Thứ Hai, 30 tháng 9, 2024

Nhà văn Nguyễn Minh Châu: Tên thực ứng với đời thực

Nhà văn Nguyễn Minh Châu:
Tên thực ứng với đời thực?

Trái ngược với cái tên Minh Châu “đẹp như mộng”, thuở mới lọt lòng, nhà văn tài năng của chúng ta đã được các cụ thân sinh đặt cho cái tên thậm xấu: Nguyễn Thí. Vâng, Nguyễn Thí, vì đó là đứa con “thêm nếm” (tức con út) mà các cụ được Trời Phật ban cho.
Minh Châu là một cái tên thật đẹp. Có lẽ vì vậy mà trong kỷ yếu “Nhà văn Việt Nam hiện đại” xuất bản lần gần đây nhất, hai chữ này đã xuất hiện trong bút danh của… bốn nhà văn, gắn với bốn cái họ khác nhau: họ Nguyễn, họ Hoàng, họ Nông, họ Tạ. Trong đó, ông Minh Châu họ Nguyễn được giới văn học nhắc tới nhiều hơn cả. Kể thì cũng dễ hiểu: Trong “tứ trụ Minh Châu” nói trên, đến nay Nguyễn Minh Châu vẫn là nhà văn duy nhất đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học – nghệ thuật.
Thế nhưng, trong một lần trò chuyện với bà Nguyễn Thị Doanh, quả phụ của nhà văn Nguyễn Minh Châu, tôi đã thực sự bất ngờ khi được biết rằng: Trái ngược với cái tên Minh Châu “đẹp như mộng” ấy, thuở mới lọt lòng, nhà văn tài năng của chúng ta đã được các cụ thân sinh đặt cho cái tên thậm xấu: Nguyễn Thí. Vâng, Nguyễn Thí, vì đó là đứa con “thêm nếm” (tức con út) mà các cụ được Trời Phật ban cho. Còn vì sao sinh trưởng trong một gia đình khá giả mà ông lại bị cha mẹ đặt cho cái tên đáng ngán ngẩm như vậy? “Thì cũng là cách đặt tên cho dễ nuôi như quan niệm của phần đông dân ta khi ấy”- bà Doanh giải thích.
Cũng theo bà Doanh cho biết: Chỉ đến khi Nguyễn Thí đến tuổi đi học, bố mẹ ông mới tìm cách đặt lại tên cho ông (là Minh Châu). Như vậy, cái tên Minh Châu không phải do nhà văn chọn lựa khi cầm bút viết văn.
Không biết có phải do mặc cảm với cái tên Nguyễn Thí bố mẹ đặt cho từ thuở lọt lòng mà bình sinh, ông nhà văn vốn dĩ có nhiều độc giả này lại rất e ngại khi phải đối mặt với… đám đông. Trong những ghi chép cuối cùng (có tên gọi “Ngồi buồn viết mà chơi”) được thực hiện trong những ngày nằm điều trị tại Viện Quân y 108, Nguyễn Minh Châu tự nhận xét: “Từ lúc còn nhỏ tôi đã là một thằng bé rụt rè và vô cùng nhút nhát. Tôi sợ từ con chuột nhắt cho đến ma quỷ. Sau này lớn lên, đến gần sáu chục tuổi, đến một nơi đông người tôi chỉ muốn lẻn vào một xó khuất và chỉ có như thế mới cảm thấy được yên ổn và bình tâm như con dế đã chui tọt vào lỗ”.
Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn từng kể (trong sách “Nghiệp văn” – NXB Văn hóa – Thông tin, 2001), quãng năm 1973, 1974 gì đó, vào độ giáp Tết, Nguyễn Minh Châu không may bị bệnh phải đi nằm viện. Khi ông hồi phục, ra viện thì cũng vừa hay… hết Tết. Trái ngược với tâm trạng của bạn bè, người thân (áy náy, thương cảm vì ông không được hưởng những ngày vui), Nguyễn Minh Châu lại có một thái độ rất thoải mái. Theo ông tiết lộ thì việc nằm viện vậy là ông “đã tránh được ít ngày phải sống giữa một cơn điên”. Ý ông muốn nói, ông đã thoát được những ngày con người phải sống với những lễ lạt, giao tiếp căng thẳng.
Nguyễn Minh Châu tự nhận mình không thuộc diện lợi khẩu. Chính vì thế ông rất ngại khi được mời phát biểu trong các buổi tọa đàm, hội thảo. Ông thật thà kể: “Tôi rất sợ máy micrô. Một lần ở thư viện của một thành phố, người ta cứ nằng nặc bắt tôi nói trước máy để cả đám đông của hội trường có thể nghe. Vừa nói được vài câu qua máy, tôi đã mất bình tĩnh vì vừa nói tôi vừa nghe thấy cái tiếng nói của mình và tự nhiên phát hoảng, không còn là tiếng nói hàng ngày của mình nữa mà y như có ai đang nhại mình bằng một thứ giọng ma quỷ”. Lại một lần khác, ông bị người ta kéo đi nói chuyện với học sinh một trường cấp III. Từ trên bục diễn giả nhìn xuống, ông thấy hai phần ba thính giả là nữ, và các cô gái này cứ nói chuyện rào rào, không có vẻ gì là đang nghe ông nói. Bị mất hứng, giọng nhà văn cứ ỉu dần, ỉu dần và mới được có nửa buổi ông đành phải cho kết thúc bài và xin phép… cáo từ.
Nhà thơ Vũ Cao, nguyên Chủ nhiệm Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi Nguyễn Minh Châu có thời kỳ làm biên tập văn xuôi cũng từng kể: “Trong những buổi họp cơ quan hoặc họp chi bộ, hễ thấy anh giơ tay xin phát biểu ý kiến thì lập tức tôi nói khẽ với đồng chí ngồi cạnh: Này, ông Châu lại sắp nói sai đấy. Và quả nhiên, anh chỉ nói hẳn hoi được một hai câu, còn sau đó là “sai” hết. Tôi nói “sai” là so với cách nghĩ thông thường của nhiều người khác…”. Vũ Cao cũng nhớ lại những ấn tượng của ông khi lần đầu gặp Nguyễn Minh Châu: “Một con người nhỏ bé, đi chân chữ bát, đầu hơi cúi xuống. Anh có vẻ nhút nhát”.
Không chỉ là nhút nhát, vụng về trong phát biểu, nói năng, mà trong công tác cũng như trong sinh hoạt thường ngày, Nguyễn Minh Châu cũng luôn thể hiện là người không thật… nhanh nhẹn. Nói chính xác thì ông hầu như là người “chỉ biết viết thôi, chẳng biết gì” (cải biên từ một câu thơ của Xuân Diệu). Hiện nhiều anh em trong Quân đội còn lưu truyền câu chuyện về thời kỳ Nguyễn Minh Châu làm lính trinh sát cho một đại đội thuộc Đại đoàn Đồng Bằng. Một lần, chỉ huy đơn vị kéo ông cùng đi thị sát chiến trường, chuẩn bị cho một trận công đồn. Đêm tối như hũ nút, theo chân Nguyễn Minh Châu, vị chỉ huy lần lượt vượt qua những vạt ruộng, những bờ tre… mà không gặp phải trắc trở nào cả. Không gian im ắng đến không ngờ. Cứ vậy, đến gần sáng, khi gà te te gáy, nghe tiếng kẻng vang xa, vị chỉ huy chắc mẩm đó là tiếng kẻng báo thức phát ra từ đồn địch… Nào ngờ, trước mặt lại chính là điểm trú quân của bộ đội ta. Sau đận đó, nghe nói Nguyễn Minh Châu được điều làm việc khác. Nhận xét về chuyện này, vị chỉ huy nói trên đã buông một câu: “Chẳng sao, đồng chí ấy tuy là một trinh sát tồi nhưng viết văn giỏi”.
Nhà văn Lê Lựu, trong một lần kể chuyện Nguyễn Minh Châu giúp vợ chồng ông tìm mua nhà, đã không quên nhắc lại sự hồn nhiên đãng trí của Nguyễn Minh Châu: “Hút hết điếu thuốc lá, nhấp một ngụm nước chè tôi vừa pha, anh mới nói đầy vẻ tự tin: Mình kiếm được nhà cho ông rồi”. Lê Lựu mừng rỡ, muốn kêu lên vì sung sướng: “Không thể ngờ anh lại đem đến cho tôi một niềm vui lớn, đột ngột đến thế”. Nhưng khi ông hỏi nhà văn đàn anh “ở chỗ nào hở anh?” thì Nguyễn Minh Châu bất chợt lúng túng “chết chửa, mình lại quên không để ý số nhà”. “Thế ở phố nào ạ?”. “Phố..ả…à…à. mình… cũng không nhớ nữa”. Phu nhân của nhà văn Lê Lựu nghe vậy, sốt ruột không đừng được, chêm vào: “Thế bác có nhớ ở mạn nào không ạ?”. Nguyễn Minh Châu xem chừng… bất lực. Ông thở dài, đứng dậy: “Thôi, để mình đi lại”.
Có lẽ vì tật đãng trí như vậy mà trong làng văn, hiện vẫn lưu truyền câu chuyện vui về việc Nguyễn Minh Châu tập đi xe máy mãi mà vẫn không phân biệt được rạch ròi đâu là số, đâu là côn, là phanh, để rồi rốt cục, ông không tài nào điều khiển được xe đi, xe dừng. Để đỡ tốn sức, tốn thời gian, Nguyễn Minh Châu bảo bạn: “Thôi vậy ông ạ, với tôi xe đạp vẫn thuận hơn”. Từ đó, người ta lại thấy nhà văn bạn đường với chiếc xe đạp tòng tọc, lủng lẳng bên tay lái chiếc mũ lá (xem “Giai thoại làng văn Việt Nam”- NXB Văn hóa Dân tộc, 1999).
Về việc này, tôi đã có dịp hỏi chuyện bà Nguyễn Thị Doanh. Bà Doanh cho hay: Cả đời, chưa bao giờ chồng bà tập đi xe máy, vì đối với vợ chồng bà, xe máy bấy giờ là một thứ quá xa xỉ. Suốt đời, nhà văn Nguyễn Minh Châu chỉ đi chiếc xe đạp mà ông được mua từ năm 1959. “Nhà tôi dùng nó suốt 30 năm, tới khi anh ấy mất – Bà Doanh nhớ lại – Nó tróc ghẻ, lọc xọc. Đến nỗi, có hôm khách khứa ngồi chờ, tôi nghe thấy tiếng lọc xọc ngoài đường, tôi bảo, nhà tôi về rồi”. Ông khách ngạc nhiên hỏi: “Sao chị biết?”. Tôi nói: “Chỉ cần nghe tiếng xe kêu là tôi biết”. Hiện chiếc xe tôi vẫn giữ cái khung. Có ông sửa xe gạ mua, nhưng tôi không bán. Tôi dành để tặng nó cho Bảo tàng Nhà văn”.
Theo bà Doanh, có thể người ta “nhầm chuyện xe máy với chuyện nhà tôi sử dụng máy chữ. Chẳng là, gần nhà tôi có anh An đánh máy chữ rất giỏi. Nhà tôi trông thấy thèm lắm, mơ ước mua được một cái. Đến khi có máy rồi, nhà tôi kỳ cạch xoay xoay gõ gõ mấy ngày liền, xong cũng chẳng chữ nào ra chữ nào”.
Lý giải việc nhà văn Nguyễn Minh Châu không thạo những việc xem ra rất đơn giản đối với đại đa số những người… bình thường, bà Doanh cho rằng, vì chồng bà là con út, hồi bé lại được bố mẹ cho đi học suốt nên “lớn lên có biết làm gì đâu”. Bà Doanh lấy ví dụ: “Tôi nhớ, có lần nhà tôi nối được cái dây may so ở bếp điện khiến nó đỏ lên được, anh ấy mừng lắm, cứ xuýt xoa chờ vợ con khen. Tôi động viên anh: “Bố nó tiến bộ quá”. Thế là anh ấy thích lắm”. Và bà kết luận: “Nói chung, nhà tôi là một người quan sát việc đời rất tinh tế nhưng lại rất lóng ngóng việc nhà. Bản thân tôi cũng cố để anh ấy không phải dúng tay vào những việc này. Về nội trợ trong nhà, việc duy nhất mà tôi hướng dẫn anh ấy làm được là việc… rang cơm”.
6/10/2019
Phạm Thành Chung
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà văn Trang Thế Hy gió đưa gió đẩy

Nhà văn Trang Thế Hy
gió đưa gió đẩy

“Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá về đồng ăn cua”
(Ca dao)
“Biết đâu au revoir (tạm biệt) chẳng là adieu (vĩnh biệt)”. Ông nói, giọng ngùi ngùi. Lần đầu tiên sau 24 giờ gặp nhau, tôi nghe một thoáng hẫng như đã từng đọc “những ổ gà không khí” có rất nhiều trong văn ông. Những cú hẫng những ổ gà những khoảng lặng như thế trong văn Trang Thế Hy bao giờ nghe lại đọc lại cũng khiến tôi ngùi ngùi…
Về nhà văn Trang Thế Hy, Từ điển văn học (bộ mới) viết: “Trang Thế Hy chuyên viết truyện ngắn và ký. Những tập truyện ký đã xuất bản: Nắng đẹp miền quê ngoại (1964), Mưa ấm (1981), Người yêu và mùa thu (1981), Vết thương thứ mười ba (1989), Tiếng khóc và tiếng hát (1993). Tác phẩm mới nhất, có thể coi như một tuyển tập của ông: Nợ nước mắt và những truyện ngắn khác (2001)”. Và từ điển trích một câu trong một truyện ngắn của Trang Thế Hy để nói về quan niệm nghệ thuật của chính tác giả: “Tôi nghe đó (từ câu chuyện của chị bán thuốc lá) là lời răn dạy rất nghiêm có giá trị thức tỉnh cao của một hiện thực đau buồn nhắc nhở người cầm bút đừng bao giờ đánh mất cái điểm tựa đáng tin cậy của mình là nỗi đau khổ lớn của số đông thầm lặng”.
Sinh năm 1924, Trang Thế Hy đã tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hiện sống tại quê nhà, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
***
Có thể nói cả đời Trang Thế Hy thuận theo những con “gió đưa gió đẩy”. Gọi những con gió ấy là số phận cũng được, mà gọi là sự tình cờ vô thường cũng xong! Nghe nói, hồi ở chiến khu miền Đông Nam Bộ, Trang Thế Hy luôn thủ sẵn vài trăm… lưỡi câu để sẵn sàng giăng câu kiếm cá, hay ông có biệt tài bắt… nhái băm chả, câu rắn mối, biến những điều không thể thành có thể, viết chầm chậm những câu văn trong khi chờ mấy gã chuột sa bẫy trong những đêm rừng lạnh. Ngày đó, tôi ở bên binh vận cùng Lưu Kiểng Xuân – một nhà văn đặc Nam Bộ quê Cần Giuộc, Long An. Tư Xuân vốn là trung úy lái trực thăng của quân đội Sài Gòn, nhưng là cơ sở cách mạng ở nội thành, là cộng tác viên của nhóm Tin Văn – tên một tờ tạp chí văn nghệ thiên tả, có liên hệ với cách mạng. Tư Xuân sau đó đã lên chiến khu,viết truyện và bút ký có nhân vật là lính Sài Gòn, nên được đưa về ban tuyên truyền binh vận. Còn tôi chỉ là anh sinh viên mới tốt nghiệp ở Hà Nội, vào bộ đội chưa lâu, cũng làm tuyên truyền binh vận cho đài phát thanh, rồi đi B2, rồi về ban binh vận, rồi…
Chúng tôi chơi với nhau do có chút máu văn chương, và mỗi lần, khi chuyện trò về văn học, bao giờ Tư Xuân cũng léo vào cái tên Trang Thế Hy dưới biệt danh thân mật là Tư Sâm: “Tui khoái cha Tư Sâm này, văn chả kỹ mà sâu, lại đúng giọng Nam Bộ!” Dù chưa gặp Trang Thế Hy, cũng chưa có may mắn đọc văn ông – trong rừng mấy thứ văn chương còn hiếm hơn cả chuột hay rắn mối – nhưng tôi tự nhiên có cảm tình với Trang Thế Hy từ đó. Qua Tư Xuân, tôi còn biết Tư Sâm là người có “hoàn cảnh” có tâm trạng và nhiều lúc rất buồn, cô đơn nữa.Như thế lại giống Tư Xuân và tôi. Có một lần, Tư Xuân rủ tôi đi sang cứ của ban văn n ghệ R chơi, thăm Tư Sâm. Tiếc thay, lần đó khi chúng tôi mất nửa ngày trời băng qua những trảng cỏ voi và rừng dầu đến với Tư Sâm, thì ông lại đi công tác chiến trường, không có ở cứ. Hai chúng tôi được Anh Đức tiếp tại nhà, đãi một bữa cơm có thịt hẳn một con gà – điều quá hiếm ở rừng hồi ấy. Thôi thì ông anh Tư Sâm cũng xá cho, tôi với Tư Xuân chẳng qua cũng “gió đưa gió đẩy về cứ ăn… gà” chứ chúng tôi không cố ý. Hôm đó, trở về qua trảng cỏ voi, và tôi viết được bài thơ “Những dấu chân qua trảng cỏ”. Âu cũng là cái duyên với Trang Thế Hy, dẫu chưa gặp được ông, nhưng nhờ chuyến thăm hụt ông mà lận lưng được bài thơ không đến nỗi nào, vậy là ấm bụng! Cách đây mấy năm, khi gửi tặng tôi tuyển tập truyện ngắn “Nợ nước mắt và những truyện ngắn khác” – Lão nhà văn Trang Thế Hy đề tặng: “Tặng Thanh Thảo, người trở về vùng Tháp Chàm còn để lại ở rừng già phương Nam những “dấu chân trên trảng cỏ”. Một lời đề tặng vừa tình cảm vừa “kỹ”- đúng văn chất Trang Thế Hy.
Hoá ra ở đời vẫn có những tương hợp tình cờ như thế, “gió đưa gió đẩy” chúng tôi qua những cánh rừng miền Đông những bưng biền Đồng Tháp để cuối cùng, dù người về Bến Tre “đứng như bóng dừa”, kẻ trở lại quê nhà miền Trung nương bóng Tháp Chàm, ăn don và cả ăn đòn, chúng tôi lại gặp nhau… ăn cua. Vâng, ăn cua cốm. Ngay tại thị xã Bến Tre, sát mé sông Hàm Luông hẳn hoi. Tôi, nhà thơ Chim Trắng với nhà giáo dạy văn Nguyễn Tấn Huy từ Sài Gòn về Bến Tre thăm lão trượng Trang Thế Hy. Chim Trắng đã ngót 70 mà tay lái  còn “lụa” lắm! Nghe nói ở quê tôi có ông chủ tịch ít tuổi hơn Chim Trắng nhưng mới về hưu, nhớ tiếc một thời vàng son oanh liệt nên “Buổi sáng ông mặc áo đi giày ra đứng ngoài đường”… chờ xe, kết luận theo thơ Trần Vàng Sao thì ông là “một người yêu nước mình”. Đứng chờ xe, dẫu xe không đến, là còn muốn làm việc, là còn “yêu nước mình”, chứ sao! Chim Trắng cười ngất, nói là anh sẵn sàng ra Trung lái xe hầu “một người yêu nước mình” ấy. Anh vốn hâm mộ những người yêu nước.
Chúng tôi ăn cua cốm, thứ cua hai da vừa lột chưa lâu, có gạch béo và mềm, hạp với răng cỏ lão nhà văn. Lỗ Tấn có biệt tài là viết nhấn, mỗi câu văn là một con sóng, con sau cao hơn, mạnh hơn con trước. Chekhov thú nhận là mình không thật đam mê trong bất cứ việc gì, cả làm thuốc và viết văn. Tôi nói với Nguyễn Quang Sáng, anh viết về tôi đúng cả, chỉ có cái này là sai: Trang Thế Hy quyết sống chết với văn chương. Không có đâu! Tôi chỉ dám là “người tình thoáng chốc” của văn chương thôi. Tôi không ăn thua đủ về bất cứ cái gì. Đó là cái dở nhất của tôi. Kể cả giải thưởng mà người ta định trao cho ông rồi… thôi? Ừ, cả giải thưởng. Nhưng tôi phải thú nhận là tôi có sốc nhẹ, vì khi nghe thông báo cứ như đã “được rồi”, tôi lỡ dại khoe với mấy người bà con nghèo, là Tư Sâm sắp khá, có món tiền to, sẽ biếu mấy anh em chút đỉnh tiêu chơi. Nào ngờ. Coi như tôi nói dối họ. Không nói dối đâu, anh Tư, nhưng là nói chưa thành sự thật. Quán ăn Trương Ký, lão nhà văn khẽ khàng gắp miếng cá chẽm kho ngót (kho ngọt) có để chanh, chiêu ngụm rượu vang trắng Alsace chánh hiệu mà Chim Trắng mang từ Sài Gòn xuống. Lỗ Tấn nói “nhà văn như con bò ăn cỏ khô rơm khô nhưng phải cho đời sữa tươi”. Tôi đế: Cá chẽm với vang Pháp cũng là cỏ khô sao anh Tư? Lão nhà văn cười mỉm mỉm. Ở đời, như Gorki phân loại, thì có hai kiểu chết: một là cháy bùng lên, hai là mục rã. Tôi thuộc loại thứ 2. Nhưng cố gắng làm sao mục rã coi cho được. Kể cả bùng cháy, cũng đừng bùng cháy khó coi, phải hôn anh Tư? Lại cười mỉm mỉm. Cua cốm này ăn đậm, cua cũng phải tới kỳ, ăn mới ngon, nữa là văn chương. Trang Thế Hy đeo bên thắt lưng một điện thoại loại xịn nhất, dường như có kết nối toàn cầu, màu bạc sáng loáng. Thỉnh thoảng ông lại móc điện thoại, mở nắp, chiêu một ngụm. Một ngụm thông tin toàn cầu? Rượu này tôi đặt riêng, nấu bằng nếp, uống thử coi, ngon hơn rượu Tây đó! Chúng tôi cứ trò chuyện lai rai không đâu vào đâu. Bóng tối len nhẹ vào quán trên những bước chân mèo, và trong ánh chập chờn, mắt ông lão nhà văn lấp láy. Người như thế có khi biết mà không nói, có khi nói nửa câu những gì mình nghiền ngẫm trọn đời. Nửa câu còn lại, để gió sông Hàm Luông giải quyết.
Hồi trưa, lúc ngồi với Trang Thế Hy trong vườn dừa nhà ông, tôi để ý vườn dừa nhà bên có những miếng thiếc trơn bề rộng độ 3 tấc bao quanh thân dừa. Ngạc nhiên tôi hỏi, lão nhà văn cho biết, đó là cách ngăn chuột ăn dừa. Chuột dừa ở xứ cù lao này răng sắc và chịu khó lao động. Chúng phải gặm xuyên qua vỏ dừa, xuyên cả gáo dừa mới ăn được cơm dừa. Ăn cơm dừa nhưng không uống nước dừa, mà chỉ uống nước mương. Nên chúng phải trèo lên leo xuống. Những miếng thiếc kia khác nào những “cột mỡ” đối với chúng. Xuống cũng té “bịch”, mà lên cũng té “bịch”. Nhưng tôi không có tiền bao thiếc quanh thân dừa nhà mình, mỗi miếng thiếc tới 30 nghìn đồng lận. Nghĩa là vì nghèo mà ông có tình thử đạo? Tôi chọc. Tôi bây giờ “đêm nghe dừa rụng ngày nhìn chuột rơi”, kể cả dừa và chuột hàng xóm. Những tiếng rơi ấy, nghe buồn lắm. Tôi nhìn dáng ông lão lầm lũi đi con đường đất lầy lội dọc bờ mương về nhà mình, lúc chúng tôi chia tay nhau. Biết đâu au revoir (tạm biệt) chẳng là adieu (vĩnh biệt). Ông nói, giọng ngùi ngùi.
Lần đầu tiên sau 24 giờ gặp nhau, tôi nghe một thoáng hẫng như đã từng đọc “những ổ gà không khí” có rất nhiều trong văn ông. Những cú hẫng những ổ gà những khoảng lặng như thế trong văn Trang Thế Hy bao giờ nghe lại đọc lại cũng khiến tôi ngùi ngùi. Ông đã 83 tuổi, cầu Rạch Miễu mới làm xong, nhưng đoạn đường vô nhà ông vẫn sình lầy. Bao giờ? Vâng, bao giờ chúng tôi gặp lại nhau?.
8/10/2019
Thanh Thảo
Theo https://vanhocsaigon.com/

Chàng kỹ sư yêu biển viết văn Trương Anh Quốc

Chàng kỹ sư yêu biển
viết văn Trương Anh Quốc

Trương Anh Quốc là một trong những người bạn có nhiều gắn bó với Phú Yên trong các hoạt động văn học. Sinh trưởng ở Quế Sơn, Quảng Nam, anh tốt nghiệp kỹ sư điện Trường Hàng hải, định cư tại TP Hồ Chí Minh, làm việc trong ngành vận tải biển và dầu khí. Biển cả không chỉ là nơi mưu sinh mà còn là tình yêu, nguồn cảm hứng cho chàng kỹ sư trẻ sáng tác văn học mà mới nhất là tiểu thuyết du ký độc đáo “Sóng” do NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 9/2019.
Tiểu thuyết du ký là thể loại hiếm thấy trong văn học Việt Nam và thế giới. Và có lẽ “Sóng” của nhà văn Trương Anh Quốc là tiểu thuyết du ký biển đầu tiên của nước ta. Tác phẩm giúp cho người đọc hiểu rõ hơn nghề đi biển của các thủy thủ và nhân viên tàu viễn dương, một nghề vốn rất quyến rũ nhưng cũng đầy khó nhọc và còn xa lạ với nhiều người. Đồng thời “Sóng” còn mang lại những kiến thức, vẻ đẹp của các vùng biển, vùng đất, con người ở nhiều nơi trên thế giới mà tác giả đặt chân tới bằng góc nhìn, cảm nhận tinh tế riêng biệt.
Chính những điều trên, tiểu thuyết du ký “Sóng” lôi cuốn sự tò mò của bạn đọc, nhất là giới trẻ thích xê dịch khám phá. Ngoài ra, theo nhà văn Trương Anh Quốc: “Viết “Sóng” mình chọn lối viết nhẹ nhàng, không tập trung vào xây dựng cốt truyện với tuyến nhân vật xung đột mâu thuẫn rồi đi tìm cách gỡ, mình chú trọng đến nét mới lạ của văn hóa vùng miền của bước chân nhân vật du hành bằng đường biển trải qua. Đi bằng đường biển sẽ có sự thú vị riêng, dưới đôi mắt của nhân vật – người đi biển sẽ có cách nhìn khác qua một lăng kính khác, nhất định sẽ khác với lăng kính của người du hành bằng đường hàng không hay đường bộ, đường sắt. Góc nhìn từ ngoài biển vào bờ, có cả sự mong ngóng, trìu mến và bao dung”.
Trương Anh Quốc xuất hiện trên văn đàn hơn mười năm trước và nhanh chóng gặt hái thành công. Anh đã xuất bản ba tập truyện ngắn “Sóng biển rì rào”, “Lũ đầu mùa”, “Hợp đồng chiều thứ bảy” cùng một tiểu thuyết “Biển” và bây giờ là “Sóng”. Anh cũng được trao những giải thưởng có giá trị: Giải nhì Văn học tuổi 20 lần 3 và Giải nhất Văn học tuổi 20 lần 4 do NXB Trẻ phối hợp Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh tổ chức, giải các cuộc thi truyện ngắn của báo Sài Gòn Giải Phóng, tạp chí Văn Nghệ Quân Đội.
Trong số 5 tác phẩm đã xuất bản của Trương Anh Quốc thì có 3 tập viết thuần về biển là tập truyện ngắn đầu tay “Sóng biển rì rào”, 2 tiểu thuyết “Biển” và “Sóng”. Có thể nói biển đã mang lại nguồn cảm hứng lớn lao, giúp cho chàng kỹ sư trẻ sớm tự phát hiện và chọn cho mình con đường riêng để bước vào thế giới văn chương. Như lời tâm sự của anh: “Có lẽ mình may mắn khi chọn viết về biển trong lúc có rất ít người viết về đề tài này và họ không phải là người trong cuộc. Mình viết sẽ dễ dàng hơn khi ngành hàng hải đặc thù với rất nhiều ngôn ngữ chuyên ngành. Ngôn ngữ chuyên ngành tiếng quốc tế có khi không thể tìm từ tiếng Việt sát nghĩa để thay thế. Tiểu thuyết “Sóng” chỉ gói ghém trong một hành trình đi trên một con tàu, trong khi mình đã làm việc trên nhiều con tàu đi khắp nơi như thế”.
Tiểu thuyết du ký “Sóng” của Trương Anh Quốc
Hành trình để nhà văn Trương Anh Quốc viết nên tiểu thuyết “Sóng” chính là chuyến đi biển xa đầu tiên sau khi anh rời trường đại học với tấm bằng kỹ sư điện ngành hàng hải. Theo lời anh: “Chuyến tàu biển vòng quanh thế giới đầu tiên trong cuộc đời đi biển của mình đã để lại nhiều ấn tượng đẹp và thú vị. Khi đó, mỗi lần đến cảng nào, nước nào, đi bờ ra sao… khi về tàu mình đều ghi lại trong những tập giấy A4. Cũng trong chuyến đó mình mua được chiếc máy tính xách tay nên cặm cụi gõ chữ từ xấp giấy vào máy tính. Mình cũng mua được một chiếc máy ảnh kỹ thuật số bấy giờ mới ra nên quý lắm, đi bờ chụp hình về tàu lưu hết trong máy tính”.
Thế nhưng điều bất ngờ đã xảy ra. Khi Trương Anh Quốc cùng con tàu trở về nước thì chiếc máy tính đó bị trộm vào nhà cuỗm mất. Bao nhiêu công sức, chữ nghĩa, hình ảnh anh lưu trong máy bay luôn. Anh cất công tìm kiếm mua lại nhưng cái máy vẫn biệt tăm, không thể nào tìm lại được. Thế rồi một điều kỳ diệu lại đến với anh khi khởi động viết tiểu thuyết “Sóng”, đó là bao nhiêu cảm xúc hơn 15 năm trước chợt ùa về với những hình ảnh rõ mồn một.
Dù chuyến đi biển đầu tiên Trương Anh Quốc đặt chân lên hơn ba chục quốc gia, hàng mấy chục bến cảng nhưng anh chỉ chọn những bến cảng, vùng đất đã để lại ấn tượng thật sâu sắc để đưa vào tiểu thuyết du ký “Sóng”. Anh cho biết: “Mình chọn những điểm nhấn điển hình nói lên được tập tục, văn hóa của vùng ấy nhưng không sa đà vào chi tiết, tránh không đưa ra những thông tin có thể tra tìm trên gu gồ (google). Nơi đến nhiều khi chỉ là cái cớ để có câu chuyện mà thôi. Với phương châm ấy, “Sóng” nhẹ nhàng như một cuộc dạo chơi thăm thú các vùng đất mới, mỗi nơi để lại một câu chuyện thú vị nho nhỏ vậy”.
Đúng vậy, có nhiều câu chuyện độc đáo trong tiểu thuyết “Sóng” của nhà văn Trương Anh Quốc. Chẳng hạn, chuyện về hòn đảo Tenerife cách châu Phi chưa đầy 300km và cách Tây Ban Nha đến vài ngàn cây số nhưng nó là khu tự trị thuộc Tây Ban Nha. Thật kỳ lạ. Mỗi năm Tenerife đón lượng khách du lịch quốc tế gấp mười lần số dân trên đảo. Chính quyền ưu tiên phát triển đảo còn hơn đất liền. Biển đảo gắn liền lợi ích kinh tế, du lịch cả vị trí địa lý, vùng trời lòng biển lòng đất…
Cũng ở châu Phi, theo nhà văn Trương Anh Quốc, khi tàu đi qua một hòn đảo bé tẹo thì thuyền trưởng người Pháp cho tàu tạt gần hòn đảo một chút rồi thông báo cho thuyền viên ra xem. Chỉ một thoáng, từ trong đảo có các canô chạy ra xua đuổi tàu hàng vì xâm phạm 12 hải lý chủ quyền hòn đảo. Họ phát loa thông báo bằng tiếng Anh, tiếng Pháp một cách kiên quyết. Bất ngờ, thuyền trưởng tàu hàng cho căng cờ Pháp lên và cũng đáp lại bằng tiếng Pháp. Vậy là mấy chiếc canô kia quay đầu vào bờ. Thuyền trưởng cùng mấy thuyền viên người Pháp cười khoái chí và tỏ ra rất tự hào. Hóa ra thuyền trưởng biết hòn đảo xa tít mù khơi tận biển châu Phi này là của nước Pháp nên trêu đùa cho vui với thuyền viên trên tàu.
Còn trẻ và còn nhiều cơ hội lênh đênh trên khắp các đại dương, chàng kỹ sư yêu biển Trương Anh Quốc nhất định sẽ tiếp tục mang lại cho bạn đọc nhiều trang văn hay và độc đáo như “Sóng”.
11/10/2019
Phan Tấn Hùng
Nguồn: PYO
Theo https://vanhocsaigon.com/

Du Tử Lê: Người dâng hiến trọn đời cho thi ca

Du Tử Lê: Người
dâng hiến trọn đời cho thi ca

Sau sự ra đi của nhà thơ Tô Thùy Yên mấy tháng trước, ngày 9-10-2019, giới văn nghệ hải ngoại lại thêm một mất mát nữa. Đó là sự ra đi của nhà thơ Du Tử Lê.
Nhà thơ Du Tử Lê  (1942) vừa qua đời. Ông học Đại học Văn khoa Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana (1969). Giải thưởng Văn chương toàn quốc tại Sài Gòn năm 1973 (tập Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972). Ông có tới 70 tập thơ và văn xuôi. Du Tử Lê cũng là nhà thơ châu Á duy nhất được phỏng vấn và có thơ đăng trên hai nhật báo lớn của Hoa Kỳ: Los Angeles Times (1983) và New York Times(1996). Thơ ông cũng đã và đang được đưa vào giảng dạy, làm tài liệu nghiên cứu, đọc thêm tại một số trường đại học tại Hoa Kỳ và Châu Âu. Vĩnh biệt ông, Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết về ông của nhà thơ Nguyễn Thụy Kha và ba bài thơ của ông.
Sau sự ra đi của nhà thơ Tô Thùy Yên mấy tháng trước, ngày 9-10-2019, giới văn nghệ hải ngoại lại thêm một mất mát nữa. Đó là sự ra đi của nhà thơ Du Tử Lê.
Ngay sau ngày thống nhất, tôi đã đọc thơ Du Tử Lê in trên các tạp chí văn nghệ ở miền Nam trước 1975. Được biết ông đã đoạt giải văn chương năm 1972 do nhà thơ Vũ Hoàng Chương và nhà thơ Bàng Bá Lân làm chủ khảo. Tôi đồ rằng có lẽ Du Tử Lê rất thích bài hát “Lời du tử” của Nguyễn Đình Phúc nên mới lấy chữ “Du Tử” gắn với họ Lê của mình thành ra bút danh Du Tử Lê. Tôi gặp ông ở TP.HCM trong một cuộc bàn tròn trao đổi về thơ hồi cuối tháng 3-2007. Năm đó, tôi cũng sang Mỹ dự hội thảo về chủ nghĩa cổ điển tự nhiên tại đại học Dallas, người ta bảo Du Tử Lê cũng đã từng đến đây đọc thơ. Trong số các nhà thơ Việt Nam ở hải ngoại, có lẽ thơ Du Tử Lê được quảng bá ở Mỹ và châu Âu khá nhiều.
Có lẽ vì hơi thơ lãng mạn hòa trộn với hiện đại ở thơ ông đã khiến cho bạn đọc nước ngoài chú ý. Tới năm 2014, khi Du
Tử Lê ra mắt tập thơ “Giỏ hoa thời mới lớn” ở Hà Nội, tôi mới có dịp đọc thơ ông nhiều hơn bởi được ông tín nhiệm để tôi giới thiệu thơ ông với mọi người. Ở tập thơ, tôi chú ý những bài viết về mảnh đất Gia Lai mà tôi đã từng gắn bó thời chiến tranh. Du Tử Lê cũng thế. Chỉ có khác là hai người ở hai chiến tuyến đối đầu nhau. Khác với Nguyễn Bắc Sơn trăn trở về cuộc chiến tranh thật rõ nét qua tập thơ “Chiến tranh Việt Nam và tôi”,  Du Tử Lê luôn lãng mạn hóa vùng chiến địa này qua những bài thơ tình, như thể ở đó chưa hề xảy ra bom rơi, đạn nổ. Ngay cả đến dấu vết “mai xa lắc trên đồn biên giới” như Vũ Hữu Định, cũng không có trong thơ Du Tử Lê. Đọc bài “Khi ngang qua Pleime” – một địa danh nổi tiếng với chiến công thắng Mỹ cuối 1966, không thấy
một tí ti ùng oàng nào trong thơ Du Tử Lê: “Khi ta đến cây im rừng nín thở – một mặt trời rực rỡ đỉnh truông xa – một hồn xanh gọi rét mướt hiên nhà – một tóc chảy theo trăm dòng suối lạ…” Ở bài “Pleiku và hoa quỳ” cũng thế. Đọc thơ Du Tử Lê, thấy rười rượi một màu vàng hoa quỳ trên đất đỏ bazan phố núi: “Khi ta trở lại rừng – chỉ còn nghe gió hú – núi trong buổi chiều nay – nhìn ta bằng mắt lạ – hoa nở vàng chân mây – tái tê từng cánh nhỏ”. Có lẽ bởi thế,  Du Tử Lê được phổ nhạc khá nhiều. Trong những tình ca ấy, ám ảnh nhất là “Khúc Thụy Du” qua giai điệu Anh Bằng. Bài thơ nói về việc tìm kiếm người yêu ở miền Phú Lâm (bây giờ thuộc quận 6) Sài Gòn sau đổ nát của cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân 1968, từ đấy tác giả thấm thía về những mất còn mà chiến tranh mang lại.
Năm 2017, tôi sang Mỹ và ghé chơi quận Cam, lại gặp Du Tử Lê nhỏ thó nơi góc bàn cà phê quen thuộc. Cũng năm ấy, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn đã ấn hành trường ca “Mẹ về biển Đông” của ông. Trường ca lấy cảm hứng từ sự ra đi của chính mẹ ông. Nó gồm 5 khúc. Khúc thứ nhất “Ngôi nhà trắng, chiếc quan tài và những cây phong ở đường Beach”. Khúc thứ hai “”Những cánh cửa sổ, hồi chuông và buổi sáng”. Khúc thứ ba “Những bông hoa birdflower, nắm đất và sự trở lại”. Khúc thứ tư “Chuyến bay muộn ký ức và mẹ ở xa”. Khúc thứ năm “Cõi mẹ về”. Thật rưng rưng khi ông viết: “Những ngôi mộ ở bên ngoài đất nước – ngàn năm sau hai tiếng Việt Nam – không ai gọi, không còn ai nhắc nữa! dúm xương xưa tanh lợm, thiếu nguồn”.  Nỗi bi kịch sinh tử của người xa xứ hình như đã được ông cảm nhận trước khi bước đến khoảnh khắc làm bạn với cái chết. Vĩnh biệt ông. Cầu mong linh hồn ông sớm bay về đất mẹ Việt Nam.
Chùm thơ Du Tử Lê:
Chân dung
tôi ngồi trong
nỗi tôi riêng
bên trong ghế
lạnh, ngoài hiên bóng rời
phòng tôi trần
thiết gương người
tường sơn kỷ
niệm, vách bồi dáng xưa
tóc người chảy
suốt cơn mưa
ngực thơm hoa
bưởi, môi đưa bão về
tôi ngồi giữa cõi-tôi-khuya
có ai gõ cửa? mà nghe lá chào
tưởng người ngọn
sóng lao xao
biển muôn năm
gọi tôi nào có vui
người về có
nén hương, thôi
cắm lên phần mộ
hồn tôi úa vàng
Chẳng lớn lao nào hơn nỗi cô đơn
cảm ơn kỷ niệm
nuôi em lớn.
như bóng nuôi
hình lúc thiếu nhau.
cảm ơn ngực ấm
nuôi thương bạn.
giọt lệ nuôi tình
sâu kiếp sau.
cảm ơn xa, vắng
nuôi em lớn.
như lá nuôi rừng
thuở thiếu niên.
cảm ơn chăn, gối
cho mưa, nắng.
quá khứ như
người có tuổi, tên.
cảm ơn định mệnh
nuôi em lớn.
hạt giống u tình
kia, tự tâm.
cảm ơn lênh
láng / đêm / da, thịt.
những ngón tay
thơm chọn lựa, mình.
cảm ơn thần
thánh nuôi em lớn.
như gió nuôi
trời lúc bão lên.
cảm ơn núi nhắc
sông xa, nhớ.
chẳng lớn lao
nào hơn cô đơn.
cảm ơn sách vở
nuôi em lớn.
con chữ nuôi
người trong giấc mơ.
hồn nuôi rưng
rưng từng khối đá.
tôi trầm mình
trong em, đời sau.
cảm ơn hiện tại không sau, trước.
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi, sao trở lại quê nhà
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi
bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa
muôn tuổi vẫn xanh rì
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi
cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối
biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi
những năm trước bao người ngon miệng cá
thì sá gì thêm một xác cong queo
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
cho tôi về gặp lại các con tôi
cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi
từ những mắt đã
buồn hơn bóng tối
khi tôi chết nỗi
buồn kia cũng hết
đời lưu vong tận
huyệt với linh hồn
(12-1977)
11/10/2019
Nguyễn Thụy Kha
Nguôn: VNN
Theo https://vanhocsaigon.com/

Tình yêu Hà Nội của một hồn thơ xứ Quảng

Tình yêu Hà Nội của
một hồn thơ xứ Quảng

Tế Hanh (1921-2009) là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền thơ Việt Nam hiện đại. Ông nổi danh từ trước năm 1945 với tập thơ Nghẹn ngào (1939) được giải Khuyến khích của Tự lực văn đoàn, sau đó là một trong 46 thi sĩ được Hoài Thanh – Hoài Chân giới thiệu trong tuyển tập Thi nhân Việt Nam. Sự nghiệp sáng tác thi ca hơn 70 năm của Tế Hanh gồm hơn 20 tập tác phẩm in riêng, 2 tuyển tập thơ cùng nhiều bài thơ dịch và một số tiểu luận phê bình văn học.
Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi muốn bàn riêng về một mảng đề tài đặc biệt trong thơ ông, đó là những bài thơ, câu thơ viết về tình yêu Hà Nội.
Tế Hanh vốn nguyên quán tại làng Đông Yên, phủ Bình Sơn, nay là xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, đồng hương với hai thi sĩ lãng mạn nổi tiếng đương thời là Nguyễn Vỹ và Bích Khê. Từ 1936 đến 1945, ông học ở Huế và tham gia các công tác văn hóa, giáo dục của Việt Minh. Từ 1949 cho đến 1954, Tế Hanh ở trong Ban phụ trách Chi hội Văn nghệ Liên khu V. Sau hiệp định Genève 1954, ông tập kết ra Bắc, sống và làm việc ở Hà Nội cho đến cuối đời. Như vậy, cuộc đời Tế Hanh có hơn nửa thế kỷ gắn bó với Thủ đô. Từ nhà ông chỉ bước vài chục bước chân là ra tới hồ Thiền Quang Hà Nội, đó đã trở thành một nguồn cảm hứng dồi dào và liên tục trong thơ ông, từ những bài thơ của thập niên 50 cho đến những bài thơ cuối đời.
Nếu đọc các tác phẩm của Tế Hanh, có thể nhận thấy, một trong những chủ đề, đề tài nổi bật trong thơ ông chính là những thi phẩm thể hiện tình yêu quê hương đất nước, bên cạnh những bài thơ về tình yêu đôi lứa. Trong 4 bài được Hoài Thanh chọn vào Thi nhân Việt Nam đã có tới hai bài về quê hương là Quê hương và Lời con đường quê, trong đó bài thơ Quê hương hiện nay vẫn được đưa vào SGK Ngữ văn lớp 8: Làng tôi vốn làm nghề chài lưới/Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông/Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng/Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Sau này, Tế Hanh còn nổi tiếng với bài thơ Nhớ con sông quê hương (1956): Quê hương tôi có con sông xanh biếc/ Nước gương trong soi tóc những hàng tre/ Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè/ Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng/ Chẳng biết nước có giữ ngày giữ tháng/Giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi/ Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi/ Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ/Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ/ Sông của miền Nam nước Việt thân yêu.
Tôi có cảm giác rằng, với một trái tim đôn hậu và tha thiết như Tế Hanh, có lẽ ông cũng đã dành cho Hà Nội một tình yêu như quê hương thứ hai của ông. Hà Nội – Thủ đô của cả nước, trái tim của dân tộc không chỉ mang trong nó những vẻ đẹp đặc trưng mà còn là một biểu tượng về lịch sử và văn hóa. Chính ngay trong năm 1956 (cùng thời điểm ra đời bài thơ Nhớ con sông quê hương), Tế Hanh đã viết Bài thơ tình ở Hàng Châu với nỗi nhớ đắm say Hà Nội. Nỗi nhớ người yêu, người bạn đời của ông đã hòa chung cùng với cái tình của không gian quê hương xứ sở: Bàn tay nào đã dệt nỗi lòng anh?/ Tiếng mùa xuân đem sóng vỗ bên mình/ Vơ vẩn tình chăn chập chờn mộng gối/Anh mơ thấy Hàng Châu thành Hà Nội/Nước Tây Hồ bỗng hóa nước Hồ Tây/Hai chúng mình cùng bước dưới hàng cây.
Dường như với chuyến đi xa nào cũng vậy, trái tim thi sĩ luôn thao thức nhớ về Hà Nội thân yêu, nơi có một bóng hình phụ nữ đang ngày đêm trông ngóng, nơi có mùi hoàng lan mùi hoa sữa ngọt ngào trên những con đường quen, nơi có những mặt hồ thơ mộng với từng hàng cây in bóng. Bài thơ Nhớ về Hà Nội hôm nay được viết trong chuyến đi công tác ở Kavkaz tháng 10/1979 là một thi phẩm như vậy: Ở đây rét lắm em ơi/ Con chim én cuối đã rời về Nam/Đêm nghe gió rít quanh thềm/ Nhớ về Hà Nội của em vô chừng/ Cuối thu trăng vẫn sáng trưng/ Hoàng lan hoa sữa thơm lừng không gian/ Hồ Tây, Hoàn Kiếm, Thuyền Quang/Nước thu sóng sánh soi hàng mây bay/Nhớ về Hà Nội hôm nay/Cây me cây sấu có thay lá vàng?/ Con chim én đã về Nam/Giục anh trở lại cầm bàn tay em.
Nếu như bên trên, chúng tôi vừa giới thiệu hai thi phẩm viết về nỗi nhớ Hà Nội khi nhà thơ đang ở những phương trời xa xăm thì trong một bài thơ khác, tình yêu Hà Nội lại được thắp lên ngay chính giữa lòng Thủ đô, gắn với tình yêu đôi lứa, gắn với bóng hình của một người con gái yêu thương nay đã rời xa. Thi sĩ yêu từng góc phố, vườn hoa, từng bóng cây của Hà Nội. Và độc đáo hơn cả là yêu chính sự trống vắng của một bóng hình. Điều này đã mang đến một tứ thơ độc đáo và mới mẻ cho bài lục bát Hà Nội vắng em: Thế là Hà Nội vắng em/ Anh theo các phố đi tìm ngày qua/ Phố này ở cạnh vườn hoa/ Nhớ khi đón gió quen mà chưa thân/ Phố này đêm ấy có trăng/ Cùng đi một quãng nói bằng lặng im/ Phố này anh đến tìm em/ Người qua lại tưởng anh tìm bóng cây/ Anh theo các phố đó đây/ Thêm yêu Hà Nội vắng đầy cả em. Đọc đi đọc lại bài thơ, càng đọc càng thấy yêu thương cái tình bơ vơ ngơ ngác của người thi sĩ. Những tưởng bài thơ sẽ rơi vào bi lụy bởi sự chia cách giữa hai con người, không biết đến ngày nào gặp lại. Nhưng không, chàng thi sĩ đã biến nỗi trống vắng ấy thành thi vị, coi Hà Nội như một nhân chứng đầy hồn vía cho mối tình của mình. Thế nên, tình yêu với một bóng hình không còn gặp lại đã được chuyển vị thành tình yêu Hà Nội, yêu thêm mỗi góc phố hàng cây đã từng in dấu kỷ niệm của hai người.
Những năm tháng cuối đời, tình yêu Hà Nội trong hồn thơ Tế Hanh dường như được dồn về một nơi quen thuộc, thân thương, nơi mà hàng ngày nhà thơ có thể dễ dàng dạo bước. Đó chính là hồ Thiền Quang. Năm tháng qua đi làm tàn phai nhiều thứ. Chàng trai Tế Hanh thuở nào nay đã trở thành một lão niên. Cặp mắt sáng tinh anh ngày xưa bỗng bị mờ dần trong những năm cuối đời. Nhà thơ đã tự bạch về tình yêu với hồ trong chính nỗi niềm đó. Bài thơ chia làm hai đoạn, tương ứng với hai thời kỳ khác nhau trong cuộc đời: Tôi đi quanh hồ hàng nghìn cây số/ Bước tôi đi đo thử bước thời gian/ Trong đời tôi những vui buồn sướng khổ/ Hồ biết không, hỡi hồ Thiền Quang (…) Đi dò dẫm bên hồ từng bước/ Tôi thấy hồ như một khối mơ hồ/ Tôi biết hồ nhờ nghe qua hơi nước/ Đi bên hồ như bước giữa hư vô (Hồ Thiền Quang). So với những bài thơ viết về Hà Nội ở giai đoạn trước, ta thấy có sự thay đổi đáng kể về sắc thái, giọng điệu, nhịp điệu. Nếu như những bài thơ về Hà Nội ở giai đoạn trung niên sôi nổi, dạt dào, nhịp điệu lôi cuốn, thì cho đến bài thơ về hồ Thiền Quang, nhịp điệu thơ chậm lại, bùi ngùi ngẫm ngợi. Cùng với tình yêu cho Hà Nội vẫn vẹn nguyên, trái tim thi sĩ có thêm những suy tư về thân phận, về kiếp người. Ngôn ngữ thơ vì thế trầm lắng hơn mà cũng da diết, khắc khoải hơn.
Trong số những sáng tác của Tế Hanh có một phần không nhỏ những bài thơ viết cho thiếu nhi. Những bài viết cho thiếu nhi hầu hết có âm hưởng trong trẻo, tươi sáng. Và ở khu vực tác phẩm này, ta cũng thấy thấp thoáng hiện lên bóng dáng một tình yêu Hà Nội. Bài thơ Hai ông cháu và cái hồ được gợi cảm hứng từ chính hồ Bảy Mẫu trong công viên Lênin là một điển hình cho những sáng tác này: Cháu mới lên bốn tuổi/ Chưa biết biển bao giờ/Mẹ bảo: biển rộng lắm/ Nhìn xa chẳng thấy bờ/Ông đi khắp bốn biển/Trở về già mắt mờ/Chỉ còn nhớ mặt nước/Không nhớ rõ bến bờ/Một chiều sương ông cháu/ Dạo công viên Lê nin/Đến trước hồ Bảy Mẫu/Ông cháu cùng đứng nhìn/Mở to đôi mắt bé/Cháu ríu rít: Ơi ông!/Chỉ toàn nước là nước/Biển là đây phải không?/Mắt ông thoáng mây qua/ Như thấy mà không thấy/Ông ôm cháu cười xòa:/-Ừ, biển của cháu đấy/Trước hồ hai ông cháu/ Cả hai đều ngây ngô/Cháu cho hồ là biển/ Ông thấy biển như hồ.
Nhà thơ Tế Hanh đã đi xa tròn 10 năm. Những con phố, những hàng cây, những mặt hồ của Hà Nội không còn được thấy bóng dáng ông chầm chậm dạo bước mỗi ngày như thể muốn ôm ấp nâng niu bao yêu thương trìu mến. Thế nhưng tình yêu Hà Nội ông để lại qua những vần thơ sẽ còn lại mãi trong lòng bao thế hệ người đọc. Cùng với những thi phẩm về Hà Nội, những bài thơ tình nổi tiếng một thời như Vườn xưa, Bão, Con đường vẫn còn lắng đọng trong trái tim bao đôi lứa đã từng yêu đương, từng đắm say những khung trời kỷ niệm…
17/10/2019
Đỗ Anh Vũ
Nguồn: THV
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà văn Dạ Ngân: Người đàn bà mang dấu chấm thiên di

Nhà văn Dạ Ngân: Người đàn bà
mang dấu chấm thiên di

Đời Dạ Ngân, kể cả văn chương, cái gì cũng muộn. Nhưng trong những cái mất, cái thua thiệt của tiền vận lại có cái viên mãn của hậu vận. Người đàn bà bé nhỏ, ngồi trong góc quán cà phê, nói những câu chuyện đời mình bằng những tiếng nói dịu dàng. Nhưng không thỏa hiệp. Giống như nhân vật Tiệp của tiểu thuyết “Gia đình bé mọn”, một đời không ngừng vượt những ngáng trở. Để được làm chính mình.
Sông Hậu nuôi Dạ Ngân lớn lên và nuôi chị một chặng đường văn chương dài. Đời người đàn bà viết văn như gió trên dòng sông, hun hút thổi những đam mê mà đôi khi người ta cũng cần một nơi neo giữ lại.
Chị nặng tình với con sông Hậu bởi nó mang một phần máu thịt của chị. Ở cuối dòng sông ấy, chị vẫn còn hai đứa con đã trưởng thành và biết hiểu cho mẹ.
Thu Uyên, cô con gái chia sẻ với mẹ như một người bạn lớn trong đời sống, cả về văn chương, tiền bạc và chuyện hạnh phúc, tình yêu. Cho đến bây giờ, khi chị đã trở thành bà ngoại và mọi chuyện đã bình yên, Thu Uyên vẫn là người bạn tâm giao, nghe cạn mọi điều, lấp vào khoảng trống tâm hồn của mẹ những điều ấm áp.
Con trai, có hiếu theo kiểu khác, ngoan lành, chí thú, đang đi Cao học ở Australia. Chị đã có cả thảy 10 đầu sách, hai lần đò, những đứa con hiếu đễ và ba đứa con riêng của chồng cũng hiếu đễ nốt, được thế cũng có thể xem là may mắn lớn.
Bởi thế, dù giữa Hà Nội 15 năm, giọng Dạ Ngân, cả trong văn và trong đời, vẫn hồn hậu, chất phác, nghe như cất lên từ đồng bãi, từ phù sa của dòng sông. Dòng sông ấy cho chị cả một cách nhìn đời, không nghiệt ngã mà luôn “tự AQ” theo phép “thắng lợi tinh thần”, để khi rơi vào vực sâu nhất của bi kịch, người ta vẫn không gục ngã.
Cuộc đời chị, như một sự báo trước của số phận, là một cuộc đời không suôn sẻ. Người đàn bà mang cái bớt thiên di giữa gan bàn chân của mình. Cái bớt ấy mang đến cho Dạ Ngân một tính cách độc lập, mạnh mẽ và quyết liệt.
Chị cười nhẹ, nói cũng nhẹ, nhưng luôn dứt khoát và khẳng định với những lập luận chắc chắn. Chị bảo, nếu như thuận theo ý Tổ chức, nếu chị không quyết liệt con đường văn chương, có thể chị đã trở thành một quan chức, sự nghiệp sẽ hanh thông nhiều. Nhưng chị là một người viết.
Khi Sở Văn hóa Thông tin Cần Thơ muốn đưa chị đi Trường Chính trị quốc gia để thành cán bộ nguồn thì chị khóc, năn nỉ để được sang Hội Văn nghệ để ngồi viết văn. Khi chị quyết theo nghiệp văn chương (năm 1981 có truyện in ở Văn nghệ) cũng là lúc chị nhận ra chị và chồng là hai đường thẳng song song không có chỗ gặp.
Hoàn toàn không phải là chuyện mâu thuẫn mang tính nhật thường của một gia đình trẻ, mà là ở ý hướng trong cuộc sống không trùng nhau. Giờ Dạ Ngân đã nói về những năm tháng ấy thật nhẹ nhàng, bởi mọi chuyện đã ở một ngăn xa của ký ức.
Nhưng khi ấy, tôi đồ rằng, chị đã phải vật vã nhiều, nghĩ suy đến còm cõi, để đưa ra một quyết định mà sau này, như một cái án treo lơ lửng trong lương tâm khi nghĩ đến quyền lợi của những đứa con.
Chia tay nhau, chị mang con đến ở nhờ cơ quan Hội Văn nghệ, sống và viết. Trong mắt của một số người, chị giống như một “con chiên ghẻ” của Chúa, một công chức với 7 năm không được nâng một bậc lương nào.
Vậy mà chị vẫn cứng cỏi sống, vượt mọi dư luận, cả những ngáng trở để đến với sự chọn lựa của đời mình, văn chương và sự tri kỷ đôi lứa.
Nói về những năm tháng bị lên án mạnh mẽ trong một tỉnh nhỏ của người phụ nữ viết văn, tôi lại liên tưởng tới Nguyễn Ngọc Tư của năm 2006. Sự so sánh nào cũng khập khiễng.
Dạ Ngân và Nguyễn Ngọc Tư ở hai thế hệ khác nhau, hai hoàn cảnh khác nhau và dư luận phản ứng về những vấn đề cũng khác nhau. Nhưng họ đều là những người phụ nữ miền Tây viết văn bằng bản năng và trải nghiệm của chính mình.
Nguyễn Ngọc Tư khi bị rắc rối bởi sức nặng của những con chữ vẫn còn điểm tựa là gia đình và bạn bè văn chương, những người yêu mến chị tạo nên sức mạnh thông qua kênh Internet một cách nhanh chóng và không kém phần hiệu quả.
Còn hai chục năm trước, khi Dạ Ngân bị “ném đá” vì đã viết “Con chó và vụ ly hôn”, chắc chị cũng phải kiêu hãnh lắm mới tồn tại được. Những năm đầu của thập niên tám mươi ấy, “Con chó và vụ ly hôn” gây ồn ào cho người đọc ngang bằng với dư luận ồn ào về cuộc tình của chị, nghẹt thở chứ chẳng chơi.
Dạ Ngân hay nói về bản lĩnh và số phận, chị kết luận, tính cách chị là tính cách động, mọi thứ đều động và chị rút ra kết luận, mình phải lập nghiệp xa quê.
Người viết văn tỉnh lẻ có một cái hạnh phúc là được yên tĩnh, nếu họ đủ bản lĩnh thì họ sẽ là một con cá lớn trên dòng sông của mình. Nhưng đôi khi người ta sẽ hoảng, sẽ thấy ngợp và không biết mình ở đâu và mình là ai nữa.
Chị ra Hà Nội, 41 tuổi mới bắt đầu đi học đại học, bắt đầu một chặng trần ai khác.
Tôi cứ hình dung Dạ Ngân chính là nhân vật Tiệp trong tiểu thuyết “Gia đình bé mọn” của chị. Tiệp là đại diện cho khao khát sống bản năng và thành thật của con người trước những biến động xã hội và cả những lề thói đôi khi hủ lậu và khắc nghiệt, biến con người hành xử với nhau một cách bạo tàn, giả dối.
Tất nhiên, cuốn tiểu thuyết ấy không phải là một cuốn tự truyện và hình dung của tôi chỉ là mong ước của một người đọc. Dạ Ngân nói, chị không viết tự truyện mà đã tiểu thuyết hoá một mặt cắt của đời sống mà chính mình và nhiều người thân là nguyên mẫu.
Nói như nhà văn Trần Thiện Đạo, “Gia đình bé mọn” là lời tự thú chân thật. Người phụ nữ nhỏ bé ba mươi tám cân, sống trong một vùng đất nhỏ, vùng vẫy khỏi những ràng buộc để đi đến đích hành trình mà mình tìm kiếm.
Dạ Ngân nói, chị đặc biệt thích cuốn “Người tình” của Marguerite Duras, nhưng Marguerite Duras là một đẳng cấp nhà văn của một nền văn minh lớn.
Chị là người phụ nữ đi từng nấc một trong cuộc sống, bươn chải và tìm kiếm cho mình một cuộc sống vừa đủ để tồn tại.
Chiến tranh, thất học, mặt bằng tri thức chung quá thấp, mình tài thì cũng tài vừa chứ lấy đâu ra ánh sáng của Paris? Cuộc sống Hà Nội dữ dằn, luôn thách thức tính cách động đậy và trung thực đến mức chát chúa của chị.
Bốn năm học Trường Viết văn Nguyễn Du rồi những năm đầu làm việc ở một tờ báo luôn bị xem là “trung tâm của nhạy cảm và phức tạp”, chị phải gò mình để sống và viết cho báo khác bằng những bút danh khác để có tiền vào Nam ra Bắc, ngoài mươi truyện ngắn mà tự chị thấy chúng khó vượt “Con chó và vụ ly hôn”.
Mãi đến năm 2002 đến nay, Dạ Ngân bảo chị mới thu xếp ổn thỏa hơn với môi trường thủ đô nên viết được nhiều hơn.. “Miệt vườn xa lắm”, “Gia đình bé mọn”, hàng trăm tản văn và hàng ngàn kỳ thư Tư vấn gia đình với cái tên Dạ Hương đã dần thoát ra khỏi cái khuôn của Báo Nông nghiệp Việt Nam, cái chính vẫn là sự gánh vác thầm lặng nhưng hết sức gian nan của mảng văn xuôi Tuần báo Văn nghệ.
Chị khiến độc giả tìm thấy lại chị sau mấy tập truyện viết ở Cần Thơ, bền bỉ, chân thực, cuối cùng chị đã bật lên bằng ánh sáng mới của tình yêu và những va đập tất yếu của đất thủ đô.
Tất cả những điều đó làm nên một Dạ Ngân khác, neo đậu lại  với bạn đọc, bởi sự chân thực chứ không phải vì những kỹ thuật tiểu thuyết hay những ý tưởng đao to búa lớn nào.
Tôi đọc chị, nghe chị nói về công việc viết văn bằng lời lẽ khiêm nhường, bỗng nhận ra người đàn bà này rất biết mình biết người, vì vậy mà chị được tiếng là dễ sẻ chia với thành công của người khác.
Dạ Ngân nói, chị sắp chia tay Báo Văn nghệ, nơi chị đang làm Trưởng ban Văn xuôi. Chị về hưu, để viết văn.
Vậy là chị đã ở Hà Nội tròn 15 năm, đủ để viết một cuốn tiểu thuyết chắc sẽ có tên là “Sống ở Hà Nội”, chị cười, bảo chắc nó cũng sẽ ngổn ngang như Hà Nội vậy. Biết bao chi tiết của một thời.
Và cái cảm giác của người làm biên tập, là người gác đền trong một ngôi đền đã không còn thiêng như mình mong ước nữa. Mà lỗi lại không phải ở mình, mà ở những khâu nào đó khiến sự bộc trực, thẳng thắn của một người phụ nữ Nam Bộ cứ bị tà đi, như là mình đang đi lạc vậy.
Cũng hay, chị lại ngậm ngùi AQ, nhà văn mà không có cái gì để bức xúc thì lấy động lực đâu để viết văn đây? Chị muốn rời bỏ công việc công chức, để viết 3 cuốn tiểu thuyết mà chị đang ấp ủ.
Khi tôi viết những dòng này thì Dạ Ngân đã “bỏ trốn” khỏi Hà Nội. Chị đã đặt phòng tại một khu nghỉ dưỡng, trốn ông chồng hiếu động gấp trăm lần mình, trốn bếp núc, trốn những cuộc điện thoại và trốn cả những buổi họp hành, để một mình với một cuốn sổ và vài cây bút.
Chị đang viết cuốn tiểu thuyết về hậu chiến. Chị sẽ “mất tích” trong hai chục ngày và một đứa con tinh thần nữa chắc sẽ được sinh thành như cái cách mà chị đã sinh thành “Gia đình bé mọn”…
Rồi sang đầu năm 2008, chị cùng chồng sẽ “thiên di” vào Sài Gòn. Chị AQ: “Ở xa thì Hà Nội sẽ rõ hơn, chắc sẽ dễ viết về nó hơn”.
Chị bảo: “Con chăm cha không bằng bà chăm ông”, miền Nam có lợi cho sức khỏe người già, nhà văn Nguyễn Quang Thân U70 rồi, và di chuyển để về gần với các con, xa nhau như thế đủ rồi.
Không đi không được, vì đó là số phận, bởi chị trót mang trên mình dấu chấm thiên di…
18/10/2019
Dương Bình Nguyên
Nguồn: ANTGCT 2007
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Mộng dưới hoa" và sự tài hoa của Đinh Hùng - Phạm Đình Chương

"Mộng dưới hoa" và sự tài hoa
của Đinh Hùng - Phạm Đình Chương

Khi ở tuổi thanh xuân, tôi đoán chắc rằng, những thanh niên nam nữ trạc tuổi tôi đều ít ra một vài lần đã lẩm nhẩm mấy câu thơ trong bài thơ Mộng dưới hoa của thi sĩ Đinh Hùng và khi bài thơ này được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc lại càng thuộc lòng, không chỉ lẩm nhẩm như đọc “rap” mà là hát, hát một cách tình tứ khi yêu nhau, bên cạnh nhau và cả khi đã xa cách.
Không chỉ thế, mãi đến bây giờ hơn nửa đời người tôi vẫn thường lẩm nhẩm những câu thơ này và cất tiếng hát bất chợt những câu hát này mỗi khi hoài niệm, ngập tràn cảm xúc về hình bóng của “ai đó” đã đi qua đời mình, đi một cách lặng lẽ, hay thật sự ồn ào gây ra những vết thương sâu, để nhớ mãi.
Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Tóc xanh lả bóng dừa hoang dại
Ấu yếm nhìn tôi không nói năng…
Đời sống trải ra dưới chân đi không phải chỉ có con đường gai góc. Đời sống cùng một lúc cũng mở cho người những cánh cửa mơ mộng khác hơn. Ở đó giấc mộng đẹp đầu tiên khi người niên thiếu bao giờ cũng là một đối tượng hiện thân cho tình yêu. Người con gái ấy với đầy đủ quyền năng sẽ đưa người ta đi trên cây chổi thép, tới những bến bờ hư ảo nhất hiện tại.
Gọi tình tình yêu ấy là tình đầu đời và người yêu sẽ cùng chung một giấc mộng. Đường bay của cây chổi thép sẽ không có ga nào gọi là ga cuối cùng. Đời sống trong một giấc mộng là đời sống trôi hoài không nghỉ ngơi.
Có nghĩa, trí tưởng tượng còn là một vùng thênh thang mây trắng và cái “chưa gặp” ấy được hiểu như một định mệnh còn chờ để ban phân phát cho một người nào.
Cái tuyệt vời nhất nói theo nghĩa của hạnh phúc bao giờ cũng là cái “chưa” hơn là cái “đã có”. Chưa có nên vẫn nghĩ và những cánh cửa như thế cứ mở hoài với những đôi mắt trong tim, muôn nơi và muôn thuở.
Hồi còn niên thiếu, một cậu học sinh lớp đệ tam nhiều mơ mộng và nhiều nghi ngờ, tôi yêu thơ Đinh Hùng như chính những mơ mộng và những nghi ngờ đó.
Tôi đã thuộc vanh vách bài thơ Mộng dưới hoa, chép không biết bao nhiêu lần vào giấy vở để tặng học trò con gái, những tà áo “tiểu thư” đó làm cuống quýt mắt tôi như những sợi chỉ mộng đã rối ngây thơ trong lòng. Nhưng tôi quả thật cũng chưa hiểu được cái đẹp tuyệt vời và sâu kín nhất của bài thơ mà bắt đầu là câu:
“Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng”
Sao lại “vẫn” mà không phải “đã”? Bình thường nếu ở một người khác chứ không phải Đinh Hùng câu này chắc chắn phải dùng chữ ”đã” thay vì chữ “vẫn”. Chưa gặp em tôi (đã) nghĩ rằng, có nghĩa là chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng có nàng thiếu nữ đẹp như trăng, như hoa, hay đẹp như bất cứ hình dung từ nào khác.
Điều này còn nằm trong dự đoán, mà dự đoán có thể đúng mà cũng có thể sai. Bởi vì nàng thiếu nữ khi chưa gặp, tôi đã nghĩ đẹp như trăng nhưng khi tôi gặp rồi thì nàng thiếu nữ có thể sẽ đẹp một cách khác. Đó là điều hoàn toàn dành cho sự bất ngờ.
Ở đây, Đinh Hùng đã dùng chữ “vẫn”, tức là tôi đã xác định rõ ràng rồi dù chưa gặp, người thiếu nữ ấy cũng vẫn đẹp như trăng. Chữ “vẫn” quá tuyệt vời và điều này càng chứng tỏ rằng không phải chỉ là một thi sĩ làm thơ hay, mà còn là một thi sĩ tài hoa.
Dĩ nhiên không phải căn cứ vào một bài Mộng dưới hoa do Phạm Đình Chương phổ nhạc mà thôi. Thơ của Đinh Hùng nhiều lắm, đó là Đường vào tình sử hành trang của những người niên thiếu đi vào tình yêu lần đầu.
Sống với tình yêu thứ nhất là sống với người trong mộng, cõi mộng đầy tràn ánh trăng của độ mười sáu, mười bảy. Và Phạm Đình Chương cũng không chỉ phổ nhạc duy nhất một bài Mộng dưới hoa, những Nửa hồn thương đau, Dạ tâm khúc, Buồn đêm mưa, Người đi qua đời tôi. Đó cũng toàn là thơ phổ nhạc.
Nhưng với Mộng dưới hoa Đinh Hùng và Phạm Đình Chương như hiểu nhau hơn ở một độ nồng của thơ và một độ cao của nhạc. Thơ, nhạc bay bổng, câu liền câu, ý liền ý đến nỗi nếu không thuộc thơ Đinh Hùng thì nhạc của Phạm Đình Chương sẽ làm ta thuộc thơ Đinh Hùng, che những nốt nhạc ấy lại, nó là một bài thơ trọn vẹn của một thi sĩ.
Nhạc phổ thơ như thế mới nói được hết cái tài hoa của cả thi sĩ lẫn nhạc sĩ.
Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Tóc xanh lả bóng dừa hoang dại
Âu yếm nhìn tôi không nói năng…
Đó là bốn câu đầu của bài thơ (và nhạc). Đó cũng là sự nghi ngờ, lạnh bạc của một giấc mộng. Em đã hiện đến, vẫn đẹp như tôi nghĩ. Tóc xanh là bóng dừa hoang dại, âu yếm nhìn tôi không nói năng. Không sai vào đâu được nỗi ngỡ ngàng đó của một khoảnh khắc thời gian dừng lại với hai người gặp nhau trong giấc mộng. Hò hẹn bao giờ qua những cái nhìn âu yếm ấy?
Câu hỏi hoàn toàn không được trả lời vì đó là câu hỏi của một hạnh phúc tràn đầy như những sợi máu vừa căng lên làm nóng hổi trái tim ta.
Nếu bước chân ngà có mỏi
Xin em dựa sát lòng anh
Ta đi vào tận rừng xanh
Vớt cánh rong vàng bên suối…
Yêu nhau là nương tựa vào nhau những khi đổ nát, tan vỡ. Tôi vẫn nghĩ như thế nhưng tình đầu không bao giờ là một hạnh phúc đến với ta rồi ở mãi. Thế nên tôi vẫn chưa, hay không còn dịp nào để nghe những bước chân mệt mỏi của em ghé sát vào tôi và chúng ta đưa nhau vào tận rừng xanh vớt cánh rong vàng bên suối. Khi người yêu đã xa cách nghìn trùng tôi mới bàng hoàng với bốn câu (thơ hay nhạc) đó?
“Cánh rong vàng” đã tượng trưng cho một hạnh phúc mong manh. Có cặp tình nhân nào vớt được “cánh rong vàng” bên suối ấy chưa? Chưa, nó hoàn toàn là một giấc mộng.
Bước khẽ cho lòng nói nhỏ
Bao nhiêu mộng ước phù du
Ta xây thành mộng nghìn thu
Núi biếc sông dài ghi nhớ
Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề
Mây hồng giăng tám ngả sơn khê
Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng
Và mộng em cười như giấc mê.
Tôi đã đánh mất tình yêu đầu tiên từ lúc nào. Thế nên khoảng thời gian yêu nhau hãy còn bàng hoàng lắm, và cơn mộng của Đinh Hùng – Phạm Đình Chương chụp xuống thành một bản trường ca, hát hoài qua những năm tháng, ngày tháng lênh đênh. Làm gì còn được một câu “Bước khẽ cho lòng nói nhỏ” để nói với nhau?
Chính điều đó đã làm cho tôi hiểu hơn lúc nào, bao giờ tình yêu cũng chỉ là một bóng hoa ngã xuống bàn tay mộng, và mộng em cười như giấc mê.
Quả thật, sống bây giờ là sống cho những cơn mộng đã xế mất ngang đầu, hụt hẫng bể dâu và có lẽ, cũng đã tan tành để mãi mãi đau xót, hối tiếc lại khoảng ngày nào, “chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng”.
Thi sĩ Đinh Hùng nổi tiếng rất sớm trong làng văn, làng báo Hà Nội, ông là em rể của thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Thi sĩ Đinh Hùng nổi tiếng về thơ nhưng tác phẩm đầu tay của ông lại là tập văn xuôi Đám ma tôi được NXB Tân Việt in năm 1943 (ông sinh ngày 3-7-1920).
Trước đó Đinh Hùng đã có thơ đăng trên các báo: Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, Giai phẩm đời nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Khi bài thơ Kì nữ ra đời và sau đó được nhà thơ Thế Lữ giới thiệu trong truyện Trại Bồ Tùng Linh đã đưa tên tuổi Đinh Hùng lên đỉnh cao và khẳng định ông là một thi sĩ tài hoa với thi ngôn và thi tứ đầy ma lực. Điều này thể hiện rõ nhất trong thi phẩm Mê hồn ca (1954).
Tháng 8-1954, khi vào Nam, Đinh Hùng cộng tác với nhật báo Tự do của ông Phạm Việt Tuyền, cùng thời với Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong… Khi nhật báo Tự do đình bản, Đinh Hùng cộng tác với đài phát thanh Sài Gòn, phụ trách ban thi ca Tao Đàn, một chương trình ngâm thơ nổi tiếng lúc bấy giờ và từng tạo nên những giọng đọc thơ nức tiếng như: Hồ Điệp, Quách Đàm, Tô Kiều Ngân, Hồng Vân, Hoàng Oanh…
Trong thời kỳ làm báo ở miền Nam, thi sĩ Đinh Hùng còn ký nhiều bút danh khác như Thần Đăng khi làm thơ trào phúng, Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết, đặc biệt là tiểu thuyết dã sử như Cô gái gò Ôn khâu, Đao phủ thành Đại La. Năm 1961 Đinh Hùng cho ra đời tập thơ Đường vào tình sử đoạt giải “Văn chương và thi ca” năm 1962.
Năm 1967 Đinh Hùngcho ra mắt tuần báo Tao Đàn thi nhân nhưng báo chỉ ra được 2 số thì ông mất vì bệnh ung thư gan lúc đang nằm điều trị tại Bệnh viện Bình Dân (5h sáng ngày 24-8-1967) khi chỉ mới 48 tuổi.
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương (sinh năm 1929) tại Bạch Mai, Hà Nội, cũng là một nhạc sĩ tài hoa, nổi tiếng rất sớm, không chỉ là một nhạc sĩ mà ông còn là ca sĩ với tên Hoài Bắc, chủ trương thành lập ra ban hợp ca Thăng Long (1951) nổi tiếng ở Hà Nội với các thành viên đều là người trong gia đình gồm: Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Hoài Trung (Phạm Đình Viêm), Thái Hằng (Phạm Thị Quang Thái), Thái Thanh (Phạm Thị Băng Thanh).
Trước đó, những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương cùng với các anh em trong gia đình như vừa nêu đã gia nhập Ban Văn nghệ quân đội ở Liên khu IV và đi ca hát phục vụ chiến trường.
Thời kỳ này Phạm Đình Chương đã sáng tác những bản nhạc có giai điệu hùng tráng, tươi trẻ đầy hào khí như: Ra đi khi trời vừa sáng, Thanh niên tiến lên, Bài ca tuổi trẻ, Mười thương, Sáng rừng, Hò leo núi, Hội trùng dương…
Năm 1953 nhạc sĩ Phạm Đình Chương kết hôn với ca sĩ Khánh Ngọc rồi cùng gia đình vào Nam năm 1954. Sau khi vào Nam, gia đình nhạc sĩ Phạm Đình Chương đều tiếp tục làm nghệ thuật, Ban hợp ca Thăng Long biểu diễn ở các phòng trà, vũ trường.
Nhạc của Phạm Đình Chương cũng chuyển hướng sang phong cách trữ tình, lãng mạn, sâu lắng và đầy tâm trạng như: Xuân tha hương, Buồn đêm mưa, Màu kỷ niệm, Xóm đêm, Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội… Và một ca khúc không thể không nhắc đến mỗi dịp xuân về của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là Ly rượu mừng.
Khi cuộc hôn nhân với ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã có những ca khúc đau xót, da diết như: Nửa hồn thương đau (phổ thơ Thanh Tâm Tuyền), Người đi qua đời tôi (phổ thơ Trần Dạ Từ)…

Riêng với việc phổ thơ, nhạc sĩ Phạm Đình Chương được đánh giá là một trong số rất ít nhạc sĩ phổ thơ tài hoa đã chuyển hóa thơ thành đôi cánh bay cao, giúp thơ hay hơn, nhiều màu sắc hơn, nâng hồn vía thơ bay bổng hơn để được nhiều người nhớ và thuộc hơn qua nhạc. Tài hoa phổ thơ của Phạm Đình Chương xếp ngang hàng với nhạc sĩ Phạm Duy.
Quả vậy, một số bài thơ khác của các nhà thơ được ông phổ nhạc đã khẳng định điều này như: Lệ đá xanh (phổ thơ Thanh Tâm Tuyền), Đôi mắt người Sơn Tây (phổ thơ Quang Dũng), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (phổ thơ Du Tử Lê)… Và bài Mộng dưới hoa (phổ thơ Đinh Hùng) là một ví dụ.


Sau năm 1975 nhạc sĩ Phạm Đình Chương định cư tại Mỹ, ông mất ngày 22-8-1991.
18/10/2019
Từ Kế Tường
Nguồn: ANTG
Theo https://vanhocsaigon.com/

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của  Anatole France, "Tôi đi học"  của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...