Thứ Ba, 3 tháng 11, 2026

Tường trắng lạnh câm

Tường trắng lạnh câm

Thời gian trôi nhanh như chớp mắt. Bây giờ già yếu, bệnh tật, phải thúc thủ, nằm đây”. Má anh tâm sự với bệnh nhân bên kia giường: “Trái tim tôi làm việc suốt chín mươi sáu năm, mệt lắm rồi hãy để cho trái tim mình nghỉ ngơi.

Phòng bệnh khoảng hai mươi mét vuông, có hai giường. Má anh bị tai biến nằm giường đặt sát cửa ra vào. Giữa hai giường song song là một khoảng trống khá rộng, người nuôi bệnh có thể trải chiếu nằm dưới nền nhà qua đêm, phòng khi người bệnh bất ngờ trở nặng, báo động cho bác sĩ trực đêm.

Sát vách, giường bên kia là một bà ở quận Lung Xanh trên bảy mươi tuổi – chủ vuông tôm, bị ung thư. Theo nuôi bệnh, chăm sóc cho bà là cô con dâu út, cô trẻ đẹp khỏe mạnh, gương mặt thanh tú, ưa nhìn. Cô rất sốt sắng chăm sóc mẹ chồng, lau dọn căn phòng và nhà vệ sinh sạch bóng. Lâu lâu, cô than phiền, mẹ em ung thư phổi, giai đoạn ba di căn qua gan thận, chắc không qua khỏi. Bác sĩ chạy rồi, hạn cuối cùng của mẹ em là trong sáu tháng nữa. Nhưng bà đâu có biết bà sắp chết. Hơi chút là giận hờn, gắt gỏng, phiền trách. Ở quê nhà, đã xây sẵn phần mộ cho bà phía sau vườn. Má em ăn chay, tối nào cũng thay bộ đồ mới ủi phẳng phiu, ngồi trước bàn thờ Phật gõ mõ, tụng niệm. Đến khuya, bà mới chịu vào giường. Khi trong mùng có muỗi, bà gọi em bật bốn bóng đèn led sáng rực, xem trong mùng có mấy con muỗi, lần nào bà cũng dặn, không được đập muỗi, hãy giở mùng cho muỗi bay ra. Bà ngồi trong mùng theo dõi từng cử chỉ của em, xem em có làm đúng ý bà không. Có lần em phải chống chế, thả muỗi ra nó lại chích, truyền bệnh cho người khác. Má em nhẹ nhàng, má ăn chay niệm Phật, không được sát sanh, tạo nghiệp. Em phải giải thích thêm cho má, giở mùng con này bay ra, con khác lại bay vô. Đến nỗi mỗi khi em giở mùng cho muỗi bay ra, má từ trong mùng tay cầm sẵn cây quạt giấy màu tím đậm, quạt ngược ra cho con khác khỏi chui vào. Đôi khi, chỉ vì một con muỗi nhỏ xíu cứ bay, trốn ở góc khuất trong những nếp gấp gối mền, thỉnh thoảng vụt đảo qua bay vo ve bên tai, rồi biến mất tiêu, mẹ chồng và nàng dâu căng mắt mãi kiếm, tìm cách phóng thích nó suốt cả giờ. Trở về phòng, quá giấc, em không ngủ lại được. Phóng thích muỗi trong mùng lúc đêm khuya vừa căng thẳng vừa mệt còn hơn em bửa đống củi.Tính ra, trong một tháng, em bị mất ngủ hết nửa tháng. Cũng thế, mỗi lần chăm sóc luống cải xanh bên hè, bà mang kính lão, cầm theo cái kéo, bà thấy con sâu nào đeo trên lá, bà dùng kéo cắt phần lá có con sâu đang bám bỏ vào lon, rồi mang thật xa ra đám cỏ cuối vườn đổ đi, tuyệt đối không giết hay phun thuốc diệt côn trùng. Trong nhà, ai phản đối hay làm trái ý, bà giận không nói chuyện suốt mấy ngày.

Người già tự nhiên tính tình trở lại giống như trẻ con. Má em thương thằng cháu nội-con của em nhất nhà, thường bảo nó ngồi bên giường trò chuyện với nội. Nội hỏi thăm, mấy con dế con nuôi lúc này ra sao, mấy đêm rồi, nội không nghe nó gáy. Thằng nhỏ tỏ vẻ chán chường, con phun rượu, xin mẹ sợi tóc dài quay dế, mà nó vẫn đá thua dế thằng hàng xóm hoài nội ơi. Con thả nó về gốc rạ ngoài đồng rồi. Thằng cháu biết tính nội, nghe nó thả con dế, bà nội tỏ vẻ vui lắm. Bà rờ rẫm, lần mò trong áo gối, rút một tờ tiền xanh cho nó. Nó nhận tiền bằng hai tay, dạ cám ơn nội. Ngoài sân, trước nhà có tiếng ồn ào của lũ bạn nhỏ đang chơi tạt lon. Tiếng lon bị ném trúng văng khỏi vòng ô, lăn lông lốc, lổn cổn trên sân. Thằng bé bồn chồn, nhấp nhổm đứng dậy, tính chạy ra sân nhập bọn, nhưng nội níu áo, cầm nó lại: “Con tắc kè còn ở trong kẹt tủ không con?”. Đứa cháu nội lẹ làng, vừa chạy vừa ngoái lại: “Dạ còn, nó có chữa bụng bự dữ rồi, nội ơi…”

Người bệnh ung thư giai đoạn cuối thường có những cơn đau hành hạ ghê lắm, má em thì không, nhưng cơn bệnh âm thầm rút rỉa bà. Bây giờ bà chỉ húp cháo loãng, đi đứng hết nổi rồi, con cháu phải dìu đỡ từng bước chân. Chắc nhờ bà thường phóng sinh, trời phật đã lấy bớt cho bà những cơn đau? Bà nằm trên giường, nhưng mắt vẫn còn tinh anh quan sát, tai lắng nghe động tịnh trong nhà. Thấy thằng cháu nội đi ngang giường ba sai bảo: “ Kêu mẹ qua gặp nội”. Thằng nhỏ sốt sắng như muốn lập công với nội, nó chạy ù qua nhà bếp. Em vội tắt lửa ơ cá đang kho, qua phòng má. Bà nắm tay em bằng những ngón tay mỏng, xương xẩu, yếu ớt nhẹ hều như mây khói phớt trên da em, bà dặn: “Sáng mai, con ra bắt ốc trong luống rau, rồi bỏ xuống mương vườn giùm má. Con không được giết ốc nha”. Những con ốc ma, qua một đêm, chúng ăn đứt trụi cả đám rau. Má nằm một chỗ, dẫu em có đập bể những con ốc ấy, má chồng em cũng không biết. Nhưng em sợ ánh mắt sáng trưng như có thần của má dõi theo, nên em riu ríu làm theo lời má dặn.

Bà bệnh nhân quận Lung Xanh thường quay mặt nhìn sang giường má của anh, khen má vui vẻ lịch lãm. Bà nói với má anh: “ Chị đã bước vào thượng thọ, nhưng chị còn khỏe hơn tui, tui nhỏ hơn chị hai mươi tuổi, nhưng tui yếu lắm rồi.”

Má anh: “Mỗi nhà mỗi cảnh, tôi năm nay chín mươi sáu rồi, bệnh tật nằm bệnh viện lâm cảnh con trai già chăm sóc, nuôi bệnh mẹ già. May mà nó vừa về hưu, có thời gian lo cho mẹ bệnh”. Anh đã quá sáu mươi, sức khỏe kém, bồng ẵm mẹ già, đôi khi sức yếu, chân run lảo đảo không vững, có lần suýt té cả hai mẹ con. Khi đỡ được mẹ nằm yên trên giường, anh vẫn chưa hết bàng hoàng. Nếu lỡ để mẹ té… Anh không dám nghĩ thêm nữa.

Khi biết những người chung phòng ngụ cư quận Lung Xanh, má anh mừng rỡ: “Hồi còn trẻ, tôi là giáo viên Trường tiểu học Lung Xanh học trò nhỏ rất đông, còn nhớ, trong xóm có ông Tư tối ngày say rượu đi lang thang ngoài đường, đầu trên xóm dưới không thấy ngày nào ổng tĩnh táo, một hôm giữa đêm, ống tháo cái trống trường khiêng đi mất, sáng ra phải cử những trò lớn đi tìm, ai dè ổng giấu cái trống trong đống rơm. Sau này, Lung Xanh trở thành vùng “xôi đậu”, Ty Tiểu học phân công tôi về trường thị xã. Tôi rời Lung Xanh hơn sáu mươi năm rồi. Thời gian trôi nhanh như chớp mắt. Bây giờ già yếu, bệnh tật, phải thúc thủ, nằm đây”. Má anh tâm sự với bệnh nhân bên kia giường: “Trái tim tôi làm việc suốt chín mươi sáu năm, mệt lắm rồi hãy để cho trái tim mình nghỉ ngơi. Tôi mong kết thúc sớm cho con cháu đỡ cực”. Bênh nhân Lung Xanh an ũi: “Chuyện sống chết để trời Phật tính, con người đâu có thể tính riêng cho mình được, chị”. Má anh: “Thì mình mong vậy mà, sống thêm nữa để làm gì.” Bệnh nhân Lung Xanh: “Ừ chị nói phải, ý tôi giống ý chị. Tôi không ăn uống được, sống được là nhờ bác sĩ ngày nào cũng truyền đạm”.

Má anh đạo Công giáo, năm nay già yếu không còn đi lễ nhà thờ ngày Chúa nhật nữa, bà ở nhà dự Thánh lễ do các linh mục làm lễ qua internet trên Ipad. Bà còn xem nhiều chương trình nhạc đời, nhạc đạo trên Youtube. Giờ đây, bà nhắc lại ca từ trong một bài hát: “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng/ thì đường trần mưa bay gió cuốn”. Bệnh nhân Đầm Xanh ồ lên, kinh ngạc: “Hai câu đó thật là thấm thía, mình buông bỏ hết, hen chị.” Hai người già nói về cái chết của mình cơ hồ những sợi mây thật nhẹ, mơ hồ mỏng manh từ trên thiên đường thả xuống bay bay, quấn quýt trong phòng. Phải chăng họ đã suy nghiệm, thấu đạt lẽ huyền vi của tạo hóa. Không khí bỗng dưng thân mật, đậm đà thiết tha như cố nhân lâu ngày hội ngộ. Cô dâu trẻ vui mừng: “Ha ha, hai người già thật tâm đầu ý hợp”.

Cô con dâu quận Lung Xanh luôn hồn nhiên, thân mật, đi dứng lẹ làng, sinh hoạt, ăn uống nói năng ồn ào. Thỉnh thoảng cô ân cần đỡ giúp cho má anh đi vệ sinh. Cô nói: “Đàn ông chăm sóc cho mẹ già, lọng cọng và bất tiện lắm, anh để em lo tiếp nhen”. Thế là, một mình cô lo chăm sóc cho hai bà già. Mỗi buổi sáng cô thức sớm, nấu nước, trước khi pha hai ly sữa, cô trụng ly bằng nước đang sôi; buổi trưa cô san sớt chia hai phần cháo, phân thuốc uống cho bệnh nhân theo lời dặn của bác sĩ; khi trời nắng tốt, cô mang mền gối ra phơi … Ân cần hỏi thăm sức khỏe người bệnh như cô có hai người mẹ yêu dấu. Anh trở thành nhân vật phụ trong việc chăm sóc cho mẹ mình. Cô gái giờ là trưởng phòng, tự dưng anh phải chịu sự phân công sắp xếp của cô ấy, anh chỉ còn nhiệm vụ làm vệ sinh thật sạch sẽ trong toilet. Bà mẹ chồng vui và hãnh diện vì cô con dâu có hiếu, giỏi giang, năng động đãm đang, biết chia sẻ, giúp đỡ bệnh nhân cùng phòng. Sắc diện bà mẹ chồng có vẻ hồng hào, tươi tỉnh hơn hồi mới nhập viện. Cùng cảnh ngộ, bỗng dưng cùng sinh hoạt chung trong phòng, không khí gần gũi, thân tình, ấm áp. Tâm hồn cô dâu trẻ bao la, phóng khoáng như đồng xanh, gió núi.Tình người ở tỉnh lẻ không lạnh lẽo như trong phòng bệnh nhân ở các đô thị lớn – nằm bệnh cùng phòng, nhưng phận ai nấy lo. Xuất viện, có khi cũng không chào từ giã.

Nhiệt độ lạnh ngắt. Máy lạnh trong phòng bệnh được cố định 25 độ, không thể điều chỉnh nhiệt độ. Nửa đêm, má anh lạnh, phải xoa dầu, đeo bao tay, chân mang vớ dài, đắp hai cái mền vẫn còn run, anh bật dậy tảo tần đi tìm, gọi y tá trực đêm tới điều chỉnh lại nhiệt độ.

Nhẹ nhàng hỏi: “Sao cô không để remote trong phòng cho tôi tự điều chỉnh nhiệt độ?”

Đáp lại là tiếng nói gắt gỏng còn ngáy ngủ: “ Biết xài remote không? Sáu tháng qua người ra, người vô, bể hư hết năm cái rồi đó. Để phòng trực giữ cho chắc.”

Nói xong, blouse trắng ngó lên máy lạnh, chỉnh lại nhiệt độ, bỏ remote vào túi, gõ guốc, tất tả, phấp phới bước ra khỏi phòng. Mọi người trong phòng thở dài và ngủ tiếp.

Ban đêm, người nuôi bệnh trải chiếu nằm dưới nền nhà, cô dâu Lung Xanh nằm xuống là ngủ liền. Thoải mái, thở ngáy vô tư, tóc bung xõa, mền chiếu xô lệch… Có lẽ, cô quá mệt mõi vì suốt ngày lăng xăng, quán xuyến nọ kia, lo toan cho hai bà già đang bệnh trầm kha.

Anh trải chiếu dưới nền gạch men, sát giường má. Với hai bóng đèn dài, cả căn phòng sáng choang. Bà mẹ chồng ở Lung Xanh thích sáng đèn, không chịu để đèn mờ mờ cho dễ ngủ. Đêm nay, má anh khó chịu trong người, gọi anh hoài. Giấc ngủ anh cứ chơi vơi, chập chờn.

Năm giờ sáng, cả phòng đều thức dậy, dọn dẹp, cuốn chiếu, vệ sinh phòng sạch sẽ và chờ bác sĩ đến khám cho bệnh nhân.

Anh đang thu dọn mền chiếu của mình, chợt anh nhìn thấy trên chiếu gần đầu nằm của anh, một chiếc kẹp tóc hình con bướm đen đính những hạt đá lấp lánh. Anh cầm lên và nói: “Kẹp tóc này của cô nè?”. Cô dâu Lung Xanh ngó sửng rồi giật nhanh chiếc kẹp tóc trên tay anh. Gương mặt cô đỏ bừng, hỗ thẹn vì sự chểnh mảng của mình.

Nằm trên giừơng, mẹ chồng chứng kiến toàn cảnh. Bà cau mày, mở to mắt kinh ngạc và “hứ” lên một tiếng gay gắt, giận dỗi trở mình, quay mặt vào vách, im lặng bất động. Bà ngờ vực về đức hạnh của con dâu. Cô dâu Lung Xanh tay nắm chặt như muốn giấu biệt chiếc kẹp tóc, đau khổ sửng sờ trước thái độ ngộ nhận của mẹ chồng. Má anh ngồi trên giừơng đang loay hoay cúi tìm chai dầu gió, không hay sự biến đã diễn ra.

Vừa lúc ấy, bác sĩ cùng y tá bước vào phòng, chuẩn bị khám cho bệnh nhân.

Anh bước ra hành lang, váng vất, lảo đảo như người say. Tê tái, anh tự trách, sao mình không để chiếc kẹp tóc nằm tự nhiên trên nền gạch, chốc nữa, cô ấy sẽ tự nhìn thấy. Hành động vô tình của anh như mũi dao nhọn ngọt rơi vào tim bà mẹ chồng.

Trưa hôm đó, bà qua đời trong tư thế xoay mặt vào tường trắng lặng câm. Con dâu bủn rủn, nhợt nhạt, tức tưởi lê bước bên xe đưa mẹ ra nhà xác. Anh theo sau, tiễn bà. Những bánh xe đầy khô dầu, rít ken két, cứa miết vào thần kinh anh. Thỉnh thoảng xe qua những chỗ gập gềnh, xác bà run lên, chập chờn nghiêng đảo. Cho đến khi, cửa nhà xác vội kéo mở rộng, từ bên trong khí lạnh căm căm cùng mùi thuốc sát trùng đột ngột xô ra, tạt vào mặt anh…Anh dừng lại, chờ cô gái giở mảnh vải trắng đang đậy trên mặt mẹ chồng, cô nhìn mặt bà thật lâu. Gương mặt cô nhòa lệ, thổn thức: “Má ơi! Sao má nỡ giận con”.

Bà đã ra đi sớm hơn sự tiên liệu của bác sĩ.

17/4/2026

Lê Đình Trường

Theo https://vanhocsaigon.com/

Tiếng gọi mùa ban trắng

Tiếng gọi mùa ban trắng

Giọng người thương binh run run: “Đồng đội ơi, chúng tôi đã về đây. Hỡi các bạn, những linh hồn đã nằm lại đất này… hôm nay anh em tôi về thắp nén hương lòng. Tiếng trống này xin gọi các anh về, cùng nhân chứng núi sông, để thấy Tổ quốc mãi khắc ghi máu xương của một thời bi tráng…”.

1. Chập chờn. Ảo ảnh… Trường nhoài đi dưới ánh trăng lễnh loãng. Gió đồi A1 ù ù thổi “thùng… thùng… thùng…” dội lên từ lòng đất, mỗi tiếng trống là một nhịp ngân dài vào lồng ngực, vừa thiêng liêng vừa rợn ngợp. Trong thoáng chốc, chiến hào xưa hiện về, những bóng người lao đi trong khói lửa, đạn réo, tiếng hô“xung phong!” rền như sấm. Giữa dòng người vội vã lướt qua, có một chàng trai gầy, ánh mắt sáng, gương mặt khiến Trường giật mình vì giống mình đến lạ lùng, đoàn người vút đi trong tiếng hô dồn dập, phía xa bạt ngàn hoa ban trắng rơi như tuyết…

Trường tốt nghiệp ngành công nghệ thông tin khi vừa tròn hai mươi hai tuổi, cái tuổi phơi phới và tràn đầy hoài bão. Sau khi ra trường, anh làm truyền thông cho một công ty liên doanh, công việc giúp anh thường xuyên tiếp xúc với giới báo chí. Cũng từ đó, Trường quen và yêu Linh, một nữ phóng viên xinh đẹp. Tháng ba, công ty tổ chức chuyến du lịch về nguồn tại Điện Biên, khuyến khích cán bộ đưa người thân cùng đi để tăng thêm sự gắn kết.

Xếp gọn mấy thứ đồ trong phòng làm việc, nhìn tờ banner trên bàn với tựa đề “Điện Biên – Sắc ban bừng sáng”, Trường phấn chấn lắm. Mấy đứa đồng nghiệp cười đùa: “Đi biển mới gọi là du lịch, chứ lên đó thì chỉ có nấm mộ với chiến hào thôi.”. Thú thực Điện Biên, Trường cũng đã đôi lần đặt chân tới. Tâm lý chung là khi đã từng đến một nơi, như đi du lịch chẳng hạn, thì lần quay lại thường không còn nhiều háo hức. Nhưng với Trường thì khác, mỗi lần nhắc đến vùng đất ấy, trong anh lại dấy lên một niềm xúc động khó diễn tả thành lời.

Nhớ thời đại học Trường có đứa bạn cùng lớp tên Ly quê ở Điện Biên, mỗi dịp tụ tập, nó thường say sưa kể chuyện hoa ban, về món nộm thanh mát chế biến từ những cánh ban non khiến đám sinh viên thèm rỏ dãi. Từ lâu, hình bóng hoa ban, cô gái Thái trong thân áo cóm sát eo vẫn là cái gì đó xốn xang trong anh lắm, chả vậy mỗi khi đọc, xem thông tin nào đó về vùng đất lịch sử, đầu anh lại vang lên câu thơ của Trần Mạnh Hảo: “Hoa ban nở thành người con gái Thái/ Đám mây bay trong thau nước gội đầu”. Chẳng biết có phải những điều ấy đã gieo vào tâm trí Trường những tình cảm đặc biệt cho vùng đất này chăng? Không. Chưa hẳn hoàn toàn bởi hoa ban, hay thơ mà sâu xa hơn, Điện Biên đã ám ảnh anh từ lâu qua đôi mắt bà nội.

Trường quyết định rủ Linh cùng đi. Anh nghĩ Linh sẽ có cái nhìn khác cánh đồng nghiệp cơ quan: “Anh có tour tham quan vùng đất lịch sử Điện Biên, em thu xếp đi cùng anh nhé?”, giọng Trường phấn khích. Ở đầu dây bên kia, Linh thoáng do dự, “Điện Biên á? Giờ người ta đi biển, hoặc lên núi nghỉ dưỡng homestay, chụp ảnh với ngắm mây. Còn Điện Biên thì… ngoài mấy điều đã đọc trong sách báo, có gì mới đâu anh?”. Câu trả lời khiến anh chùng xuống. Rốt cuộc, Linh vẫn nhận lời, có lẽ vì chiều anh. Trường tự nhủ, chỉ khi đặt chân lên mảnh đất ấy, Linh mới hiểu. Biết đâu, chuyến đi này sẽ giúp anh và cô ấy tiến xa hơn.

2. Buổi sớm vùng cao còn vương chút sương mờ, Điện Biên đón đoàn bằng dáng vẻ bình yên. Thành phố hiện ra với lớp lớp mái nhà mới, phía sau trải dài nương lúa vàng óng, những dãy phố nhỏ nối tiếp dẫn về khu chợ sớm. Trên cánh đồng Mường Thanh, tiếng máy vò lúa bành bành tập kết ngay đầu bờ, phía chân ruộng, cảnh bà con gặt hái, nói cười rôm rả. Xa xa, trên những con đường bê tông nội bản, đám trẻ đạp xe ríu rít gọi nhau đi học. Con đường dẫn vào nghĩa trang liệt sĩ thẳng tắp, tĩnh lặng. Hai bên đường là những cây ban già lấm tấm lá xanh, xen giữa bạt ngàn hoa trắng tinh khôi. Gió khẽ lay, cánh hoa rơi lất phất như tuyết, dìu theo bước chân đoàn người về thăm. Đoàn dừng lại trước cổng nghĩa trang liệt sĩ Đồi A1. Trước mặt, tấm bia lớn khắc tên những người con đã ngã xuống. Trường bước chậm lại, tay khẽ chạm lên phiến đá lạnh buốt. Một cảm giác dâng trào, vừa xa lạ vừa thân quen, như thể anh đã từng đi qua nơi này trong ký ức. Anh lặng ngắm, bất giác nhớ lại những bài học lịch sử thuở nào. Nhưng lần này, lịch sử không còn là con chữ, mà là hơi thở ngay trước mắt…

Đồi A1 sừng sững giữa thung lũng Mường Thanh, như cánh cửa cuối cùng che chắn cho sở chỉ huy của tướng Đờ Cát. Suốt gần sáu mươi ngày đêm, bao nhiêu đợt tấn công của bộ đội ta tràn lên rồi ngã xuống giữa mưa bom bão đạn. Đất đỏ chiến hào thấm đẫm mồ hôi, máu và nước mắt. Có những chiến sĩ vừa tròn mười tám, đôi mắt còn trong veo, vậy mà sẵn sàng lao mình vào lửa đạn, quyết giữ từng tấc đất. Đêm 6 rạng sáng 7 tháng 5, cả thung lũng rung chuyển. Quả bộc phá gần một tấn thuốc nổ được kích hoạt, xé toang lòng đồi A1 bốc lên cột lửa đỏ rực, ánh sáng rạch ngang bầu trời Điện Biên. Trong khoảnh khắc ấy, tiếng hô “xung phong…!” vang dội như sấm, hàng nghìn bước chân quật mạnh xuống bùn đất, ào ạt tràn lên. Lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” được chiến sĩ ta cắm trên nóc hầm tướng Đờ Cát  vào 17 giờ 30 phút ngày 7.5.1954. Chiến dịch Điện biên toàn thắng…

Như có tiếng trống vọng về, âm âm dội vào lồng ngực khiến Trường thoáng rùng mình. Anh lắng nghe, rồi khẽ giật mình nhận ra, đó chỉ là tiếng gió rít qua rừng cây, hòa lẫn vào tiếng lá xào xạc, tạo thành âm vang mơ hồ như ảo ảnh. “Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia A1, nơi yên nghỉ của hơn sáu trăm liệt sĩ, phần lớn là vô danh, hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ…”, giọng trầm ấm của Nghĩa, hướng dẫn viên giới thiệu. Cách đó không xa, Trường ngoái nhìn về Đồi A1, nơi hầm chỉ huy của tướng Đờ Cát vẫn nằm lặng lẽ như một dấu tích của chiến thắng Điện Biên Phủ. Quanh đồi, những vết chiến hào xưa loang lổ còn in rõ trên đất, khiến tim anh đập dồn dập, như nghe đâu đó tiếng gọi vọng lên từ lòng đất. Đang mải ngắm, anh suýt va vào một cụ ông tóc bạc, ngực đeo lấp lánh những huy chương. Ông chống gậy, bước chậm rãi, mắt nhìn về phía đoàn. Thấy anh lúng túng xin lỗi, ông chỉ gật nhẹ: “Các cháu về thăm A1 à? Ở đây… nhiều đồng đội của ông còn nằm lại”. Nghe ông nói, Trường lặng người đi. Nghĩa giới thiệu ông là Lường Văn Sủ – pháo thủ từng trực tiếp chiến đấu tại đồi A1. Câu chuyện của cựu binh Sủ đưa Trường trở về những ngày ác liệt nhất của Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Thời điểm đó, hoa ban còn rộ lắm. Trời lòng chảo bắt đầu mưa, những chùm ban cuối vụ chưa muốn tàn, một màu trắng rải khắp triền núi như ngọn lửa lạnh âm thầm soi sáng những ngày dài kháng chiến. Ban ngày pháo thủ Lường Văn Sủ cùng đồng đội kiên cường bám trụ, chiến đấu cầm cự. Đêm xuống đội anh lặng lẽ đào hầm xuyên đồi, nhịp nhàng cơ động vận chuyển từng gói bộc phá vào vị trí đã điểm. Bỗng Trường sững lại, mồ hôi túa lạnh trên trán, khi ông Sủ nhắc tên đồng đội Trần Văn Sỹ. Khoảnh khắc ấy, Trường như thấu hiểu sâu hơn sự hy sinh của ông nội, và nhận ra vì sao nơi đây vẫn vang vọng những nhịp trống vô hình gọi hồn người về.

3. Người lính già nhớ như in: năm ấy, chàng trai Thái mười chín tuổi Lường Văn Sủ ở Huổi Hằm được biên chế vào Đại đoàn 316 cùng ngày với một tân binh Trần Văn Sỹ quê Vĩnh Phú. Cùng chà, hai người sớm kết thân. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị của anh nhận nhiệm vụ tấn công cứ điểm A1 – vị trí then chốt án ngữ cửa ngõ phía đông, nơi quân Pháp dày công củng cố và coi như bức thành trì bất khả xâm phạm.

Qua lời kể của cựu binh già, hình ảnh ông nội hiện lên rõ mồn một. Trời Tây Bắc tháng tư đã lất phất mưa, chiến hào sũng nước, đất nhão nhoét thục đến gối. Trong hầm công sự chật hẹp, ông nội cùng đồng đội ngày đêm đào hào, khoét núi, đường hầm mở chỉ vừa đủ một người trườn qua, bí mật áp sát chân lô cốt địch. Đêm đêm, pháo kích vẫn đì đùng trên đầu. Dưới lòng đất, chiến sĩ ta cần mẫn đào hầm công sự, từng nhát xẻng cắm sâu như những chú dế chũi nhỏ bé mà bền gan, kiên trì. Công việc vốn đã cực nhọc lại phải ngụy trang kỹ lưỡng, bí mật vận chuyển đất đưa ra ngoài, tránh tầm quan sát địch. Càng tiến sâu vào lòng đồi, không khí càng đặc quánh, ngột ngạt đến nghẹt thở, nhiều chiến sĩ đã lịm đi ngay trong hầm tối. Thế nhưng, lớp này gục xuống lại có lớp khác nối tiếp, mang ý chí sắt đá, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ đến cùng. Nhiệm vụ số một là bảo đảm đưa khối bộc phá vào đúng vị trí an toàn. Đường hầm ngày một đào sâu, khoảng cách giữa ta và địch chỉ còn vài chục mét. Mỗi tấc đất đều phải đánh đổi bằng mồ hôi và máu. Đêm đêm, pháo kích rền rĩ trên đầu, lựu đạn vẫn chat chúa nổ như xé toác không gian, mùi thuốc súng xộc thẳng vào mũi, nóng ran trong lồng ngực. Từng động tác phải cẩn trọng tuyệt đối, chỉ một sơ suất cũng có thể trả giá bằng sinh mạng và làm hỏng toàn bộ kế hoạch tác chiến.

Giờ G điểm. Nụ xòe kích hoạt, toàn đại đội nín thở, căng mình chờ khoảnh khắc quyết định. Bỗng mặt đất rung lên bần bật, rồi dội lên một tiếng nổ long trời lở đất. Khối bộc phá khổng lồ bật tung khỏi lòng đất, xé toang màn đêm chiến trận. Đồi A1 bị xé toang, cột lửa đỏ rực cao ngất, đất đá, sắt thép và lô cốt kiên cố của địch bị hất văng khắp chiến hào. Tai ù đặc, tim như muốn bật ra ngoài. “Xung phong! Xung phong!” Tiếng hò reo dội khắp chiến hào. Chiến sĩ lao lên. Pháo địch nổ liên hồi, nhưng không ai dừng lại. Mọi giác quan căng đến cực hạn. Chiến hào trở thành dòng thác lửa sống. Trên đầu, đạn địch xối xả bắn ra như mưa. Pháo ta dội ngược, thung lũng rung chuyển. Người ngã, người tràn lên. Giáp lá cà bùng nổ. Chiến hào cháy lửa. Hầm sập, ụ súng bay tung. Mỗi bước, mỗi tiếng súng là sinh tử. Khói mù đặc, thuốc súng nồng nặc. Tim hối như trống trận. Hít thở, tiến lên. Không dừng. Không lùi. Chỉ còn chiến thắng hoặc chết. Tất cả như một cú đòn kết liễu hoàn toàn hệ thống phòng thủ phía đông. Thắng lợi ngay trước mắt.

Trường nhào đến ôm lấy ông Sủ, giọng nghẹn lại: “Ông ơi, con là cháu nội của đồng đội ông, Trần Văn Sỹ đây”. Ông Sủ sững người, nhìn Trường thật lâu rồi đưa tay chạm nhẹ lên má cậu. Ông thở dốc, mắt đỏ hoe:

“Đúng rồi… ánh mắt này, khuôn mặt này… giống anh Sỹ lắm. Thế là ta yên lòng rồi. Chiều nay con ghé nhà, ta có việc muốn nhờ.”.

Ông khẽ giở bọc nilon, lấy ra chiếc khăn mùi xoa bạc màu, trên vải còn hằn rõ những vệt đỏ sẫm, khô đanh bám chặt theo từng sợi chỉ. Mắt ông đăm chiêu nhìn vào chiếc khăn cũ, giọng như lạc vào quá khứ…

Đạn cối từ trên cao rít xuống, nổ khét chiến hào nơi Sỹ và Sủ bám trụ. Đất đá tung mù, sức ép hất cả hai bất tỉnh. Khói tan, đạn lắng, Sủ lồm cồm bò dậy, thấy mình chỉ bị thương ở bả vai, máu rịn ra nhưng vẫn còn gượng được. Quay sang, Sủ sững lại, Sỹ nằm ép sát vách hào, ngực bê bết máu, hơi thở đứt quãng. Sỹ mấp máy đôi môi tím tái, run rẩy rút từ ngực áo ra một chiếc khăn gói kỹ, đặt vào tay Sủ. Giọng nghẹn đứt quãng:

– Khăn… vợ tao… Nếu tao không về… mày giữ hộ… Sủ ôm Sỹ vào lòng, giọng khản đặc giữa tiếng đạn như xé trời, tim như muốn vỡ vụn. Máu thấm ướt khăn – kỷ vật theo Sủ tiếp tục chiến đấu như có linh hồn của Sỹ song hành.Về hậu cứ, đêm nào Sủ cũng giật mình tỉnh giấc, vọng bên tai như tiếng ai gọi thoảng trong gió, anh hiểu đồng đội vẫn đang dõi theo mình. Sủ nhớ người già ở Huổi Hằm bảo, muốn nói chuyện với người âm, thì lấy trống gõ, nam 7 tiếng, nữ 9 tiếng, kêu tên, tuổi, hồn sẽ về. Những đêm thao thức, Sủ lại mang trống ra gõ; tiếng thùng… thùng vang lên như gọi Sỹ cùng đồng đội trở về bầu bạn. Mỗi nhịp trống ngân lên, nước mắt Sủ lại lăn dài trên gò má sạm khói, khắc sâu nỗi nhớ, nỗi đau và cả những ký ức không bao giờ phai.

Bên bếp lửa bập bùng, ông Sủ đặt chiếc khăn mùi xoa cũ vào lòng bàn tay Trường giọng nghẹn ngào: “Là lời trăng trối của bạn ta… ta giữ không chỉ để nhớ, mà để sống thay phần anh ấy. Nay có con về, ta cũng mãn nguyện rồi!”. Không gian lặng như tờ, chỉ còn ánh lửa tí tách. Bất chợt, thùng… thùng… thùng… tiếng trống vang lên. Đôi mắt người cựu binh bừng sáng, bờ môi mấp máy gọi tên đồng đội. Bóng đêm quyện lửa bếp, như hóa thành những linh hồn trở về từ quá khứ. Linh lặng sững, tim dồn nhịp, quên cả chiếc điện thoại trên tay, chỉ còn dõi theo từng cử chỉ run rẩy của ông, để rồi cảm nhận nỗi đau chiến tranh hòa cùng ký ức chập chờn vừa sống động, vừa mơ hồ, như đang tan chảy giữa thực tại và cõi mộng.

4. Sau buổi tham quan, đoàn của Trường trở về  khách sạn, thấy mọi người  rộ lên những lời bàn tán. Vài người lấy điện thoại ra đăng ảnh, gắn dòng chú thích hời hợt: “Chinh phục đồi A1 – nơi vang vọng lịch sử và máu lửa!”. Linh ngồi góc bàn, mở laptop gõ phím dồn dập, mắt dán vào màn hình, rồi bật cười phấn khích: “Này anh nghe thử tiêu đề này xem” – “Khăn máu trên đồi A1: Bí ẩn những người lính trong bóng tối”. Hoặc thế này nghe đã hơn: ‘Tiếng trống gọi hồn – Bí mật kinh hoàng bị chôn vùi tại đồi A1!”. Cô kéo chuột, chèn phông chữ in đậm, tưởng tượng sẵn thumbnail (hình thu nhỏ), một chiếc khăn ố máu phóng lớn, chữ đỏ rực, kèm sub: “Video độc quyền – xem ngay”.

Trường cau mày: “Sao em lại viết như một bài câu view thế này?”  Linh không hề nao núng, đôi môi mím lại: “Nếu anh muốn người ta nhớ, thì phải cho họ thấy. Người ta không đọc những chuyện trầm ấm nữa – họ chỉ click vào cái họ cảm thấy sốc. Em không làm xấu, em làm cho họ chú ý.” Giọng Linh khô, lý lẽ lạnh như dao. Trường gắt lên: “Nhưng đây không phải chuyện để giật gân mà là máu xương, là ông nội anh và đồng đội. Nếu biến thành trò câu khách, khác gì xúc phạm những người đã khuất”.

Câu chuyện giữa hai người nổ ra, như hai mạch nguồn bất chợt gặp nhau ở cùng một khúc quanh. Linh nói về traffic (lượng truy cập), lượng xem, về sức mạnh một tít viral (lan truyền); Trường nói về lịch sử, danh dự và nỗi đau chiến tranh và người còn lại. Lời qua tiếng lại to dần, rồi vỡ ra thành im lặng. Không khí căng như dây đàn. Linh gấp máy tính, mắt long lanh: “Anh lúc nào cũng cảm tính. Em làm báo, em có cách của em”, rồi cô đứng dậy bỏ ra ngoài.

Lòng Trường như lửa đốt. Giữa anh và Linh như có một hố sâu khó khỏa lấp. Đêm ấy, Trường không sao chợp mắt. Anh lặng lẽ bước ra ngoài, một mình đi về phía đồi A1 dưới ánh trăng mờ. Anh đứng bên hào đất cũ, lòng ngổn ngang. Xa xa, gió thổi qua rừng cây, như vọng về nhịp trống quen thuộc. Tiếng trống gọi hồn hay chỉ nhịp tim anh đập? Trường cũng không rõ nữa, anh ngả lưng vào thành hầm chỉ huy Đờ Cát, đôi mắt nhắm nghiền, mệt nhoài. Thùng… thùng… thùng…, một hồi trống ngân dài dội vào óc. Trước mắt anh, chiến hào tối om dần hiện ra, mưa lộp bộp rơi trên vành mũ cối. Trong dòng người ào ào bùn lầy, những chiến sĩ Điện Biên năm nào băng lên, tiếng hô “xung phong!” chấn động màn đêm. Giữa đoàn quân ấy, một chàng trai gầy với đôi mắt sáng rực, gương mặt giống anh đến lạ. Trường khựng lại. Người lính bước ra, ánh nhìn nghiêm nghị mà hiền hậu.

Người lính nhìn Trường, giọng trầm ấm như vọng về từ xa xăm: “Cháu đã đến rồi… ta vẫn đợi.”. Toàn thân Trường run lên:“Ông… có thật là ông?”. Người lính khẽ gật, như có bàn tay đặt nhẹ lên vai Trường, cảm giác ấm áp lan khắp người. Người lính cất giọng chậm rãi, từng lời như khắc vào tim: “Cháu không chỉ nhớ bằng nước mắt. Hãy viết, hãy kể… để họ còn sống trong từng trang giấy…”. Trường muốn cất lời, nhưng tiếng trống lại dội lên dồn dập. Mỗi nhịp như một mệnh lệnh, thúc giục anh không được chần chừ. Trăng loãng, sương phủ kín đồi. Tim đập thình thịch, Trường chỉ còn nhớ một điều: Phải viết lại tất cả, với sự trân trọng nhất. Từ xa, giọng Linh vang lên, đầy lo lắng: “Anh… anh ở đâu thế?”. Trường choàng tỉnh. Ngước nhìn ngôi sao mờ phía đông, tai anh vọng lời ông nội dặn.

5. Sáng mùng Một, Trường gọi điện dặn mẹ nhớ đưa bà ra thăm mộ ông, mang theo nhiều hoa cúc trắng và gói thuốc lá như những lần trước. Trước khi rời Điện Biên, Trường rủ Linh cùng đến nghĩa trang A1 lần nữa, nghe nói hôm nay có đoàn cựu binh dưới xuôi lên viếng. Không gian trang nghiêm. Trời hửng nắng, sương tan dần, lớp lớp hàng bia sẫm màu ánh lên dòng tên trắng hiện ra trong nắng ban mai. Hương khói bảng lảng quyện cùng tiếng khèn dìu dặt, khiến không gian trầm mặc, linh thiêng.

Trường chăm chú đọc từng dòng khắc trên mộ chí, còn Linh mải mê chụp ảnh, quay clip. Bất chợt, từ cuối hàng, ba cựu binh bước lên. Người mất cánh tay trái, người chỉ còn một chân, người hỏng một bên mắt. Họ dìu nhau tiến chậm rãi qua làn khói hương mờ ảo. Họ mang theo chút lễ nhỏ, người cựu binh cụt chân đeo chiếc trống, lặng lẽ đặt tay lên mặt da đã bạc màu, rồi gõ bảy nhịp: thùng… thùng… thùng… tiếng trống vang lên, ngân dài giữa núi rừng. Giọng người thương binh run run: “Đồng đội ơi, chúng tôi đã về đây. Hỡi các bạn, những linh hồn đã nằm lại đất này… hôm nay anh em tôi về thắp nén hương lòng. Tiếng trống này xin gọi các anh về, cùng nhân chứng núi sông, để thấy Tổ quốc mãi khắc ghi máu xương của một thời bi tráng…”.

Đêm ấy, Linh và Trường tỉ mỉ lần giở từng trang sổ tay, không còn dáng dấp phóng viên đi tìm tít bài, mà hóa thành những người con khát khao lưu giữ ký ức cho mai sau. Ngày đoàn về, anh xin ở lại cùng Linh thực hiện nốt bài phóng sự. Trong căn nhà gỗ mờ khói bếp, ông Sủ lần giở từng bức ảnh cũ, từng trang sổ ghi chép vàng ố. Có trang giấy đã nhòe mực vì nước mưa, có chỗ còn dấu vết của đất bám. Người này thích hát, người kia từng mơ sau chiến thắng về học tiếp làm thầy giáo rồi mới lấy vợ… giọng ông Sủ run run, những chi tiết sống động nhất về Điện Biên năm xưa như hiện về. Linh dùng máy ghi âm, đặt câu hỏi nhẹ nhàng, cẩn trọng ghi, khắc sâu lại vào sổ. Nhiều lúc, Trường thấy anh như chính mình đang trò chuyện với ông nội, nghe tiếng cười, tiếng hô xung phong của ông và động đội vang lên đâu đó ngoài xa.

6. Về lại Hà Nội. Trong vali của Trường là cuốn sổ dày, chép lại câu chuyện cựu binh người Thái kể về ông nội và đồng đội. Nhưng hành trang anh mang theo không chỉ có những trang giấy, mà còn là ký ức đọng lại từ vùng đất lịch sử: tiếng trống vọng xa, những cánh hoa ban trắng khẽ rụng trong gió, và cả nỗi day dứt. Tất cả lặng lẽ theo bước chân anh, như một lời nhắc nhở rằng ký ức và tình yêu vẫn còn đó, không thể nguôi quên. Thu xếp công việc, Trường tranh thủ về quê, anh trở lại căn nhà nhỏ, bà nội đang ngồi trước hiên, mái tóc bạc phơ trong gió. Bước lại gần bà, Trường khẽ lấy ra chiếc khăn cũ. Bà nội khựng lại, ánh mắt chao đảo như vừa nhận ra điều gì. Đôi bàn tay gầy guộc run bần bật, lần dò chạm vào viền khăn sần sùi, khô đanh bởi những vệt máu năm xưa đã hằn cứng. Khoảnh khắc ấy, mắt bà nhòa lệ, giọng nghẹn lạc đi “…Dù muộn, cuối cùng  ông đã về!”, bà nghẹn ngào: “Cưới được hai năm, thì ông con nhập ngũ. Đây chính là khăn bà thêu tặng ông ngày lên đường…”. Nước mắt Trường trào ra. Trường kể lại câu chuyện gặp ông Sủ, về giây phút cuối cùng của ông nội nơi chiến hào. Không gian như nhòa đi, đọng lại chỉ còn nỗi xúc động sâu thẳm.

Trường dụi đầu vào lòng bà, tim rung lên từng nhịp dồn dập như tiếng trống xa vọng, mỗi nhịp như gọi về những ký ức, những mất mát và cả sự sống còn nối tiếp. Trong sâu thẳm, anh thấy thấp thoáng những cánh hoa ban trắng nhẹ rơi như tiếng thở dài của núi rừng, như bàn tay người đi trước khẽ chạm vào đời sau.

19/4/2026

Hà Minh Hưng

Theo https://vanhocsaigon.com/

Mênh mông lòng mẹ

Mênh mông lòng mẹ

Bà đem chút tàn lực còn lại để nhìn cho rõ mặt con. Người thanh niên trong ảnh nhìn bà mỉm cười. Nó mặc đồ bộ đội coi khác hẳn ở nhà. Trong phút giây, bà như quên thần chết đang đứng kề, bàn tay quờ quạng yếu ớt cầm tấm ảnh đặt lên mặt mình như muốn hôn con trước khi vĩnh biệt cõi đời. Ôi! Sao bà nhớ đôi mắt sáng, nhớ cái miệng rộng hay cười, nhớ từ bàn tay bàn chân, nhớ cái áo cái quần nó thường mặc, nhớ tánh tình hiếu thảo của nó. Ôi thằng con của bà, núm ruột của bà.

Bà cụ nằm trên bộ ván, thân hình gầy tọp như đứa trẻ. Đôi mắt sâu hóm mệt mỏi, chiếc miệng móm há ra mệt nhọc. Bà cố thều thào:

– Vợ thằng Út… tới… chưa?

Biết ý, người con dâu cúi sát xuống tai bà, giọng run run:

– Nó qua tới liền à má.

Anh con trai nóng lòng chạy ra chạy vào ngoài ngõ, mong ngóng đứa em dâu nhưng không thấy bóng dáng đâu, anh thất vọng quay vào.

Bà cụ thở khò khè. Anh cầm quạt, quạt lấy quạt để như muốn đem luồng sinh khí đến cho bà mẹ. Lòng anh quặn đau khi nghe mẹ cứ bệu bạo:

– Vợ th..ằ..ng..Út..

Anh lại chạy ra ngõ, bước qua cây cầu tre, nhìn ra bờ ruộng. Mắt anh bổng sáng lên khi thấy người phụ nữ mặc chiếc áo bà ba màu hoa cà thấp thoáng ngoài rặng trâm bầu. Dáng chị tất tả. Chẳng mấy chốc đã tới gần. Anh nóng nảy giục:

– Lẹ đi! Má trông thím lắm.

Người phụ nữ không nói không rằng, bươn bả đi vào nhà. Quên cả lột nón, chị bước đến cạnh người bệnh, khẽ gọi:

– Má! Má !

Bà cụ mở bừng mắt, đờ đẫn nhìn mặt chị giây lát, giọng nói nhẹ như hơi thở:

– Co..n..Út..

Bà nấc lên mấy tiếng trong cổ họng. Bàn tay gầy guộc cố nhấc lên để nắm lấy bàn tay người con dâu Út, vợ của thằng con mà bà thương nhớ nhất đời.

Cô con dâu bóp chặt  bàn tay bé nhỏ xương xẩu, cố ngăn dòng lệ đang tuôn trào. Giọng chị nghèn nghẹn:

– Má! Má ráng khỏe nhen má. Con có đem hình anh Út qua cho má nè.

Chị móc trong túi ra tấm hình 4×6 đưa gần mắt bà. nói lớn:

– Con đem họa cho má một tấm rồi.

Bà mẹ gật đầu. Bà cố nhướng đôi mắt lờ đờ nhìn.Bà muốn nhìn cho được hình ảnh thằng con trai Út lần cuối cùng. Từ lúc nó hy sinh đến nay bà không có một kỷ vật nào về nó. Thằng Hai, thằng Ba mất đi cũng còn được cái ba lô hay đôi dép. Chỉ có nó là không để lại dấu tích gì cho bà, bà càng thương nhớ đớn đau.

Bà đem chút tàn lực còn lại để nhìn cho rõ mặt con. Người thanh niên trong ảnh nhìn bà mỉm cười. Nó mặc đồ bộ đội coi khác hẳn ở nhà . Trong phút giây, bà như quên thần chết đang đứng kề, bàn tay quờ quạng yếu ớt cầm tấm ảnh đặt lên mặt  mình như muốn hôn con trước khi vĩnh biệt cõi đời. Ôi! Sao bà nhớ đôi mắt sáng, nhớ cái miệng rộng hay cười, nhớ từ bàn tay bàn chân, nhớ cái áo cái quần nó thường mặc, nhớ tánh tình hiếu thảo của nó. Ôi thằng con của bà, núm ruột của bà.

– Ô..co…ơi…

Bà thều thào gọi con trong cổ họng đã nghẹn cứng, bà mãn nguyện như đã gặp được con. Bà hy vọng sẽ gặp nó với các anh nó nơi chín suối cho thỏa lòng mong nhớ bấy lâu. Tay chân lạnh, tim đập nhẹ dần, bà thở hắt ra mấy hơi rồi tắt lịm.

Hai người con dâu cúi đầu, không muốn để tiếng khóc lọt ra. Anh con trai đứng dưới chân mẹ liên tục bóp những lóng xương được bọc làn da đã tái lạnh.

– Má! Má ! Cô con dâu kêu lên đau đớn. Má đi rồi anh Tư ơi !

Bàng hoàng, người con trai gục xuống xác bà mẹ kêu khóc thê thiết:

– Má ơi..a..ha..má bỏ con sao má ơi..a…ha..

Tiếng khóc đau đớn của người đàn ông giống như tiếng cười. Tim anh thắt lại. Người mẹ tảo tần nhân hậu của anh đã ra đi. Người đã cực khổ nuôi mấy anh em anh trong những ngày bom đạn. Hai ông anh theo du kích địa phương lần lượt hy sinh năm Mậu Thân , thằng Út  theo bộ đội mới được hai năm thì bị B52 bừa mất xác ở nơi nào trong khu rừng miền Đông. Má anh đau khổ mỏi mòn, bà không có bệnh gì rõ nhưng ngày một yếu gầy.

–  Anh à! Em qua kêu chị Hai với dì Ba nghen.

– Ờ! Anh ngưng khóc. Sực nhớ mình là chủ nhà, chủ của ngôi nhà đang có tang. Anh sửa lại dáng nằm cho bà mẹ rồi bảo em dâu:

– Thím vuốt mắt cho má đi. Sao thím qua trễ quá để má trông đợi mấy ngày nay.

Nghe anh chồng trách nhưng chị không trả lời. Anh đâu biết hết nỗi khổ của chị. Thằng con nuôi của chị bị thương hàn mấy ngày nay. Một mình với miếng vườn nhãn hai công và thằng con nhỏ bên cù lao Tân Phong khiến chị tất bật quanh năm, ít khi rảnh rỗi qua thăm bên chồng. Con bệnh chưa bớt lại được tin bà mẹ chồng đau nặng. Mượn mẹ ruột đến săn sóc cho con, chị bươn bả qua tới thì không còn kịp nói gì với bà mẹ, người mẹ mà chị thương yêu không khác gì mẹ ruột.

–  Sao anh không nhắn em sớm hơn?

–  Má mệt thình lình, mới hồi sáng còn ăn được chén cơm. Mấy ngày nay bà biểu rước thím qua chơi mà tụi tui mắc nhổ cỏ lúa chưa đi được.

– Tội nghiệp má. Chị sụt sùi. Má trông má đợi tấm hình mà em thì cứ lần lựa. Em tưởng má còn sống lâu. Ai dè…Má ơi…

– Thôi thím vuốt mắt cho má đi rồi đắp mặt lại. Thím khóc quá má đi không đành.

Chị đưa tay vuốt mắt bà mẹ chồng. làn da đã chuyễn sang màu xám, lạnh ngắt. Đôi mắt hơi hé mở khép kín theo bàn tay.

Chị lấy chiếc khăn tay trắng đắp lên mặt mẹ rồi phụ  người anh chồng giăng chiếc mùng vải phủ lên xác chết. Xong xuôi, chị ra sau bếp nhóm lửa nấu nước châm trà đãi khách. Ngọn lửa đã cháy bùng trên bếp. Chị ngồi thụp xuống cạnh bồ lúa khóc một mình, khóc hả hê như đứa trẻ.

Chị khóc bà mẹ chồng.

Từ nay không còn ai để chị núm níu, để an ủi cõi lòng đơn lạnh mà mấy chục năm qua chị đã âm thầm cam chịu. Những lấn đến chơi với bà, trò chuyện và giúp đỡ những chuyện lặt vặt như thể chị còn được làm dâu, làm vợ người chị yêu thương.

Chị khóc chồng.

Người  chồng mà chị không khi nào nguôi quên, dẫu rằng hai người sống với nhau chưa đầy một năm. Vậy rồi anh đi, đi biền biệt không biết nơi nao mà kiếm mà tìm. Năm 74, chị chỉ được miếng giấy báo tử, ngoài ra anh không gởi cho chị một di vật nào. Chị nhớ thương anh chỉ biết ôm ấp một kỷ vật duy nhất là cặp gối thêu của người bạn tặng ngày cưới. hai mái đầu đặt lên đó chỉ được vài lần rồi thì những lần khác ngủ chung với anh chỉ là ở rừng, ở cứ.

Chị giữ cặp gối trong chiếc bọc ni lông dày như muốn ủ lại hơi ấm của chồng, hơi ấm nồng nàn, say đắm mà chị chỉ được gần gũi có bấy nhiêu ngày.

Đôi chim vẫn âu yếm rĩa lông nhau trên cành mai. Bốn chữ “ Trăm năm hạnh phúc” vẫn tươi màu chỉ đỏ, còn chị, hạnh phúc của chị như trái chín trên cành, ngọt ngon rồi rơi rụng.

Bao lần, chị ao ước có một đứa con hay ít ra cũng có một tấm ảnh để chị nhìn cho đỡ nhớ. Chị khát khao khao khát đến cháy lòng.

Và, trời đất không phụ lòng chị. Nhân tình cờ đến thăm  một người bạn cũ của anh, chị nhìn thấy tấm ảnh. Tấm ảnh anh chụp một tháng trước khi hy sinh.

Màu giấy ố vàng nhưng gương mặt còn rõ. Đôi mắt sáng, sóng mũi cao, chiếc miệng rộng cười tươi tắn, hàm răng đều đặn làm cho nụ cười thêm tươi, nụ cười đã làm lòng chị đắm say.

Chị xin tấm hình về, mừng còn hơn ai cho vàng. Chị định họa lớn làm hai khung, một gởi cho bà mẹ chồng, còn một đặt lên bàn thờ. Từ nay bàn thờ nhà chị sẽ ấm cúng vì có anh ngồi đó. Anh nhìn chị mĩm cười, động viên an ủi chị những khi chị quá cô đơn muốn bước thêm bước nũa. Từ nay đám đàn ông ve vãn chị nhìn thấy hình anh sẽ chờn dạ phần nào.

Chị khóc, khóc như những  ngày đầu nghe tin anh mất. Khóc vì sự mất mát theo năm tháng càng chất chồng, đè nặng lên đôi vai gầy yếu của chị.

Ngoài cầu tre có tiếng người nói xôn xao. Họ hàng khách khứa đã đến. Chị vội đứng dậy, châm ấm nước đã sôi tự lúc nào vào bình trà.

– Má ơi! Má đi rồi sao má ơi…

Tiếng  bà chị chồng khóc ở nhà trên nghe não nuột. Chị bưng bình trà đi lên, chào cô bác họ hàng đã đến chật nhà. Người chị chồng giở tấm khăn đắp mặt mẹ rồi gục xuống xác bà khóc ngất.

Hồi lâu, chị ngẩng lên nhìn người em dâu, nói giọng tức tưởi:

– Sao bây qua trễ quá vậy Út ? Hổm rày má biết trong mình hay sao mà biểu rước bây qua. Tưởng đâu bả nhớ bây, ai dè…

Vật vã một hồi, chị hỏi:

– Rồi bây có đem hình nó qua đó hôn?

– Dạ có nè chị.

Người chị vội cầm lấy, nhìn chăm chú tấm ảnh rồi áp vào ngực nấc lên:

– Em ơi! Má thương má nhớ em mà gầy mòn. Mấy mươi năm rồi, năm nào đám giỗ của em má cũng khóc.  Em ơi! Em của chị ơi, em đi đâu mà biền biệt, chị thương chị nhớ em…

–  Đâu đưa hình nó cho tao coi

.    Giọng bà dì nghẹn ngào.  Nhìn tấm hình bà mếu máo:

–  Nó giống thằng cha nó, cái miệng cười tới mép tai. Dì nhớ bữa con đi, con cho dì chai dầu xanh để dành cảm cúm. Sao con đi luôn không trở lại thăm dì…

Mọi người xúm quanh, chuyền tay nhau xem tấm ảnh, những đôi mắt rưng rưng, đỏ hoe. Họ nhớ tới người thanh niên hiền lành, ít nói, hay lam hay làm, dạt dào tình làng, nghĩa xóm.

Chị cất tấm ảnh vào túi rồi cùng mọi người lo tẩn liệm bà mẹ. Vị sư già đã đến cùng với đòan lễ nhạc. Tiếng mõ gõ, tiếng cầu kinh ê a, tiếng chuông tiếng trống gióng lên từng hồi, ngân nga trong không trung khiến chị buồn vô hạn.

Bước qua cây cầu nhỏ chị bươn bả quay về.

Rặng trâm bầu lào xào trong gió. Nắng chiều đã nhạt trên mấy thửa ruộng ven đường. Chị nhìn từ gốc cây ngọn cỏ, từ bờ đê đến con đường làng, lòng dậy lên tình cảm thiết tha như với quê mình.

Bà mẹ đã mất nhưng chị sẽ vẫn đi lại chốn nầy như thuở trước, thuở chị mới quen anh. Bất giác, chị sờ tay lên túi áo xem chừng tấm ảnh còn hay mất. Chị sẽ mang nó theo suốt bên mình để nghĩ rằng lúc nào cũng có anh bên  cạnh .

Và lòng chị nguôi đi nỗi quạnh hiu.

23/4/2026

Kim Quyên

Theo https://vanhocsaigon.com/

Cuộc nhường ghế vĩ đại

Cuộc nhường ghế vĩ đại

Vì nể mặt ông bác họ của cậu hàng xóm – dù khi ấy đầu óc tôi đã tít tắp ở vương quốc Biêng-biêng rồi – tôi vẫn bấm bụng ngồi rốn làm thêm một chập nữa đến tận hai giờ sáng. Bốn tiếng sau, bắt gặp tôi ở hành lang, cu cậu vò mái đầu rối, lè nhè với cái miệng sủi bọt trắng xóa cùng cán bàn chải nhựa lòi ra.

– Bác em mừng vì lâu lắm mới có cốt nhậu cùng đẳng cấp, đúng là trăm nghe không bằng một thấy!

Tôi đoan chắc ý cậu ta là: Em mừng vì anh không làm vỡ lở cái lời quảng bá quá đỗi nhiệt tình của em về tửu lượng thần sầu của anh! Tức là: Ta không làm mất mặt nhau. “Hẹn chầu sau nhé”, cậu nói rồi nhổ đám bọt xuống cái hố ga, tôi còn chẳng chắc là bọt kem đánh răng hay bọt bia.

“Hẹn chầu sau nhé”, tôi mỉm cười và lặp lại lời cậu, thầm mong “chầu sau” sẽ không bao giờ tái diễn. Dẫu sao thì một chữ “mừng” của cậu ta cũng khiến tôi mừng, cái mừng kín đáo và kiêu hãnh. Kín đáo vì tôi chẳng muốn bị ai phát giác một sự mừng bắt nguồn từ lí do ngớ ngẩn không đáng mừng. Nhưng tôi vẫn thấy kiêu hãnh như thể chữ “mừng” trong từ điển của cậu ta chỉ để dành cho tôi vậy. Hay chính vì kiêu hãnh nên nó phải kín đáo, thế thôi.

Cái mừng này đáng mừng đã xốc tinh thần để tôi lạng khỏi cơn buồn ngủ chuẩn bị sụt lở và vùi cả ý thức của tôi vào cõi chỉ-mình-tôi. Trời đẹp và chẳng hề có dấu hiệu bão bùng gió rít. Ừ thì đi làm.

Sáu giờ mười phút sáng: một trong ba khoảng thời gian mà những chiếc cột gắn bảng kim loại ở bến xe buýt được săn đón và vây quanh nhiều nhất trong ngày. Nơi đây diễn ra cuộc tụ họp của đủ nhóm người: tuổi tác, thời trang, bộ dạng, biểu cảm, đôi khi là sắc tộc nữa. Họ hớt hải từ bên kia đường, bắt kịp lúc đèn giao thông chiều ngược lại chuyển đỏ rồi sải bước rộng nhất có thể băng sang. Nếu cái cột gắn bảng ấy là người, nó ắt sẽ kiêu hãnh lắm cho mà xem. Kiêu hãnh với cái vỉa hè chỉ để người ta chà đạp, với cái bốt điện hoen gỉ dòng chữ “Nguy hiểm, cấm lại gần” cô đơn lạc lõng.

Ừ, thế nên nó có để ý quái đâu ánh mắt những người chạy đến chỗ nó đang không ngừng dõi theo dòng xe cộ phía tít xa với sự phấp phỏng cầu rằng tuyến xe họ cần lên đừng tới vội. Sang được đến đây rồi, cái sự phấp phỏng ấy đột ngột trở thành “Sao mãi xe chẳng tới vậy?!” Nó ngỡ ngàng, nhận ra sự vồn vã chỉ là vội vã; những cái ngước nhìn của trăm kẻ mà nó vốn tưởng đang chiêm ngưỡng gương mặt mình hóa lại chỉ xem nó là một sự chỉ dẫn, tham khảo, xác nhận; và rồi bẽ bàng nhìn họ mất hút sau hai cánh cửa đóng sập của chiếc xe buýt.

Nó có nghĩ rằng cái xe buýt cũng kiêu hãnh như nó không nhỉ? Nhìn xem, họ chờ ta đến và vồ vập vào ta, lấp đầy ta như thể đây là lần cuối họ thấy ta. Thậm chí khi lòng ta đã chật cứng, những kẻ tới sau vẫn muốn chen lên nhưng bị hộ vệ của ta đuổi xuống. Ngươi chỉ là cái điểm định vị một phần trong ta để họ tìm đến và ngóng chờ ta mà thôi, ngươi hiểu chưa hả cột ơi?

Tôi xót thương cho chiếc cột gắn bảng đang dần trôi tuột khỏi khóe mắt và ô cửa sổ của xe buýt khi vừa yên vị trên cái ghế cuối cùng. Hay thế nào lại vừa khéo có người xuống ở trạm khi nãy, vừa khéo nó rơi vào tầm mắt lúc tôi chen chúc lách lên, vừa khéo thanh niên cùng lên sát tôi bước chậm sau vài phần trăm giây (cậu ta cũng hướng đến cái ghế, hiển nhiên rồi). Vừa khéo nó là chỗ yêu thích của tôi – chót xe, sát cửa sổ. Vừa khéo nó dành cho tôi.

Hành trình dài mười lăm cây số đến công ty lại bắt đầu. Đi lại xa xôi, làm bộ phận marketing của công ty nội thất trong khi bản thân tốt nghiệp loại Giỏi ngành Công nghệ thực phẩm, mấy quán cơm trưa văn phòng với giá cắt cổ, lão sếp tin cậy giao cho cả núi tài liệu để xử lí mỗi ngày. Nghe đã đáng để bất cứ ai cao chạy xa bay từ đời nào. Giả mà không vì những “Anh Tấn chăm chỉ chịu khó thật đấy”, “Tôi chưa thấy ai dũng cảm làm trái ngành siêu như anh Tấn đâu” hay “Anh Tấn lại bao nữa hả? Trời ơi hào phóng làm sao!”. Giả mà lão sếp không phải con trai của bạn đại học bố tôi.

Và đây, vì sự tin cậy đó của mọi người, tôi lôi máy tính xách tay khỏi cặp hòng hoàn thành nốt bài báo cáo dang dở bị tạm hoãn bởi màn chén thù chén tạc bất ngờ đêm qua. Những con số cùng biểu đồ láo nháo và bặm trợn đang công kích vào thành trì óc tôi, nơi toán lính nơ-ron cứ gà gật rồi sợ chạm nhau để tránh giật điện như thể chúng đang ngầm lên án tôi vì sự vụ đêm qua và rồi giờ ép chúng phải cực lực xung trận. Một sự đình công sâu cay hơn bất cứ cú búa bổ nào. Thà là búa bổ một cái đi là tôi có lí do chính đáng và đáng thương để xin nghỉ, cũng như có thêm thời gian phản kích và tất toán lũ số má táo tợn kia. Tôi nghĩ thế khi nhìn chăm chăm cái búa thoát hiểm nho nhỏ đính trên tường xe. Phải chi nó thình lình bung ra rồi rơi vào đầu tôi thì hay phải biết. Nhưng nhìn đoạn dây rút nhựa lạnh lùng ghim chặt cái búa vào tường, giả sử lúc xe lâm nạn thật, giằng ra còn khó thì nói gì sự việc nhiệm mầu như kia xảy đến.

Qua vài trạm dừng, sự (cố) tập trung của tôi vào màn hình máy tính khiến dòng người cứ lên và xuống chỉ như một hoạt cảnh phụ họa cho tiếng động cơ cứ thở ồ ồ và run lẩy bẩy sau lưng mình. Liếc ra cửa sổ: đã được phân nửa đoạn đường. Tôi day hai đầu lông mày, nhấn phải công tắc gây nhức nhối cả các vùng lân cận.

– Thanh niên nào nhường chỗ cho người già này!

Tiếng phụ xe vang lên khi tôi vừa khép một nửa cái máy tính lại. Tôi hơi nghểnh lên và nhìn quanh những chiếc ghế đang được làm ấm bởi các thân thể trẻ trung. Sinh viên, đa phần là vậy. Họ trẻ và khỏe, như tôi đôi năm về trước. Những bài giảng trên trường của bọn nhóc có khó không nhỉ? Bài tập nhiều không? Có áp lực học phí hay gia đình cấm cản vì không chọn ngành nào đó hot hoặc theo truyền thống nhà họ? Cũng đáng để đồng cảm, nhưng tôi đều đã kinh qua và thấm thía sâu sắc những nỗi gian lao ấy. Họ có nghĩ khi nhìn tôi – mặc cái vẻ ngoài cao và rắn chắc cùng cái kính dày vẻ học thức này – đại loại rằng: Anh ta trông tử tế và dường như có nỗi khổ tâm trong đôi mắt. Hơn hết là anh ta còn chắt chiu thời giờ đến mức làm việc cả trong không gian bức bách mà người ta chỉ muốn thoát xuống ngay. Anh ta đang cống hiến cho xã hội. Đừng làm phiền anh ta.

Phải rồi, chiếc máy tính. Những người ngồi kế tôi, đứng kín trước mặt tôi hay vừa mới bước lên xe – đều sẽ thấy chình ình vật thể 12 inch trên đầu gối tôi và lập tức chắp nối các chi tiết trong tổng thể bức tranh họ đang nhìn: người đàn ông với đôi mắt trũng sâu, thâm sì sau tròng kính ngả vàng, bàn tay đánh phím liên hồi trên chiếc máy cổ lỗ sĩ; và ngộ ra: Anh ta đang bận. Anh ta cần được ngồi, đáng được ngồi. Vậy nên một thanh niên hiểu chuyện trên tôi ba hàng vừa đứng phắt dậy nhường ghế cho ông cụ kia.

Tôi lật máy lên. Tab đang mở ứng dụng C.GPT vẫn còn đang nhiệt tình soạn một danh sách đề xuất cho câu hỏi “Làm sao để có phần mở đầu báo cáo dự án hay?” của tôi. Tôi liếc sang thằng nhóc cấp một ngồi cạnh đang mê mải đọc truyện tranh, thấp giọng hỏi:

– Cháu từng thấy ứng dụng này bao giờ chưa?

– Dạ chưa. Ghêm lói chuyện giống Tác-kinh Tôm[1] ạ?

– Chuẩn.

Tôi an tâm tiếp tục bận.

Sau một hồi, doanh trại tuyến đầu trí óc của tôi phải điều động thêm quân y để chạy chữa cho hàng trăm cậu lính nơ-ron trọng thương. Xem ra đã tới lúc tôi cũng phải đình chiến với đám hổ BÁO CÁO chồn kia và chờ quân tôi dưỡng thương, bao gồm cả đôi mắt sắp chảy nước vì cay xè này.

– Thanh niên nhường ghế cho thai phụ đi nào!

Người phụ nữ ôm chiếc bụng bầu như úp chiếc mũ cối dưới váy bước lên. Bây giờ xe vãn hơn chút vì vừa qua một trạm dừng ở trường đại học và các sinh viên đã lục tục đi xuống. Dù vậy tất tật các mặt ghế vẫn chưa được thấy cái trần xe một phút nào. Tôi mới tắt máy và nhét nó vào lại cặp da của mình. Dựa đầu vào cửa sổ, tôi khép mắt lại suy nghĩ. Chờ chút, cớ sao phụ xe cứ chỉ nhắm đến “thanh niên” thôi nhỉ?

– Cậu kia, đừng có mà giả vờ ngủ. Phiền cậu cho cô này ngồi chút.

Tôi giật thót tưởng người ta nói mình. Thân thể tôi thậm chí còn chuẩn bị bật dậy ngay tắp lự nếu tôi mở mắt ra và đối diện mình là ánh nhìn chán chường của chủ nhân câu nói đó. Hóa ra phụ xe đang lay một cậu bạn ngồi ở ghế ngoài hàng đầu sát cửa.

Là thanh niên. Cậu ta nom trạc tuổi tôi, hoặc có thể hơn tôi lắm. Cậu như vừa bị phá bĩnh khỏi giấc ngủ đáng ngàn vàng, hé đôi mắt sưng sưng nghếch nhìn hai người họ. Vẻ mặt trông đến tiều tụy. Bắt được nét tiều tụy ấy, lòng tôi chợt nổi lên chút xót xa. Có lẽ người phụ nữ kia cũng nghĩ như tôi.

– Thôi bác ạ, em xuống ở điểm tiếp theo đây rồi. Em cảm ơn bác!

Quả thực thai phụ ấy đã xuống ở điểm dừng kế. Và đó là một điều may. Vì tôi đoan chắc cậu bạn với nét mặt xanh lét vẫn ngồi dính trên ghế như thể nó là cái buồng dưỡng khí của cậu, sẽ không kham nổi những cái liếc xéo khinh bỉ như mũi tên vô hình hung ác bay vút tới và những cái bặm môi chỉ chực ca thán đại loại mấy câu “Trai tráng mà sao hèn đến thế là cùng!” từ phụ xe và chục chú thím ngồi quanh. Và chắc gì chính chị ta đã không nghĩ thế, nhưng chị bao dung hơn và giảm tối thiểu sát thương lên cậu trai vì một điều trùng hợp là chị đã tới điểm cần xuống thật sự.

Có lẽ mỗi tôi nghĩ cậu không diễn chỉ để giữ cho mình một chỗ ngồi trong suốt quãng đường dài. Ai mà muốn đứng mãi trên cái cỗ quan tài bay này cơ chứ? Thế nếu không phải vì ghế của cậu ở ngay sát cửa, mà ở tít cuối xe như tôi, hoặc chẳng còn ai trông như trong độ tuổi chúng tôi trên xe, thì ai là người sẽ đứng dậy và nhường phần ghế quý giá trong khung giờ cao điểm như thế này nhỉ? Tài xế à? Tôi bật cười với ý tưởng của mình khi mắt vẫn đang nhắm nghiền.

Hay vấn đề không nằm ở tuổi của cậu ta hay vị trí ghế, mà ở bộ đồ cậu đang mặc thì sao? Tôi ti hí mắt vừa đủ để nhìn lại dáng vẻ của cậu. Áo phông hình sói hú, quần jeans rách, tay cầm hờ cái mũ lưỡi trai bạc màu.

Trong mắt tôi, cậu ta là dân chơi có nhiều tâm sự.

Trong mắt những vị ngồi trên kia, cậu là thành phần nổi loạn.

Rồi nhìn lại tôi đi: đeo kính, mặc vest, tay ôm cặp da bong tróc một góc. Nếu tôi có bày ra vẻ hốc hác với đôi mắt lờ đờ đầy tia máu vì vừa trải qua một cuộc hoan lạc thì người ta cũng nhói lòng thương cảm cho một vị làm công ăn lương kiệt sức vì ngày đêm lao lực. Cùng tuổi, cùng ngủ, nhưng rõ ràng họ để tôi yên (có phần kính nể nữa cũng nên). À à, lập luận của tôi sắc bén quá thể. Phải nói tư duy này của thằng Tấn đã xức cho cuộc sống cấp ba của nó thứ dầu lóng lánh đáng thèm thuồng và ngưỡng mộ. Tiền rút từ lợn đất của con em gái với danh nghĩa “anh vay” ngọt xớt – đều đập cả vào mấy hộp quà kim tuyến. Nó nhịn đói đến lớp lúc chưa có ma nào tới, đặt hiên ngang hộp quà trên bàn mình. Canh giờ gần trống, nó ưỡn ngực khoác cặp bước vào, rẽ đám bạn nhớn nhác bu quanh bàn, còn mình mắt trợn to miệng há hốc. Bên trong khi thì nước hoa Victoria’s Secret, khi sịp Calvin Klein. Tuần cứ dăm bữa như thế, những đứa từng chẳng coi Tấn ra gì lân la làm bạn, mua quà sáng cho nó; lũ con gái cũng dần dà bị thuyết phục bởi sức hút của nó. Nào ai kịp soi cái lọ ghi Viotoria’s Seret, dòng Calwin Kleni nằm ềnh trên viền quần. Áp dụng hoàn hảo cho đại học và đến bây giờ, tôi thấy cần phải chép thành một cuốn bí kíp.

Qua tiếng thông báo từ máy phát tự động trên xe, tôi biết chỉ còn cách ba điểm dừng nữa là tới công ty. Tiếng cửa xe mở ra và đóng lại, lần đóng này thì lâu hơn bình thường.

– Ai nhường ghế cho người khuyết tật với!

Tôi tỉnh như thể bất chợt thức giấc ngay lúc sắp đến điểm cần xuống. Ô kìa, đằng sau vị khách đặc biệt kia chẳng phải là Hương ấy sao? Thánh nữ phòng Thiết kế, người như tên, ánh mắt lơi lả cùng mười ngón tay ngọc ngà lướt trên bản vẽ khiến lũ đàn ông trong công ty thi nhau trồng cây si. Nàng ý nhị từ chối cả thảy. Không phải bởi Hương đã có chủ, mà vì đám kia kém quá thể. Tôi thích nàng, nên tôi phải có chiến thuật. Chậm mà chắc, C.GPT khuyên vậy. Mình phải có thế của mình. Có điều chưa lúc nào cơ hội trao tay. Giờ thì hay cho, nàng đã hiện diện đúng thời điểm vàng!

Vuốt phẳng cái cà vạt vài phát, tôi xách cặp đứng lên, tiến thẳng về phía bà cô với chiếc chân giả dưới gối đang thập thững bước, dáo dác tìm chỗ. Xe bỗng tới khúc cua khiến bên trong nghiêng ngả, tôi liền một tay nắm chặt tay cầm treo bằng nhựa, tay còn lại đỡ lấy bà đang loạng choạng mất trọng tâm. Khi xe ổn định, tôi còn cẩn thận dìu bà ấy ngồi vào cái ghế đã được tôi làm ấm cả chặng và ân cần hỏi thăm bà.

Quay trở lại chỗ đứng cạnh cửa sổ, tôi cảm nhận những cái gật gù hài lòng và cả ánh mắt tán dương như muốn thốt lên: “Ừ! Thanh niên trí thức nó phải thế! Đúng là niềm tự hào và tương lai đất nước!” Nếu hiện tại một nhà báo có mặt trên xe và chứng kiến từ đầu chí cuối hành động được cho là nghĩa khí vừa rồi, anh ta hẳn đã xin chụp ảnh phỏng vấn tôi và chỉ ngay trưa nay thôi, gương mặt tôi sẽ xuất hiện trong mục Đời sống – xã hội của một trang báo điện tử nào đó với tiêu đề: “Nghĩa cử cao đẹp của thế hệ trẻ giữa một thời đại dần chai dạn và thờ ơ”. À không, tôi nhất định phải xin (bồi dưỡng tí nếu cần) anh ta đặt tên tôi ngay tiêu đề, trước dấu hai chấm dẫn vào câu tít. Caps lock, in đậm. Đó có thể sẽ là cú chốt hoàn hảo cho màn lăng xê ngọt ngào của Hương về tôi ở công ty trong vài tiếng nữa.

Đến trạm dừng, cửa xe lập cập mở bung, tôi lưng eo thẳng tắp lững thững bước xuống, tuồng như có tấm thảm nhung đỏ oạch trải từ cửa xuống mặt đường. Bình thường tài xế và phụ xe hay réo những ai đủng đỉnh như thế lắm, mà nay họ kiên nhẫn chờ tôi đứng oai vệ trên vỉa hè mới cuộn thảm, khép cổng và đánh ngựa rời đi. Hít thở không khí thông thoáng, tôi sảng khoái lạ thường. Lũ nơ-ron trong đầu được chiêu đãi một bữa toàn các món khoái khẩu được dọn lên ào ào. Chúng nhanh chóng hồi sức thậm chí sung sức sẵn sàng lâm trận. Ừ thì tôi vừa làm một việc tốt đấy thôi. Và tôi chợt thấy, niềm kiêu hãnh của tôi còn hơn cả cái xe buýt tự nghĩ về nó. Ngươi xem, chúng ta từng dài cổ mong ngóng, từng tranh nhau mà lấp đầy ngươi, nhưng chỉ cần đến ngươi trong một quãng đường nhất định mà thôi. Ôi chao, biển số của ngươi, ai mà đếm xỉa! Cái điệu bộ lù đù chẳng nịnh mắt được ai sẽ lại hòa tan vào đám bản sao của ngươi, bụi bặm và lao tâm khổ tứ. Phải chi ngươi có cái còi phát nhạc jazz hay áo ngươi vằn vện lục sắc thì mặc ngươi thích hay không, ngươi chí ít vẫn chen được vào khóe mắt của chúng ta mà thỏa chí rồ máy lên chứ.

– Anh Tấn, trưa nay lại ăn cùng chúng em nhé?

Nàng tiên yêu kiều chạm vào lưng tôi và cất tiếng hỏi. Ôi chao, lần đầu Hương rủ tôi đi ăn riêng. Những bữa vung năm bảy trăm bao đồng nghiệp chẳng bằng một lần nhường ghế miễn phí. Nàng đã rung rinh bởi tấm lòng nhân ái của tôi, điều này không cần bàn cãi. Tạm ngưng phác viễn cảnh ngôi nhà và những đứa trẻ cùng Hương trong đầu, tôi quay người lại vờ giật mình:

– Ôi Hương à? Làm anh hết hồn… Nay có chuyện vui nên rủ anh đi ăn hả? Hừm… anh không hứa trước, vì còn vài việc cần trao đổi với sếp sợ qua trưa. Tình hình thế trước nhé!

Chậm mà chắc, C.GPT khuyên vậy. Mình phải có thế của mình.

Chào nàng và đợi cho thang máy ngậm lấy nàng xong, tôi sải những bước dài và tự tin về phía một quán cafe khuất sau công ty. Trời đẹp và không có dấu hiệu bão bùng gió rít, nhưng tôi có câu chuyện chính đáng làm lí do để đến muộn. Còn ngay bây giờ tôi cần khoảng ba mươi phút để ngoáy nhanh bản báo cáo chết tiệt này.

Chú thích:

[1] Talking Tom: một tựa game trò chuyện tương tác trên điện thoại.

24/4/2026

Hồng Luân Anh

Theo https://vanhocsaigon.com/

Bữa cơm nhà

Bữa cơm nhà

Đêm lặng phắc không một tiếng động. Vậy mà, ông Tỉnh lại hãi hùng như đứng trước cửa sông đang đốc cạn mùa lũ. Mới đó, đã tuần bốn chín ngày của bà Tuế. Nỗi đau kinh hoàng đột ngột như sét giáng xuống. Một cuộc chia ly ngàn thu vĩnh viễn. Không đau đớn nào phô hết được nỗi chia cắt thê lương này. Đêm nay. Đêm cuối cùng bà Tuế ở lại với ông. Ngày mai. Âm dương đôi ngả. Ngày mai. Bà  Tuế lên chùa theo về cửa Phật.

Vết thương cũ vẫn ri rỉ, vẫn đau rát. Giờ lại thêm nỗi day dứt về con cái. Tại sao vợ chồng con trai ông lại rơi vào cảnh trớ trêu này? Cây có hoa. Hoa chẳng màng hương sắc. Cây có quả. Quả lặng chốn vườn hoang. Con cái không hạnh phúc. Cha mẹ mất chỗ nhờ cậy. Lời người xưa không sai. “Cơm mẹ thì ngon, cơm con thì đắng” … Những ý nghĩ cồn lên làm ông khóc rưng rức gọi bà Tuế.

Khói hương lãng đãng. Khuôn mặt bà Tuế như bừng dậy. Hai lõm má như vẫn đọng lại hai vệt chảy dài. Thấy vậy, ông lập cập lau nước mắt, mếu máo như vừa mắc lỗi: “Thôi, tôi hết khóc rồi. Thấy bà về là tôi mừng rồi!”.

Thoắt bóng, bà Tuế đã ngồi vắt vẻo bắc chân chữ ngũ trên chiếc ghế nan cũ. Bà đưa hai cùi tay day day đường mày, cổ khậm khẹc như người nghiện trầu rồi cất giọng re ré như giọng đồng cô:

–  Ông í à… Tôi nói rồi… Đừng đọa đầy mình nữa. Nhìn cảnh ông thế này, tôi cũng lao tâm lắm!

– Có bao giờ tôi nghĩ đến cảnh chia lìa tan tác thế này đâu bà ơi?!

Ngẫm mà thương. Đàn ông, lúc thơ bé ở với mẹ. Lúc trưởng thành, xây dựng gia đình ở với vợ. Người đàn bà thứ hai này khác gì mẹ. Mồ côi vợ khác gì mồ côi mẹ? Giờ mới thấu, mới ngấu cảnh đơn độc, trống vắng. Nhiều lúc vụng dại, lóng ngóng, đụng đâu quên đấy, không biết hỏi ai. Cực chẳng đã!

– Bà ơi! Lễ lạt xong, tôi lại quay về nhà mình có được không? Ở với con, tôi khác gì kẻ ăn nhờ, ở đậu. Cơm vợ thì ngon, cơm con thì ứ. Tủi cực lắm!

Đã quen cảnh vợ chồng già chăm nhau đầm ấm. Có rờ rẫm, cơm bữa khô, bữa nhão, vẫn nựng nhau. Bữa nào cũng rênh rang trò chuyện hàng giờ. Từ hôm bà Tuế mất, buộc phải rời xuống nhà con. Tưởng được khuây khỏa, nào ngờ ông lại thêm sầu não. Ăn của ngon vật lạ vẫn bị nghẹn lại.

Bữa đầu tiên ở nhà con trai cũng là bữa tối. Chị Thành, con dâu ông nấu  xong xuôi mời bố xuống ăn. Nhà ai cũng vậy. Ban ngày, cả nhà đi làm, bữa trưa tùy nghi di tản. Bữa tối mới sum họp gia đình. Vậy mà, cũng đã muộn vẫn chưa thấy mặt con, mặt cháu đâu. Gọi bố xuống, bàn ăn vẫn trống trơn. Mâm bát cũng chưa dọn. Thức ăn vẫn trên bếp. Vỏn vẹn mâm cơm cúng bà Tuế đặt đấy. Ông bảo chờ thêm cả nhà đầy đủ cùng ăn. Con dâu ông bảo: “Con lấy cơm bố ăn trước. Hai bố con nó về thì ăn sau. Mà có về, chưa chắc đã ăn”.

– Hôm nay là ngày nghỉ, không ăn ở nhà thì ăn ở đâu?

Con dâu ông vừa biện bạch giải thích vừa xúc một đĩa cơm, ắp thêm ít thức ăn và múc một bát canh riêng đem mời bố chồng. Chị ăn chay nên bỏ bữa tối. Hóa ra, sinh hoạt ăn uống nhà này không theo nếp thường. Tới bữa, con dâu ông vẫn nấu nướng, cơm canh đầy đủ. Làm xong, để nguyên trên bếp đậy lại. Ai về, sẵn đó ăn, ngồi tại bàn hay đem lên phòng thì tùy. Ít khi cả nhà ngồi ăn cùng nhau.

Nhà con trai ông có ba người. Anh Trực, con trai ông làm xây dựng, có thêm công ty riêng bên ngoài. Con dâu ông ổn định công chức nhà nước. Ngoài ngôi biệt thự đang ở, hai vợ chồng còn có nhà cho thuê, đất cát mấy nơi, kinh tế bậc trung. Mỗi tội anh chị mặt giăng, mặt giời, tình cảm trục trặc. Có trong chăn mới biết chăn có rận. Có xuống ở cùng, ông Tỉnh mới chứng kiến cảnh sinh hoạt riêng rẽ. Vợ chồng mỗi người một phòng, đi khóa, về đóng. Cơm ai, người ấy ăn. Việc ai, người ấy làm. Không gần gũi mấy khi.

Những lúc rảnh rỗi, khách khứa đến thăm, ông Tỉnh cũng nguôi ngoai. Song, tới bữa cơm, ông lại lủi thủi một mình. Thật ra, ăn hay không, các con ông cũng không biết. Nó có hỏi, chỉ là chiếu lệ. Nhiều lúc muốn bỏ bữa, ông lại ngậm ngùi lời của bà Tuế: “Ông í à… Tôi nói rồi! Có ai thương thay, sống hộ ông được đâu? Miếng ăn là miếng thuốc, ông phải cố mà ăn để giữ sức. Lúc ngã bệnh dầm dề một chỗ mới biết nhục thân đời. Ông có hối cũng không kịp!”. Nghe lời bà, ông lại tha thẩn ăn cho xong bữa.

Ngày xưa, bữa cơm nghèo nhà ông thật đông vui. Nhà có tới mười anh chị em. Đến bữa sai nhau đi gọi í ới khắp xóm cho đủ mặt. Rồi tất cả châu đầu vào dọn. Đứa rải chiếu, kê ghế. Đứa ra chạn lấy bát. Đứa bắc nồi cơm. Đứa bê nồi canh. Đứa hớt cơm cho chó. Mỗi đứa mỗi việc chạy chóng cả mặt, vấp cả vào nhau. Khi ngồi ăn thì nháo nhào. Tranh nhau ăn, tranh nhau gắp, huých cả khủy tay vào nhau. Cơm chỉ có rau cà đậu lạc. Nhiều bữa độn sắn độn khoai lổn nhổn, tinh thần ăn uống vẫn không giảm sút. Đứa nào cũng hăng hái nhai, húp, xuỵt xoạt một cách ngon lành. Chỉ loáng chốc, nồi cơm to vật đã cạo hết cháy. Ông còn nhớ như in cái nền nhà đất mát mịn. Hai chồng ghế gỗ chồng lên nhau, cái mất chân, cái vỡ mặt. Nhớ từng dáng ngồi, khuôn mặt anh chị em, bố mẹ. Thời gian đảo nhanh như cuộc cờ. Nhiều sự việc, biến cố đã quên hẳn. Vậy mà, những bữa cơm ngày thơ bé với mẹ cha, anh chị vẫn còn đấy. Những bữa cơm như những bữa tiệc trong đời.

Ông lại nhớ thời bao cấp khó khăn. Bữa ông đi công tác về đột xuất. Mâm cơm của hai mẹ con thức ăn mỗi bát trứng chưng cà chua với vài lát tóp mỡ sền sệt. Vậy mà cu Trực reo oà lên sướng ra mặt. Bữa đó cu cậu ngồi chén tì tì đến năm lần xới vẫn lắc lỏm. Nhìn con ăn uống say sưa, vợ chồng đã no mắt. Ăn xong, cái bụng nó phồng lên cái nũm rốn to thô lố làm vợ chồng không nhịn được cười. Cu cậu còn cố ưỡn cho cái bụng căng phình, hai tay xoa xoa, mặt nghếch lên hí hởn: “Mẹ xem này! Bụng con to như hơn bụng em bé của dì Nhung đấy!”. Chỉ vậy thôi cũng đủ động lực phấn đấu tương lai cho con sau này.

Lễ Bốn chín ngày của bà Tuế làm trong buổi sáng. Các dịch vụ nhanh gọn, tiện lợi. Tất cả kinh kệ, cúng bái, lễ nghi, ăn uống đều nhờ nhà Chùa. Nhà ông chỉ lo mời khách. Mọi việc diễn ra suôn sẻ. Chờ đến tối, ông Tỉnh mới gọi các con xuống phòng khách để họp gia đình.

Không khí trong nhà vẫn chìm lặng. Lặng từ bước chân. Lặng từ tư thế đặt đít xuống ghế. Mỗi người ngồi thu một góc. Chồng dửng dưng lãnh đạm. Vợ thờ ơ, coi như chẳng có chuyện gì. Chồng đẹp trai cao ráo. Vợ dong dỏng, da trắng như bóc. Hồi mới cưới, nhìn chúng đi với nhau, ai cũng tấm tắc khen cặp đôi hạnh phúc. Lý do tại đâu mà chúng lại lâm cảnh ngang trái thế này? Thằng cháu mặt cũng tỉnh queo. Chưa kịp ngồi, nó đã cắm mặt vào cái Ipat. Chiếc tai nghe lòng thòng cắm hai bên tai như đôi ruồi đen chổng đít hít mồi.

Dù đã trù liệu mọi việc. Vậy mà, nhìn cảnh gia đình, tự nhiên ông Tỉnh thấy  nản. Chẳng lẽ ông nhắm mắt làm ngơ, buông xuôi mọi việc? Cứ đà này, có trụ lại hay tan đàn xẻ nghé? Không thể để tình trạng này mãi được. Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ. Ông là bố nó. Ông phải có trách nhiệm hàn gắn cho miếng hạnh phúc đã   nứt toác này liền lại. Chúng phải mở lòng, phải có ý thức vun vén hạnh phúc.

Mở lời thật khó. Nhìn thằng cháu nhí nhố vẻ rất hotboy. Chỉ vài nhúm tóc trên đầu mà chỗ đỏ, chỗ trắng giương lên như con tàu hạ thủy. Một bên tai còn xỏ viên đá đen rất chất chơi. Ông liền bảo cháu:

– Đạt! Con bật nhạc to lên cho ông nghe!

Thằng bé thoạt nghe tưởng ông nội “đá đểu” nên rút phựt luôn sợi dây. Hai hai con ruồi đen ngã kềnh ra.

– Ông thích quẩy nhạc gì?

– Quẩy là thế nào? À, à…Ông hiểu rồi. Con cứ bật lên, nhạc gì cũng được.

– Zặăc! Vãi chưởng về ông!

– Bố cái thằng này! Đừng có coi thường ông. Ngày xưa còn trẻ ông cũng oai oách lắm. Ông cũng đàn hát, văn nghệ, văn gừng sôi nổi nhất cơ quan. Tới thời bố con còn giỏi hơn ông. Bố con vừa bóng đá, vừa cờ vua. Hát cũng hay. Năm nào đi biểu diễn cũng được giải đem về.

– Woww!

Không khí tự nhiên giãn hẳn ra.

– Mẹ thằng Đạt pha cho ông ấm lipton nóng được không?

– Vâng!

Trong lúc chờ lấy nước, ông Tỉnh đã kịp kể thêm cho thằng cháu trai nghe những thành tích của ông, của bố ngày xưa. Thằng bé vừa trầm trồ ngạc nhiên, vừa lắc lư theo nhạc.

Túi trà đã ngấm. Tự tay ông Tỉnh rót trà cho cả nhà. Hơi lipton thoang thoảng trong tiếng nhạc làm không khí có chút thư thái.

Nhấp một ngụm nước, ông Tỉnh mới đi vào câu chuyện.

– Hôm nay, công việc cúng bái của mẹ con cũng đã xong. Bố cũng mừng là các con đã lo cho mẹ chu đáo. Cũng may, nhà Chùa lại giúp nhà mình. Sư cụ quả là người đức độ. Nhà mình ít đi chùa chiền nhưng khi nhờ, cụ vẫn giúp nhiệt tình. Thôi thì, bữa hôm nay, coi như đã trả lễ. Đến trăm ngày, tiềm tiệm một hai mâm cũng được. Đến đó rồi lại tính. Còn bây giờ, bố có vài việc muốn nói với các con.

Ông Tỉnh ngừng lại rồi nhấc cái chén lên, xoay xoay lừng khừng vài vòng rồi lại đặt xuống.

– Bố định… Đã xong việc của mẹ. Bố về trên kia ở một mình. Bố hỏi xem ý các con thế nào?

Anh Trực vẫn ngồi im. Chị Thành cũng không động cựa. Thằng Đạt vẫn chúi đầu vào màn hình Ipat.

Lát sau, ông Tỉnh lại tiếp lời mình.

– Bố về trên kia để các con được tự do. Bố thấy ở đây có vẻ phiền đến con cháu.

Tưởng thằng cháu mải nghe nhạc không chú ý. Ấy vậy, ông vừa dứt lời, nó đã phản ứng rất hồn nhiên:

– Hức! Vãi cả chán!

Con trai ông bỗng gắt lên:

– Ông ở một mình ai phục vụ ông? Còn khi ốm đau. Nhỡ bất đắc kỳ tử thì sao?

Câu nói của anh Trực làm chị Thành vùng phắt lại:

– Anh nói thế mà nghe được à? Với bố mà anh còn quá đáng thế nữa là…

Anh Trực quay sang như ném lại vợ:

– Đấy là sự thật. Cô là ai trong nhà này?

Ông Tỉnh vội khua tay yêu cầu hai con không văng nổ nữa để ông tiếp lời mình:

– Sinh có hạn, tử bất kỳ! Mỗi người mỗi mệnh. Ai ngờ, mẹ con đi chỉ trong chớp mắt. Tuổi già không nói trước được điều gì. Thế nên, sống ngày nào, được quây quần vui vẻ bên con bên cháu, còn gì bằng. Trẻ cậy cha, già cậy con. Thế mới hợp lẽ đời. Thế mới an yên tuổi già. Nhưng…

Ông Tỉnh đưa lên nhấp vội ngụm trà như để khí đang cương thoát ra mới bình tĩn lại được. Rồi ông trầm giọng lại:

– Bố đã nghĩ, về đây với các con là bến đỗ cuối cùng. Tuy nhiên, chứng kiến tận mắt cuộc sống của các con, bố thấy khổ tâm lắm! Bố thấy cách sống của các con thế này không thể được! Tại sao các con lại để cuộc sống trượt dài đến mức này?

Vẻ khắc khổ ngận sâu từng nếp rãnh như trũng lại trên khuôn mặt ông Tỉnh. Những dồn nén từ bấy lâu, nay mới trào ra. Ngừng một lát, ông lại tiếp lời mình. Lần này, ông nói nhẹ nhàng khuyên giải:

– Các con phải thay đổi cách sống. Đừng làm khổ nhau nữa. Thằng Đạt đang tuổi trưởng thành. Nó cần một mái ấm gia đình bố mẹ yêu thương hòa thuận. Các con nên mở lòng, buông bỏ lỗi lầm cho nhau. Sống vì con vì cái. Vì chính cuộc đời mình. Có ai trẻ mãi được đâu?

– Con xin lỗi bố. Việc này của riêng gia đình con. Bố để tự chúng con giải quyết!

– Anh là chồng, là trụ cột gia đình này. Anh phải có trách nhiệm, có nghĩa vụ với vợ con. Anh không thể bỏ lửng thế này. Gia đình phải là tổ ấm chứ không phải tổ cư tá túc!

– Bố đừng trầm trọng hóa vấn đề! Chúng con vẫn đang sống rất bình thường, tự do thoải mái!

– Gia đình có trật tự gia đình! Xã hội có trật tự xã hội! Không thể quá tự do, tùy tiện, ai đi đường nấy. Ngày có bữa cơm cũng mỗi người một nơi, một nẻo. Cơm nhà không ăn, ăn cơm chợ. Sống thế này khác gì người dưng, nước lã? Sống thế này sao gọi là bình thường được?

– Bố đừng so sánh, áp đặt! Tại sao cứ phải sống theo người khác. Tại sao cứ bó buộc mình vào những điều vớ vẩn để làm gì?

– Zặc! Vãi chưởng!

Nói xong, thằng Đạt đứng bật dậy lao ra khỏi phòng. Cả ông Tỉnh, anh Trực, chị Thành đều sờ sững trước hành động của nó. Một lát sau, anh Trực cũng đứng lên.

– Bố ạ! Có lẽ việc riêng của gia đình con, chúng con sẽ tự giải quyết. Còn việc bố về trên nhà sống một mình là không tiện. Tuy nhiên, nếu bố không thích ở dưới này, bố muốn được tự do thoải mái sống theo ý bố, tùy bố quyết định!

Nói xong, anh Trực đi lên phòng. Chị Thành cũng đứng lên xin phép.

Còn lại một mình, ông Tỉnh thở dài tư lự. Con trai nóng nảy, bảo thủ. Con dâu cũng chẳng tha thiết gì, muốn sao nên vậy. Thôi thì, chuyện tình cảm cũng khó phân minh. Song cái nếp nhà vẫn phải giữ. Nhất là bữa cơm gia đình. Giàu ăn cơm ba bữa. Nghèo cũng đỏ lửa ba lần. Giàu hay nghèo cũng lấy bữa ăn làm gốc. Bữa ăn để đoàn tụ gia đình. Ngọn lửa gia đình được nhóm lên từ những bữa ăn giản dị. Bữa ăn vừa để thưởng thức, hưởng thụ, vừa để chăm sóc lẫn nhau. Thực lòng, chuyện ông ở lại hay về sống một mình không quan trọng bằng việc ông muốn cải tạo cái nếp nhà này. Ông muốn gia đình hòa thuận vui vẻ, chia sẻ, gắn kết từ những điều tưởng chừng nhỏ nhặt hàng ngày. Nếp nhà như cái móng, cái nền của hạnh phúc. Cách nói của con trai ông chỉ để ngụy biện cho suy nghĩ lệch lạc của thứ tình cảm đã bị rạn nứt, của lối sống vị kỷ.

Sáng hôm sau, ông Tỉnh dậy sớm để lên nghĩa trang thắp hương cho bà Tuế. Trong suy nghĩ của ông, những khuôn viên nghĩa trang lớn chẳng khác gì những ngôi biệt thự phố xa hoa lộng lẫy. Tuy nhiên, chủ nhân của nó chưa chắc đã được cực lạc. Mỗi vong linh đều lạ lẫm, cô độc. Một thế giới xa lạ, riêng biệt, chẳng ai biết ai. Khi bà Tuế còn sống, vợ chồng ông đã tính đến lúc hai năm mươi sẽ về quê nằm cạnh bố mẹ ông bà. Một nấm đất cỏ tụ khí quê cha cũng lấy làm mãn nguyện. Cuối cùng, ông bà đành phải nghe theo quyết định của con trai. Giờ, ông thấy có lỗi với bà. Chỉ những người sinh ra từ đất, vất vả chân lấm tay bùn mới thấm ngọt tình quê. Thế hệ con ông không sinh ra từ quê nên không hiểu hết lẽ đời lá rụng về cội. Quê cha đất tổ như ngôi miếu thừa tự trên đỉnh mỗi người.

Xe chạy ra khỏi thành phố. Tầng tầng lớp lớp không gian chênh chao, vun vút rồi lại chập chồng phía sau. Gió man mát hơi sương. Tiếng chim ríu rít như ùa cả vào trong xe. Anh tài xế tên Hấn chở ông đi. Hấn trạc lứa con trai ông. Cũng tài, cánh lái xe chuyện trên trời dưới bể, đông tây kim cổ, thượng vàng hạ cám, cái gì cũng biết. Hắn cứ tưng tửng tưng tửng mà làm ông cười đến chảy nước mắt. Câu chuyện của Hấn làm ông nhẹ nhõm hẳn. Lan man hết chuyện nọ xọ chuyện kia. Cuối cùng, ông cũng đem câu chuyện nhà cho Hấn phán xét. Nhưng thật lạ, hắn chẳng lấy làm việc hệ trọng. Hắn còn kêu lên vẻ rất hài hước: “Chuyện quá đơn giản ông bác ơi! Đấy là chuyện nhỏ, chuyện thường ngày của huyện!… Ấy thế, nhưng cũng không nhỏ đâu. Nhỏ mà to, to mà nhỏ, phức tạp, đau đầu phết đấy! Ông bác chỉ ở ngoài, yếu tố phụ, không giải quyết được việc gia đình nhà anh chị ấy đâu. Thôi, ông bác già rồi, việc gì lo được thì lo, không lo được thì quẳng nó đi. Đắc nhân tâm đã dạy rồi, phải quẳng gánh lo đi mà sống. Sống cho nhẹ nhàng thanh thản. Rắn già, rắn còn lột da để sống tiếp. Người già, người có lột được không? Người già chỉ chui tọt vào săng. Chết thế là hết. Thế nên, bố phải đổi mới tư duy. Sống vui, sống khỏe, sống có ích. Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, thế đời mới lạc quan yêu đời được, đúng không ông bác?”

Khi ông kể về những bữa cơm không mâm bát, không ăn uống rộn ràng, chẳng chạm mặt mấy khi. Hấn lắc đầu cười cười kiểu khổ lắm nói mãi: “Bác ơi! Thế hệ chúng cháu giờ khác thế hệ các cụ nhiều lắm. Ai cũng vất vả áp lực. Bố mẹ thì lo kiếm tiền. Con cái thì lo học hành. Bữa cơm chuệch choạc. Ngay tối qua, cháu vừa về, vừa đặt đít xuống mâm, lại điện thoại lại alo alo. Chưa kịp miếng nào lại phải đứng lên để chở bà đẻ vào bệnh viện. Nhìn hoành tráng phong độ thế này nhưng khổ lắm bác ạ. Cày sấp mặt đường mà chả thấy mặt tiền đâu. Mỗi cái mặt hậu cứ phởn ra không kém gì mặt quan. Ha ha…”

Ông Tỉnh cũng bày tỏ quan điểm lo lắng tới hạnh phúc gia đình anh Trực. Điều này có quyết định tới việc ông nên ở lại hay về sống một mình. Nghe xong, Hấn ném một câu xanh rờn:

– Riêng chuyện này, cháu là cháu ủng hộ anh giai nhà bác. Ủng hộ quan điểm tôn trọng tự do cá nhân. Ủng hộ việc cho ông bác toàn quyền quyết định. Chuẩn không cần chỉnh. Cháu lạ gì tính ẩm ương, bão lũ thất thường của các cụ. Bình thường không sao. Đến lúc có chuyện, bác lại đổ lỗi tại mày chứ không phải tại tao. Do vợ chồng mày bảo tao ở lại. Vân vân và vân vân… Thời đại bây giờ, không có gì quý hơn độc lập tự do. Nhưng độc lập tự do vẫn chưa ổn. Phải có độc lập chủ quyền. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Không có gì to hơn chủ quyền độc lập. Đúng không bác? Độc lập chủ quyền, không vi phạm lãnh thổ của nhau. Đấy là Công ước quốc tế đấy ông bác! Cay nhất là ông bạn láng giềng thỉnh thoảng lại nhảy sang can thiệp nội bộ thì đau đầu. Cháu cứ nói vậy đấy!

Thế nên, cháu khuyên bác là bác cứ về trên nhà. Tự do cho bác. Tự do cho con cháu. Không phải phụ thuộc vào ai. Còn sức khỏe, còn chơi được thì chơi. Khi nào mệt, xin vào ở dưỡng lão cho có bầu có bạn, có người phục vụ. Một mình một nhà còn ai sướng bằng bác? Sẵn tiền trong túi, bố mày thích gì gọi đấy. Còn có cả dịch vụ shipper gái phục vụ tận nơi. Lâu lâu buồn buồn, kiếm bà nào trẻ trẻ xôi thịt mỡ màng đi du lịch tận hưởng vui thú cuộc đời. Đời thế mới là đời. Ha ha…

– Hóa ra anh cũng theo xu hướng hưởng thụ quá nhỉ!

– Cháu đùa vui thôi, nhưng cũng là thực tế bác ạ.

– Anh Hấn à. Theo tôi, xã hội có phát triển, có văn minh, hiện đại đến cỡ nào thì truyền thống, nề nếp gia phong vẫn phải giữ. Đặc biệt là những bữa cơm hàng ngày, không thể phá nếp được.

– À, khó gì đâu bác! Cháu có khuyên bác bỏ đâu? Đó là thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân ta. Song có sự vận  dụng cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Ví dụ, ông bác muốn gia đình phải có những bữa cơm nhà quây quần bên nhau chứ gì? Về lý thuyết, quá đúng! Nhưng về thực tế, phải chỉnh sửa. Kiểu như văn bản nhà nước. Cứ trên mây, trên gió, vừa ban hành đã thu hồi, đã sửa đổi. Thu hồi, sửa đổi để sát với thực tế, để thiết thực, hiệu quả hơn. Các cụ đã nói rồi. Ăn một mình đau tức. Làm một mình cực thân. Nhưng vì công việc nên bất khả kháng, đành ai về trước, ăn trước. Đã thế, chấp nhận luôn việc không ràng rênh mâm bát, dọn ra lại phải cất vào.

– Anh càng nói tôi lại càng thấy vô lý. Bữa nào chẳng có giờ, có giấc. Ngày có bữa cơm mà không dọn nổi mâm bát? Không về ăn nổi một bữa? Không lẽ, ngày nào cũng vướng, bữa nào cũng bận? Bận gì mà bận quanh năm, suốt tháng? Dễ nhà giàu nó mới bận? Còn những nhà khác thì rảnh rỗi, nông nổi, vác đủ mồm ba bữa?

– Ha ha… Ông bác cũng trăm cái lý không bằng một tí cái tình ghê hà!

Ok! Cháu đồng ý với bác điểm này. Gia đình là trụ đỡ tinh thần mà bác! Song mỗi cây mỗi  hoa, mỗi nhà mỗi cảnh, phụ thuộc vào công việc mỗi người. Ngày thường không tính. Dịp nghỉ hay cuối tuần, nên dành cho gia đình. Bữa cơm cả nhà ngồi quây quần, vừa ăn uống, vừa trò chuyện công việc, học hành, rồi chuyện nọ chuyện kia thân mật, vui vầy còn gì hạnh phúc bằng. Thi thoảng, cả nhà lại tụ tập ăn uống nhà hàng, nghỉ dưỡng khách sạn cho đời sung sướng. Phải tiêu tiền, phải sai khiến đồng tiền. Sống cũng là để hưởng thụ bác ạ. Hưởng thụ trong điều kiện hoàn cảnh cho phép. Như ông bác, lúc còn khỏe, ôm quả nhà to thì phải hưởng chứ? Đừng đến lúc nằm duỗi chân trong quả nhà lạnh, đầu dài đầu ngắn mới hưởng. Hưởng ấy là hưởng dương, là “Một phút mặc niệm bắt đầu”! Ha ha… Lúc ấy, hương hồn, hương khói còn ăn chơi nỗi gì? Nó nhét cho đồng cắc để ngậm miệng đừng về bắt bớ lại tưởng bở? Đời nhiều khi rất dở nhưng vẫn phải hớn hở đấy ông bác. Khà khà…

Câu chuyện đang rôm bỗng ông Tỉnh có điện thoại. Ông hơi bất ngờ khi con dâu ông lại gọi điện thoại vào thời gian sớm thế này.

– Hụ…hụ…Bố ơi!…

Tiếng khóc nghẹn lại.

– Bố! Thằng Đạt bị tai nạn…

Nói tiếp trong máy là tiếng của con trai ông. Con trai ông nói thằng bé đã gặp sự cố trên đường tới trường. Giờ đang cấp cứu ở bệnh viện A.

Ông không tin ở tai mình. Tại sao, họa lại giáng xuống đứa đầu xanh tuổi trẻ? Tại sao?… Người ông chùn xuống. Nước mắt ông nhòa đi trong hình ảnh mâm cơm đã được dọn ra tươm tất. Thằng cháu sành điệu tóc xanh tóc đỏ của ông vừa lắc lư theo nhạc, vừa bê đĩa thức ăn dâng lên trước mặt rồi kêu lên: “Woww! Ngon vãi chưởng!”.

28/4/2026

Trịnh Minh Hiếu

Theo https://vanhocsaigon.com/

Bất chợt mai vàng

Bất chợt mai vàng Ngẫm ra, cuộc đời của mỗi con người, hình như là sự xâu chuỗi của những điều bất chợt. Bất chợt vui, bất chợt buồn, bất ...