chiến tranh vệ quốc” (Tựa
- Con đường của những vì sao). Còn Trần Anh Thái: “... tôi trung
thành với khát vọng trên đường tìm kiếm cõi thẳm sâu chân thực trong chính bản
thân mình…” (phát biểu ở Hội thảo về Trường ca TAT)
Phân chia như vậy là sát với sự phân hóa, sự đổi
mới của trường ca hiện đại trong bối cảnh xã hội Việt Nam nơi những hiện
thực lớn lao luôn tạo tiền đề giá trị trực tiếp cho nội
dung tác phẩm. Hiện tình văn chương Việt Nam luôn là sự đan chéo, phân
hóa để hội nhập, nếu chỉ quan sát một số hiện tượng đổi
thay rồi khái quát lên mà không thấy sự tiếp nối e khi đi sâu tìm
hiểu đặc điểm nội dung cũng như các biểu trưng nghệ thuật
sẽ khiên cưởng. Vì rằng: đường biên thể loại giữa trường ca tự
sự và trường ca trữ tình hiện đại trong văn chương Việt có
thể vạch ra được. Đó là tính đa dạng trong khả năng chiếm lĩnh bản chất hiện
thực, là sự phản ánh con người trong cái nhìn đa diện, cũng như sự thể hiện
hiện thực qua các đặc trưng nghệ thuật hiện đại của trường ca
tự sự rất khác ở các tác phẩm trường ca trữ tình.
Trong sự hiện hữu của các thể tài thơ, trường ca, thơ dài với truyện thơ các đặc
điểm cần phân biệt. Đều là những tác phẩm dài hơi, truyện thơ có
nhân vật, có cốt truyện, tác giả thường khuất lấp đằng sau, thơ
dài thì chủ yếu bày tỏ những suy cảm của tác giá - cái tôi
trữ tình bộc lộ trực tiếp.Hai thể tài này có đường biên khá rõ, dễ
phân biệt. Nhưng giữa thơ dài và trường ca hiện đại đều
lấy cái mạch trữ tình làm cái sườn chính để phát triển, nếu lấy
cái chỗ đứng, cái sự phát ngôn của tác giả làm tiêu
chí phân biệt thì đôi khi không rõ ràng, bị nhầm
lẫn, vì chúng đều liên kết với nhau xung quanh chủ đề bằng những suy
cảm trữ tình, tâm lý, triết lý của tác giả dẫu có nhiều
chương đoạn phân khúc chăng nữa. Ở đây cái chỗ dựa duy nhất để bám
vào mà phân biệt, đó là một tư duy hướng về tinh thần cao
cả với cảm hứng sử thi,ca ngợi những gì mang tính lý tưởng cao đẹp, với
tính cách vĩ đại của nhân dân, dân tộc, “sự biểu hiện tư duy của một dân
tộc dưới tất cả mọi hình thức và trong tất cả mọi phương thức của
nó” (Hêghen - Mỹ học, những văn bản chọn lọc - Nxb KHXH Hà
Nội 1996, tr.176). Nói một cách khác cái tôi trữ tình, trực cảm đều
có trong thơ dài và trường ca trữ tình, nhưng khác về
chất, cái tôi trữ tình trong trường ca chính là chủ thể trữ tình
mang sắc thái cộng đồng, thể hiện tính lý tưởng tính cao
đẹp của cộng đồng, sắc thái cá nhân không lộ rõ như trong thơ trữ
tình.
3- Về đặc điểm nghệ thuật của hai loại trường ca
hiện hành, chúng ta có thể tìm thấy những điều riêng biệt dựa vào
ý kiến của Hêghen khi ông bàn về trường ca trữ tình và tự sự sử
thi.Ông cho rằng “... nội dung của trường ca trữ
tình không phải là đối tượng trong sự vận động hiện thực
của nó, mà là sự vận động bên trong của tư duy nhà thơ,
những biến đổi sôi động hay yên ắng, dòng chảy êm đềm hay
hành tiến mãnh liệt, cũng như những bước nhảy đột ngột biểu hiện ra
ở sự vận động bên ngoài của nhịp điệu và sự hài hòa ở
các từ [...] nó phải nhào nặn một cách nghệ thuật sự vận động
của thời gian dưới những hình thức khác nhau”. (Y.N. nhấn mạnh) (sđd,tr191). Còn tự sự sử thi (trường ca tự sự) với đặc điểm có
nhân vật phát triển trên cái sườn tự sự, biểu trưng nghệ
thuật là “trình bày diễn biến của chúng theo sự triển khai chủ
yếu về mặt không gian” (sđd, tr.191). Hay nói một cách khác trường
ca trữ tình nổi bật ở chiều sâu tâm lý, tầm cao triết lý
với các xúc cảm mới mẻ thăng hoa trong mối liên hệ với những chấn
động lịch sử lớn lao. Nó thuộc loại nghệ thuật vận động thời gian có
sự thể hiện bên ngoài qua giọng điệu phong phú và hài hòa ngôn từ...
Trường ca tự sự thuộc loại nghệ thuật triển khai chủ
yếu về mặt không gian, nổi bật chung là tính hoành tráng lịch
sử của các sự kiện, cùng bối cảnh hoạt động và tâm lý nhân vật.
Đối chiếu các trường ca tiêu biểu gần đây, Trường ca về Tướng
Giáp -Hoàng Bình Trọng và các trường ca Ngày đang mở
sáng, Trên đường trở đi - Trần Anh Thái ta sẽ có
những minh chứng cụ thể.
Trường ca về Tướng Giáp của Hoàng Bình Trọng, có rất
nhiều chất tự sự men theo cuộc đời vị tướng. Nhiều chi tiết tác giả
kể rất thực, rất bình thường nhưng tổng hợp lại rất hoành tráng
mang được tư thế hiên ngang của dân tộc trong lòng nhân loại. Trần Đăng
Khoa cho rằng ở trường ca này tác giả “... đã tạo dựng cả một
chiến trường ngổn ngang và bề bộn [...]. Hoàng Bình Trọng bám sát từng chi tiết
có thật trong cuộc đời chỉ huy trận mạc của vị tướng thiên tài [...] là cái
giấy thông hành để dân tộc ta có thể hiên ngang đi vào cõi mênh mông bát ngát của
xứ người...” (Y.N nhấn manh). Bên cạnh,
các trường ca Ngày đang mở sáng, Trên đường trở đi của Trần
Anh Thái, cốt truyện sự kiện bị phân rã và cốt truyện tâm lý được đẩy lên đến
cao trào. Trần Anh Thái tổ chức trường ca nương theo dòng cảm xúc.Sự thăng
trầm dồi dào, mãnh liệt của tâm trạng tạo nên giọng điệu chính của
trường ca, mà có nhà phê bình cho là giọng điệu của “Lửa“. Cái
làm nên khác biệt của trường ca Trần Anh Thái là sự phá vỡ những
nguyên tắc cấu trúc của trường ca truyền thống, cấu trúc trong
trường ca của anh dựa hoàn toàn vào cảm xúc, lấy cảm xúc làm mạch chủ đạo, mạch
sự kiện chỉ nảy sinh nhờ liên tưởng như lời nhận xét của Chu Văn
Sơn “không bám vào những sự kiện chính sử, mà kết hợp chính sử
với dã sử để tạo ra một không khí huyền sử đậm nét. Trường ca Trần Anh
Thái mạnh ở yếu tố trữ tình”.
Chúng tôi lưu ý sự phát triển hai khuynh
hướng trường ca đương đại Việt Nam: trường ca trữ tình và trường ca tự
sự,mong làm nổi rõ sự phong phú đa dạng chung của thể loại này -
dàn “đại pháo” - của nền Thơ Việt, lấy đó làm cơ
sở, cổ súy cho một sự phát triển đa dạng các phong cách
sáng tác, các tác giả tìm gặp và phát triển được cá
tính sáng tạo của mình.
Tháng 1/2010 Yến Nhi
Phân tích văn học bằng từ và bằng số
Phân tích văn học
bằng từ và bằng số
Văn học thời đại Victoria được phân tích bằng thống
kê với quy trình mới.
Nghiên cứu văn học thời đại Victoria đã hấp dẫn một
môn khoa học thống kê mới, bởi vậy những kẻ săn lùng dữ liệu tiên phong này
ngày nay đang chủ trương một thí nghiệm khác thường trong khoa phân tích thống
kê. Tựa sách của mọi cuốn sách nước Anh xuất bản bằng tiếng Anh trong khoảng thế
kỷ 19 - chính xác là 1,681,161 cuốn - đang được lướt bằng phương tiện
điện tử để lục tìm những từ khóa những câu khóa có thể cho ta một cái nhìn mới
mẻ thấu đáo vào các trí tuệ của thời đại Victoria.
Phương pháp nghiên cứu này mới chỉ bộc lộ những khả năng của
nó gần đây, nhờ một thế hệ mới các công cụ kỹ thuật số và các cơ sở dữ liệu cực
mạnh, là một trong nhiều cách mà công nghệ đang làm biến đổi khoa
nghiên cứu văn học, triết học và các lĩnh vực nhân văn khác vốn chưa ôm nổi việc
phân tích cần thiết về số lượng trên quy mô lớn.
Dan Cohen và Fred Gibbs, hai nhà lịch sử khoa học tại đại học
George Mason là người đã sáng tạo ra dự án này, đến nay đã lập biểu đồ biểu diễn
tần suất của hơn hai chục từ - trong đó có Chúa, tình yêu, công việc, khoa
học, và công nghiệp - xuất hiện trong các tựa sách từ Cách mạng
Pháp 1789 đến đầu Thế chiến Thứ nhất năm 1914. Đối với Cohen, những đường răng
cưa sắc nhọn nhảy múa qua các biểu đồ của ông có thể được dùng để khảo nghiệm
những niềm tin sâu sắc nhất về những người thuộc thời đại Victoria, giống
như niềm tin của họ vào tiến bộ và khoa học. “Chúng tôi cuối cùng đã có thể khảo
nghiệm một cách tin cậy những điều khẳng định cơ bản khác nhau đã từng là trung
tâm của những công trình nghiên cứu về thời đại Victorra qua nhiều thế hệ.”
Cohen nói rằng ông và Gibbs hy vọng rằng công trình của các
ông sẽ được dùng như một kiểu mẫu để các học giả có thể dùng ‘chiếc xe đẩy mua
hàng’ của những công cụ kỹ thuật số mới để thử thách các giả thuyết và các cách
lý giải đã tồn tại lâu dài trong các khoa học nhân văn.
Một số đồng nghiệp của các ông rõ ràng còn băn khoăn về những
khả năng này.
“Phản ứng của riêng tôi là hết sức phấn khởi,” Alice Jenkins
giáo sư văn học và văn hóa thời đại Victoria ở trường đại học Glasgow nói,
ông đã thấy Cohen trình bày các kết quả ban đầu của mình trong một cuộc hội nghị
gần đây về thời đại Victoria.
Tuy nhiên cũng có những lo lắng về tiềm năng của các công cụ
điện tử có thể làm giản lược văn học và lịch sử thành một chuỗi các
con số, vắt ra những chủ đề quan trọng vốn không dễ dàng định lượng.
“Tôi bị kích động và khiếp hãi” Matthew Bevis một giảng viên
đại học York ở Britain nói. Ông cũng có mặt trong cuộc hội
nghị nói trên. “Cái này không phải chỉ là một công cụ, nó thật sự đang định hướng
loại câu hỏi mà một ai đó trong văn học có thể sẽ hỏi.”
“Nên bỏ nó vào một cái hộp có dán nhãn “xử lý cẩn thận”, ông
nói thêm.
Những lo ngại như thế không ngăn cản ông Bevis hay các nhà
hàn lâm khác trong cử tọa khỏi yêu cầu ông Cohen vận hành một số công cụ tìm kiếm
điện tử các từ đặc biệt thích hợp với lĩnh vực nghiên cứu của riêng họ.
Meredith Martin, một phó giáo sư Anh văn đại học Princeton là
người đang nghiên cứu lịch sử hình thức thơ, quan tâm đến các thuật ngữ “vận luật”
,“nhịp điệu” và “thể thơ.”
“Tôi thậm chí đã gửi cho ông ấy một email ngay khi ông ấy
đang thuyết trình,” bà Martin nói. Bà hình dung ông đang bị ngập trong đống yêu
cầu, và “tôi muốn là người ở hàng đầu.”
Công trình nghiên cứu “bố cục lại thời đại Victoria” của các
ông Cohen và Gibbs là một trong 12 dự án đại học đoạt giải thưởng mới về các
ngành khoa học nhân văn kỹ thuật số do Google sáng lập, giải thưởng này trao tặng
tiền cùng với quyền truy cập vào các máy tính mạnh và các cơ sở dữ liệu của
công ty này.
Một số học giả cảnh giác với sự kiểm soát mà một tập đoàn như
Google có thể áp dụng đối với thông tin kỹ thuật số. Kế hoạch của Google tạo ra
một thư viện và kho lưu trữ khổng lồ trên mạng đã làm dấy lên cảnh báo về tiềm
năng độc quyền đối với các sách số hóa có thể kéo theo sự định giá nặng đô.
Nhưng Jon Orwant, giám đốc kỹ thuật của mảng Sách, Tạp chí và
Bằng sáng chế của Google, nói kế hoạch đó là để tạo nên những bộ sưu tập và các
công cụ tìm kiếm có sẵn miễn phí cho các thư viện và các học giả. “Đó là điều
mà chắc chắn chúng tôi sẽ làm, và không, nó không đòi hỏi phải trả gì cả,” ông
nói.
Một tiêu chuẩn trong việc lựa chọn các dự án để tài trợ, ông
nói thêm, là chúng có tạo ra các tập hợp dữ liệu mới và các mã khóa máy tính mới
mà các nhà nghiên cứu khác có thể thấy có ích hay không.
Việc khảo sát các tựa sách của các ông Gibbs và Cohen chỉ là
bước đột phá ban đầu vào dữ liệu. Bước thứ hai là rà soát toàn bộ các văn bản.
Các giáo sư này cũng sẽ có khả năng nhắm vào các chi tiết, các tựa sách và các
đoạn văn đặc biệt.
Điểm xuất phát của họ là một công trình trước đây tập trung
vào văn bản như một điểm dẫn nhập vào thời đại này: cuốn “Hệ thống Tư tưởng thời
Victoria, 1830-1870” của Walter E. Houghton một tác phẩm cột mốc được xuất bản
vào năm 1957 đã tạo nên một thế hệ các học giả, ngay cả khi các kết luận của nó
bị nghi ngờ. Houghton tìm cách nắm bắt cái mà ông gọi là “ý nghĩa chung” của tư
tưởng của giai tầng trung lưu và thượng lưu thời Victoria, một phần bằng cách đọc
kỹ rất nhiều văn bản được viết trong thời đại đó và đếm một cách có phương pháp
xem những từ nhất định nào đó xuất hiện bao nhiêu lần. Chẳng hạn, việc dùng nhiều
lần các từ như “hy vọng”, “ánh sáng”, “ánh nắng” được hiểu như một dấu hiệu của
tinh thần lạc quan đang tăng lên trong thời Victoria.
Danh mục các sách đọc của Houghton là khổng lồ, nhưng phương
pháp của ông nêu ra các câu hỏi về căn cứ vững chắc của việc ngoại suy thái độ
của hàng triệu người từ vài trăm văn bản.
Tính toàn diện của những chào mời nghiên cứu lý thuật số dập
tắt mọi lời than phiền như vậy. “Toàn bộ lịch sử chỉ là giai thoại.” Cohen nói.
“Bạn có thể đã đọc ba cuốn sách và nói văn học thời đại Victoria bị ám ảnh bởi
cái ác, hoặc bạn có thể đã đọc 30 cuốn sách hay 300 cuốn, nhưng không thể có
chuyện bạn đã đọc 10.000 cuốn sách.”
Nhưng ngày nay, ông giải thích, những thư viện số-hóa khổng lồ
giới thiệu “lần đầu tiên khả năng chúng ta có thể tiến hành nghiên cứu toàn diện
về văn chương thời Victoria - không chỉ những Mill và những Carlyle
danh tiếng, mà mười nghìn tác giả ít được biết đến hơn và thậm chí đã bị lãng
quên.”
Các biểu đồ sơ bộ ông trình bày tại cuộc hội nghị phần lớn khẳng
định những gì chúng ta đã biết, ông Cohen nói. Khuynh hướng giảm sút nhắc nhở đến
“Chúa”, “Cơ đốc”, “vũ trụ” phù hợp với quan niệm thông thường cho rằng thế kỷ
19 là thời kỳ đang lên của chủ nghĩa thế tục và thái độ hoài nghi.
Tuy nhiên các nghiên cứu quy mô cũng thách thức một số lý
thuyết được ưa chuộng trong cách đọc kỹ lưỡng, ông nói: chẳng hạn, rằng văn học
thời Victoria bị ám ảnh bởi nguồn gốc và bản chất của cái ác. Như nó
cho thấy, các cuốn sách mà trong tựa đề có chữ “ác” chen chúc nhau nằm gần dưới
đáy biểu đồ, chỉ đếm được 0,1 phần trăm - tức một phần nghìn - số sách xuất bản
trong thời Victoria.
Như ông Cohen đã mau mắn thừa nhận, ý nghĩa của những con số
này không có gì là rõ ràng. Có thể các tác giả không thích dùng từ “cái ác”
trong tựa đề, có lẽ có những từ đồng nghĩa khác thông dụng hơn; cũng có thể ngữ
cảnh hướng tới một chủ đề hoàn toàn khác.
Bà Martin ở Princeton biết trực tiếp các công cụ
tìm kiếm điện tử có thể khám phá cả những văn bản tối nghĩa lẫn những ngõ cụt
như thế nào. Bà đã bỏ ra mười năm biên soạn một danh mục các sách, các bài báo
và tạp chí về những khía cạnh kỹ thuật của thi ca.
Bà nhớ lại việc tìm thấy sự bùng nổ đột ngột của các từ “cú
pháp” và “vận luật” vào năm 1832, gợi nghĩ đến một cuộc tranh luận sôi nổi về cấu
trúc thơ. Nhưng hóa ra “Tiến sĩ Cú pháp và vận luật” là tên của hai chú ngựa
đua.
“Bạn tìm thấy 200 tựa sách có từ Syntax (Cú pháp) và bạn nghĩ
chắc đây là một cuộc tranh luận lớn về ngữ pháp trong năm đó,” bà Martin nói,
“nhưng hóa ra chỉ là con Syntax đã thắng.”
Các học giả cũng nên nhớ rằng quá khứ chứa đựng nhiều hơn những
gì được ghi lại, ông Bevis nói trong một cuộc phỏng vấn. Một chủ đề ít được nhắc
đến không có nghĩa là nó đã biến mất khỏi văn hóa nhưng thật ra nó đã trở thành
một phần máu thịt của cuộc sống và nó không còn gợi hứng cho người ta tranh luận
nữa. Ông dẫn lời Emily Dickinson: “Khi sự vật đi qua khỏi trí óc của chúng ta,
thì đó là sự lãng quên hay sự thu hút?”
Ông Bevis nói rằng đáng lo ngại hơn là các biện pháp thống kê
có thể che mờ ý nghĩa và cách hiểu.
Đừng lo! Những người đang ôm ấp các phương pháp mới nói.
Không cần thiết phải thách đấu với máy tính về cách hiểu. Bà Jenkin cho rằng,
ngược lại, nghiên cứu về lượng trên quy mô lớn có khả năng làm nổi bật “tầm
quan trọng và giá trị của việc đọc kỹ lưỡng; của việc đắm sâu một cách cặn kẽ đầy
tưởng tượng vào các từ, các đoạn văn, và các câu thơ.”
“Đọc kỹ lưỡng” bà nói thêm, “sẽ trở nên càng quan trọng hơn
trong một thế giới trong đó chúng ta có khả năng tiềm tàng đọc được mọi từ
trong văn chương thời Victoria đã từng được xuất bản”.
3/12/2010 Hiếu Tân dịch
Thập kỷ mất mát
Thập kỷ mất mát
1- Thế giới học được gì từ mười năm thừa
mứa?
Bài đăng trên tạp chí SPIEGEL: “The Lost Decade” 28/12/2009 - Tác
giả: Dirk Kurbjuweit, Gabor Steingart và Merlind Theile gồm 7 bài. VCV sẽ giới
thiệu mỗi ngày mỗi bài. Đây là những nhận định bạn không thể bỏ qua...
Thập niên đầu của thế kỷ 21 được đánh dấu bằng những khủng hoảng.
Chiến binh Hồi giáo tấn công New York, hệ thống tài chính sụp đổ, khí hậu
bị thảm họa đe dọa và nền dân chủ mất đi một vài vị thế của mình. Tất cả những
cái ấy gộp lại đã báo hiệu sự thất bại của phương Tây, mặc dầu Internet là một
tia hy vọng.
Philipp Blom là người biết một cái gì đó về sự khởi đầu của
các thế kỷ. Ông ta ngồi trong quán cà phê Korb ở Vienna, nơi mà thời gian
trôi chậm như thể đông cứng tại chỗ. Ông ngồi đó để so sánh sự khởi đầu của thế
kỷ 21 với sự khởi đầu của thế kỷ 20.
Blom đã viết một cuốn sách tuyệt vời: “Những năm choáng váng”
về Châu Âu những năm giữa 1900 và 1914, một thời kỳ mà ông miêu tả như là lên
cơn thần kinh. Bước chân gấp gáp hơn, những phát minh mới, đặc biệt là ô tô và
điện thoại, đã cô đặc và làm tăng tốc cuộc sống. Đối với nhiều người nó là sức
áp đảo; và chứng suy nhược hay là suy kiệt thần kinh trở thành căn bệnh rối loạn
của thời đại. Hôm nay chúng ta nói về sự “cháy rụi”
Mặt khác, Blom nói, nó là thời kỳ của những hy vọng và không
tưởng. Người ta nhìn về tương lai phía trước, và nhìn về một thế giới sung túc
hơn, công bằng hợp lý hơn. Thế rồi Đại Chiến nổ ra.
Blom nhìn thấy cả cái tương đồng và khác biệt giữa thời ấy và
ngày nay. Vào đầu thế kỷ 21 cũng có những đợt sóng phát minh làm cô đặc và tăng
tốc cuộc sống, ông nói, nhưng lần này công nghệ mới - Internet, và ở một mức độ
lớn hơn, sự kết hợp Internet và điện thoại di động - cũng là động lực đằng sau
những thay đổi.
Cái khác biệt theo Blom là đầu thế kỷ này không mang lại bất
cứ hy vọng nào về tương lai. Blom thốt ra một câu chán nản “Chúng ta không muốn
một tương lai, chúng ta chỉ muốn một hiện tại không kết thúc” Không phải vì cái
hiện tại này quá hấp dẫn, ông nói, mà chỉ vì người ta sợ rằng mọi việc có thể sẽ
còn tồi tệ hơn.
Vài ngày nữa là cái thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 và thiên
niên kỷ thứ ba sẽ kết thúc. Đó là một thập kỷ đã bắt đầu không phải bằng một sự
chuyển tiếp êm đềm sang thời đại mới, mà bằng một tiếng sầm. Đó là một thập kỷ
đầy những năm khủng hoảng: khủng hoảng 11/9, khủng hoảng khí hậu, khủng hoảng
tài chính và khủng hoảng của nền dân chủ. Gộp chung lại, chúng biểu hiện cuộc
khủng hoảng chung của Phương Tây. Mọi sự khó mà có thể tồi tệ hơn trong vòng một
thập kỷ.
Những hy vọng lớn
Thật trớ trêu, thập kỷ này lại bắt đầu với những hy vọng lớn.
Giao thừa năm 1999 là một trong những bữa tiệc lớn nhất của mọi thời đại. Tiền
bạc thừa thãi, vì “nền Kinh tế Mới” được đẩy bằng Internet hứa hẹn một thịnh vượng
mới. Người Đức, cho đến lúc đó vẫn được coi là những nhà đầu tư thận trọng bỗng
nhiên cũng ném tiền vào chứng khoán, điều này chứng tỏ họ là những người lạc
quan.
Cuối năm 1999, Viện nghiên cứu Dư luận xã hội Allensbach thấy
có 55 phần trăm người Đức có “hy vọng” về tương lai, trong khi chỉ có 14 phần
trăm là “sợ hãi”.
Phương Tây mơ mộng, không chỉ về sự giầu có, mà còn về nền
hòa bình vĩnh cửu. Người ta vẫn còn tin vào những lời của Francis Fukuyama, lúc
đó là Phó Giám đốc ban tham mưu hoạch định chính sách Bộ Ngoại giao, người mà
vào năm 1992 đã viết một câu nổi tiếng: “Điều mà có lẽ chúng ta đang chứng kiến
không phải là sự chấm dứt Chiến tranh Lạnh, hay sự chuyển qua thời kỳ hậu chiến
đặc biệt của lịch sử, mà là sự kết thúc của lịch sử hiểu theo nghĩa
đen, đó là: điểm kết thúc của tiến trình tư tưởng của loài người, và sự phổ cập
nền dân chủ tự do của Phương Tây như hình thức chính quyền cuối cùng của con
người”
Nhưng thập kỷ mới chỉ vừa mới bắt đầu thì nền Kinh tế Mới đã
sụp đổ và nhiều thị trường chứng khoán bỗng trở nên vô giá trị. Rồi ngày 11
tháng Chín năm 2001, hai chiếc máy bay bị bọn Hồi giáo cực đoan cướp lao vào
Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York. Đó là cái kết của điểm kết thúc lịch
sử.
Thập kỷ mới bây giờ trên đường trở thành thập kỷ mất mát: mất
mát về hòa bình, về sự tạo ra của cải giàu có và dân chủ hóa. Cuối năm 2002, 31
phần trăm người Đức “hy vọng” về tương lai. Cuối năm 2008, con số
này tăng lên, nhưng cũng chỉ đến 34 phần trăm.
Rút lui về một thế giới trẻ thơ
Bộ phim thành công nhất trên thế giới của thập kỷ là “Chúa tể
của những chiếc nhẫn: Nhà vua trở về”. Harry Potter là nhân vật văn học thành
công nhất. Cả hai là những câu chuyện trẻ em được cả người lớn thích thú. Chúng
ta đang rút về một thế giới trẻ thơ, trong đó những vị anh hùng có sức lôi cuốn
chiến thắng cái ác. Những câu chuyện thần tiên hiện đại là câu trả lời của
chúng ta với cái thế giới khắc nghiệt này.
Trong thập kỷ đầu tiên cái ác không đến từ bọn yêu quái mà đến
từ những anh bạn láng giềng của chúng ta, những kẻ không có ý định xấu. Những sự
đầu tư vào thị trường chứng khoán của anh bạn láng giềng của chúng ta đã khơi
lên cuộc khủng hoảng tài chính, những chiếc xe hơi SUV của họ góp phần vào cuộc
khủng hoảng khí hậu, sự trốn tránh bầu cử của họ góp phần vào cuộc khủng hoảng
của nền dân chủ. Và nay những virus của họ đang lan truyền cúm lợn. Trừ bọn khủng
bố, những kẻ tội phạm của thập kỷ là những người vô hại.
Thật ra, có điều rõ ràng là mọi người đều là hàng xóm của những
người khác. Không phải mãi đến đầu thế kỷ 21 người ta mới nhận ra toàn cầu hóa
có nghĩa là gì. Ô nhiễm không khí ở Trung quốc là vấn đề của người Đức. Sự sụp
đổ thị trường bất động sản ở Hoa kỳ có thể làm cho một công nhân trong ngành
hóa chất ở Pháp mất việc làm. Trong hệ thống khí hậu và kinh tế, mọi sự ràng buộc
lẫn nhau.
Tính ràng buộc lẫn nhau này nhất quán với cái cách mà truyền
thông đã gắn kết con người lại với nhau. Điện thoại di động có mặt ở khắp nơi,
internet cũng vậy. Đặc biệt là giới trẻ, bằng cách dùng Twitter và Skype, đã
duy trì những mạng lưới bạn bè dày đặc khắp hoàn cầu. Google làm cho bất kỳ ai ở
bất kỳ đâu đến được với hầu như toàn bộ kiến thức của loài người. Ngày nay con
người có thể được thông tin về các sự kiện trên thế giới gần như tức thời. Và
những kiến thức địa phương không còn là đặc quyền duy nhất của cư dân một nơi
nào. Với sự giúp đỡ của GPS, Google Earth, và hệ thống định vị toàn cầu, bây giờ
đi đến bất cứ nơi nào trên trái đất người ta cũng có thể cảm thấy như ở nhà.
Thế giới đã trở thành nhỏ bé trong thập kỷ đầu tiên của thiên
niên kỷ mới. Mọi người giờ đây là công dân toàn cầu, cho dù họ sống ở vùng nông
thôn nước Đức hay tại thành phố New York. Mọi người có thể với đến mọi nơi
bằng hầu như mọi thứ, bằng tin tức hoặc những bức thư tình, bằng hậu quả của những
sản phẩm tài chính độc hại, bằng hậu quả của biến đổi khí hậu, hay bằng những
quả bom giết người có nguồn gốc từ một góc xa xôi hẻo lánh của miền Waziristan .
Đây là thế giới vào cuối thập niên đầu của thế kỷ 21, một thập
niên được đánh dấu bằng bốn cuộc khủng hoảng nghiêm trọng và một sự phát triển
công nghệ nuôi dưỡng niềm hy vọng.
2- Cuộc khủng hoảng 11/9
Tháng 11 năm 2001, Virginia DiChiara ngồi trong nhà của cô ở
Bloomfield, New Jersey, gãi liên tục da cánh tay, gãi điên cuồng bằng đôi bàn
tay đeo găng đen, nhưng gãi như thế chẳng làm đỡ đi chút nào cái ngứa kinh khủng
từ vết bỏng đang lên da non.
Trước đó chín tuần, vào ngày 11/9/2001, cô đang ở trong thang
máy lao lên tầng 101 của tòa tháp phía Bắc Trung Tâm Thương mại Thế giới, nơi
cô làm việc cho hãng dịch vụ tài chính Cantor Fitzgerald. Khi cô lên đến tầng
78 để đổi thang máy, cô bỗng nhiên đối mặt với một bức tường lửa dầu đang cháy.
Không còn cách nào khác cô cố hết sức mình chạy băng qua đám lửa.
Ba mươi phần trăm diện tích da, ở bàn tay, cánh tay, mặt và
lưng cô bị lửa đốt cháy.
Thật may mắn làm sao là sáng hôm đó DiChiara đến muộn, có
nghĩa là cô không có mặt trong văn phòng khi chiếc máy bay lao thẳng vào tòa
nhà. Không còn ai trên tầng 101 sống sót, và 677 nhân viên hãng Cantor
Fitzgerald thiệt mạng ngày hôm đó. “Tôi đã mất nhiều bạn” DiChiara nói vào
tháng 11, 2001, đôi mắt cô đẫm lệ.
Sau những cuộc công kích vào tòa Trung tâm Thương mại Thế giới
ở New York và Lầu Năm góc ở Washington, siêu cường số một thế giới
không còn phởn phơ nữa, mà bị chấn thương. Từ đó trở đi, nỗi sợ của Mỹ lấn át mọi
chuyện trên thế giới. Một giáo sư luật và thượng nghị sĩ ở Chicago tên là
Barack Obama sau này nói về thứ “chính trị của nỗi sợ hãi” nảy ra do
hậu quả của sự kiện 11/9.
Đâu phải chỉ thái độ của công dân đối với chính phủ của mình
đã thay đổi sau ngày 11/9. Quan trọng hơn, mọi chính phủ Phương Tây đã thay đổi cách
nhìn và cách đối xử với công dân của họ, với lo âu và e ngại nhiều hơn, cũng
như với nhiều nghi ngờ và nhiều độc đoán hơn.
Ở Hoa Kỳ, giọng điệu mới này có nghĩa là tất cả những ai
không đồng ý với chính quyền có thể trở thành mục tiêu để nghi ngờ. Từ trước đến
nay chưa bao giờ có nhiều người bị theo dõi điện thoại như trong thập kỷ này.
Ở Đức, chính phủ liên hiệp của thủ tướng lúc đó là Gerhard
Schröder, một chính phủ kết hợp giữa Đảng Xã hội Dân chủ trung tả (SPD) và Đảng
Xanh, cảm thấy hết sức lo ngại và bực bội khi nhìn qua bờ bên kia Đại Tây
Dương. Nhưng điều đó cũng không ngăn nó khỏi ban hành những đạo luật an ninh mới.
Otto Schily, một chưởng lý và bộ trưởng Nội vụ Đức vào thời
gian đó, nói về “quyền cơ bản về an ninh”. Bất kỳ ai dám cãi rằng các công dân
cũng có một “quyền dấu tên” giống như Helmut Bäumler, vốn là một viên chức bảo
vệ dữ liệu cho bang miền Bắc Helmut Bäumler, dễ có nguy cơ bị chụp mũ là kẻ “bất
trị”
Công nghiệp quốc phòng vớ bẫm
Đối với các cơ quan an ninh của chính phủ và ngành an ninh tư
nhân, thập kỷ đầu của thế kỷ là một mối lợi lớn. Ảnh hưởng của họ tăng lên với
mỗi cuộc đánh bom mới và mỗi băng video mới mà bọn khủng bố nhận trách nhiệm về
những cuộc tấn công. Lãnh tụ Osama bin Laden của Al-Qaida thật sự trở thành kẻ
lôpbi thành công nhất của họ.
Trong một thế giới không an toàn, các chuyên gia an ninh của
chính phủ và tư nhân là những vị chúa tể mới. Họ bán những thuốc giải nỗi sợ
hãi, hay ít nhất họ hứa hẹn sẽ làm thế. Sự kiện là họ cũng làm tăng thêm nỗi sợ
hãi mà họ đang chiến đấu chống lại, là một tác dụng phụ có lẽ không phải hoàn
toàn là trùng hợp ngẫu nhiên.
Ngày nay trên khắp Phương Tây, cuộc sống hàng ngày được đặc
trưng bằng những biện pháp an tinh phức tạp và đắt tiền đôi khi dường như không
có ý nghĩa gì lắm. Hàng ngày các quan chức an ninh ở các sân bay Đức khám xét
hơn 200.000 hành khách. Tinh thần “phòng thủ” biến mọi công dân thành tình
nghi, nói như cựu bộ trưởng Nội vụ Gerhart Baum. Ông lên án những người kế nhiệm
là đã bị ám ảnh về an ninh. Ông cũng lên án các công dân bình thường về sự thờ
ơ của họ, chỉ càng khích lệ chính phủ đưa ra ngày càng nhiều những biện pháp an
ninh mới.
Cảnh quan đô thị ở nhiều thủ đô Phương Tây đã thay đổi. Tòa đại
sứ mới của Hoa Kỳ gần cổng Brandenburg trình ra một bộ mặt giống như
một pháo đài trước các du khách. Những cửa sổ hẹp và cao, những hàng rào an
ninh gớm guốc mang dấu hiệu một tư thế vừa đề phòng, vừa lo âu vừa gây hấn. “Có
lẽ điểm điển hình của thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 là không gian công cộng,
trước đây trông có vẻ hứa hẹn thì nay trông như dọa dẫm”, nhà phê bình kiến
trúc của tờ báo đáng kínhFrankfurter Allgemeine Zeitung viết trong một bài nhân
dịp khánh thành tòa nhà. “Người lạ, trước đây từng là khuôn mặt nổi lên cho trí
tưởng tượng tập thể và cá nhân đẹp nhất, thì bây giờ có thể là kẻ khủng bố, người
có AIDS hoặc chuyên chở những bệnh dịch của toàn cầu hóa, như đóng cửa nhà máy,
dòng người nhập cư hay bệnh cúm gia cầm”
“An ninh trên hết”
Mỗi thập kỷ có khẩu hiệu riêng của mình. Nếu những năm 1970
có thể tóm gọn trong một câu “Tình yêu, Hòa bình và Hạnh phúc” và lời kêu gọi
xung trận của những năm 1980 là “Hãy tiệc tùng đi” thì khẩu hiệu của những năm
2000 là “An ninh trên hết”
Một hậu quả khác của sự kiện 11/9 là tôn giáo trở lại với ý
thức cộng đồng , tuy nhiên nó không phải là sự trở lại vui vẻ gì. Ngược lại, nó
là sự xung đột cuồng dại giữa Đạo Hồi và một thế giới chịu ảnh hưởng của Đạo Cơ
đốc, nhưng về thực chất là thế tục.
Kể từ khi những kẻ cuồng tín Đạo Hồi đốn gục tòa tháp đôi ở
New York, ở Phương Tây nhiều người đã quá sợ hãi việc xúc phạm những tình cảm
tôn giáo của Đạo Hồi. Và nhiều người Hồi giáo về phần mình đã vội vã kết tội
người khác xúc phạm các tình cảm tôn giáo của họ.
Danh sách dài những trường hợp như thế bao gồm cuộc tranh cãi
về những biếm họa trên báo Đan mạch, cuộc trình diễn vở opera
"Idomeneo" ở Berlin, một bình luận của Giáo hoàng về đấng tiên tri
Mohammed, và cuộc tranh cãi đang còn tiếp diễn ở Đức về việc đội khăn trùm đầu,
và gần đây nhất, một cuộc trưng cầu dân ý ở Thuỵ Sĩ đã thông qua một lệnh chính
thức cấm xây cất những thánh đường Hồi giáo.
Thế giới này đã chất đầy tôn giáo, thế nhưng nó vẫn chưa thâm
trầm sâu lắng hơn. Ngược lại, một tâm thức hung hăng đã chiếm ưu thế.
Chiến tranh liên miên
Một thập kỷ khởi đầu đầy hứa hẹn hòa bình, khi các cuộc xung
đột vùng Balcan chấm dứt, đã hóa thành một thập kỷ chiến tranh liên miên. Sau
11/9, Mỹ và các đồng minh của nó đầu tiên đánh Afghanistan rồi đến
Irac. Cuộc xâm chiếm Irac mau chóng kết thúc, nhưng theo sau nó là một thời kỳ
tấn công khủng bố tiếp diễn đến tận hôm nay. Và ở Afghanistan, nơi cuộc
chiến ác liệt hơn bao giờ hết, Taliban và al-Qaida vẫn còn đó chưa hề bị phá vỡ.
Phương Tây đã tỏ ra vô vọng trong những cuộc chiến không cân
sức này, trong đó binh lính NATO được huấn luyện kỹ càng và trang bị tốt đã
không áp đảo nổi những chiến binh chân đi dép và vũ khí khủng khiếp nhất của họ
chỉ là những quả bom tự chế.
Những cuộc chiến tranh này cũng bắt đầu với những cố gắng đưa
nền dân chủ đến cho những xã hội mà cuộc chiến đang diễn ra. Nhưng sau tám năm,
xã hội của một số nước NATO cũng đã thay đổi, và đó không phải chỉ là kết quả của
những biện pháp an ninh.
Thiệt hại
Nước Mỹ đã đánh mất uy danh là người lãnh đạo tinh thần giữa
những cường quốc tham chiến ở Iraq. Từ trước đến nay chưa bao giờ sắc diện
của nên dân chủ lại trở nên xấu xí như dưới thời Tổng thống George W. Bush.
Chính quyền của ông ta đã tơi tả vì những vụ bê bối như vụ ngược đãi tù nhân ở
Abu Ghraib, tra tấn được chính quyền cho phép tại trại cải tạo Vịnh Guantanamo,
và lý lẽ biện hộ cho việc đánh Iraq té ra là nói dối. Ngay cả Tổng thống đương
nhiệm Barack Obama, người được cả thế giới gửi gắm hy vọng, vẫn chưa rũ bỏ được
hoàn toàn Guantanamo như đã hứa.
Cuộc xung đột ở Afghanistan cũng gây thiệt hại ở Đức,
nơi mà chiến tranh đang len lén tuồn vào một xã hội hầu như hoàn toàn phi chiến
sự trong gần sáu thập niên. Trong mấy tuần gần đây không có sự kiện nào gây ồn
ào hơn việc viên Đại tá người Đức Georg Klein lệnh cho ném bom hai chiếc xe bồn
bị bắt cóc ở Afghanistan.
Nước Đức hậu chiến, vừa mới bắt đầu quyết định trở thành một
dân tộc phẩm hạnh sáng tỏ, thì đã mất đi sự trong trắng của mình qua vụ này. Vụ
bê bối Klein dẫn đến việc từ chức của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Franz Josef Jung,
và gây ra khủng hoảng trong quan hệ công chúng của Bộ trưởng Quốc phòng đương
nhiệm Karl-Theodor zu Guttenberg.
Nước Đức lại một lần nữa có cựu chiến binh, một đài tưởng niệm
quân đội mới ở Berlin và một huân chương quân công mới về lòng dũng cảm,
và truyền thông đưa tin chiến sự hầu như từng ngày. Điều này, kết hợp với sự phục
sinh tôn giáo và những biện pháp an ninh sau 11/9, làm nổi bật cuộc chiến chống
khủng bố đã làm thay đổi bộ mặt nước Đức bằng nhiều cách khôn lường.
3- Cuộc khủng hoảng tài chính
Vào đầu thiên niên kỷ thứ ba này, một người từ thế kỷ 19 bỗng
nhiên lại trở thành mốt thời thượng một lần nữa. Karl Marx sinh năm 1818 ở
thành phố miền tây nước Đức Trier. Trong tác phẩm để đời của mình, “Tư bản”,
ông trích lời một thủ lĩnh công đoàn nói rằng: “Tư bản khiếp sợ sự không có lợi
nhuận hay ít lời lãi như giới tự nhiên sợ khoảng chân không. Với một lợi nhuận
thích hợp, nó tỉnh táo, với 10 phần trăm, nó có thể được dùng ở bất cứ đâu, với
20 phần trăm, nó trở nên linh hoạt, với 50 phần trăm nó táo bạo lạ thường, với
100 phần trăm, nó sẽ dẫm đạp mọi luật lệ của loài người dưới chân mình, còn với
300 phần trăm, nó không từ một tội ác nào mà không dám phạm, cho dù có phải lên
giá treo cổ.
Lời của Marx hóa ra là đúng. Sợ hãi tình trạng đình đốn sau 11/9,
các ngân hàng trung ương làm ngập lụt hệ thống tài chính bằng thanh tiêu tiền mặt,
việc này đến lượt nó lại thúc đẩy các nhà quản lý tài chính nghĩ trăm mưu ngàn
kế để đẩy lượng tiền mặt đó vào lưu thông.
Một tâm trạng hồ hởi tràn ngập nước Mỹ, nơi mà bất cứ cái gì
mới cũng đều tuyên bố sinh lợi. Chris Matthews người dẫn chương trình thảo luận
trên truyền hình trước đây từng là người viết diễn văn cho Tổng thống Jimmy
Carter, nói Mỹ là nước “ăn chơi” nhất thế giới. Đối với nhiều người, vấn đề lớn
nhất của thập niên 2000, là tiền: làm sao tôi có được nhiều nhất, nhanh nhất?
Nỗi sợ về một hành tinh tư bản
Quỹ Tiền tệ Quốc tế(IMF)cố thuyết phục những người Đức hoài
nghi rằng nỗi sợ của họ về chủ nghĩa tư bản “turbine”[1] là không căn cứ. Theo báo cáo năm
2006 của IMF hệ thống mới này chia rủi ro thành những mảng nhỏ và chia cho nhiều
người, là an toàn hơn hệ thống cũ.
Đó là một sai lầm tai họa. Giữa năm 2008 quả bong bóng khổng
lồ sinh ra đầu tiên trong thị trường bất động sản ở Mỹ, đã nổ tung. Các ngân
hàng sập xuống như những quân bài đô mi nô và nền kinh tế thật sụp đổ. Cuối năm
ấy Tổng Sản lượng Nội địa của Đức sụt xuống 4,5 phần trăm, đó là sự sụt giảm tồi
tệ nhất trong lịch sử đất nước sau chiến tranh.
Bọn khủng bố ngày 11/9 đã phá hủy không phải chỉ hai tòa Tháp
Đôi New York, một phần Lầu Năm góc và hàng ngàn mạng người, mà còn hơn thế nhiều.
Một hậu quả đến trễ của những hành động của bọn chúng là chủ nghĩa tư bản sụp đổ.
Thế giới thường quy đã tạm thời bị lật ngược. Các chính
khách, trước đây bị các nhà tài chính khinh thường, thì giờ đây kêu gọi cứu vãn
hệ thống tài chính. Thậm chí người ta đã nói về sự trở lại của chính trị. Cả chủ
nghĩa tư bản lẫn các chủ nhà băng đều bị mất thể diện, và tín nhiệm bay hơi.
Nhưng hóa ra hệ thống tài chính chỉ trải qua một bước thụt lùi ngắn, và mau
chóng lấy lại phong độ cũ của nó. Lòng khát khao lợi nhuận đã quay trở lại,
trong khi, thật ngược đời, các chính khách vẫn loay hoay giải các bài toán.
Ngày nay nghị lực chính trị đang được hướng vào những cố gắng
ổn định các thị trường tài chính. Nếu không có nhà nước, có thể có nguy cơ một
đợt suy thoái khủng khiếp kiểu những năm 1930, với viễn cảnh thất nghiệp tràn
lan và thậm chí có cả chết đói.
Tư bản ngày nay có thể cần phải khởi động bằng cách “đẩy xe -
gài số” việc cung cấp tiền tệ trong những nền kinh tế quốc gia đã ngừng chạy.
Năm 2008 thị trường chứng khoán thế giới cứ mỗi 24 phút lại mất đi $1 tỷ đô la
giá trị (€ 694 triệu). Từ đó các chính phủ đã làm hết sức mình để chống đỡ và ổn
định các ngân hàng, công nghiệp ô tô và thị trường bất động sản.
Khoản tiền vay của chính phủ đã lên đến mức chưa từng
thấy từ trước đến nay, ít nhất là trong những thời gian hòa bình. Thập kỷ mất
mát cũng là thập kỷ tốn kém đắt đỏ nhất.
Các nước G-20 hiện đang tiêu khoảng 1,5 nghìn tỷ đô la để cứu
nền kinh tế của họ. Người đóng thuế sẽ còn phải trả lãi cho những chương trình
chính phủ cứu trợ tài chính và kích cầu nền kinh tế trong vòng một trăm năm nữa,
để cho tổng lượng thanh toán sẽ lên gấp nhiều lần vốn ban đầu. Điều này sẽ làm
xao lãng chú ý khỏi những vấn đề quan trọng khác và cũng có nghĩa là có ít tiền
để bàn thảo những vấn đề này. Chẳng hạn tình trạng phúc lợi xã hội ở Đức không
được trang bị để xử lý với tình trạng già đi của xã hội. Những vấn đề không được
bàn đến hôm nay, vì các chính trị gia đang phải tập trung vào các tác động của
cuộc khủng hoảng kinh tế, sẽ đẩy ngân sách của chính phủ và quỹ an sinh xã hội
vào một cuộc hỗn loạn mới trong tương lai. Khi chuyện đó xảy ra, chắc chắn các
chủ nhà băng sẽ phê phán các chính trị gia là đã làm chưa đủ.
Tiến lên phía trước
Những vấn đề ấy chủ yếu là những vấn đề của Phương Tây. Trung
Quốc thì lại khác, nó đã xoay sở để tăng tốc cuộc tiến công của nó vào vị trí
cường quốc thế giới trong thời kỳ khủng hoảng. Nước này có dự trữ ngoại tệ hơn
hai nghìn tỷ đô la, so với Đức chỉ có 180 tỷ. Trung Quốc có tỷ lệ tiết kiệm tư
nhân 40%, trong khi Mỹ chỉ tiết kiệm có 4% thu nhập của họ. Kết quả là, Trung
Quốc đã có thể chống lại khủng hoảng bằng cách rút dự trữ tiền mặt của họ.
Đối với lãnh đạo đảng và chính phủ Trung Quốc, sự sụp đổ các
thị trường xuất khẩu trên toàn thế giới là một cơ hội được chào đón để thỏa mãn
nhu cầu dồn nén về đầu tư quốc nội của đất nước mênh mông này. Kinh tế trung Quốc
đã tăng trưởng trở lại, và được dự đoán là sẽ tăng đến 8% trong năm 2010.
Người Trung Quốc cũng đang ra sức biến sức mạnh kinh tế này
thành sức mạnh chính trị. Phương Tây còn chưa đủ khả năng đối phó với chỉ riêng
những hậu quả của khủng hoảng tài chính, cần đến những nền kinh tế mới nổi như
Trung Quốc và Ấn Độ.
Những quy tắc chi phối thị trường tài chính thế giới đã không
còn được độc quyền soạn ra từ những nơi
như London, Berlin và Washington nữa. Và Trung Quốc, về
phần nó, không nhất thiết phải quan tâm đến những quy tắc sẽ chỉ giúp giải quyết
những vấn đề của Phương Tây.
Địch thủ mới này của Asian, kẻ đang mưu toan bành trướng các
thị trường của nó ở Thượng Hải và Hồng công thành những trung tâm tài chính
toàn cầu mới, rất khoái đầu cơ. Khu tài chính Pudong của Thượng Hải muốn trở thành
một Wall Street mới, và các thị trường chứng khoán của nó là hoang dại nhất, tự
do nhất và cũng nhiều rủi ro nhất.
Các chính khách Phương Tây lo ngại. Nhưng tư bản Phương Tây
đang cảm thấy bị cuốn hút một cách ma quái về Châu Á. Nhiều năm gần đây, nhiều
công ty niêm yết trên các thị trường chứng khoán Trung Quốc hơn là các thị trường
Mỹ. Hoàn toàn có khả năng là cuộc khủng hoảng tài chính kế tiếp sẽ bắt đầu ở
Trung Quốc.
Paul Volcker, cựu chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ và hiện
nay là cố vấn kinh tế cho Obama, lắc đầu không tin khi đối diện với những hoạt
động điên cuồng của các chính phủ, các ngân hàng trung ương và các nhà đầu tư
tài chính. Ông khuyên tổng thống đóng cửa các ngân hàng lớn nhất trong nước, và
ông có ý kiến ủng hộ việc tạo ra một sự phân cách giữa hoạt động kinh doanh và
cho vay. Xem ra Volcker muốn nghề ngân hàng trở lại buồn chán như xưa.
Nhưng Nhà Trắng đã bác bỏ các đề nghị của ông. Volcker tin rằng
cuộc khủng hoảng vẫn chưa kết thúc, bởi vì người ta chưa học được những bài học
của nó, hay thậm chí chưa hiểu. Thế giới vẫn có ý định tiếp tục hành xử một
cách vô trách nhiệm. Thập kỷ mất mát vẫn chưa đến hồi kết.
4- Cuộc khủng hoảng khí hậu
Bầu trời vẫn xanh trong và sóng vẫn êm ả vỗ bờ những bãi biển
Baltic, khi rõ ràng đã có điều gì không ổn trong trật tự thế giới hiện tại. Thủ
tướng Đức Angela Merkel đang trò chuyện với các đối tác G-8 của bà trên bãi biển
ở Heiligendamm, nơi lãnh đạo các nước công nghiệp hàng đầu gặp nhau trong cuộc
họp cấp cao của G-8 năm 2007. Bà đang cố nhẹ nhàng thuyết phục Tổng thống Mỹ -
lúc đó - là George W. Bush làm vài nhân nhượng trong cuộc chiến chống thay đổi
khí hậu. Bà cũng bỏ thời gian để gặp lãnh đạo các nền kinh tế mới nổi và các nước
châu Phi, họ đã bay đến đây cho những cuộc gặp chớp nhoáng, nhưng rồi chỉ để thấy
họ bị đối xử hờ hững thế nào ấy.
Nhưng, sau cuộc gặp Heiligendamm, một điều cũng đã trở nên rõ
ràng là cung cách đối xử ấy không thể nào chấp nhận được nữa. Bầu trời trong
xanh trên biển Baltic không che dấu nổi sự kiện là có điều gì đó tồi tệ đang xảy
ra trong bầu khí quyển, và trong tương lai cần đến sự hợp tác của những nước
nghèo để kiểm soát sự thay đổi khí hậu.
Cuộc họp cấp cao ở Heiligendamm toát ra cái phong vị cai quản
thế giới, thế nhưng điểm nhấn đã sai hoàn toàn. Cuộc họp bị chi phối bởi câu lạc
bộ nhà giàu, Phương Tây. Đó là vào tháng 6 năm 2007. Bây giờ, vào cuối thập kỷ,
cái tâm trạng 2007 ấy chẳng còn lại bao nhiêu. Khủng hoảng tín dụng, cùng với
khủng hoảng tài chính, đã đột ngột làm thay đổi trật tự thế giới.
Đầu năm 2007, Hội đồng Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC)
một nhóm các nhà khí hậu học hàng đầu, đã công bố những con số mới dự báo rằng
nhiệt độ khí quyển trái đất có thể tăng đến 6.4 độ Celsius (11.5 độ
Fahrenheit) tiềm tàng những hậu quả thảm họa. Trở về 2001, IPCC đã dự báo một độ
tăng nhiệt độ 5,8 độ Celsius, một con số không phải kém kinh hoàng, nhưng đã ít
được chú ý.
Không phải đến lúc các con số năm 2007 được công bố các nhà
chính trị mới nhận ra cái nguy cơ của một thảm họa trước mắt, vì họ đã bắt đầu
nhận thức được rằng Trái đất có thể phải đối mặt với lụt bão và hạn hán khủng
khiếp nếu con người cứ tiếp tục thải khí cacbonic vào khí quyển nhiều như hiện
nay. Trong bộ phim "The Day After Tomorrow," nhà làm phim gốc Đức
Roland Emmerich đã hình dung những vấn đề này sẽ ra thế nào. Trong hình ảnh tưởng
tượng của Emmerich về thảm họa khí hậu, những hiện tượng thời tiết cực kỳ nghiệt
ngã sẽ biến New York thành chốn không người.
Về mặt nào đó, Emmerich và những kẻ khủng bố đằng sau cuộc tấn
công ngày 11/9 đã suy nghĩ theo cùng một hướng. Để chơi một đòn hủy diệt đối với
Phương Tây, phải có một cái gì khủng khiếp xảy ra ở New York, thủ đô của tiêu
dùng và một thành phố hiện thân của lối sống Phương Tây.
Vậy là lối sống này đã bị tấn công lần thứ hai trong vòng một
thập kỷ. Thông điệp của ICPP thật rõ ràng: bạn đang trả giá và đang trên đường
lao đến thảm họa. Từ đó, cái rường cột của xã hội Phương Tây - cố gắng để có mức
sống tốt hơn, biểu hiện dưới dạng những xe hơi ngày càng nhanh hơn, những ngôi
nhà to hơn, những chuyến du ngoạn dài hơn, và tiêu dùng liên tục tăng lên - đã
thành vấn đề nghiêm trọng. Đây có còn là lối sống đúng đắn không? Đây là câu hỏi
quan trọng nhất mà chúng ta phải đối mặt, vào cuối thập kỷ đầu tiên của thế kỷ
21.
Thay đổi các thói quen
Ngành công nghiệp ô tô đã bị đánh mạnh đặc biệt bởi tác động
của việc thay đổi thái độ đối với tiêu dùng. SUV, chiếc xe địa hình ngốn xăng
chạy chủ yếu ở trong đô thị và vùng ngoại ô, ngày nay ít có người mua. Ban đầu
lượng bán loại xe này giảm chủ yếu vì giá xăng cao 2008, nhưng đến bây giờ nhiều
người nhận ra rằng SUV không phải là biểu tượng để thể hiện đúng đắn sự giàu
sang trong một thời đại báo động toàn cầu.
Sự thay đổi trong thói quen mua xe của người tiêu dùng là một
bước nhỏ theo hướng một lối sống mới. Cuộc khủng hoảng khí hậu đã thay đổi
chính trị nhiều hơn nó đã làm trong quá khứ. Mùa xuân 2007, Thủ tướng Đức
Merkel thuyết phục các đồng nghiệp của mình ở Liên hiệp Châu Âu tại Brussels rằng
các mục tiêu nghiêm ngặt bảo vệ khí hậu là cần thiết.
Nhưng châu Âu đang nhận ra việc nêu gương của họ nhỏ bé làm
sao. Ngay cả một người như Barack Obama, dường như là hiện thân của niềm hy vọng
về một thế giới tốt đẹp hơn, cũng trở nên e dè thận trọng khi đụng đến vấn đề bảo
vệ khí hậu. Đặc biệt ở Mỹ nhiều người vẫn còn tin rằng việc bảo vệ khí hậu làm
cho cuộc sống xấu đi chứ không tốt lên. Người Mỹ lo lắng về cái viễn cảnh phải
giảm mức tiêu thụ của họ. Điều này làm cho đất nước này do dự, một nước dẫn đầu
thế giới mà không sẵn lòng đi đầu, đúng như trong cuộc chiến chống khủng hoảng
tài chính.
Sự chú ý của Obama dồn vào Trung Quốc. Vì coi Trung Quốc là đối
thủ cạnh tranh lớn nhất của mình, Mỹ rất ngại phải chi những khoản chi có thể
làm lợi cho Trung Quốc. Bắc kinh cũng đang nghĩ đúng như thế.
Nhìn bên ngoài, Trung Quốc được lợi từ khủng hoảng khí hậu.
Nó đã tránh cho Trung Quốc khỏi một Heiligendamm khác. Bây giờ, khi các vấn đề
toàn cầu được thảo luận, Trung Quốc có một ghế ngồi bên bàn, cũng như Ấn Độ
và Brazil. Bởi vì biến đổi khí hậu không cần biết đến các biên giới quốc
gia, và bởi vì giao thông ở Mexico City và một nhà máy điện chạy than cổ lỗ ở Ấn
Độ cũng đặt ra vấn đề cho các thành phố như Hamburg hay Miami, sự hợp tác của
các chính phủ của những nước đông dân nhất này là yêu cầu khẩn thiết để đạt được
một hiệp ước bảo vệ khí hậu có hiệu lực.
Sự tương thuộc toàn cầu
Đây là một tình hình hoàn toàn mới, khi các nước Phương Tây
nhận ra rằng họ cũng phụ thuộc những địa phương nghèo hơn trên thế giới. Vào cuối
những năm 2000, một sự xáo trộn đã xảy ra trong chính trị toàn cầu. Các nước
đang phát triển và các nước mới nổi bỗng nhiên có được quyền lực mà họ có thể
dùng để gây áp lực lên các nước phát triển. Họ nhất thiết đòi bằng được cái mã
ngoài của lối sống Phương Tây, những xe hơi đắt tiền, những chuyến du lịch đến
những miền xa xăm và sự tăng vọt trong tiêu dùng. Nếu họ đạt được mục đích đó,
bầu khí quyển sẽ bị đầu độc không phương cứu chữa.
Người Phương Tây, nhất là người Mỹ, bây giờ nói rằng: các vị
là những người chịu thiệt hại nhiều nhất khi bão tàn phá mùa màng, và đất đai của
các vị sẽ ngập lụt khi mực nước biển dâng cao, vậy hãy làm một cái gì đi.
Những người khác nói: Ông nói đúng, nhưng khi dân chúng tôi
chạy trốn thảm họa và kéo đến nước các ông, thì các ông cũng sẽ khốn đốn như thế
thôi, vậy chính các ông hãy làm một cái gì đi.
Những cái đầu tỉnh táo hơn ở cả hai phía sẽ nói: Ai áp đặt những
quy tắc nghiêm ngặt để bảo vệ khí hậu sớm sẽ khuyến khích kiểu đầu tư bảo đảm
thịnh vượng lâu dài, sự thịnh vượng trong đó có cả xe hơi, du lịch và tiêu
dùng, có điều những thứ đó sẽ đặt một cái gánh nhẹ hơn lên khí hậu. Đó là kiểu
tư duy những năm 2000 có thể cống hiến cho tương lai. Nhưng sẽ còn một chặng đường
rất dài trước khi nó được chấp nhận rộng rãi.
5- Cuộc khủng hoảng dân chủ
Mặc dầu không phải ai cũng mê say như nhau đối với sự kiện thể
thao lớn nhất thập kỷ, nhưng với tay bơi người Mỹ Michael Phelps chắc chắn đó
là một trải nghiệm thú vị: anh đoạt tám huy chương vàng tại Thế Vận Hội 2008 ở
Bắc Kinh. Nó cũng là chiến thắng đối với 51 người Trung Quốc đoạt huy chương
vàng, họ đã đưa đất nước họ lần đầu tiên lên đầu bảng tổng sắp huy chương. Tại
Bắc Kinh, Trung Quốc đã tự giới thiệu mình như một cường quốc thế giới.
Nhưng trải nghiệm này còn xa mới là thú vị đối với Teng Biao
và Hu Jia. Năm 1997 họ công bố một bức thư kêu gọi cộng đồng quốc tế hãy theo
dõi tình trạng nhân quyền ở Trung Quốc trong thời gian chuẩn bị tiến tới Thế Vận
Hội. Hu Jia bị tuyên án ba năm rưỡi tù, còn Teng Biao bị mất giấy phép hành nghề
luật sư.
Teng Biao ngày nay buộc phải thừa nhận rằng trường hợp của
ông không đóng một vai trò gì trong chính trị thế giới, một trải nghiệm mà ông
chia sẻ với những người Tây Tạng và người Duy Ngô Nhĩ bị đàn áp. Các nhà hoạt động
nhân quyền phản đối cách Trung Quốc đối xử với những người trong tay họ, một
nhúm chính trị gia cũng phản đối, nhưng không đủ mạnh mẽ dứt khoát. Trung Quốc
quá to và quá quan trọng nên những sự chỉ trích gay gắt như thế có thấm tháp
gì.
Các nhà bất đồng chính kiến Liên xô là những anh hùng đối với
Phương Tây vì họ chống đối một chế độ mà Phương Tây coi là kẻ thù. Các nhà bất
đồng chính kiến Trung Quốc chịu phiền phức hơn, bởi vì mặc dù những đau khổ của
họ được coi là bất công về tinh thần ở Phương Tây, mọi cố gắng giúp đỡ họ có thể
có tác động bất lợi đến kinh doanh. Tình trạng khó xử này không phải là mới,
nhưng gần đây nó càng nổi rõ hơn. Nó cũng trở thành một biểu hiện của cuộc khủng
hoảng dân chủ. Trong thập kỷ qua, hệ thống chính trị Phương Tây đã mất đi ưu thế
toàn cầu của nó, không còn chắc chắn liệu dân chủ cuối cùng có thắng thế ở khắp
nơi không. Thật ra, thậm chí cũng không còn chắc chắn liệu dân chủ có kéo dài
vĩnh viễn ở các nước Phương Tây không nữa.
Không có gì phá hủy uy tín của dân chủ tàn tệ hơn Abu Ghraib
và Guantanamo. “Cái thời dạy bảo nhau đã qua rồi”, nhà trí thức Singapore
Kishore Mahbubani nói trong một cuộc phỏng vấn của Spiegel năm
2008. “Tôi biết nhiều trí thức Trung Quốc đã thường xuyên tranh cãi
các vấn đề nhân quyền với Phương Tây. Họ bảo, mọi sự đã trở nên dễ dàng hơn từ
khi có Guantanamo. Họ hỏi: Khác nhau ở chỗ nào? Các ông ngược đãi nhân
dân, chúng tôi cũng ngược đãi nhân dân. Chúng ta giống nhau hoàn toàn”
Trung Quốc trỗi dậy
Trong khi Phương Tây ăn năn, thì một tinh thần tự tin mới
đang phát triển ở châu Á. Từ 2000 đến 2009, kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng,
năm này qua năm khác, ở mức 8,3 đến 13 phần trăm. Nó đã vượt Đức và một ngày
kia nó sẽ vượt Hoa Kỳ, hiện vẫn là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Sự tăng tiến
chớp nhoáng này đã có thể đạt được mà không có dân chủ. Trong Chiến tranh Lạnh,
châu Âu, Nhật Bản và Mỹ đã tin rằng chỉ có các nước dân chủ mới đảm bảo được sự
thịnh vượng cho dân chúng.
Ngày nay, những người Trung Quốc giàu có dường như không đòi
hỏi mãnh liệt có tiếng nói chính trị như những công dân châu Âu vào thế kỷ 18
và 19. Thay vì thế, họ chọn con đường riêng của họ.
Hơn nữa, nền dân chủ đang không được khỏe lắm, và không phải
chỉ vì Guantanamo. Ở Đức chẳng hạn, người dân bình thường ngày càng vỡ mộng
về dân chủ. Các đảng chiếm đa số đang mất dần đảng viên của mình, và số cử tri ủng
hộ họ đang giảm xuống.
Trong thập kỷ đầu thế kỷ 21, không có một phong trào chính trị
nào có thể tạo ra một nhiệt tình thật sự, không gì gây được niềm say mê sôi nổi.
Chỉ có 47 phần trăm người Đông Đức cũ tin rằng dân chủ nói chung là một sự phát
triển tích cực.
6- Niềm lạc quan Internet
Thông điệp của chiến dịch quảng cáo là cái đã thay đổi trong
cuộc sống của chúng ta. Quảng cáo xuất hiện trong mấy tuần gần đây trong những
trạm chờ xe buýt và trên những bảng lớn trên khắp nước Đức, trưng những bức ảnh
tưởng như bấm chụp tình cờ kèm theo những dòng chữ như “Chúng tôi Google thấy
giờ mở cửa tiệm bánh bên kia đường” hay “Chúng mình vừa nói chuyện điện thoại với
má vừa check mail cùng một lúc”
Christian Schwarm là người khởi xướng chiến dịch này, anh thiết
kế ra nó để quảng cáo cho một tờ báo Đức hàng ngày. Schwarm, 37 tuổi, đứng đầu
hãng quảng cáo Dorten ở Stuttgart, và là hiện thân sinh động của cái thông
điệp trên những áp phích lớn của anh.
Khi không phải họp hành, Schwarm ngồi trước máy tính của anh
và lên mạng. Cứ vài phút anh lại nhận được e-mail, và thường trả lời ngay. Anh
không bao giờ rời khỏi văn phòng mà không mang theo iPhone. Anh đọc tin tức
trên Internet, xem video trên YouTube và định kỳ kiểm tra xem có gì xảy ra trên
các mạng xã hội của anh không. Schwarm có 320 bạn trên mạng xã hội Xing có
cơ sở ở Đức, và trên Facebooks thì ít hơn, “chỉ có 120”, anh nói, nhưng con số
này sẽ mau chóng tăng lên. Cuộc sống của Schwarm quấn chặt với Internet đến mức
anh không còn có thể hình dung nổi một cuộc sống hoàn toàn offline nó như thế
nào.
1,7 tỷ người dùng Internet toàn cầu.
“Toàn bộ Internet trên điện thoại di động chỉ thuần túy là
tuyên truyền” Tờ báo Đức có uy tín Süddeutsche Zeitung viết năm 1999, khi gọi ý
tưởng này là “một mong ước không thể đạt được”. Ngày nay số lượng
bán ra của điện thoại di động có thể vào mạng đang tăng vọt.
Số lượng người dùng Internet trên toàn thế giới đã lên đến
khoảng 1,7 tỷ. Hai phần ba dân số Đức ngày nay có Internet, so với một phần tám
cách đây mười năm. Việc chúng ta sử dụng Google, công cụ tìm kiếm lớn nhất trên
Internet, đã hầu như trở thành bản chất thứ hai, đến mức mà chúng ta đã dùng nó
như một động từ để mô tả hành động. Động từ “to Google” đã được dùng và có
trong từ điển từ nhiều năm nay.
Trong cuốn sách “Cuộc chuyển đổi vĩ đại” Nicholas Carr, một
nhà phân tích công nghệ thông tin đã ví Internet với mạng lưới điện. Những gì xảy
ra với việc phát điện cách đây một thế kỷ thì giờ đây đang xảy ra với việc xử
lý thông tin, Carr lập luận, khi so sánh Google với một nhà máy thông tin khổng
lồ.
Internet đã kết nối chúng ta với những xứ sở xa xôi hẻo lánh
nhất trên trái đất, cho phép chúng ta trò chuyện với những người ở Tokyo, Sydney hoặc
Rio, hoặc ngắm một anh chàng đang rửa chiếc xe của anh ta ở Minneapolis.
Có thể nhìn thấy tất cả những gì con người có thể tưởng tượng ra được trên mạng
xã hội Web 2.0, và chúng ta trở thành người chứng kiến tận mắt mọi sự xảy ra
trên toàn thế giới. Mặc dầu phần lớn những cái chúng ta xem là chuyện vụn vặt tầm
thường, nhưng cũng có một số nội dung thật sự quan trọng.
Ở Iran, phe đối lập không chỉ dùng công nghệ Web 2.0 để tổ chức
sau cuộc bầu cử gây tranh cãi năm nay, nó còn tự xuất hiện cho toàn thế giới
nhìn thấy. Trong cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ 2008, Barack Obama là ứng cử
viên đầu tiên có được phần lớn tiền quyên góp từ những người ủng hộ và nhà tài
trợ thông qua Internet.
Nhưng điều này có ý nghĩa gì đối với chính trị và xã hội? Liệu
một môi trường tương tác có thể truyền sức mạnh cho một cộng đồng không? Đầu
thiên niên kỷ mới này, hy vọng được đặt vào Internet, với đặc tính trong sáng
và mạng lưới của nó, có thể củng cố nền dân chủ. Iran và Obama là những
trường hợp được Net cung cấp cho cơ hội. Nhưng trong những trường hợp này
Inetrnet chỉ là một cái nền để biểu thị sự phẫn nộ của quần chúng đối với một
chế độ toàn trị, như ở Iran, và biểu thị nhiệt tình đối với một nhà chính trị
có sức lôi cuốn. Ở Đức, nơi không có chế độ toàn trị mà cũng chẳng có những
nhà chính trị có sức lôi cuốn, Internet không làm được gì để thay đổi sự thờ ơ
chính trị của các công dân. Ngược lại, Đức là một trường hợp nổi bật về những
phiền toái tạo nên bởi sự ồn ào liên miên của Net.
Sự thừa mứa thông tin
Vấn đề lớn nhất của Internet là mặt trái của lợi ích lớn nhất
của nó: sự thừa mứa thông tin. Khi kiến thước luôn luôn có sẵn, chúng ta lúc
nào cũng mong có nó. Vì mỗi mẩu tin hay mỗi e-mail đều tiêu tốn sức chú ý của
chúng ta, chúng ta mất đi sự quan sát nội tâm và ngày càng trở nên lo âu.
Trong những năm 2000 chúng ta đã để cho Inetrnet đi vào cuộc
sống hàng ngày của chúng ta, nhưng chúng ta vẫn còn chưa biết làm gì với nó.
Cơn lụt thông tin đã nhấn chìm chúng ta. Tính nặc danh mà nhiều forum mời mọc
chúng ta đã cám dỗ chúng ta lao vào chửi bới những người sử dụng khác. Và không
ai biết thật chính xác điều gì xảy ra với những dữ liệu chúng ta để lại trên
Internet, với tất cả những e-mail của chúng ta và tất cả những thông tin về
nhưng gì chúng ta mua.
Trong trường hợp tốt nhất, Internet tạo ra một diễn đàn thế
giới để thảo luận công khai, một cơ sở cho những quyết định chính trị trong một
thế giới cần đến sự điều hành toàn cầu.
7- Lịch sử trở lại
Nhà trí thức gốc Singapore Kishore Mahbubani viết trên tờ The
New York Times một mẩu ý kiến dưới tựa đề “Kết thúc của toàn bộ lịch sử ư?” Ông
tranh luận với luận điểm nổi tiếng của Fukuyama với tính cách tự tin
của mình. Ông viết: Lịch sử đã trở về - trong niềm vui của người châu Á. “Chỉ
có vấn đề là, Phương Tây sẽ cùng chung vui chào đón nó, hay họ sẽ chờ đợi nó kết
thúc?”
Cách hiểu Fukuyama của người Phương Tây là mô hình
Phương Tây sẽ thống trị thế giới trong tương lai. Mahbubani gọi đây là “thói ngạo
mạn Phương Tây”. Nhưng ông nói thêm, sự vật không diễn biến theo chiều hướng
Phương Tây mong đợi. “Một điều tôi có thể tiên đoán một cách tự tin là, vết
chân Phương Tây trên thế giới, to quá cỡ ở những thế kỷ 19 và 20, rồi
đây sẽ thu lại rất nhiều.”
Phải chăng đây chính là bài học cần phải học ở đầu thế kỷ 21
này, khi mà Phương Tây đang mất đi một phần tầm quan trọng của mình? Những năm
2000 xác nhận điều này. Lối sống Phương Tây đang rơi vào áp lực từ hai phía
cùng một lúc: Đạo Hồi và biến đổi khí hậu. Trong vụ Guantanamo, Hoa Kỳ đã phản
bội lại những nguyên tắc cơ bản của chính nó. Nỗi sợ các cuộc tấn công khủng bố
đã gậm dần các quyền tự do công dân, trong khi một thị trường tự do vô hạn độ
đã làm hỏng nhiều tay chơi trong hệ thống tài chính. Và đối với nhiều công dân,
dân chủ không còn đủ quan trọng để họ bỏ ra mỗi năm lấy một hai ngày đi bỏ phiếu.
Đây quả là một thực trạng quá buồn.
Tình hình này phản ánh trong tầm quan trọng đang lớn lên của
một nước độc tài toàn trị như Trung Quốc. Trong thời của mình G-8 đã thực hiện
vai trò của nó như một diễn đàn thế giới. Bây giờ là G-20, với Trung Quốc là một
thành viên chủ chốt, đang thay đổi. Tất cả những điều này củng cố cho luận điểm
của Mahbubani.
Nhưng có nhiều lý lẽ bác lại những điều mà ông đã nói. Bên cạnh
nhiều điểm yếu của nó, Phương Tây đã biểu lộ một sức mạnh phi thường trong những
năm 2000.
Những iPhone, Google và YouTube chỉ có thể được phát minh bởi
những con người tin vào một nền truyền thông không bị trói buộc, và những người
tin rằng đối với mọi người, sống có ý nghĩa là có thể tiếp cận các thông tin và
có thể thông đạt ý kiến của riêng mình cho người khác. Nói cách khác, những
phát minh quan trọng nhất trong những năm gần đây là dựa trên một tư tưởng
Phương Tây sâu sắc, một tư tưởng mà chúng (những phát minh ấy) quảng bá ra cho
toàn thế giới.
Những nước đầu tiên xem xét nghiêm túc vấn đề bảo vệ khí hậu
là những thành viên của Liên Hiệp Châu Âu. Ngay chính họ cũng chậm trễ một cách
vô vọng trong việc nhận thức ra vấn đề, nhưng họ đã trở thành những nước tiên
phong. Điều đó có ý nghĩa là một bộ phận quan trọng của thế giới Phương Tây có
sức mạnh nhìn thấu được vấn đề và có khả năng sửa chữa các sai lầm của mình.
Quyết định đó cũng dựa trên nhận thức rằng cuộc chiến chống
biến đổi khí hậu, cho dù ban đầu có vẻ như là một trở ngại đối với phát triển
kinh tế, trên thực tế là gìn giữ sự thịnh vượng cho các thập kỷ sau. Nếu Phương
Tây có thể đưa tinh thần sáng tạo của mình vào sử dụng trong việc phát triển những
nguồn năng lượng có thể tái chế và các công nghệ xanh khác, nó sẽ duy trì được
sức mạnh kinh tế của mình.
Không có cơ chế nào để gìn giữ hòa bình
Thập kỷ đầu của thế kỷ 21 đã cho thấy thế giới đang cùng nhau
lớn mạnh và ngày càng trở nên tương thuộc lẫn nhau, nhưng nó vẫn còn thiếu những
cấu trúc chính trị cần thiết. Không có một cơ chế nào có hiệu lực để gìn giữ
hòa bình. Không có thẩm quyền nào giám sát nền tài chính toàn cầu. Không có tổ
chức điều hành quốc tế nào để thường xuyên xem xét các vấn đề biến đổi khí hậu.
G-20 mói chỉ là sự khởi đầu.
Liên Hiệp Châu Âu dã thường xuyên bị cười nhạo vì chỉ đi tới
được đồng thuận bằng những bước chân chậm chạp dềnh dàng, và được tổ chức một
cách cực kỳ quan liêu. Nhưng ít nhất có một cộng đồng chính trị của các dân tộc
đang dần dần hình thành ở châu Âu. Châu Âu có thể là kiểu mẫu cho phần còn lại
của thế giới. Vì lý do đó, tình hình cuối những năm 2000 tuy ảm đạm nhưng không
phải là vô vọng. Phương tây đã làm nhiều chuyện sai, nhưng nó cũng đã phát ra
những tín hiệu của hy vọng.
Bây giờ đã đến lúc rút ra những kết luận đúng. Phương tây có
thể vẫn giữ được sức mạnh, nếu nó giữ được lòng tin vào chính nó, vào quan niệm
nhân văn dựa trên những tư tưởng Cơ Đốc và dân chủ. Thập kỷ đầu tiên là thập kỷ
mất mát, bởi vì nó là thập kỷ của những thừa mứa vô độ, của thổi phồng quá mức
và phản ứng quá dữ dội.
Nếu Phương Tây tìm được một môi trường hạnh phúc, nó sẽ lại
tìm thấy chỗ đứng để đóng vai trò chủ đạo trong sự quay lại của lịch sử và tìm
kiếm một cấu trúc điều hành thế giới.
28/12/2009Dirk Kurbjuweit, Gabor Steingart và Merlind TheileBản tiếng Anh: Christopher SultanBản tiếng Việt: Hiếu TânNguồn: Bài đăng trên tạp chí Spiegel
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...