Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

Nữ sử Đạm Phương và các nhân vật đồng thời

Nữ sử Đạm Phương
và các nhân vật đồng thời

(Đề tài ở buổi hội thảo tại Lan Viên Cổ Tích 2, đường Bạch Đằng, TP Huế ngày 28 tháng 6, 2026 do TS Thái Kim Lan tổ chức)
Xã hội ta trước thế kỷ XX, văn hóa phong tục vẫn nặng văn hóa phong tục Khổng Mạnh, nhứt nam viết hữu, thập nữ viết vô nên con gái không được đi học. Thế hệ bà nội, bà ngoại tôi không ai biết chữ dù là con nhà con quan! Thế hệ các cô tôi có gia đình cũng không cho con gái đến trường. May mắn cho các cô tôi được cho đi học bài bản. Ông nội tôi là người đi trước thời đại! Và trong thời kỳ phong kiến ấy có một quận chúa cành vàng lá ngọc cũng được đi học, Công Nương Đồng Canh, cháu nội Vua Minh Mạng. Cho thấy triều đình nhà Nguyễn cũng khá thức thời, cởi mở cho nữ giới được phát triển tiềm năng. Hai vị hoàng tử bác của cô là Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương được Vua Tự Đức khâm phục, trân trọng ngang với thi nhân đời Đường bên Tàu:
Văn như Siêu Quát vô tiền Hán
Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường!
Không hổ là con cháu Tùng Tuy, Công Nương Đồng Canh sớm phát hiện tài năng là một nữ sử của thời đại với bút hiệu Đạm Phương. Bà làm thơ, viết văn, viết bình luận về vai trò phụ nữ trong xã hội, về nữ quyền và cho đăng trên nhiều tờ báo trong nước, gồm cả báo riêng của phụ nữ. Từ năm 1918 đến 1929 bà gởi hơn 200 bài viết cho các báo. Bà là ký giả nữ đầu tiên viết bài cho Nam Phong Tạp Chí của học giả Phạm Quỳnh. Bà cọng tác với tờ Phụ Nữ Tùng San ở Huế do nhóm nữ lưu tiên phong thành lập năm 1929.
Quý bạn cũng biết nữ sử là danh từ Hán Việt chỉ người phụ nữ ghi chép sử sách, văn thư, là một vị nữ quan trong cung đình phong kiến xưa. Trong văn học và văn hóa, ‘nữ sử’ được dùng như một danh xưng trân trọng để chỉ các bậc trí thức nữ, hoặc nhà hoạt động xã hội nữ có kiến thức uyên bác, đóng vai trò lớn trong việc lưu truyền văn hóa nước nhà. Bà Đạm Phương là một nữ sử đúng nghĩa đen vì rất uyên bác về văn hóa truyền thống, thông thạo Hán học, giỏi chữ Pháp và ngôn ngữ Việt. Năm 20 tuổi, bà được mời vào cung phụ tá hoàng hậu và dạy học cho các công chúa, được triều đình phong chức nữ sử. Bà cũng xứng đáng là một nữ sử theo nghĩa bóng, là một influencer lớn đã để lại dấu ấn cho nhiều thế hệ. Bà là một nhà trí thức, có công đẩy mạnh phong trào lưu truyền văn hóa, giải phóng phụ nữ, khai sáng nữ quyền. Bà cho rằng chìa khóa cho việc nâng cao vị thế của phụ nữ là giáo dục.
Trong bài “Muốn cho nữ lưu biết chức nghiệp, phải có Học hội nữ công.” Bà viết: “Nước mình đàn bà con gái không phải không có óc thông minh, cũng không phải không có tài năng song không biết cách cùng nhau mà mưu sự nghiệp hạnh phúc chung, làm cho sự nghiệp về đường nữ công là cái phận sự của mình, phải nên chăm chút để gây dựng một nền giáo dục hoàn toàn mới mong nở mày nở mặt với người ta.” Bà kêu gọi người phụ nữ muốn giải phóng mình thì phải học chữ, học nghề để có thể bước ra khỏi xó bếp, thoát ra khỏi cái ách tam tòng, sống tự lập, góp phần phát triển kinh tế, phục vụ nước nhà!
Bà Đạm Phương là một nhà hành động, không chỉ hô hào suông. Bà kêu gọi nữ giới thành lập Học Hội Nữ Công. Hội ý với cụ Phan Bội Châu, Học Hội Nữ Công được thành lập vào cuối tháng Tư, 1926 nhằm đoàn kết, giáo dục phụ nữ nước nhà. Hiệp hội quy tụ khá nhiều nhân vật có uy tín ở Huế với Bà Đạm Phương là Hội Trưởng, bà Trần Quang Khải là Hội Phó, Tổng thư ký là bà Trần Thị Như Mân cùng các vị ủy viên là phu nhân của quý ông Nguyễn Khoa Tú, Ưng Úy, Thân Trọng Phước, Nguyễn Bá Trác. Mục đích của Hội là dạy nữ công gia chánh, may vá thêu thùa, dạy nghề để phụ nữ có thể độc lập về mặt kinh tế. Quy mô của Hội ngày càng phát triển. Bà Đạm Phương cử cán bộ ra Hà Đông, Hà Nội, vào Quảng Nam học thêm các nghề mới như dệt vải, ươm tơ, nuôi tằm để về chỉ vẻ lại cho chị em trong Hội. Bà mời thầy về dạy kỹ thuật mới như đã mời ông Diễm ở Hà Đông về dạy cách dệt vải khổ rộng với năng suất cao hơn kiểu dệt cũ. Bà cũng đi vào Nam, ra Bắc giới thiệu mô hình Nữ Công Học Hội và khuyến khích thành lập những hội tương tự ở địa phương.
Nữ Công Học Hội thành công được coi là một sự kiện lịch sử quan trọng trong công cuộc nâng cao vị trí phụ nữ trong xã hội thời bấy giờ. Hoạt động của Hội đã gây được tiếng vang khắp cả nước. Nhiều học sinh ở các tỉnh miền Trung, Saigon, Hanoi tự động tổ chức chi nhánh tại địa phương mình. Nữ sử Đạm Phương thật đúng là một vị nữ lưu hoạt động cho bình đẳng giới (Feminist). Bà cũng khởi động phong trào nữ lưu tiên phong cùng bà Trần Thị Như Mân, Hoàng Thị Vệ (vợ bs Thân Trọng Phước), Hồ Thị Hạnh (Sư Bà Diệu Không) và nhiều phụ nữ khác. Bà Như Mân là cựu học sinh Đồng Khánh (hình năm 1931) và là phu nhân của học giả Đào Duy Anh.
Nhớ khi kiểm tài liệu để viết cuốn Lá Trúc Che Ngang – Chuyện tình của cô tôi, tôi thấy cô tôi (Hoàng Thị Kim Cúc) có nhắc tên bà Đạm Phương. Cô đã trò chuyện với bà về vấn đề phụ nữ. Cô cũng rất quan tâm đến vấn đề nữ giới và vai trò của người đàn bà ở trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Năm 1935, cô gởi bài “Thơ cho chị Thanh Hà” cho báo Tràng An ở Huế qua mục Tiếng Oanh.
Năm 1936, cô gởi bài “Thiên chức đàn bà” cho báo Tràng An. Cũng năm 1936, cô gởi bài “Vài nguyên nhân làm ngăn trở bước đường tiến hóa của chị em con nhà khuê các” cho báo Đàn Bà ở Hà Nội. Mồng 6, tháng 12, 1941 cô viết thư trả lời bà Thụy An, báo Đàn Bà ở Hà Nội, về “Chị em trí thức ở thần kinh.” …
Nói đến nữ lưu tiên phong của Huế mà không nhắc đến tiểu thư Hồ Thị Hạnh là một thiếu sót lớn! Trước khi trở thành nhà tu hành Thích Nữ Diệu Không, cô Hồ Thị Hạnh, con út của quan đầu triều Hồ Đắc Trung, cũng là một bậc nữ lưu tiên tiến. Cô tốt nghiệp trường Đồng Khánh, giỏi tiếng Pháp, tinh thông Hán học và rất năng nổ, chung tay cùng chị em sinh hoạt xã hội, dấn thân vào các hoạt động từ thiện, khích động phong trào giải phóng phụ nữ, đòi quyền bình đẳng với nam giới, quyền làm người. Cô từng là thành viên sáng lập Học Hội Nữ Công và làm thủ quỹ cho hội cùng với bà Tổng thư ký Như Mân. Con nhà danh gia vọng tộc, cô Hồ Thị Hạnh nhất định không thiếu vương tôn công tử muốn kết thân, nhưng cô chọn làm vợ kế của một người bị bệnh lao thời kỳ cuối có 6 con mất mẹ là hạnh nguyện bồ tát của cô. Cô thưa với thân phụ, “Con muốn nuôi các con ông ấy.” Ông ấy là ông Cao Xuân Xang, con cụ Cao Xuân Dục, quan Phụ Chính Đại Thần, được phong Đông Các Điện Đại Học Sĩ khi về hưu.
Không có chức quan nào to hơn! Ông Cao Xuân Xang học ở Pháp về cũng làm quan ở Cơ Mật Viện. Ông còn vẽ giỏi, thơ hay. Ông bị bênh lao khi vợ qua đời nên không thể tục huyền, không dám hỏi cưới ai. Tiểu thư Hồ Thị Hạnh phải mở lời với ông trước và đem 6 người con của ông về nhà mình nuôi dưỡng. Ba năm sau bên nhà ông xin cưới để cô được danh chính ngôn thuận làm mẹ. Đám cưới buồn như một đám tang. Trong hồi ký “Đường Thiền Sen Nở” Sư Bà viết: “Ngày chú rể lên lạy hai cụ, cả nhà hai họ đều khóc. Khi các con ra lạy ông bà ngoại và cha mẹ, họ hàng đều khóc như là đám ma.” Bà làm bài thơ Đám Cưới như sau:
Đám cưới hay là một đám tang?
Cả nhà, lớn, nhỏ thảy đều than
Chồng chung, bệnh hoạn tình phai nhạt
Vợ kế, kề vai gánh đoạn tràng
Kẻ nói là ngu, người nói dại
Người cho là dở, kẻ cho gan
Biết chăng chỉ có người trong cuộc
Gạy mái thuyền từ phải biết sang
Đúng là chỉ có người trong cuộc mới biết phận mình phải “gạy mái thuyền từ” để thực hành hạnh nguyên bồ tát vì bản thân đã sớm hiểu câu “phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật!” Đám tang xảy ra vào tháng 3, năm 1930, 11 tháng sau ngày đám cưới buồn ấy. Ông ra đi ngay sau khi được nhìn mặt đứa con thứ 7 vừa chào đời. Bà nuôi con trai được cứng cát rồi gởi cho người chị. Bà gởi người con gái đầu của chồng cho vợ chồng người anh chồng rồi đưa hết 5 người con vào nội trú hai trường Quốc Học và Đồng Khánh. Bà cũng gởi gắm nhờ chị mình trông nom rồi thí phát xuất gia năm 1932, với pháp danh Thích Nữ Diệu Không. Chị bà tên Hồ Thị Huyên, phu nhân của cụ Ưng Úy, về sau cũng xuất gia là Sư Bà Diệu Huệ.
Một nữ lưu tiên phong miền Trung nữa là nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa, sinh năm 1896 ở Đà Nẵng, là nhà báo, nhà văn, nhà diễn thuyết, nhà hoạt động xã hội. Bà tranh đấu không ngừng nghỉ cho phong trào nữ lưu và văn học, cọng tác với các báo An Nam tạp chí, Đông Pháp thời báo, Nam Phong tạp chí, Phụ nữ tân văn. Bà để lại cho đời nhiều tác phẩm giá trị như Tây Phương Mỹ Nhân, Huyền Trân Công Chúa, Chiêm Thành Lược Khảo được Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng và bà Đạm Phương khen ngợi. Hưởng ứng Nữ Công Học Hội của bà Đạm Phương, bà thành lập Nữ Công Học Hội Đà Nẳng, lập đoàn phụ nữ, khuyến khích nữ sinh đi du học nước ngoài. Bà thật đáng nể phục là một feminist rất sớm ở nước ta. Bà là người đầu tiên cắt tóc ngắn, xử dụng phương tiện xe đạp đi lại trong thành phố.
Đó là hình ảnh rất lạ đối với phụ nữ đương thời. Nhưng bà được học Tây học có điều kiện tiếp cận với những sinh hoạt văn minh hiện đại.
Ở Hà Nội thì có bà Thụy An tên Lưu Thị Yến sinh năm 1916. Có khiếu văn thơ từ nhỏ. Năm 13 tuổi, báo Nam Phong đã đăng thơ của bà. Năm 16 tuổi bà được giải thưởng văn chương của triều đình Huế. Ngoài ra, bà còn là một nhà báo được tín nhiệm. Bà cùng chồng sáng lập Báo Đàn Bà Mới ở Sài Gòn (1934) với vai Tổng biên tập. Bà tuyên bố Đàn Bà Mới là cái trường để chị em cùng nhau học hỏi và bàn luận ý kiến. Trên tờ số 1, bà cho đăng bức hình hí họa giới nữ gánh, bê gạch vữa, và xây tường với lời chú: “Chị em chúng tôi xây nền, đắp móng.” Sau khi tờ Đàn Bà Mới ở Sài Gòn bị đình chỉ năm 1937, bà mở tờ Đàn Bà Mới ở Hà Nội năm 1939, cũng cùng năm, bà nhận làm chủ nhiệm tờ Phụ Nữ Tân Văn ở Sài Gòn.
Đồng thời với bà Đạm Phương còn có những nữ lưu tiền phong ở phương Nam. Nhà nghiên cứu Bằng Giang trong tác phẩm ‘Saigon Cố Sự’ cho rằng : “Tính đến năm 1930, văn học quốc ngữ Nam Kỳ có non 20 tác giả nữ còn để lại tác phẩm in thành sách, nhưng các tác giả trên không để lại một tiếng vang nào ngoại trừ Phan Thị Bạch Vân, chủ nhân Nữ Lưu Thơ Quán ở Gò Công.”
Phan Thị Bạch Vân, tên thật là Phan Thị Mai sinh năm 1903 ở Biên Hòa. Bà theo chồng về sống ở Gò Công và sáng lập Nữ Lưu Thơ Quán ở đây. Ban biên tập gồm có Đạm Phương (Huế), Nguyễn Thị Đan Tâm (Phú Quảng Trung Kỳ), Hoàng Thị Tuyết Hoa (bút danh của Phan Thị Bạch Vân), Tùng Viên (Phủ Quảng Trung Kỳ), Vũ Xuân Đệ (Hà Nội), Quốc Anh (giáo học Phú Thọ, Đồng Hới), Á Nam Trần Tuấn Khải (Hà Nội). Nữ lưu thơ quán xuất bản sách mỗi tháng 3 kỳ với mục đích bán giá hạ cho độc giả nữ, giúp cho trí thức nữ lưu được chóng mở, học vấn thêm cao. Nữ Lưu Thơ Quán chọn xuất bản những tác phẩm có giá trị về chính trị, lịch sử, truyện ký, tiểu thuyết, phụ nữ, nữ công, văn học, khoa học, thương mại và thiệt nghiệp. Tiếc thay Nữ Lưu Thơ Quán chỉ hoạt động được gần hai năm thị bị chính quyền Pháp thu hồi giấy phép vì không muốn thơ quán truyền bá những tư tưởng dân chủ, tiến bộ, những kiến thức khoa học cho thanh niên nam nữ nước ta.
Nam Kỳ còn có nữ sĩ Sương Nguyệt Anh với tên khai sinh là Nguyễn Thị Khuê hay Ngọc Khuê sinh năm 1864, cùng người chị Nguyễn Thị Xuyến nổi danh khắp vùng là Nhị Kiều vì tài sắc vẹn toàn. Bà là con gái thứ tư của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu gốc Bến Tre. Bà có một con gái khi chồng qua đời. Không muốn đi bước nữa nên bà lấy bút danh là Sương Nguyệt Anh, mở trường dạy chữ Nho và bắt đầu làm thơ, viết văn. Năm 1918, được mời làm chủ bút tờ Nữ Giới Chung. Tờ báo đầu tiên bằng tiếng Việt dành riêng cho phụ nữ ở Việt Nam. Tờ báo thể hiện tư tưởng tiến bộ, đòi quyền bình đẳng nam nữ, chủ trương nâng cao dân trí, khuyến khích công nông thương và nhất là đề cao vai trò phụ nữ trong xã hội, đưa ra những tấm gương phụ nữ tân tiến tại châu Âu, Mỹ. Tờ báo còn đề cao tinh thần quật khởi của phụ nữ Việt Nam từ ngàn xưa như Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân v.v… Tờ báo nhấn mạnh sự quan trọng của ngôn ngữ Việt. Trong số báo ra mắt, bà chủ bút nêu mục đính chính là truyền bá chữ quốc ngữ vì Nam kỳ không còn là đất đai của nước ta nữa mà là thuộc địa của Pháp và chính quyền Pháp không cho dạy chữ quốc ngữ ở trường học! Tuy chỉ hoạt động gần một năm - báo bị đình bản ngày19 tháng 7, 1918 – sau khi ra được 22 số, tờ Nữ Giới Chung gây ấn tượng mạnh trong làng báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX. Báo bị đình bản có thể vì bà từ chối lời yêu cầu của chủ nhân tờ báo, một người Pháp có tên Henri Blasquiere. Ông này muốn tờ báo “ca ngợi chính quyền” và “cổ động người Việt đi lính cho Pháp.” Không những cô chủ bút không nghe mà còn cho đăng liền mấy bài thơ có nội dung ngược lại. Tài liệu cho thấy bà được mời đi gặp chính quyền trong năm 1930! Ngày 1, tháng 2 năm 2023, Google Doodle tôn vinh bà là Nữ tổng biên tập đầu tiên của tờ báo phụ nữ đầu tiên tại Việt Nam.
Tờ báo phụ nữ thứ hai ở miền Nam ra đời năm 1929 là tờ Phụ Nữ Tân Văn do vợ chồng bà Cao Thị Khanh sáng lập. Bà Cao Thị Khanh sinh năm 1900 ở Gò Công. Bà quy tụ một đội phụ nữ trí thức có văn tài, lấy tờ Phụ Nữ Tân Văn làm phương tiện tổ chức những hội đoàn phục vụ cho xã hội và lý tưởng canh tân. Tờ Phụ Nữ Tân Văn với logo 3 cô gái Bắc Trung Nam thể hiện tinh thần đoàn kết, tuy ba mà một, kê vai gánh vác sơn hà! Báo hướng tới khuynh hướng tiến bộ, tuyên truyền dân chủ, dân sinh, phục vụ cho quyền lợi phụ nữ. Báo được phổ biến rộng rãi, bán ra tận ngoài Trung và ngoài Bắc. Ngoài việc dùng giấy mực để cổ vũ lối sống mới, vợ chồng bà còn tổ chức nhiều hoạt động xã hội, cụ thể hóa những đường lối tờ báo chủ trương. Họ thành lập “Quỹ Đồng xu học sinh nghèo”, “Bữa cơm cho người nghèo”, “Ban ủy viên Phụ nữ cứu tế”, “Hội Dục Anh” và “Nữ lưu học hội” để tạo môi trường trao đổi, bàn luận về các vấn đề bình đẳng giới, khuyến khích phụ nữ tham gia vào các diễn đàn chính trị và khoa học, thúc đẩy giáo dục trẻ em gái. Tờ báo phải đình bản vào tháng Tư, 1935 do gặp khủng hoảng kinh tế.
Và người nữ lưu cấp tiến đồng thời với Nữ Sử Đạm Phương cuối cùng tôi muốn giới thiệu hôm nay là ký giả Manh Manh, nổi tiếng là nhà thơ mới, là một cây bút xông xáo, nhà diễn thuyết nữ tài năng. Bà tên thật là Nguyễn Thị Kiêm sinh năm 1914 ở Gò Công. Thuở nhỏ bà theo học Trường Nữ Sinh Áo Tím ở Sài Gòn. Năm 1931, tốt nghiệp bằng thành chung, ban Sư Phạm, bà được giữ lại trường giảng dạy. Vừa dạy học, bà dấn thân vào nghề báo, một nghề rất mới mẻ với nữ giới thời ấy. Theo tài liệu, bà là người phụ nữ đầu tiên, đăng thơ, viết bài, đăng đàn diễn thuyết hô hào ủng hộ phong trào thơ mới tại Việt Nam. Bà cọng tác với nhiều tờ báo, làm phóng viên đắc lực cho tờ Phụ Nữ Tân Văn, tờ báo của người bạn thân cùng chí hướng. Tờ báo là bệ phóng quan trọng giúp bà công bố các sáng tác thơ văn truyền bá tư tưởng tiến bộ! Rất tiếc tờ báo chết yểu (đình bản 21 tháng 4,1935). Cô thi sĩ trẻ với mộng tưởng cao không còn nơi thi thố tài năng. Nhưng những đóng góp của cô vẫn được những thế hệ sau trân trọng. Hoài Thanh Hoài Chân đã viết về cô như sau: “… người nữ chiến sĩ tiền phong anh dũng và hăng say hoạt động để bảo vệ và củng cố nền tảng thơ mới bén rễ, sống mạnh, ta phải kể Nguyễn Thị Manh Manh một tay đã đóng góp không nhỏ cho nền văn học đất nước.”
Câu chuyện giới thiệu những nữ lưu tiên phong đồng thời với nhà Nữ Sử Đạm Phương xin khép lại ở đây. Cám ơn quý vị đã lắng nghe. Xin chào.
Hoàng Thị Quỳnh Hoa
Theo https://www.art2all.net/

Nghe thơ Trần Thiện Hiệp

Nghe thơ Trần Thiện Hiệp

Đó là ngày thứ hai của Hội Chợ Bumbershoot Festival tại trung tâm Space Needle của thành phố Seattle. Đó là một chiều đầu tháng Chín ngập nắng, khhông còn cái nắng oi bức của mùa Hạ, và cũng chưa là nắng hanh của mùa Thu. Nắng vàng tươi thoải dài trên những hàng cây xanh ngắt đong đưa qua những gợn gió từ Vịnh Puget Sound đưa vào. Vừa đủ đẹp và gợi cảm để... thi sĩ có thể làm thơ và để những người yêu thơ lại cất tiếng ngâm nga một vài vần điệu.

Tong cái không khí đó, tôi bước vào hội trường Intiman Theater nằm sát bên cổng phía Bắc của trung tâm Space Needle Center để nghe Trần Thiện Hiệp đọc thơ. Đọc thơ Việt, bằng tiếng Việt. Đọc cho một cử tọa toàn Mỹ, không nói tiếng Việt, không biết tiếng Việt. Trong số có những người chưa từng được nghe ai nói tiếng Việt bao giờ.
Không hiểu bằng cách nào những người xa lạ này có thể thưởng thức và lãnh hội được những âm điệu, thi tứ diễn tả trong thơ Việt. Đây chính là điều thắc mắc đã thúc đẩy tôi tới dự buổi đọc thơ này sau khi đọc mục trình diễn thơ trong chương trình hội chợ in trên tờ Seattle Time. Theo chương trình, phần đọc thơ có sự tham dự của ba nhà thơ gốc Nhật. Ba Tư và Việt Nam.
Nhà thơ Trần Thiện Hiệp, tác giả hai tập thơ Cây Lá Phận Người và Mặt Tời Lưu Vong, dự phần trong chương trình này đã đương nhiên trở thành sứ giả của thi ca Việt Nam trước một cử tọa Mỹ khoảng 100 người.
Tôi tới vào lúc phần hai do nữ thi sĩ gốc Ba Tư đảm trách sắp kết thúc để bước vào phần ba, của thơ Việt. Nhà thơ Ba Tư tuổi khoảng ngoài 30, hẳn đã sinh đẻ tại phần đất này nên tiếng Anh có phần thật lưu loát và thơ cũng được viết bằng tiếng Anh. Nàng đọc thơ và diễn tả thật nhiệt tình, và đã thu hút được sư hoan nghênh qua những tiếng vỗ tay khá đậm đà .
Ngay sau đó là 30 phút thơ Việt của nhà thơ họTrần, và trái với điều lo ngại của tôi, ngay từ phút khởi đầu đã đưa dắt tôi từ ngạc nhiên này qua ngạc nhiên khác một cách thích thú.
Những lời giới thiệu về Trân Thiện Hiêp đã được một người bạn Mỹ của nhà thơ trình bày một cách trang trọng, ngắn gọn. Tiếp theo, từ hậu trường thi sĩ bước ra trong y phục cổ truyền khăn đóng áo dài. Với một dáng dấp vui tươi đầy tự tin ông đọc thơ ông bằng tiếng Việt, bài "Trả Lại Lặng Im", đọc một cách say mê với những vần điệu uyển chuyển dịu dàng, đọc một cách thản nhiên, tưởng như những người đang nghe thuộc cùng dòng giống, nói chung một ngôn ngữ. Hẳn rằng những âm thanh diễn đạt qua từng lời từng chữ trong bài thơ đã thấm vào tim óc người nghe nên không cần biết đế những ý nghĩa của ngôn từ, bài thơ đã được đón nhận bằng tràng pháo tay đầy nhiệt tình của người nghe.
Liền đó bản dịch của bài thơ đã được người bạn Mỹ đọc lên để các thính giả người Mỹ tận hưởng lời ý trong toàn bài, và họ lại tán thưởng bằng những tràng pháo tay nồng nhiệt.
Cứ thế, trong 30 phút ngắn ngủi, thơ Trần Thiện Hiệp đã được trình bày năm bài, trong đó bốn bài được dịch qua tiếng Anh gồm có:Trả Lại Lặng Im, Cùng Người Bạn Da Đỏ (trong Mặt Trời Lưu Vong),và Khu Vườn Mộng, Tự Do Trong Hồn Tôi Di Dân (trong Cây Lá Phận Người) không có bản dịch, đã dược diễn ngâm theo điệu sa mạc
Phần tiếng Việt hoặc do chính tác giả đọc hoặc được trình bày qua giọng ngâm ngọt ngào của Lệ Hiền, người ban đường đời và cũng là bạn thơ của tác giả, và giọng ngâm đầm ấm của Hoàng Trọng Minh, một tiếng ca nổi tiếng của cộng đồng Việt trong vùng Tây Bắc Hoa Kỳ
Phần trình bày tiếng Anh, bên cạnh Jim Boyle, người bạn của gia đình họ Trần, còn có Hiền Trang, Xuân Trang - hai người con của tác giả đã lớn lên và theo học tại phần đất này mà khả năng diễn đạt bằng Anh ngữ rất lưu loát và truyền cảm.
Góp phần vào chương trình đọc thơ Trần Thiện Hiệp trong dịp này còn có Hương Lan với cây đàn tranh. Tiếng đàn dìu dặt, thánh thót đệm cho cả giọng ngâm đã khiến lời thơ thêm lôi cuốn và không khì trình diễn thêm trang trọng.
Với sự phối hợp nhịp nhàng từ phần đọc tiếng Việt tới phần dịch tiếng Anh, từ tiếng đàn tranh đến những tấm áo dài óng ả của Lệ Hiền, Hương Lan, Hiền Trang, Xuân Trang, chương trình đọc thơ của Trần Thiện Hiệp mang một sắc thái đặc thù, chinh phục được hoàn toàn sự chú ý theo dõi và cảm thông của những người hiện diện hôm đó dù họ tất cả đều xa lạ với văn hóa Việt.
Có những lúc hội trường hầu như không có một tiếng động nào khác ngoài những lời thơ được diễn ngâm. Cử tọa đã du hồn mình theo tiếng thơ mặc dù đó là tiếng thơ được diễn tả qua một ngôn ngữ khác.
Chương trình đọc thơ 30 phút ngắn ngủi này đã gói ghém nói lên được rất nhiều sắc thái văn hóa Việt. Đồng thời đã chuyển đạt được trọn vẹn cái tâm sự lạc lõng, buồn đau đơn độc của người Việt tị nan qua thơ Trần Thiện Hiệp. Tiếng thơ này đã được cử tọa Hoa Kỳ tiếp đón nồng nàn trong ngưỡng mộ. Hẳn đó là một thành công trong những nổ lực giới thiệu thơ văn và văn hóa Việt tới các sắc dân khác.
Người Mỹ dự buổi đọc thơ này hẳn đã có dịp nhìn người Việt qua một lăng khính khác. để thấy những khía cạnh đáng yêu hơn trong tâm hồn Việt.
Ra khỏi Seattle Center, lái xe trở về trên những con đường quen thuộc của thành phố Seattle hiền hòa dưới giải nắng hanh buông nghiêng từ phía vịnh, tôi không khỏi nhớ đến tiếng thơ Trần Thiện Hiệp mà lần đầu tôi được nghe khi chúng tôi mới tới miền đất này sau cuộc di tản khỏi quê hương bên kia Thái Bình Dương. Miền đất này đối với chúng tôi khi đó là đất mới, và tâm trạng của những kẻ phải rời bỏ quê hương một sớm một chiều để bước vào một cuộc sống vô định trên miền đất lạ thật là đau thương, tủi hận, bơ vơ, lạc lõng. Tôi còn nhớ đã từng bắt gặp những chiến hữu, những đồng hương đứng khóc trên một hè phố hay bên một bến xe buýt. Khóc một cách rõ ràng với lệ lăn trên gò má, với đôi bờ vai rung rung. Làm sao mà những khuôn mặt đanh chắc ấy, những cặp mắt dày dạn gió sương ấy lại có thể dễ dàng trào lệ? Tôi không rõ và những người đã khóc như vậy cũng chẳng chịu nói. Tâm trạng của những kẻ tha hương bất đắc dĩ trong tình cảnh của biến cố 75 thật thê thảm. Lại thêm cái thời tiết mưa dầm gió buốt của Seattle khiến mùa đông đầu tiên của những người mới tới trên phần đất này thật là ảm đạm.
Hồi đó tôi làm báo. Tờ Đất Mới. Số đầu tiên xuất bản vào đầu tháng Tám năm 1975. Đây là tờ báo Việt ngữ đầu tiên xuất bản trong vùng Tây Bắc Hoa Kỳ. Báo in khổ nhật báo thoạt đầu có 16 trang rồi tăng lên 24, phát hành hai tuần một lần. Phương tiện hạn hẹp trong những tháng đầu tôi làm việc trong trạng huống độc diễn, rất bận rộn và thường phải mang bài vở về nhà làm tới khuya. Một bữa đã khuya tôi ngồi dở xấp thư của đọc giả gởi tới và bắt gặp một bài thơ có cái tên thật đáng chú ý: Cây Lá Phận Người. bài thơ ngắn có hai đoạn. mỗi đoạn 4 câu. Tôi lướt mắt đọc qua, rồi đọc lại. Rồi trong căn phòng làm việc nhỏ bé nhưng riêng biệt của tôi ở tầng hầm căn nhà thuê chung của gia đình tôi và gia đình một người anh, tôi đã đọc thành tiếng cho chính mình nghe để thắm vào tai vào hồn những âm điệu nhịp nhàng qua từng chữ từng câu:
Tương tư ai cây gục đầu ủ rủ
Để lệ vàng lả tả trước thu phong
Hay thương ta cô đơn nơi đất lạ
Thân phận người vừa mất cả quê hương
Cảm ơn ngươi cùng chia sầu viễn xứ
Nhưng làm sao góp hộ gió ngàn phương
Cho ta gởi những lời thơ thương nhớ
Về Mẹ già, quê nội, đứa em thương
Lời thơ dung dị nhưng đọc lên nghe sao thấm thía. Phần vì nó gợi lên đúng cái khung cảnh vào thu của Seattle với những trận gió từng đợt, với những hàng cây bên đường đang trụi lá trơ cành, và những lề đường phủ lá vàng mà tôi thường ngày đi qua. Phần nó phản ảnh đúng cái tâm trạng của tôi - một người tị nạn vừa tới được vùng đất mới để dung thân nhưng nỗi lòng còn gắn chặt với miền đất ruột thịt gốc nguồn xa cách nghìn trùng, nên sống trong vất vưởng và tâm hồn thì lạc lõng bơ vơ...Phần nữa chính là cái tứ thơ và cái âm điệu phong phú uyển chuyển trong từng câu thơ...Tôi nghĩ phải kêu ngay tác giả để ngỏ lời ca ngợi. Sẳn số điện thoại trên lá thư ngắn của tác giả gửi tòa sọan, tôi đã kêu ngay và tối hôm đó Trần Thiện Hiệp và tôi đã trò chuyện lần đầu khá lâu về thơ văn. Rồi Cây Lá Phận Người đã xuất hiện trên tờ Đất Mới, số phát hành ngay trong tuần đó. Tôi được biết đó là bài thơ đầu tiên trong phần đời lưu vong của tác giả.
Tới nay Trần Thiện Hiệp đã đi xa trong thi nghiệp. Ông đã trở thành tác giả của hàng trăm bài thơ và đã tạo nên một tiếng thơ riêng của ông. Tôi đã nhiều lần nghe thơ ông qua các buổi diễn ngâm giữa chỗ bằng hữu hay trước số đông cử tọa. Cùng năm tháng, tôi ghi nhận thơ ông là những sáng tạo liên tục, những chất liệu mới, những tứ thơ độc đáo, những từ ngữ trau chuốt và âm điệu thật phong phú...
Tất cả đã tạo nên một triền thơ đi xa và lên cao. Từ lâu tôi không ngạc nhiên trước sự thành công của những buổi trình diễn thơ Trần Thiện Hiệp. Có ngạc nhiên chăng là mỗi buổi trình diễn đều mang ít nhiều sắc thái mới lạ, khác những lần trước. Không có sư lặp lại, không sao nguyên bản. Cũng như buổi trình diễn tại Iniman Theatre hôm nay, nó là một buổi hợp tấu của gia đình thi ca họ Trần với sự phụ họa của tiếng đàn Hương Lan và giọng ngâm cùng tiếng hát bạn bè Hoàng Trọng Minh. Một buổi hợp tấu thật đặc sắc dành cho người nghe khác gốc nguồn, khác ngôn ngữ, khác văn hóa mà vẫn đạt.
2/9/1986
Huy Quang Vũ Đức Vinh
Theo https://www.art2all.net/

Những vuốt ve

Những vuốt ve

Tên thật là Henri René Albert Guy de Maupassant, sinh ra trong một gia đình quý tộc bị phá sản. Vì cha mẹ bất hòa, ngay từ nhỏ Maupassant theo mẹ về sống tại Étretat, vùng quê cạnh biển, lớn lên trong tình yêu thiên nhiên. Khi tròn 13 tuổi, Maupassant được gởi đến học một trường dòng tại Yvetot nhưng vốn hiếu động và đa cảm, Maupassant tỏ ra không thích nghi với kỷ luật nghiêm khắc của nhà trường: trong giờ học thường hay vẽ viết bậy trên giấy và làm đầu têu nhiều trò nghịch ngợm. Bị đuổi học, Maupassant được gởi đến học ở trường trung học tại Rouen, rồi trường luật ở Caen.

Năm 20 tuổi, ông nhập ngũ, tham gia cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870-1871). Sau đó ông làm viên chức ở Bộ Hải quân (1873) rồi Bộ Giáo dục (1878).
Được sự dìu dắt tận tình của nhà văn Gustave Flaubert, một người bạn thân của mẹ ông, năm 1873, Maupassant bắt đầu viết văn. Nhưng mãi đến năm 1880, ông mới thực sự nổi tiếng với truyện ngắn Boule de suif, với bối cảnh cuộc chiến tranh Pháp - Phổ, trong đó, ông kịch liệt châm biếm, đả kích bọn quý tộc hèn nhát, bạc nhược, không hề tỏ ra chút dũng khí nào trước kẻ thù. Bên cạnh những người thuộc tầng lớp thượng lưu, nhân vật cô gái điếm, biệt danh là Boule de suif, lại tỏ ra lương thiện và tử tế nhất. (Truyện này, khoảng 40 trang, đã được dịch sang tiếng Việt với nhan đề "Viên mỡ bò". Trước đây, Nguyễn Hiến Lê dịch là Thùng nước lèo). Thành công lớn của tác phẩm này khiến ông quyết định từ bỏ cuộc sống viên chức và chuyển hẳn sang nghề viết văn. Ông cộng tác với nhiều tờ báo (Le Figaro, Gil Blas, Le Gaulois, l'Écho de Paris...) và ký nhiều bút danh khác nhau.
Văn nghiệp của ông chỉ vẻn vẹn mười năm (1881-1890) nhưng ông cũng để lại cho đời trên 300 truyện ngắn, 6 tiểu thuyết, 3 tập ký sự du lịch và một tuyển tập thơ. Về tiểu thuyết, ông thành công nhất với tác phẩm Une vie (Một cuộc đời) mà ông đã bỏ ra 6 năm để hoàn thành (1883). Trong vòng một năm, tác phẩm đã phát hành được 25 ngàn bản và Lev Tolstoy không tiếc lời ca ngợi: " Đây là tác phẩm lớn nhất của văn học Pháp, sau Những kẻ khốn cùng. (1) ".
Đề tài trong các truyện ngắn của Maupassant rất phong phú, đa dạng, gắn liền với cuộc sống thường ngày của tầng lớp trung lưu và hạ lưu của xã hội đương thời. Maupassant là một trong những bậc thầy của thể loại truyện ngắn. Các tác phẩm của ông thể hiện tài quan sát chính xác, đi sâu vào bản chất sự vật, và nghệ thuật chọn lựa chi tiết điển hình làm nổi bật tâm lý và tính cách của nhân vật. Tất cả nội dung đó được diễn đạt bằng ngòi bút trong sáng, giản dị, tự nhiên, súc tích.
Những năm cuối đời, Maupassant mắc bệnh thần kinh, luôn bị ám ảnh bởi sự cô đơn và cái chết. Người đọc theo dõi các tác phẩm của Maupassant sẽ nhận ra rằng từ năm 1883, ông đã viết nhiều truyện ngắn về đề tài cái chết, hoặc liên quan đến cái chết: Auprès d'un mort (Bên một người chết), Suicide (Tự sát), Lettre trouvée sur un noyé (Bức thư tìm thấy ở người chết đuối), La tombe (Ngôi mộ), La morte (Người đã khuất), Le Noyė (Người chết đuối), Le condamnė à mort (Người bị kết án tử hình) ...
Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ông đã có lần tự sát nhưng không chết. Sau 18 tháng hầu như hôn mê hoàn toàn, năm 1893, ông từ trần trong một dưỡng trí viện ở Paris.
(1) Les misérables, tác phẩm của Victor Hugo.
Guy de Maupassant là một trong những bậc thầy của truyện ngắn Pháp. Ông từng trực tiếp trải qua cuộc chiến tranh Pháp–Phổ (1870–1871), vì vậy nhiều tác phẩm của ông phản ánh sâu sắc những đau thương, nghịch lý và bản chất con người trong chiến tranh. Les Prisonniers (Tù binh) là một trong những truyện tiêu biểu ấy. Không kể về những trận đánh lớn hay các vị tướng lừng danh, Maupassant đưa người đọc đến một căn nhà nhỏ giữa rừng, nơi một cô gái giữ rừng bằng sự bình tĩnh và thông minh đã bắt sống sáu người lính địch. Đằng sau câu chuyện tưởng như hài hước ấy là những suy ngẫm sâu sắc về lòng yêu nước, sức mạnh của trí tuệ, bản chất chiến tranh và phẩm giá của con người.
Những vuốt ve không phải là một truyện ngắn theo nghĩa thông thường, bởi hầu như không có cốt truyện, không có diễn biến hành động hay xung đột bên ngoài. Tác phẩm được cấu tạo từ hai bức thư đối lập: một của Geneviève – người phụ nữ xem tình yêu tinh thần là lý tưởng tối thượng; một của Henri – người đàn ông cho rằng tình yêu chỉ được kiểm chứng bằng sự hòa hợp xác thịt. Đến cuối cùng, người đọc chỉ biết hai bức thư ấy được nhặt dưới bệ quỳ của một nhà thờ. Chính kết cấu ấy đã biến tác phẩm thành một cuộc tranh luận triết học về bản chất của tình yêu, thân xác, đạo đức và tự nhiên.
Geneviève đại diện cho quan niệm truyền thống, nơi tình yêu được đồng nhất với sự trong sạch của tâm hồn.
Đối với nàng, tình yêu là ánh mắt dịu dàng, là giọng nói vuốt ve trái tim, là sự hiện diện khiến con người thanh thản. Nhưng ngay khi tình yêu bước sang địa hạt của dục tính, nó trở thành điều đáng xấu hổ. Nàng xem hành vi xác thịt là “vực thẳm ô nhục” sẽ phá hủy mối quan hệ tinh thần giữa hai người. Quan điểm ấy phản ánh nền đạo đức Kitô giáo và xã hội tư sản Pháp thế kỷ XIX, nơi dục vọng thường bị coi là tội lỗi cần che giấu.
Henri lại đứng ở phía đối lập.
Theo ông, chính sự vuốt ve mới là phép thử chân thật của tình yêu. Nếu sau sự kết hợp mà tình cảm lụi tàn, đó chỉ là ham muốn nhất thời. Nếu sau đó tình yêu càng sâu sắc hơn, thì đó mới là tình yêu đích thực.
Ở đây Maupassant không đơn giản đứng về phía Henri, mà để hai quan điểm tồn tại song song như hai cực của một vấn đề muôn thuở: liệu tình yêu có thể tách rời thân xác hay không?
Một trong những đoạn sâu sắc nhất của truyện là khi Henri nhắc đến triết gia cho rằng:
Thiên nhiên dùng tình yêu và khoái lạc như chiếc mồi để duy trì nòi giống. Đó là tư tưởng
gần với Arthur Schopenhauer:  con người tưởng mình hành động vì hạnh phúc cá nhân, nhưng thực chất chỉ là công cụ của “ý chí sinh tồn”.
Henri chấp nhận điều đó nhưng không chịu khuất phục.
Ông nói: Nếu thiên nhiên dùng sự vuốt ve để đánh lừa con người, thì con người hãy đánh lừa lại thiên nhiên bằng cách biến sự vuốt ve thành nghệ thuật.
Đó là tư tưởng rất hiện đại.
Từ một bản năng sinh học, Henri muốn nâng nó thành sáng tạo văn hóa.
Giống như trái nho trở thành rượu vang, hay viên đá thô trở thành tượng điêu khắc, tình dục cũng có thể trở thành nghệ thuật của tình yêu. Đây là điểm rất táo bạo đối với một tác phẩm cuối thế kỷ XIX.
Henri dành nhiều trang để ca ngợi vẻ đẹp cơ thể người phụ nữ.
Ông phản bác cách nhìn thuần túy sinh học khi dẫn định nghĩa khô khan trong sách y học:
“Bầu ngực phụ nữ vừa hữu ích vừa đem lại khoái cảm.”
Ông xóa bỏ chữ “hữu ích”, chỉ giữ lại chữ “đẹp”.
Theo Henri, thân xác không chỉ để sinh sản.
Nó còn là một tác phẩm nghệ thuật.
Maupassant ở đây đặt nghệ thuật đối lập với khoa học.
Khoa học nhìn thân thể như cơ quan.
Nghệ thuật nhìn thân thể như vẻ đẹp.
Hai cách nhìn đều đúng, nhưng không cái nào bao quát toàn bộ con người.
Điều thú vị là Henri không phủ nhận mặt tối của dục vọng.
Ông từng trải qua những cuộc tình chóng vánh.
Ông biết cảm giác trống rỗng sau những cuộc ái ân không tình yêu.
Ông gọi đó là: “nỗi buồn cay đắng.”
Như vậy, ông không cổ vũ sự buông thả.
Điều ông bảo vệ không phải dục vọng. Ông bảo vệ tình yêu có thân xác.
Theo ông, điều làm cho sự vuốt ve trở nên thiêng liêng không phải hành vi, mà là người mình yêu.
Đó là khác biệt rất quan trọng.
Henri công kích: các nhà đạo đức, các giáo sĩ, các học giả giáo điều, những thi sĩ chỉ ca ngợi tình yêu thuần khiết.Ông cho rằng xã hội luôn ca tụng linh hồn nhưng lại sống nhờ bản năng.Điều bị cấm đoán nhiều nhất lại chính là điều tự nhiên nhất.Đó là một nghịch lý mà Maupassant nhiều lần khai thác trong các tác phẩm của mình.Ông không chống đạo đức. Ông chống sự giả dối của đạo đức.
Chi tiết cuối cùng rất ngắn:
Hai lá thư được tìm thấy dưới bệ quỳ trong nhà thờ Madeleine.
Chi tiết này chứa nhiều tầng nghĩa.
Thứ nhất, nhà thờ là biểu tượng của đức tin, của sự thanh khiết.
Hai lá thư bàn về tình yêu xác thịt lại nằm ngay dưới nơi cầu nguyện.
Hai thế giới đối lập chạm vào nhau.
Thứ hai, Maupassant không cho biết số phận của Henri và Geneviève. Họ có đến được với nhau không? Họ chia tay?
Hay một trong hai đã bỏ lại những lá thư? Không ai biết.
Chính sự bỏ ngỏ ấy khiến câu chuyện tiếp tục sống trong trí tưởng tượng người đọc.
Thứ ba, người nhặt được thư lại mang cái tên “Maufrigneuse”, có thể được hiểu như một người kể chuyện hư cấu, tạo cảm giác đây là những tài liệu “tình cờ”  được phát hiện.
Thủ pháp này tăng tính chân thực nhưng cũng nhắc người đọc rằng đây là một cuộc đối thoại mở, không phải một chân lý đã được định sẵn.
Điều đáng quý nhất của Những vuốt ve là tác phẩm không áp đặt kết luận.
Geneviève không hoàn toàn sai. Henri cũng không hoàn toàn đúng.
Một người bảo vệ sự cao quý của tình yêu.
Người kia bảo vệ tính toàn vẹn của con người.
Nếu chỉ có linh hồn mà phủ nhận thân xác, tình yêu có thể trở thành lý tưởng xa vời.
Nếu chỉ có thân xác mà thiếu linh hồn, tình yêu dễ biến thành khoái lạc chóng tàn.
Maupassant để người đọc tự tìm điểm cân bằng giữa hai thái cực ấy.
Những vuốt ve không đơn thuần là một câu chuyện về tình dục hay những lá thư tình. Đó là một khảo luận văn học về mối quan hệ giữa bản năng và văn hóa, giữa đạo đức và tự nhiên, giữa linh hồn và thân xác. Qua hai tiếng nói đối lập, Maupassant khẳng định rằng con người không thể bị giản lược thành một sinh thể chỉ biết dục vọng, cũng không thể sống như một linh hồn tách rời cơ thể. Tình yêu chỉ thực sự trọn vẹn khi hai chiều kích ấy gặp nhau trong sự tôn trọng, tự nguyện và chân thành. Chính vì vậy, hơn một thế kỷ sau khi ra đời, Những vuốt ve vẫn gợi lên những suy ngẫm về một câu hỏi chưa bao giờ cũ: liệu tình yêu đích thực bắt đầu từ tâm hồn, từ thân xác, hay chỉ nảy nở khi cả hai hòa quyện thành một.
Không, bạn thân mến, xin đừng nghĩ đến điều ấy nữa. Điều anh đòi hỏi ở tôi khiến tôi ghê tởm và phản cảm. Có cảm giác như Thượng Đế – bởi tôi tin có Thượng Đế – đã muốn làm hỏng tất cả những gì Người tạo ra tốt đẹp bằng cách gắn vào đó một điều gì khủng khiếp. Người đã ban cho chúng ta tình yêu, điều dịu dàng nhất trên đời; nhưng rồi, có lẽ thấy nó quá đẹp, quá trong sạch đối với loài người, Người lại nghĩ ra dục tính – những bản năng xác thịt đê tiện, nhơ nhớp, ghê gớm và thô bạo; những bản năng như thể được nặn ra để giễu cợt, rồi trộn lẫn với mọi thứ ô uế của thân xác. Người tạo ra chúng đến mức chỉ cần nghĩ đến cũng khiến ta đỏ mặt, và chỉ có thể nói về chúng bằng giọng thì thầm. Hành vi đáng sợ ấy luôn bị bao phủ bởi sự hổ thẹn. Nó phải ẩn giấu, làm tâm hồn kinh tởm, làm đôi mắt khó chịu; bị đạo đức lên án, bị pháp luật truy đuổi, nó chỉ diễn ra trong bóng tối như thể là một tội ác.
Xin đừng bao giờ nói với tôi về chuyện ấy nữa, đừng bao giờ!
Tôi không biết mình có yêu anh hay không, nhưng tôi biết rằng tôi thấy dễ chịu khi ở gần anh, ánh mắt anh thật dịu dàng với tôi và giọng nói của anh vuốt ve trái tim tôi. Nhưng kể từ ngày anh lợi dụng sự yếu đuối của tôi để đạt được điều anh mong muốn, anh sẽ trở thành kẻ đáng ghét trong mắt tôi. Mối dây mong manh gắn kết chúng ta sẽ bị cắt đứt. Giữa chúng ta sẽ mở ra một vực thẳm của sự ô nhục.
Hãy cứ giữ nguyên như hiện nay. Và… nếu anh muốn yêu tôi thì cứ yêu, tôi cho phép điều đó.
Người bạn của anh,
Geneviève
Thưa bà, xin bà cũng cho phép tôi được nói với bà một cách thẳng thắn, không chút khách sáo hay ga-lăng, như tôi vẫn nói với một người bạn muốn thề nguyền yêu mãi mãi.
Tôi cũng không biết mình có yêu bà hay không. Và quả thật, chỉ sau điều mà bà ghê tởm đến thế, tôi mới có thể biết được.
Bà đã quên những câu thơ của Musset sao:
“Tôi vẫn còn nhớ những cơn co thắt dữ dội ấy,
Những nụ hôn câm lặng, những bắp thịt rực cháy,
Con người tái nhợt, nghiến chặt hai hàm răng.
Nếu những khoảnh khắc ấy không phải là thần thánh, thì chúng quả thật kinh hoàng.”
Cảm giác kinh hãi và ghê tởm không thể vượt qua ấy, chính chúng tôi cũng từng nếm trải mỗi khi, bị sức mạnh cuồng nhiệt của dòng máu cuốn đi, chúng tôi buông mình vào những cuộc ái ân tình cờ. Nhưng khi một người phụ nữ là đối tượng duy nhất mà chúng tôi lựa chọn, là hiện thân của sức quyến rũ bền bỉ và vô tận – như bà đối với tôi – thì sự vuốt ve lại trở thành niềm hạnh phúc mãnh liệt nhất, trọn vẹn nhất và vô biên nhất.
Thưa bà, sự vuốt ve chính là phép thử của tình yêu. Nếu sau vòng ôm, ngọn lửa trong chúng tôi vụt tắt, thì ấy là chúng tôi đã lầm tưởng. Nhưng nếu nó bùng cháy mãnh liệt hơn, thì đó là vì chúng tôi thật sự yêu bà.
Một triết gia – tuy chính ông không thực hành những học thuyết ấy – đã từng cảnh báo chúng ta về cái bẫy của tự nhiên. Ông nói: tự nhiên muốn sinh ra những con người mới, và để buộc chúng ta tạo ra họ, nó đã đặt hai miếng mồi nhử là tình yêu và khoái lạc bên cạnh chiếc bẫy. Rồi ông nói thêm: ngay khi chúng ta đã mắc bẫy, khi cơn mê cuồng chốc lát qua đi, một nỗi buồn mênh mông sẽ xâm chiếm chúng ta, bởi ta hiểu được mưu mẹo đã đánh lừa mình; ta nhìn thấy, cảm nhận và chạm tới nguyên nhân kín đáo, được che giấu, đã thúc đẩy ta trái với ý muốn của mình.
Điều đó đúng, thường xuyên, rất thường xuyên. Khi ấy, chúng ta đứng dậy với tâm trạng chán chường. Tự nhiên đã chiến thắng chúng ta, đã ném chúng ta, theo ý nó, vào những vòng tay đang mở sẵn, chỉ vì nó muốn những vòng tay ấy phải mở ra.
Vâng, tôi biết những nụ hôn lạnh lẽo mà mãnh liệt trên đôi môi xa lạ; những ánh mắt cháy bỏng nhìn vào đôi mắt mà ta chưa từng gặp và sẽ chẳng bao giờ gặp lại; tôi biết tất cả những điều mà tôi không thể nói thành lời, tất cả những gì chỉ để lại trong tâm hồn một nỗi u sầu cay đắng.
Nhưng khi thứ đám mây dịu dàng mang tên tình yêu đã bao bọc hai con người; khi họ đã nghĩ về nhau rất lâu, mãi mãi; khi trong những ngày xa cách, ký ức không ngừng thức tỉnh suốt ngày đêm, mang đến cho tâm hồn hình bóng khuôn mặt, nụ cười và âm thanh của giọng nói người kia; khi người ta bị ám ảnh, bị chiếm hữu bởi hình bóng vắng mặt mà vẫn luôn hiện hữu – thì, xin bà hãy nói xem, chẳng phải việc những cánh tay cuối cùng cũng mở rộng, đôi môi tìm đến nhau và thân xác hòa làm một là điều hết sức tự nhiên sao?
Bà chưa từng khao khát một nụ hôn ư? Hãy nói cho tôi biết: chẳng phải đôi môi luôn gọi mời đôi môi hay sao? Và chẳng phải ánh mắt trong trẻo, như thể chảy vào từng mạch máu, cũng khơi dậy những ngọn lửa cuồng nhiệt, không thể cưỡng lại được hay sao?
Đúng vậy, đó chính là cái bẫy, cái bẫy ghê tởm như bà nói chăng? Thì đã sao! Tôi biết điều đó, tôi vẫn tự nguyện sa vào, và tôi yêu chính cái bẫy ấy!
Tự nhiên ban cho chúng ta sự vuốt ve để che giấu mưu mẹo của mình, để buộc chúng ta, trái với ý muốn, phải duy trì nòi giống. Vậy thì hãy cướp lấy sự vuốt ve ấy khỏi tay Tự nhiên, biến nó thành của riêng chúng ta, tinh luyện nó, biến đổi nó, lý tưởng hóa nó nếu bà muốn. Đến lượt chúng ta hãy đánh lừa Tự nhiên – kẻ chuyên đi lừa dối. Hãy làm nhiều hơn điều nó mong muốn, nhiều hơn điều nó có thể hoặc dám dạy chúng ta. Hãy coi sự vuốt ve như một chất liệu quý vừa được khai quật từ lòng đất: hãy cầm lấy, gọt giũa, chế tác và hoàn thiện nó, không cần bận tâm đến mục đích ban đầu hay ý chí kín đáo của điều mà bà gọi là Thượng Đế. Và vì chính tư tưởng đã thi vị hóa mọi sự, thì hãy thi vị hóa cả sự vuốt ve ấy, ngay cả trong những khía cạnh dữ dội nhất, trong những kết hợp tưởng như tạp uế nhất, thậm chí trong những phát minh táo bạo nhất của nó.
Hãy yêu sự vuốt ve ngọt ngào như yêu men rượu làm người say, như trái cây chín thơm ngát nơi đầu môi, như mọi điều thấm vào thân thể và mang đến hạnh phúc. Hãy yêu thân xác vì nó đẹp, vì nó trắng ngần, săn chắc, đầy đặn, mềm mại và tuyệt diệu dưới đôi môi cũng như dưới bàn tay.
Khi các nghệ sĩ tìm kiếm hình dáng hoàn mỹ và tinh khiết nhất cho những chiếc chén dùng để nâng men say của nghệ thuật, họ đã chọn đường cong của bầu ngực người phụ nữ, mà nụ hoa của nó giống như nụ hồng.
Vậy mà tôi đã đọc trong một cuốn sách bác học mang tên Từ điển Khoa học Y học, một định nghĩa về bộ ngực phụ nữ, nghe như thể do ngài Joseph Prudhomme sau khi trở thành bác sĩ y khoa nghĩ ra:
“Bầu ngực của người phụ nữ có thể được xem vừa là một cơ quan hữu ích, vừa là một đối tượng đem lại khoái cảm thẩm mỹ.”
Nếu bà muốn, hãy bỏ đi cái gọi là “hữu ích”, chỉ giữ lại sự “đẹp đẽ”. Liệu nó có mang hình dáng đáng yêu đến mức không cưỡng được mời gọi sự vuốt ve, nếu nó chỉ được tạo ra để nuôi dưỡng trẻ thơ?
Vâng, thưa bà, cứ để các nhà đạo đức giảng giải về sự đoan trang; cứ để các thầy thuốc khuyên người ta phải thận trọng; cứ để các thi sĩ – những kẻ luôn lừa dối và cũng luôn tự lừa dối chính mình – ca ngợi sự kết hợp trong trắng của hai tâm hồn và thứ hạnh phúc phi vật chất; cứ để những người phụ nữ kém sắc lo tròn bổn phận, những người đàn ông quá lý trí bận rộn với những công việc vô vị; cứ để các nhà giáo điều giữ lấy giáo điều của họ, các giáo sĩ giữ lấy những điều răn của họ; còn chúng ta, hãy yêu trên hết sự vuốt ve làm người say đắm, cuồng loạn, rã rời, kiệt sức rồi lại hồi sinh; thứ còn dịu dàng hơn hương thơm, nhẹ hơn làn gió, sắc nhọn hơn mọi vết thương; thứ đến nhanh và thiêu đốt, khiến người ta phải bật thành tiếng kêu, khiến con người có thể phạm mọi tội lỗi và cũng làm nên mọi hành động anh hùng! Hãy yêu nó, không phải trong sự bình lặng, thông thường hay hợp lẽ, mà trong cơn cuồng nhiệt, mãnh liệt và không biết chừng mực! Hãy kiếm tìm nó như người ta tìm vàng và kim cương, bởi nó còn quý hơn thế: vô giá và chóng qua. Hãy mãi mãi theo đuổi nó; hãy sống vì nó và nếu cần, hãy chết vì nó.
Và nếu bà muốn tôi nói với bà một điều mà, theo tôi, sẽ chẳng tìm thấy trong bất kỳ cuốn sách nào, thì đây là sự thật ấy: những người phụ nữ hạnh phúc duy nhất trên đời là những người không bao giờ thiếu sự âu yếm. Họ sống không lo âu, không bị giày vò bởi những ý nghĩ nặng nề, không còn ước muốn nào khác ngoài nụ hôn sắp đến – nụ hôn sẽ dịu dàng và bình yên như chính nụ hôn vừa qua.
Trái lại, những người phụ nữ chỉ nhận được những vuốt ve ít ỏi, không trọn vẹn hoặc quá hiếm hoi thì luôn bị dày vò bởi muôn vàn nỗi bất an tầm thường, bởi khát vọng tiền bạc, hư danh và bởi mọi biến cố nhỏ nhặt đều hóa thành đau khổ.
Nhưng những người phụ nữ được yêu thương và âu yếm đến viên mãn thì chẳng còn cần gì nữa, chẳng còn mong gì nữa, cũng chẳng còn tiếc nuối điều gì. Họ mơ màng, thanh thản và mỉm cười; những điều mà với người khác là tai họa không thể cứu vãn thì với họ chỉ lướt qua rất nhẹ, bởi sự vuốt ve có thể thay thế mọi thứ, chữa lành mọi thứ và an ủi mọi thứ!
Ôi, tôi còn biết bao điều muốn nói nữa!…
Henri
Hai bức thư này, được viết trên giấy Nhật làm bằng rơm lúa, đã được tìm thấy trong một chiếc ví nhỏ bằng da Nga, nằm dưới bệ quỳ cầu nguyện trong nhà thờ La Madeleine, vào chiều Chúa nhật hôm qua, sau thánh lễ một giờ, bởi Maufrigneuse.
1/7/2026
Thân Trọng Sơn dịch
Nguồn: http://maupassant.free.fr/
Theo https://www.art2all.net/

Bước vào cõi thơ "Mặt trời lưu vong" của Trần Thiện Hiệp

Bước vào cõi thơ "Mặt trời
lưu vong" của Trần Thiện Hiệp

Nhà thơ Trần Thiện Hiệp đã đến với chúng ta qua" Cây Lá Phận Người" đánh dấu một thành công vững chắc. "Mặt Trời Lưu Vong", thi phẩm thứ hai của anh là một nối tiếp sáng chói khác, bởi ngoài kỹ thuật già dặn, tập thơ này là một thông điệp mang nhiều ẩn dụ sâu sắc.

Trước hết, thơ trần Thiện Hiệp cũng như Phạm Thiên Thư, mang nhiều hình ảnh đẹp như bướm chim, hoa lá, trăng sao, sông núi. Anh rất nhạy cảm với thiên nhiên, cho nên thiên nhiên đi vào thơ anh thật ngọt ngào, thật truyền cảm:
Sáng mai ta hứng hạt sương rơi
Từ đóa trà mi đọng nắng trời
Thấm vết lệ hoen đôi mắt ấy
Dỗi hờn em có sẽ dần vơi
hoặc:
Chia em một nửa hồ mây vương
Nửa đàn bạch hạc giữa chiều sương
Và chia em cả ngàn hoa thắm
Với bướm vờn bay trong sắc hương
(Ngần Ấy Cho Em, tr. 83)
hay:
Nhớ lên núi tím miền biên trấn
Phố nhỏ bụi mù phố có em
Hoa cúc vườn em hoa cúc thắm
Trăng sương soi lạnh bóng bên rèm
(Phố Núi, tr.89)
Mỗi hình ảnh đẹp trong thơ đều thấm nhuần rung động trữ tình của một tâm hồn rất đổi thơ. Tuy nhiên, hình ảnh dẹp trong thiên nhiên đâu chỉ đi vào thơ bằng nét phiêu diễm mơ màng, bằng xúc cảm lãng mạn, nó còn hòa chứa cả cái vô vi của Lão Tử. Xin nghe:
Sáng ta có đỉnh mây hồng
Đêm hâm rượu ấm uống dòng sông sao
Để hồn lộng gió trời cao
Hóa thân hoàng hạc cõi nào rong chơi
(Còn Bước Phiêu Du, tr.11)
hoặc:
Nhánh hương lễ sớm khói vờn bay
Đón nhận thêm năm buổi sáng này
Tâm cảnh vẫn là tâm cảnh đã
Có từ hoàng hạc xa lầu mây
(Tâm Cảnh, tr.59)
Theo cư sĩ Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng thì triết lý của Lão Tử là triết lý dọn đường cho tâm thức đạo sĩ thấm nhập Phật pháp, nhất là về pháp môn Thiền. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi đọc những câu thơ vừa có hình ảnh đẹp vừa đi vào tinh thần bát nhã của Phật giáo (sắc lẫn không trong cùng một tâm cảnh của Trần Thiện Hiệp):
Gió lay đào rụng vườn sau
Ngỡ trăm cánh bướm lạc vào mênh mông
Nhện buồn giăng mối tơ lòng
Ta ngồi nối sợi sắc không vào hồn
(Bài Thơ Không Tên, tr.63)
Thơ không hình ảnh là khuôn mặt thiếu hồng huyết cầu trở nên xanh xao, là thiếu diệp tố trở nên khô vàng. Thơ Trần Thiện Hiệp đã tránh được khuyết điểm cơ bản ấy. Chẳng những thế, qua các hình ảnh phong phú, linh động, Trần Thiện Hiệp đã gởi gấm rất nhiều đến độc giả ngoài tư tưởng Lão Trang và Phật pháp. Trước hết anh viết lên lời hoan ca về tình yêu, về hạnh phúc:
hạnh phúc là suối mát cỏ hoa
khổ đau là gai khô sỏi đá
trải dài con đường hồng trần
tôi dìu em đi gót mềm năm tháng
lẫn lộn buồn vui
với tấu khúc thăng trầm của rừng xanh biển cả
(Đường Hồng Trần, tr. 13)
Anh đã nhìn sâu cái bi đát hiện hữu của nhân sinh:
Mười năm râu tóc sương pha
Chân dung nhìn lại ngỡ là người dưng
Quẩy bình vào giữa núi rừng
Thênh thang uống cạn mấy tầng hư không
Rượu tàn thấy dưới cội thông
Trong say đã khắc một dòng thơ đau.
(Thời Gian, tr. 18)
Tới đây thơ đã mở ra vấn đề lớn hơn vấn đề tâm tình, đó là cái phù ảo của kiếp nhân sinh. Nhà thơ đã gieo tê điếng bàng hoàng cho người đọc qua câu thơ xuất thần: "Thênh thang uống cạn mấy tầng hư không"!
Cái kiếp người bào ảnh còn được tác giả nhắc tới ở bài Thu, trang 26:
Ru em giấc ngủ muộn màng
Mưa khuya thánh thót bên hàng hiên rơi
Nghe trong vần chuyển đất trời
Có tôi hạt bụi giữa đời phù du.
Có một bài thơ mô tả cuộc sống nhạt nhẽo, tầm thường, những hình ảnh cũng tầm thường và nhạt nhẽo. Nhưng thơ lại thăng hoa vào một thần trí sáng tạo tuyệt vời. Đó là bài Buổi Sáng Ngồi Mơ, trang 50:
Cuối tuân say ngất - thứ hai nghỉ
Điện thoại sở làm khai nhức đầu
Vợ giận cằn nhằn, ta phớt tỉnh
Góc nhà tréo cẳng chiêu trà tàu
Vườn sau thơ thẩn con mèo mướp
Của bác Mỹ đen ở cạnh nhà
Khi đến gốc đào, mèo đứng lại
Ngắm đôi bướm nhỏ bay là đà
Nhìn mèo, dõi bướm ta vui lây
Đời vẫn còn lưa những phút này
Cũng bởi nhờ say nên mới gặp
Dẫu rằng hạnh phúc thoảng mây bay
Ước mơ như bướm hoặc như mèo
Thanh tịnh sớm chiều giữa lá reo
Cơm áo nợ nần không vướng bận
Vợ già hầu rượu đừng kèo nhèo
Trà cạn, mèo đi, bướm đã xa
Còn trơ khóm cúc ngoài hiên nhà
Nhồi thêm tẩu thuốc phà tơ khói
Chợt nhớ ba đào vẫn cõi ta.
Ở đây cái gàn bướng, cái lẩm cẩm rất thơ, cái mơ màng thật khả ái, và cái tỉnh giấc đột ngột thì thật ngậm ngùi se thắt.
Trần Thiện Hiệp còn đưa thơ vào niềm đau đất nước qua bài Trùng Trùng Vây Bọc (trang 56) vào tình nhân loại qua bài Cùng Người Bạn Da Đỏ (trang 60), về nỗi buồn bơ vơ trên đất tạm dung qua bài Tết Ở Đây (trang, 23) và bài Thành Phố Này (trang 27), về niềm thương nhớ mẹ hiền qua bài Cũng Là Ghi Nhớ (trang, 46). Bài nào cũng được diễn tả bằng kỹ thuật già dặn, ngôn ngữ chuốt lọc và gợi cảm, bằng nhiều hình ảnh dễ khơi rung cảm man mác, bâng khuâng nơi người đọc.
Ngậm ngùi nhất là bài cảm khái cho thân phận lưu vong của mình:
Đọc sách, người xưa hờn vong quốc
Ta nay nghìn biển biệt quê nhà
Lòng vẫn nhủ lòng ngày quang phục
Soi gương đầu bạc buồn xót xa
Vào núi thử cung đường tên ngắn
Chừng như muông thú cũng cười khinh
Ôi thôi đã thế thì... thôi thế!
Rừng vắng treo cung thẹn với mình
Tang bồng hồ thỉ đành ảo mộng
Diệt Tần thôi thiếu một Kinh Kha
Từ biết sức mòn nên cầm bút
Dẫu rằng sông núi vẫn trong ta
(Rừng Vắng Treo Cung, trang 92)
Trần Thiện Hiệp suốt 17 năm lưu vong, dù có tâm sự riêng, những u uẩn đau buồn, nhưng vẫn bền bỉ với công việc sáng tác. Thơ anh xuất hiện trên nhiều báo... Thơ anh xoay qua nhiều đề tài nhưng nhân sinh quan của anh thì nhất quán: đó là sự chấp nhận thân phận, chấp nhận sự hiện hữu của cuộc đời với nụ cười thật vô vi, thật mầu nhiệm trong cuộc hóa giải mọi nghịch cảnh. Tôi xin mượn 4 câu thơ trong bài tứ tuyệt Còn Nối Nghìn Chương ở trang 64 để tạm dừng bước vào cõi thơ Mặt Trời Lưu Vong của Trần Thiện Hiệp:
Cõi này đâu có lối thiên thai
Thì cười nhẹ bước giữa trần ai
Dẫu trăm cơn bão thì sao đã
Đời chép ngàn trang vẫn nối dài.
Đào Huy Đáng
Theo https://www.art2all.net/

Trò chuyện cùng nhà thơ và dịch giả Thiếu Khanh - Người miệt mài thủy chung cùng chữ nghĩa

Trò chuyện cùng nhà thơ và dịch giả
Thiếu Khanh - Người miệt mài thủy
chung cùng chữ nghĩa

Nhà thơ và cũng là dịch giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng mà mọi người đã biết, chúng tôi rất vui mừng được tiếp xúc, chuyện trò cùng ông hôm nay, đó là: THIẾU KHANH, một người đã sống và “lăn lộn” ở trường văn, trận bút trên sáu nươi năm (60) có lẻ. Nhớ lại ngày ấy, một ngày đã xa, đã lùi khuất theo bóng nắng của thời gian, những bài thơ hay của ông mà chúng tôi đã được đọc ở tạp chí Thời Nay, những bài viết của nhà văn Song Thao cũng nằm ở đó. Tôi cũng gửi dăm ba bài thơ tình của thời mới lớn cho tạp chí này và lúc đó nhà thơ Hoài Thương, người phụ trách trang văn học, đã cho cùng góp mặt.

Thế rồi, bẵng đi một thời gian xa khuất, chúng tôi đã lạc mất nhau; và giờ đây chúng tôi lại được gặp nhau qua những dòng chữ này.
Để bắt đầu, đề nghị dịch giả & nhà thơ Thiếu Khanh giới thiệu đôi chút về thân thế cũng như sự nghiệp của anh.
Thiếu Khanh: Thưa anh Triều Hoa Đại. Cám ơn anh và tạp chí Ngôn Ngữ đã có nhã ý dành cho hai chúng ta cuộc trò chuyện này. Nhưng nói về “thân thế và sự nghiệp” thì nghe lớn lao quá. Thực ra tôi chưa làm được điều gì đặc biệt hay đáng kể để khoe với anh. Cho đến nay, có lẽ điều tôi có được nhiều nhất là… số tuổi. Tôi tuổi Nhâm Ngọ (1942), nhưng hồi nhỏ ở nhà quê loạn lạc trẻ con đi học trễ nên làm giấy Thế vì Khai sanh ghi sụt một tuổi, 1943, để thi vào trường công lập. Quê tôi là Làng Bình Thạnh (có tên cổ thường gọi là La Gàn – có lẽ phiên âm của một từ gì đó tiếng Chiêm Thành chăng?) huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận cũ. Hiện nay tuy có hộ khẩu thường trú ở Quận 1, Sài Gòn, song gia đình tôi đang có một ngôi nhà nhỏ, tạm trú tại huyện Hóc Môn, vùng đất lịch sử của 18 Thôn Vườn Trầu xưa.
Không kể Khơi Dòng, tập thơ in chung ba tác giả: Thiếu Khanh, Thu Lâm và Nguyen Thi Sinh, tại Canada năm 1968, tôi có in riêng được hai tập thơ, cách nhau gần 50 năm. Tác phẩm đầu tiên là Trong Cơn Thao Thức (nxb Da Vàng, Đà Nẳng, 1971), và tác phẩm thứ hai, Tình Ca Thiếu Khanh (nxb Nhân Ảnh, Hoa Kỳ, 2020.)
Tôi cũng có dịch được một số tác phẩm thuộc nhiều thể loại từ tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược lại, trong đó gồm thi phẩm của một số nhà thơ, và các tác phẩm fiction và non-fiction, cho một số nhà xuất bản trong nước. (Riêng với Công ty truyền thông Nhã Nam là nhiều nhứt, với 10 tựa sách).
Ngoài ra, tôi có soạn một cuốn Từ Điển Cụm Từ Việt Anh (Vietnamese – English Phrase Dictionary) do nxb Trẻ xuất bản và giữ bản quyền (2005), và hiện nay sắp xong một cuốn Từ điển khác, Từ Điển Phiên Dịch Việt Anh – Vietnamese-English Translating Dictionary.
Triều Hoa Đại: Theo tôi biết, trước khi là một dịch giả anh là một nhà thơ. Có người nói: “Thi sĩ là người quan sát thời gian, chiêm nghiệm bản ngã, đối thoại với đời và chính mình.” Theo anh điều đó có đúng không? Anh có ý kiến gì để bổ túc?
Thiếu Khanh: Thưa anh, dường như lời phát biểu trên thường được cho là của nhà thơ Nguyễn Duy trong nước, nhân ông đàm luận với bằng hữu trong những cuộc trà dư tửu hậu, và được bộc lộ nhiều trong tập thơ “Về” (1989) của tác giả. Không biết có phải không. Lời phát biểu của ông (nếu đúng vậy) là những nhận thức cá nhân của một thi sĩ đóng góp thêm vào lãnh vực này: xác định vai trò và trách nhiệm của thi sĩ trong cuộc sống. Vì từ hàng ngàn năm nay, sự hiện hữu của các thi sĩ và vai trò của họ đã được rất nhiều nhà tư tưởng, văn nhân, thi sĩ nổi tiếng trên khắp thế giới nhận định hoặc định nghĩa rất khác nhau.
Cách nay gần một thế kỷ, vào khoảng đầu những năm 1930, thời kỳ Tự Lực Văn Đoàn ở nước ta ra đời, nhà thơ Xuân Diệu đã “định nghĩa”: “Là thi sĩ nghĩa là ru với gió/ Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây…” Nhưng ý tưởng này sau đó, vào khoảng đầu thập niên 1940, đã bị ông Sóng Hồng (tức Trường Chinh, về sau là Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam) gạt bỏ trong bài thơ “Là Thi sĩ” của ông ta, và gán cho thi sĩ một ý nghĩa tích cực hơn: (… )
Là thi sĩ phải là hồn cao khiết,
Chí kiên cường và sứ mệnh cao siêu;
Ca tự do, tiến bộ với tình yêu
- Yêu nhân loại, hòa bình và công lý - (…)
Từ hàng ngàn năm trước, theo lời Plato, nhà tư tưởng nền tảng của truyền thống triết học phương Tây, ghi lại trong cuốn Apology, Socrates, nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã phát biểu: “Tôi đã quan sát các thi sĩ và nhận thấy họ là những người có tài năng làm kinh ngạc cả bản thân lẫn kẻ khác; họ tỏ ra thông thái và được người đời coi là thông thái, trong khi thực chất họ chẳng có gì là thông thái cả." (I examined the poets, and I look on them as people whose talent overawes both themselves and others; people who present themselves as wise men and are taken as such, when they are nothing of the sort.)
Và bản thân Plato, người học trò của Socrates, dù rất ngưỡng mộ các thi sĩ, nhưng đã coi họ là những “người sáng tạo nguy hiểm của sự bắt chước” (dangerous creators of imitation), những kẻ chỉ chú trọng về mặt cảm xúc hơn là sự thật (focused more on emotions than on truth). Ông cho rằng thơ ca làm tha hóa tâm hồn, xuyên tạc các vị thần và cách xa thực tại ba bậc (that poetry corrupted the soul, distorted the gods, and was three steps away from reality.) Theo ông, nhà thơ chỉ là những kẻ si tình. “Khi tình yêu chạm đến, ai cũng trở thành thi sĩ” (At the touch of love everyone becomes a poet.) Và Plato thẳng tay xua đuổi các thi sĩ ra khỏi cái thành bang lý tưởng (ideal city-state) mà ông sáng tạo trong tác phẩm The Republic.
Gần hai thế kỷ trước, Søren Aabye Kierkegaard (1813–1855), nhà thần học, triết gia, thi sĩ, người Đan Mạch, được nhiều người coi là triết gia hiện sinh đầu tiên, thì hỏi: “Thi sĩ là gì?” và ông tự trả lời: “(Đó là) một người bất hạnh, giấu kín nỗi đau đớn sâu sắc trong lòng, nhưng đôi môi lại được tạo hình sao cho khi tiếng thở dài và tiếng khóc thoát ra, vang lên như một bản nhạc tuyệt vời…” (“What is a poet? An unhappy man who hides deep anguish in his heart, but whose lips are so formed that when the sigh and cry pass through them, it sounds like lovely music....)
Dưới mắt William Shakespeare, thi sĩ, kịch tác gia vĩ đại của văn học Anh thế kỷ 15, thi sĩ chỉ được xếp ngang hàng với kẻ điên, khi ông nói: “Kẻ điên, người si tình và thi sĩ, tất cả đều được gói gọn trong trí tưởng tượng…” (The lunatic, the lover, and the poet, are of imagination all compact.) Chính Shakespeare cũng là một thi sĩ!
Còn Gregory (Dale) Bear (1951 –2022), nhà văn viết tiểu thuyết khoa học giả tưởng người Mỹ, cho rằng: “Có thời, các thi sĩ là những pháp sư. Các thi sĩ mạnh mẽ, mạnh hơn cả chiến binh hay vua chúa — mạnh hơn cả những vị thần thiếu may mắn xưa kia.” (Once, poets were magicians. Poets were strong, stronger than warriors or kings — stronger than old hapless gods.)
Theo Allen Ginsberg, nhà thơ và nhà văn người Mỹ (1926–1997): “Các thi sĩ bị người ta nguyền rủa… nhưng lại nhìn (mọi vật) bằng con mắt của các thiên thần.” (Poets are damned… but see with the eyes of angels.)
Vân vân…
Nhưng có người quan niệm thi sĩ là người có vai trò cực kỳ quan trọng. Trong một bức thư gởi cho người Thầy là Paul Demeny vào ngày 15 tháng 5 năm 1871, nhà thơ Pháp Arthur Rimbaud đã viết: "Le poète est donc vraiment voleur de feu." (Do đó, thi sĩ thực sự là kẻ trộm lửa.) Đây là sự liên tưởng trực tiếp đến hình tượng thần thoại Prometheus, người đã đánh cắp lửa (tức tri thức) của các vị thần để trao cho nhân loại.
Trước đây từng có người nhận xét mỗi người Việt Nam là một thi sĩ, và hiện nay, có người nói Việt Nam là một “cường quốc thơ” nhưng từ sau khi đất nước thống nhứt, thi sĩ của cả hai phe thắng cuộc và thua cuộc đều hụt hẫng, ngơ ngác, khiến ta liên tưởng hình bóng hiu hắt của thi sĩ Tô Thùy Yên:
Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai.
Triều Hoa Đại: Chuyện sinh hoạt văn học trong nước ngày nay thế nào? Tôi muốn nói đến sách, báo có được nhà nước cho phép phổ biến, in ấn có tự do. Nếu như có được tự do thì cũng là điều nên làm bởi vì con người ta đâu chỉ sống bằng cơm gạo, áo quần mà còn phải cần đến đời sống tâm linh, chữ nghĩa nếu không cần đến văn chương thì có khác gì cái giá để mắc áo và cái bụng để đựng cơm anh nghĩ thế nào, và chính quyền theo anh họ có nghĩ như chúng ta không?
Thiếu Khanh: Thưa anh, mình không thể nói được Chánh quyền có nghĩ như mình hay không. Nhưng theo thông tin trên mạng Internet, chánh quyền có khoảng tám trăm tờ báo và các đài phát thanh, truyền hình khắp nước, trong đó không có một tờ báo hay đài phát thanh hoặc truyền hình nào của tư nhân. Nắm trong tay một số lớn báo chí trên toàn quốc như vậy cho nên chánh quyền hoàn toàn có tự do báo chí.
Chánh quyền địa phương mỗi tỉnh hoặc thành phố đều có ít nhứt một nhà xuất bản. Và không có nhà xuất bản tư nhân nào. Tức là trong nước, chánh quyền tuyệt đối có tự do ngôn luận.
Về phía người dân, họ chỉ có internet và các mạng xã hội. Đó là những ô cửa tinh thần mở ra thế giới, qua đó họ có được sự tự do tương đối nhìn ra và nhìn thấy thế giới bên ngoài. Chỉ là tương đối thôi, vì cả mạng Internet và các mạng xã hội, dù xuất phát từ các nước tự do, đều được theo dõi và kiểm soát cách này hay cách khác.
Triều Hoa Đại: Lúc còn sinh thời nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có đưa ra ý kiến như thế này:” cần có thêm văn học trong nước, và văn giới hai nơi cần liên hệ gần gũi, trao đổi với nhau” anh có đồng ý như vậy không. Và, tại sao vì lý do gì mà văn giới chúng ta phải chờ đợi lâu và rồi còn phải chờ đợi thêm bao lâu nữa, nhà nước kêu gọi “hoà hợp, hoà giải” vậy nghĩa của “hoà hợp, hoà giải “ theo anh hiểu là gì?
Thiếu Khanh: Thưa anh Triều Hoa Đại, một ý kiến như thế không chỉ một nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nêu ra. Hầu như không một người cầm bút nào có tâm huyết với nền văn học nước nhà mà không nghĩ tới. Nghĩ tới, hoặc có khát vọng là chuyện của người cầm bút trong và ngoài nước. Nhưng đã hơn 50 năm rồi mà “người bên ngoài” vẫn còn mơ chuyện “hòa hợp hòa giải” thì liệu có… lỗi thời không! Xin lỗi anh. Hơn nửa thế kỷ rồi. “Bên thắng cuộc” không chỉ đã thắng trên mặt trận quân sự, “đánh cho Mỹ cút ngụy nhào,” mà họ còn thắng thêm nữa về mặt văn hóa nghệ thuật: phát triển các mặt văn hóa nghệ thuật theo đường lối của Đảng mà không cần phải kêu gọi hòa hợp hòa giải gì cả. Vì biết thời gian đứng về phía mình, chánh quyền đã đủng đỉnh chờ…thời gian sẽ kéo “những người bên kia” về “hòa hợp” với họ mà bản thân họ không cần phải hòa hợp hòa giải với ai cả. Ai cần hòa hợp hòa giải với họ thì…về.
Cỡ…phó tổng thống như Nguyễn Cao Kỳ đã xun xoe về với họ, thì họ còn cần phải hòa hợp hòa giải gì nữa, và với ai nữa? Những năm gần đây, giới biểu diễn giải trí hải ngoại đã lần lượt “hàng Tào.” Từ cỡ đại thụ như Phạm Duy đến những ca sĩ kịch sĩ tầm tầm hay nổi tiếng khác. Đừng nói đó là những kẻ “xướng ca…” Đợt tị nạn F0 đã quá già, không còn được mấy người. Đợt F1 lớn lên đã hòa nhập vào văn hóa của cuộc sống mới, không còn hứng thú với “gu” thưởng ngoạn văn hóa của lớp cha mẹ. Càng ngày, thời gian kéo dài ra, giới nghệ sĩ càng không còn khán giả. Nghệ sĩ cũng cần ăn để sống như mọi người. Thực tế cuộc sống xô đẩy họ về nước kiếm ăn. Những anh chị nào không về hay chưa về chắc phải cảm thấy thời gian của mình sắp hết. Họ về để tự mình “hòa hợp và hòa giải” với chánh quyền. Nhưng quyền…được hòa giải hay không thì không nằm trong tay họ. Giới cầm bút hải ngoại chưa thấy mình sắp hết độc giả vì tác phẩm văn học không cần sân khấu chăng? Dù các anh chưa thấy hay không muốn thấy sự “phản bội” của thời gian, nhưng chánh quyền trong nước đã thấy từ lâu. Thế thì sao họ phải “hòa hợp hòa giải” với các anh chị cầm bút ở nước ngoài?
Triều Hoa Đại: Thưa anh Thiếu Khanh đến đây tôi muốn hỏi anh về chuyện hội nhà văn ở trong nước. Anh có tham gia hội này không? Tôi nghe nói muốn được kết nạp vào hội thì khó như lên trời, có phải vậy không? Có người cho biết tỷ lệ được vào hội nhà văn Việt Nam nếu đem so sánh với một trường đại học danh tiếng như Cornell thì cũng chẳng khác gì. Bằng chứng là trong năm qua có chín trăm (900) đơn xin vào hội nhưng số nhà văn được kết nạp chỉ có sáu mươi ba (63) được nhận, nhưng trong số những “nhà văn” được hội kết nạp có những hội viên độc giả chẳng biết họ là ai, tài giỏi đến mức độ nào. Vậy theo anh cứ như cái đà này thì văn chương Việt Nam bao lâu nữa sẽ đi cùng và ngang bằng với văn chương thế giới? Và rồi văn chương Việt Nam sẽ đi đến đâu và về đâu?
Thiếu Khanh: Thưa anh Triều Hoa Đại, thực ra suốt 50 năm qua tôi chưa hề quan tâm đến chuyện này, nên không biết gì về các hoạt động của Hội nhà văn Việt Nam, dù 15 năm trước, có lần, hai lần, tôi được Hội Nhà Văn ở Hà Nội mời tham dự hai sự kiện quan trọng của họ, tuy tôi không phải là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, cũng không là hội viên của Hội Văn học Nghệ thuật Thành phố nơi gia đình tôi sinh sống. Lần đầu, năm 2010, với tư cách dịch giả tham dự một hội nghị quốc tế về quảng bá Văn học Việt Nam. Lần thứ hai, năm 2012, tham dự một Festival Thơ quốc tế. Cả hai lần đều tại Hà Nội. Sau hai lần đó, tôi không được mời nữa. Mà tôi cũng không có mong muốn trở thành một hội viên Hội nhà văn. Mọi hội đoàn đều là các tổ chức do nhà nước “nắm” để kiểm soát. Sao phải chui đầu vào làm gì?
Tôi thấy trên mạng xã hội Facebook người ta nói có không ít kẻ tìm mọi cách chạy chọt thế nào đó để có được cái thẻ hội viên Hội nhà văn. Lại nghe nói có người đặt cái thẻ hội viên lên kiệu để rước về làng. Rồi, thậm chí họ còn làm tiệc lớn để khao cái thẻ đó. Những cách “hội viên hóa”…phi văn học như thế không biết để làm gì.
Còn có người khác, tôi nghe nói, “nếu ai gợi ý ông ta xin vào Hội nhà văn ắt bị ông ta…mắng cho rát mặt.” Thì thôi, chín người mười ý vậy.
Nền văn học Việt Nam có ngang bằng với văn học thế giới hay không, hay sẽ đi đến đâu, về đâu, đều không liên quan gì đến chuyện người viết có vào Hội nhà văn hay không.
Triều Hoa Đại: Cũng vẫn chuyện dài về hội nhà văn. Nhiều người đưa ra quan niệm:” Đừng quan tâm đến chuyện được kết nạp vào hội nhà văn mà hãy nên xem thơ văn của mình có được độc giả đón nhận, đánh giá chất lượng của tác phẩm, chứ không phải cái danh là hội NHÀ VĂN. Ý kiến của anh?
Thiếu Khanh: Thưa anh, đúng thế. Đâu phải người cầm bút phải vào Hội nhà văn mới sáng tác được, hoặc tác phẩm mới được bảo đảm giá trị! Anh muốn viết, chỉ cần trải giấy ra, cầm bút lên là viết được thôi. Dù bây giờ có thể không dùng giấy bút nữa mà dùng máy tính thì máy tính cũng không đòi hỏi phải có hội đoàn.
Cái làm nên nhà văn là tác phẩm, chớ đâu phải cái thẻ hội viên Hội nhà văn! Tôi có biết một số nhà văn cứ lặng lẽ sáng tác và tự xuất bản theo cách của mình mà không cần phải là hội viên gì cả. Nhà văn Nguyễn Viện, chẳng hạn, nghe nói năm năm qua anh viết và tự in đều đều mỗi năm một tiểu thuyết. Dường như chưa có một hội viên Hội nhà văn nào có được bút lực như vậy.
Thời Liên xô các nhà văn có samizdat (tiếng Nga, hình thức tự xuất bản). Ngày nay, nếu không in được trong nước, vẫn có thiếu gì cách để xuất bản tác phẩm của mình ở nước ngoài. Không phải ngay từ thời đó, Bác sĩ Zhivago của Boris Pasternak được in ngoài nước Nga – ngoài Liên xô – và được trao giải Nobel Văn chương đó sao?
Một nhân tố quan trọng giúp khẳng định sự có mặt của một nhà văn là số độc giả của họ. Văn hay đương nhiên là có người đọc, nhưng dù sao giữa nhà văn và người đọc cũng cần có một chiếc cầu nối chớ không thể theo lẽ nhà văn cứ “hữu xạ” thì “tự nhiên hương.” Chiếc cầu nối đó là giới phê bình văn học. Nhưng trên diễn đàn văn học Việt Nam trong nhiều thập niên qua dường như chưa hề có một nền phê bình văn học đúng nghĩa. Có lẽ chỉ có những người giám sát, mà từ cũ gọi là “ngự sử văn đàn” canh giữ sao cho mọi tác phẩm văn học luôn nằm dưới một lằn ranh đỏ nào đó. Thỉnh thoảng có tác giả nào cố gắng vươn tới (cái gọi là) “gần sự thật” một chút, lập tức bị nhiều người xúm vào “đánh hội đồng” cho tơi tả. Bảo Ninh với tiểu thuyết Nỗi Buồn Chiến Tranh là một ví dụ, dù trong đó tác giả có vẻ “lấy lòng phe ta,” vẽ ra cảnh “lính ngụy ăn thịt người.”
Dường như sự vắng mặt các nhà phê bình văn học là một trong số các nguyên nhân khiến nhiều người Việt Nam không thích đọc sách. Họ không được kích thích để đọc. Thấy tin trên báo nói trung bình mỗi người Việt một năm đọc 4 cuốn sách mà 2,8 cuốn trong đó là sách giáo khoa. Lại có một thống kê nào đó nói một người Việt Nam mỗi năm đọc 0,5 cuốn sách văn học. Điều này có lẽ phản ảnh trong số lượng bản in của tác phẩm. Thường thì một tác phẩm được in ra vài trăm bản, một số dành tặng thân hữu. Có lẽ họa hoằn lắm mới có một tác phẩm có được tirage 1000 bản. In ít nên giá thành cuốn sách tăng cao quá, càng không khuyến khích người đọc. Không khí văn học cứ bình bình. Và người ta đang trông chờ một giải Nobel văn chương.
Nhưng trên đây chỉ phản ảnh sự hiểu biết rất hạn chế và có thể nông cạn của một người “ngoại đạo” – một dịch giả, không phải trong giới sáng tác văn học.
Triều Hoa Đại: Những lúc gần đây trong họ ngoài làng xôn xao về chuyện AI viết văn, làm thơ. Như vậy trong tương lai gần các nhà văn, nhà thơ của chúng ta hoá ra bỗng dưng trở thành thất nghiệp, anh có cho rằng đấy là một vấn nạn?
Thiếu Khanh: Thưa anh, gần đây tôi cũng nghe chuyện có tác phẩm của một tác giả được giải thưởng, và độc giả phát hiện tác phẩm được viết bằng AI. Tôi rất ngạc nhiên. Bởi tôi rất bận với công việc của mình, không có nhu cầu và trải nghiệm với AI, nên rất mù mờ về chuyện này. Không ngờ khoa học đã (?) có thể thay thế hẳn hoạt động của trí óc con người. Tuy vậy, tôi không băn khoăn việc “nhà văn nhà thơ chúng ta bỗng dưng (có thể) trở thành thất nghiệp,” mà có nỗi lo khác. Nếu khoa học tiến nhanh và xa như thế, chẳng mấy chốc nữa trí khôn nhân tạo sẽ vượt qua trí óc con người. Không chỉ việc nhân loại có thể bị máy móc thống trị mà, cái đáng sợ hơn, trong tương lai rất gần, con người sẽ có thể sử dụng các sản phẩm AI ghê gớm để thống trị và kiểm soát đồng loại gắt gao hơn.
Triều Hoa Đại: Chắc anh thường xuyên theo dõi “bước chân” của anh, chị em viết văn và làm thơ ở trong nước và hải ngoại. Anh đọc những ai ở trong nước và những tác giả nào ở bên ngoài tổ quốc? Vì lẽ gì mà anh lại đọc họ? Và nhận xét của anh?
Thiếu Khanh: Thưa anh Triều Hoa Đại, tôi thật xấu hổ thú nhận rằng do một hoàn cảnh riêng, từ nhiều năm nay tôi chỉ chúi đầu vào công việc kiếm sống, nên ngoài những nguồn tư liệu tham khảo cụ thể cần cho công việc, tôi không đọc được gì nhiều về tác phẩm sáng tác văn học, cả trong và ngoài nước; hoặc tôi chỉ đọc được rất lõm bõm. Vì vậy, tôi xin phép không dám nói gì về chuyện này. Tôi nhận được rất nhiều sách biếu của bằng hữu – hầu hết từ trong nước, vì thuận tiện hơn. Tôi rất cảm kích nhã tình của các bạn, nhưng đã phải nhiều lần tạ lỗi vì rất phụ lòng yêu mến của người tặng sách.
Về tác phẩm của các nhà văn sống ở nước ngoài, tôi chỉ thấy được tên sách của họ trên mạng Internet.
Triều Hoa Đại: Được biết anh đang thực hiện một cuốn từ điển Việt Anh và cuốn từ điển ấy đã có một độ dày kinh khủng: ba ngàn bẩy trăm trang (3700) thế thì cuốn từ điển ấy khi nào sẽ hoàn thành, cũng tiện hỏi anh là anh khởi công biên soạn cuốn từ điển tự khi nào tổng cộng số tháng năm để có cuốn tự điển này?
Thiếu Khanh: Thưa anh, chuyện này là do nhu cầu thực tế của công việc thúc đẩy. Là một dịch giả, thỉnh thoảng tôi đụng đầu với một số khó khăn: không có sẵn những từ tương đương và chính xác trong tiếng Anh cho một từ hay một cụm từ (phrase) mô tả một khái niệm nào đó trong tiếng Việt. Một phần là do sự khác biệt văn hóa. Phần khác, có thể những từ đó vốn có trong tiếng Anh mà mình chưa biết. Trước đây có một cô phóng viên đã trực tiếp hỏi tôi, cụ thể những từ tiếng Việt mà tôi bị “bí” khi dịch sang tiếng Anh đó là gì, nhưng nhất thời lúc đó tôi không nhớ. Đó là, ví dụ, những từ “giang hồ,” “bạn giang hồ,” “khách thương hồ,” vân vân.
Có lần có một dịch giả nổi tiếng trong nước đã dễ dãi dịch từ “bạn giang hồ” là “friends of rivers and lakes” khiến mạng xã hội Facebook xôn xao.
Lại có người dịch trái thanh long là “dragon fruit,” cây chuối cô đơn là “lonely banana,” vân vân, mà không biết rằng các cây trái đó vốn đã có từ tiếng Anh để gọi. Sự “đặt tên mới” như thế không những là không cần thiết mà còn làm rối trí và gây nhận thức sai lạc cho người đọc. Do đó, tôi muốn làm một cuốn từ điển cho chính mình tham khảo khi cần, và giúp những người muốn dịch sang tiếng Anh một cách chính xác theo cách nói/viết của người bản ngữ, chớ không phải mang phong cách tiếng Việt, hay thứ tiếng Anh theo cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt.
Sau khi nhà xuất bản TRẺ in (và giữ bản quyền) cuốn Từ Điển Cụm Từ Việt Anh của tôi (năm 2005), tôi bắt đầu vừa làm việc dịch thuật hàng ngày, vừa đặt kế hoạch cho một cuốn Từ Điển Phiên Dịch Việt Anh. Từ đó đến nay 21 năm, và cuốn sách với 3700 trang bản thảo trên máy tính đã xong phần soạn thảo. Tôi đang trong giai đoạn đọc lại bản thảo và cố gắng rút ngắn bớt số trang.
Sở dĩ tôi mất nhiều thời gian như thế là vì tôi làm việc một mình, vừa dịch thuê kiếm sống, về sau vừa chăm sóc nhà tôi điều trị bịnh một thời gian dài nhiều năm. Nhiều lúc tôi phải mang laptop vào bịnh viện để làm việc vào ban đêm vừa tiện chăm sóc nhà tôi. Hiện nay nhà tôi đang trong quá trình bình phục, tuy người còn yếu, và vừa trải qua một đột quỵ nhẹ.
Có người lo lắng cho tôi vì thấy Google Dịch đã khá tốt, e rằng cuốn Từ Điển của tôi sẽ bị …lỡ tàu mất. Nhưng tôi vẫn lạc quan, vì bản thân tôi trực tiếp tiếp xúc với việc dịch thuật, nhận thấy cho đến nay Google Translate chỉ “xử lý” được những câu văn bình thường, dịch nghĩa của từ, ví dụ Google Translate dịch: “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây” = when eating fruit, remember the one who planted the tree. Cách dịch từ ngữ đó không phù hợp với cách nghĩ và biểu đạt của người Anh-Mỹ, nên “đối tượng” sẽ thấy ngô nghê và không lãnh hội được ý nghĩa thực sự từ ngôn ngữ nguồn. Khi nhu cầu dịch là chuyển được ý của lời tiếng Việt mang tinh thần văn hóa Việt sang tiếng Anh trong tinh thần văn hóa Anh như một người bản ngữ, đó sẽ là chỗ “sở dụng” của Từ Điển Phiên Dịch Việt Anh.
Triều Hoa Đại: Anh, chị em văn giới nhiều người bảo với tôi Thiếu Khanh là một người rất đa tài và uyên bác; chẳng thế mà chuyện gì anh cũng chuyên trị được tất tần tật như: làm thơ, tiểu thuyết, dịch thuật, viết sách về y khoa, viết về lịch sử và chính trị ..v..v… , Họ gọi anh là ĐẠI GIA bởi vì anh là người có rất nhiều”NHÀ”, nào là nhà thơ, nhà dịch thuật, nhà văn …v…v… Thế thì trong những “cái nhà” ấy anh tâm đắc nhà nào và anh muốn được gọi anh là nhà gì?
Thiếu Khanh: Thưa anh, tôi tưởng những từ “nhà thơ” hay “dịch giả” dành cho tôi đã là quá nhiều rồi. Tôi không có học hành hay được đào tạo để làm nhà thơ hay để trở thành dịch giả. Làm thơ là chuyện tình cờ tập tành từ hồi còn trẻ, không qua trường lớp nào. Còn dịch thuật chỉ là do đói thì đầu gối phải bò. Tôi làm công việc dịch thuật này cũng như trước đó, sau năm 1975, tôi đã từng làm nông dân 12 năm trên rừng núi Phương Lâm tỉnh Đồng Nai, rồi bán hàng rong hay dạỵ học trên cao nguyên Lâm Đồng 12 năm nữa, để nuôi sống bản thân và gia đình. Chẳng qua “gặp thời thế thế thời phải thế.”
Về Y Khoa, tôi chỉ dịch vài cuốn sách thôi, chớ không viết sách trong lãnh vực này. (Có biết gì đâu mà viết!) Đó là khoảng thời gian tôi mới đưa gia đình từ trên cao nguyên Lâm Đồng trở về thành phố vào năm 2000, chính thức bắt đầu công việc dịch thuật như một nghề kiếm sống. Anh Vũ Minh Tân, một người “làm sách” có tiếng ở Sài Gòn, có biết tôi trước đó, giới thiệu tôi với bác sĩ Lê Hồng Hà, một giảng viên Đại Học Y Dược ở thành phố. Chị Hồng Hà cần tìm một dịch giả giúp chị dịch cuốn sách Essentials of Mechanical Ventilation (Những Vấn Đề Thiết Yếu Trong Thông Khí Cơ Học) của các tác giả tiến sĩ Y Khoa chuyên gia về hô hấp: Dean R. Hess, và Robert M. Kacmarek, (Đại học Harvard, Hoa Kỳ) để làm giáo trình giảng dạy tại Đại học Y khoa. Đó là một cuốn sách về thiết bị hô hấp (máy thở) và quy trình thở máy. Sau khi xem qua cuốn sách dày khoảng 450 trang, tôi nhận lời với điều kiện chị Hà giúp tôi về các danh từ chuyên môn. Đương nhiên không nói chị Hà cũng giành lấy phần đó. Và chị làm thật tốt, khiến các bác sĩ trong ngành đọc cuốn sách dịch không thấy lấn cấn gì. Trong lời giới thiệu cuốn sách dịch, PGS, Tiến sĩ Đặng Vạn Phước, Phó Giám Đốc Bịnh Viện Chợ Rẫy, kiêm Khoa Trưởng Khoa Y Đại học Y Dược Tp. HCM viết: “Chúng tôi rất hoan nghênh cố gắng của Bác sĩ Lê Hồng Hà và GV Nguyễn Huỳnh Điệp, đã lựa chọn và biên dịch rất công phu cuốn sách này.”
Thời đó, tôi nghĩ chuyện dịch thuật này là cái “cần câu cơm” nhất thời, không liên quan gì đến văn nghệ văn gừng, nên ký tên thật thay vì bút hiệu TK. Vị Phó giáo sư tưởng tôi cũng là một giảng viên Y Khoa như chị Hồng Hà!
Khoảng 20 năm sau, anh Vũ Minh Tân tiết lộ trên Facebook: trước tôi, anh ấy đã nhờ vài dịch giả chuyên nghiệp khác, nhưng ai cũng “ngại chuyện y khoa” nên không ai nhận lời. Tôi giật mình: hóa ra mình điếc không sợ súng! 
Ngoài các tác phẩm dịch theo hợp đồng của các nhà xuất bản, trong số những thứ tôi dịch thuê cho những người “thuê miệng” (không hợp đồng) có một cuốn sách y khoa nữa mà một người “bạn mới quen” ở thành phố, thuộc “type” trí thức, chỉ trả cho tôi một triệu rưỡi đồng (= 20% tiền công thỏa thuận), nhưng cuốn sách thì…cha anh ta, một bác sĩ lão thành, “biên tập” và đứng tên mình là dịch giả. Thôi kệ. Nhưng từ đó tôi không gặp anh ta nữa, và quên tên anh ta luôn.
Triều Hoa Đại: dự tính cho những ngày kề cận ngoài cuốn tự điển VIỆT ANH sắp sửa trình làng anh còn có những tác phẩm nào khác để giới thiệu cùng độc giả và bạn văn?
Thiếu Khanh: Thưa anh, vào những năm tuổi ngoài 70 trước đây, trong bài thơ Trò Chuyện Từ Xa Với Thi Sĩ Luân Hoán, tôi có viết:
Người xưa bảy chục là hiếm lắm
Nhiều vị quân vương chỉ hưởng dương
Chúng mình đang sống phần khuyến mãi
Dù chẳng là vua cũng chẳng buồn…
Tôi cùng tuổi Ngựa với anh, anh biết rồi đó. Chúng ta chỉ còn cách mốc giới trăm năm có mười lăm năm nữa thôi. Sau khi xong cuốn Từ Điển này, tôi dành thì giờ còn lại để đọc cho hết số sách bằng hữu đã có hảo ý tặng mình, và chăm sóc nhà tôi, tuổi cũng đã ngoài 80, thật tốt. Hẹn với nhau rằng cô ấy sẽ đi trước, tôi đi sau, để tránh cho cô ấy khỏi đau khổ với cảm giác bị bỏ lại bơ vơ. Dù các con rất yêu mẹ, nhưng vợ chồng mất nhau ở tuổi đó người còn lại dù sống với các con cũng không khỏi cảm thấy lẻ loi và lạc lõng, anh nhỉ.
Triều Hoa Đại: Thưa anh Thiếu Khanh rất vui được cùng anh trò chuyện, cám ơn anh nhiều vì đã dành cho tôi một khoảng thời gian khá dài để hai ta cùng hàn huyên chuyện ngắn, chuyện dài.
Cám ơn anh Thiếu Khanh. Kính cầu chúc vạn sự cát tường.
Thiếu Khanh: Một lần nữa, tôi cũng cám ơn anh Triều Hoa Đại và Nhóm Ngôn Ngữ cho chúng mình có dịp tâm sự với nhau.
Kính chúc anh và gia đình, mọi người thường tâm lạc thân an và mọi điều thuận lợi.
Triều Hoa Đại
Nguồn: Tạp chí Ngôn Ngữ số 44, ra ngày 01/07/2026
Theo https://www.art2all.net/

  Tản mạn về thời gian Ngày trôi, tháng trôi, đời trôi. Rồi đây cỏ cây úa tàn. Thời gian lướt trên màu tóc. Nhạt nhòa phấn son phù du. Hỡi...