Bà cụ Thao nằm một chỗ đã sáu năm. Sáu năm đủ cho thân hình cao lớn ngày xưa xọp thành khung
xương, tay trái tòng teo, oặt oẹo, tay phải đơ dần, thân dưới bó chặt trong cái
bỉm đại, mùa hè trùm qua cái xống đen, mùa đông giấu trong cái quần lụa hoa
chân què thắt dải rút. Sáu năm ăn ngủ, di dầm một chỗ, trên cái giường nạch
tre, cạnh bàn thờ, gian ngoài. Sáu năm từ khi nằm liệt. Còn nếu tính từ khi bà bị rệt nửa
người thì cũng ngót mười năm. Bà nhớ rõ, dạo ấy, bà kêu với thằng Cả: “Tao thấy
cái tay tê tê”. Nó át đi: “Bà cứ khéo òn. Lúc nào bà chẳng kêu đau”. Ừ thì đúng
là bà hay kêu thật. Hôm trước đau đầu thì hôm sau phải chuyển xuống đau chân,
hôm sau nữa là đau lưng, đau gối. Nhưng nếu không kêu thì ngoài con vợ nó hỏi
han rồi lại cắm mặt vào mấy sào ruộng bãi, vào mấy ao cá, vào tum vịt đẻ ngoài
trại, nó nào còn nghĩ đến bà. Nhà văn Nguyễn Hải Yến Lần ấy, quả thực bà không òn nhưng thằng con quen nết cứ lờ
đi vì biết nếu hỏi thêm kiểu gì bà cũng sụt sùi: “Ngày xưa tao gánh năm sào gặt
mùa đi phay pháy chứ đâu như giờ”. Rồi hờ chồng, hờ mấy thằng con chết yểu, đòi
đi theo cho đỡ khổ. Nhộn lên. Cho đến tận khi bát cơm trên tay bà rời ra, rơi
choang trên nền gạch, cái mồm móm hóp xệch lên trên, thìa nước canh húp vào
xuôi theo nếp mép giàn xuống cổ, chúng nó mới tam tinh tá hỏa gọi xe đưa bà đi
bệnh viện. Nhìn lũ cháu gái cuống cuồng vơ vội mấy cái áo cánh, quần què, bịch
dầu gió nhét vào cái bị cói vá gần chục mảnh bóng màu mồ hôi của bà, nhìn con mẹ
Cả xớn xác phóng cái xe đạp tàng đi gọi người bán đôi lợn nhỡ mà bà hả hê: “Bà
khỏe mạnh, chúng mày nhàn quen thói. Giờ bà thử ốm một trận cho chăm sóc xem
sao”. Nhưng đận ấy bà không ốm thử mà ốm thật. Hơn bảy chục năm trời,
đấy là lần đầu tiên bà phải nằm bẹp trên cái giường sắt hoen rỉ của bệnh viện tỉnh
già nửa tháng. Hơn bốn chục cây số dưới quê, thằng Cả nằm bệnh viện huyện, con
vợ vừa chăm chồng, vừa cắm mặt vào gà, vịt, ao, đầm, thi thoảng mới nhảo lên.
Trông nom bà dồn vào tay vợ chồng thằng Thứ. Cũng từ đận ấy, bà càng ghét thậm
đứa con dâu thành phố. Rặt giống óng suốt. Nó cậy là bác sĩ, dạy bà như dạy con
nó: “Bệnh của bà phải kiêng mỡ, kiêng trứng, không được ăn mặn”. Trần đời là
cái giống nhà nó. Bà ốm, nó nấu cho bà ăn bữa nào là có ruốc bữa ấy. Cơm ruốc,
cháo ruốc, bánh mì ruốc, canh cũng trần sì một món lá ngải rắc ruốc, nhạt đớ mồm.
Chả bén gót cho con mẹ Cả, lôi thôi sồi sộc thế nhưng sáng nào trước khi ra đồng
cũng ghé qua giường bà hỏi: “Hôm nay bu thích ăn gì?”. Cũng chỉ có nó thâm hiểm
xúi giục thằng Thứ – thằng bé từ xưa vẫn ngoan ngoãn nghe lời bà – đùng đùng lật
đầu giường bà nằm, lôi trong cái bị rách ra bọc thuốc tây to bằng quả bưởi Diễn,
to nhỏ, tròn dài, đen, xanh đủ loại, quát vào mặt bà: “Bà có biết vì sao bà nằm
liệt, càng chữa càng nặng không? Đây này! Thuốc đưa cho bà uống, bà vứt đi đây
này. Bà có biết mấy trăm nghìn một viên thuốc này không. Bà bao nhiêu tuổi rồi
mà còn sợ thuốc đắng? Bà uốn éo vừa thôi! Bà mà là thằng Tú nhà con, con quật
cho nát đít ra rồi!”. Trần đời! Quá bà là con nó! Ừ thì tính bà vốn sợ thuốc.
Thấy thuốc là thấy đắng. Bà dúi vào đấy, định lúc về quẳng xuống ao phi tang.
Nào ngờ, con thành phố ấy phát hiện ra, húi chồng mắng bà. Bà thù nó đến tận
bây giờ. Về thăm bà, quà to, quà nhỏ, chào từ ngoài cổng chào vào bà cứ ậm ờ,
giả điếc, giả lẫn, không thèm tiếp. Nhưng cũng từ bữa ấy, bà mới ngộ ra rằng ốm thì phải uống thuốc.
Bệnh của bà lại càng phải uống nhiều. Thế là đến lượt bà phải giục chúng nó.
Ngày nào không uống vài viên là bủn rủn, khó thở, tưởng chết đến nơi. Riết
thành nghiện, cứ nuốt sống, chẳng cần nước. Cái bọc nilong đầu giường căng phồng
lên đống vỏ hộp tích lại. Để ai vào, bà đưa ra khoe: “Bác xem, không có thuốc
tôi chết non rồi”. Đứa nào đứa ấy cũng chăm chắm, lồi mắt ra nhìn đống vỏ hộp.
Có đứa còn kêu lên kinh ngạc: “Sao bà lắm B1 thế này!” *** Có tiếng cổng lạch cạch, guốc gỗ lộc cộc, dõi cửa sắt rút qua
then đánh “soạc” rồi cửa chính bị kéo bung ra. Bà cụ Thao hé mắt, nhập nhèm
nhìn. Cái dáng đậm, lùn là con mẹ Út. Bà biết thừa nhưng vẫn giả vờ phều phào:
“Đứa nào đấy?”. “Con đây. Bà cứ hay lẫn”. “Chị đi đâu?”. “Con đi thay giặt cho
bà”. Bà hỏi cho có chứ nhìn nó mồm đeo khẩu trang, tay lồng đôi
găng cao su, quần xắn đến đầu gối là biết ngay nó vào thay rửa cho bà. Cái giống
nhà nó sợ bẩn, sợ mùi. Giá như ngày xưa, bà bắc ghế chửi cho ủng mả. Nhưng giờ… “Chết nỗi! Sao bà lại ướt lên đến tận gáy thế này! Xem nào!
Biết ngay mà! Con đã bảo bà là không được dứt bỉm ra. Xé lung tung thế này, làm
sao nước đái chả lên đến tận đầu. Chết thôi! Bà lại làm gì nữa đây?”. “Tôi có
làm gì đâu!”. “Bà không làm gì mà tay lại dính đầy phân thế này!”. “Chị điêu
toa vừa thôi! Tổ sư bố đứa nào bôi cứt vào tay bà!”. Điệp khúc chửi đứa khốn nạn nào bắt đầu. Con mẹ Út quen tính,
lẳng lặng gỡ cái áo mưa mỏng dính, chấm bi hồng treo sẵn ngoài hiên tròng vào
người, rồi nửa nâng, nửa đỡ, nửa kéo bà vào phòng vệ sinh cơi ngay cạnh đấy, xả
nước ào ào. Bà cụ Thao vẫn lầm bầm chửi. Bà chửi bé để còn giữ sức chửi dai. Bà
chửi cái đứa âm hiểm nào. Rõ ràng, vừa hôm qua, bà còn cõng mẹ chồng bà rũ như
xác chết từ đống Mả Mồ về, sau khi chứng kiến từ đầu đến cuối cảnh cụ Chánh – bố
chồng bà run rẩy, trầy trật tự đào huyệt cho mình giữa đống đất bùn nhầy nhụa,
trong cái rét ngằn ngặt mùng bốn tết đại hàn làm tím thâm từng mảng da thịt sau
manh áo rách tả tơi. Rồi bị Đội Cang trói giật cánh khuỷu, lôi ra sát bờ huyệt,
thay mặt các ông bà nông dân xám ngoét đang ngồi dúm vào một góc, đọc cáo trạng
tố địa chủ cường hào, nã đủ ba phát súng lục thi hành án tử, đạp cụ ngã sấp mặt
xuống lỗ huyệt vừa đào. Bà điên cuồng chồm qua người mẹ chồng chết ngất, bò lết
đến bên bờ huyệt điên cuồng gọi: “Thầy ơi! Thầy ơi!”. Và thấy cụ Chánh trong những
nỗ lực cuối cùng đã lật ngửa được người lên. Bùn và máu tràn vào, lấp gần kín
đôi mắt vẫn mở trừng trừng, đôi môi thâm đen mấp máy nhưng rồi ngay lập tức bị
một xẻng đất hắt ập xuống phủ kín. Bà rít lên sòng sọc lao về phía Đội Cang – kẻ
vừa hất xẻng đất đầu tiên chôn cụ Chánh vẫn đang quằn quại. Bà không nhớ bà gào
lên những gì, làm những gì, chỉ thấy cái mặt trâu dái của Đội Cang tái ngoét lại,
tay đặt lên khẩu súng ở lưng quần, chân đi giật lùi, mồm lắp bắp: “Con này láo,
dám chửi đội!”. Rồi ai đó kéo chân bà giật sấp xuống, dúi mặt vào đống đất bùn,
thì thào: “Im! Nó bắn chết bây giờ!”. Bà cụ Thao thành chủ gia đình từ hôm ấy, từ khi tỉnh dậy, lầm
lũi cõng mẹ chồng oặt như xác chết về nhà trong bóng chiều nhập nhoạng, đặt xuống
cái chõng tre mọt ngoài giại, quát thằng em út cố rặn, đái vào cái bát sành,
ghè miệng cụ bà đổ vào. Quát lũ em đang bâu xung quanh, khóc như ri, thổi nùn
rơm, châm cái chổi sể cháy đùng đùng. Rồi cụ Chánh bà cũng tỉnh dậy, thản
nhiên, ráo hoảnh, vấn tóc cho gọn, lận từ thắt lưng ra đồng hào lẻ cuối cùng: “
Thằng Út ra quán cụ Rào mua thẻ hương thắp cho thầy mày. Thầy mày chết hơn bốn
giờ chiều mùng bốn tết. Chết đói. Mẹ Cả ra vườn, moi trong ruột đống rơm, u giấu
hai chĩnh gạo. Thổi hết cúng thầy rồi cho các em nó ăn. Thằng Thứ, đi theo u!”.
“Đi đâu hả u?”. “Đi bắt gà thịt làm cơm cúng thầy”. “U ơi! Gà của đội.”. “Đội
nào? Gà nhà mình nuôi. Đứa nào nhận xằng u giết nó!”. Cụ Chánh bắt cả ba con gà
còn sót lại trong cả đàn gà trăm con đội nhận nhưng chưa kịp tẩu tán hết, vặn
ngoéo cổ, quẳng ra sân. Mùi hương lan theo chân mẹ Cả, không thơm mà phảng phất tanh.
Hai người đàn bà chìm trong bóng tối gian thờ lập lòe đốm chân hương đỏ. “Ông
ơi! Ông chết oan uổng quá! Ông sống khôn, thác thiêng phù hộ cho con cháu qua
được đận này, phù hộ cho thằng Cả tìm thấy đường về. Sau này mẹ Cả nó thay tôi
giỗ tết. Nó gọi thì ông về!”. Rồi quay sang con dâu: “Xuống dọn cơm cho các em
nó ăn đỡ tội. Đói mấy ngày hôm nay rồi!”. Khi lũ em chồng lít nhít bằng đít bằng
đầu quây quanh cái sàng ngả vội trên nền bếp, bà Thao mời vóng lên nhà: “U ơi!
U xuống ăn cơm!”. Im lặng. Một luồng điện lạnh chạy dọc sống lưng xuyên lên
gáy, bà nhào lên nhà trên. Tối om. Hương tanh phảng phất. Trong căn buồng chốt
cửa, cụ Chánh thắt cổ chết bằng chính cái ruột tượng của mình. Chỉ tích tắc
thôi mà không cứu kịp. Bà thay rửa cho mẹ chồng. Lau chùi sạch sẽ tất cả những
dơ bẩn cụ Chánh trả nợ đời trong tiếng lũ em chồng khóc như ri. Bố mẹ chồng
chết cùng một ngày. Bà Thao thành chủ gia đình, gánh năm đứa em từ ấy. *** Bà cụ Thao thành người ngoa ngôn cũng từ ngày ấy. Ông cả Thao phiêu dạt mấy năm từ đận loạn, sửa sai xong mãi mới
lần về, xung vào đội quân năm đứa em và sau này là ba đứa con giai giống má
(sau khi bỏ hai đốt đầu và mụn chấy rận rốt lòng) đi nhẹ, nói khẽ, cười đúng
lúc, nhường quyền to tiếng trong nhà cho người duy nhất là bà. Đứa nào lơ mơ,
bà chửi cho ủng óc. Mà chửi có cữ – mỗi ngày một lần. Chửi có giờ – đông
sớm thì sáu giờ, hè muộn tầm bẩy giờ. Nắng cầm theo cái quạt mo nặng trịch, khâu
viền bằng vải diềm bâu, mưa đội thêm cái nón mê vá dễ đến hàng chục mảnh, bắc
cái ghế đẩu cạnh cổng, de mặt về phía nhà đội Cang mà chửi. Bà tích tội lũ em,
lũ con từ bảnh mắt đến tối sờ, sắp lại thành bài, bao giờ mở đầu cũng bằng:
“Cha vạn đời tổ mày…”. Tội trước bắt vào tội sau, nhịp nhàng, réo rắt, kết thúc
một câu bao giờ cũng ngân dài như hát. Nếu không phải người trong cuộc bị chửi
thì nghe cũng vui tai. Mà thực ra, lũ người trong cuộc bị chửi cũng quá quen, cứ
lẳng lặng, bình thường mà làm việc. Đứa băm bèo cứ hục đầu vào mà băm, đứa sa rổ
sề rau lợn cứ cắm mặt vào mà ngoáy để tra nồi cám bộng, đứa thắp cái đèn dây
treo trên đầu giại, đừng có để trong nhà hút lũ thí thân. Ông Thao lạch cạch
mâm bát để sẵn, chờ bà chửi xong là ăn cơm. Ai cũng biết bà mượn chuyện nhiều
người để chửi một người. Chuyện thằng Cả lười, gánh phân trâu hôm nay không đầy
giàn như hôm qua. Cái ngữ tinh ăn mù làm ấy chỉ có đi ăn mày. (Ấy là bà nói móc
đời ông đội Cang phiêu dạt tận đâu, ăn mày về chợ Cuối). Chửi chú Út rút không
đủ rạ, đang nấu cơm phải hùng hục chạy ra cây rơm vơ thêm, có ngày cháy bếp,
cháy nhà ra đầu đường mà ở. (Bà móc đến đời bố đội Cang, dựng túp lều đầu Cầu
Quán, chui ra chui vào, lưng chạm ngõng cửa). Chửi thằng Thứ nhà bà là thằng
mõ, nhà hàng xóm chuyện gì cũng biết. (Nhà đội Cang là dân ngụ cư, truyền đời
làm sái mõ). Mùng một tết bà còn chửi cả ông Thao chiều con, chiều em cho lắm,
giấu bà may cho mỗi đứa một cái quần xanh chéo, một cái áo diềm bâu, hôm nay
lôi ra mặc cả lũ. Chiều cho lắm vào rồi sau này đi làm cướp. Cướp của nhà người
ta rồi cũng phải móc họng ra mà trả. (Ấy là bà móc đến đội Cang, tịch thu của
nhà bà nào quang, nào gánh bát đĩa, đỉnh đồng, sau này lạy lục giả lại bà mà bà
chưa thèm nhận). Lâu rồi thành lệ, tầm ấy không thấy tiếng bà, ông cụ Kiểm lại
hỏi vóng qua hàng rào dâm bụt lơ thơ: “Bác Thao hôm nay đi đâu đới?”. Hay: “Mẹ
Thao ốm à?”. Ròng rã như thế dễ đến hơn 10 năm, rồi thưa dần. Phần vì lũ
em đã lớn, đã đi bộ đội hết dù đứa nào cũng phải qua dăm bảy lần viết đơn (con
cháu địa chủ phải xét kĩ). Phần vì chống Mỹ đang đến hồi gấp rút, ông Thao lại
mất sớm, nhà neo người. Phần vì xã vào góp ý: “Bây giờ văn minh rồi ai lại chửi
như hát hay như thế, còn gì là hình tượng bà mẹ hậu phương”. Và cũng bởi giời
kia đất nọ, đội Cang đang khỏe mạnh bỗng lăn cổ ra chết sau khi nghe đủ chừng ấy
năm những bài cạnh khóe, móc mả của bà, để lại mụ vợ lúc nào cũng héo rầu rầu
như con sâu ruột và đứa con gái gầy toắt, mỏng như hình nhân thế mạng. Bớt chửi,
bà bảo là bà nghe lời xã, nhưng thực ra, tháng đôi lần, thấy cái gì ngứa mắt,
bà lại lôi bài: “Cha vạn đời tổ mày…”. thốc cho một trận cho bõ ghét. *** Bây giờ bà ở với vợ chồng thằng Cả – cái thằng năm mười sáu
tuổi, trong lệnh tổng động viên, trốn nhà đi bộ đội, kéo theo thằng em
hai năm sau cũng a dua, a tòng nửa đêm gỡ rào đi theo. Ơn giời, sau bảy lăm,
chú cháu nó sớm muộn về đủ mặt, kể cả thằng Cả mười năm sau mới lần về mang
theo mảnh đạn trong đầu, lúc điên, lúc tỉnh. Lúc tỉnh khôn như dí, ăn nói, chỉ
đạo đâu ra đấy. Lúc điên, nửa đêm đông cắt thịt cũng ra giếng thơi dội nước ào
ào, đập phá, chửi bới rồi bỏ đi. Chán lại lần về. Năm đứa em, hai thằng con lần lượt một tay bà dựng vợ, cắt đất
làm nhà. Đất cha ông tổ nghiệp, bà sống chết giữ lại, đứa nào có phần đứa ấy,
không ở thì để làm vườn. Tuyệt không được bán. Nhờ giời trên dưới yên bề. chỉ
trừ thằng Cả dền dứ, dằng dai, tai ngược chuyện vợ con. Giời xui đất khiến, nó
hẹn hò với con gái đội Cang lúc nào mà bà không biết. Nếu biết bà đã thốc phách
chửi cho tịt ngay từ đầu. Mười sáu tuổi, thằng Cả đi bộ đội rồi bặt tin gần 20
năm. Gần hai mươi năm ấy, biết bao lần bà hoặc nói thẳng vào mặt, hoặc bóng gió
xa xôi rằng cái dạng gái ế xưng ế xỉa ấy trông thấy bà ở đâu thì tránh cho xa,
đừng để bà gặp đâu xúi đấy. Đi gánh rạ thì đứt quang, tát nước mạ cũng lở bờ,
thậm chí dỡ khoai cũng cuốc vào chân. Cái nhà vô phúc, có mỗi mụn con gái thì ế
chồng. Ông giời có mắt đấy. Bởi thế cho nên, tuy nhà đội Cang ở ngay đầu ngõ
nhưng cái cửa sổ song gỗ trổ ra ngoài đường bao giờ cũng đóng, gian nhà hai
chái mốc thếch rêu xám lầm lũi hai bóng người. Lúc nào giáp mặt bà, mẹ con nhà ấy
cũng chào: “Bà đi đâu đấy?”. “Bác đi chợ ạ?”….đủ vẻ nhưng chẳng bao giờ bà bắt
nhời. Cái ngữ chúng mày không xứng. Thế mà… Thằng Cả về. Ồn ào một thời gian rồi yên ắng xuống, đủ để cả
nhà, cả làng trên xóm dưới nhận ra nó nửa điên nửa tỉnh. Một thời gian nữa để
biết nó là thương binh nặng, có người chăm sóc riêng ở một trại thương binh mãi
trong miền Nam. Nhớ nhớ quên quên mà dám bỏ trại lần về quê cũ. Lúc tỉnh táo,
nó đòi lấy vợ. Một sống một chết đòi lấy con gái đội Cang. Bà rít lên sòng sọc,
chỉ tay vào mặt nó: “Bà cấm tiệt cái giống ấy. Có bà không có nó. Con gái làng
này chưa chết hết”. “Chưa chết nhưng chỉ có cô ấy đợi con gần hai chục năm rồi!”.
“Ai khiến nó đợi. Giờ ế lõ ra. Không bám vào mày thì chết già!”. “Bu đừng nói
thế. Tội người ta!”. “Cha vạn đời tổ mày…Mày cấm bà được nói à?”. Bà cụ Thao vỗ
hai tay vào đùi phành phạch, gào lên. Thằng Cả không nói nữa, im lặng lủi ra.
Nhưng hôm sau, đúng mười hai giờ trưa, anh em, chú cháu nó về đủ mặt. Giời kia
đất nọ. lần đầu tiên chúng nó về phe nhau làm phản bà. Thằng Út – cái thằng được
bà cho ăn học tử tế nhất, làm kĩ sư trên thành phố còn nói: “U phong kiến vừa
thôi. Ai làm sai người ấy chịu. Bác Cang chết lâu rồi, u thù mãi làm gì
cho già sớm. Mà u tính, anh Cả lớn tuổi, lại thần kinh nặng, có chị ấy lấy chứ
đứa nào ngu nó lấy. Lúc tỉnh thế này, lúc điên ai chăm. U có sống được mãi
không mà giữ giá làm nộm?”. Trần đời! Bà tức lộn máu mà mấy thằng chú nó còn
hùa theo: “Đúng chị ạ. Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào. Ngăn cản chúng nó làm
gì. Mang tiếng ác”. Làm phản thật rồi! Không coi ai ra gì thật rồi! Bà
lăn đùng ra cái chõng tre gào ầm lên. Bọn phản tặc lủi nhanh như trạch bởi
chúng biết, lúc bà chửi là lúc bà minh mẫn, sáng suốt, còn khi bà khóc là đã rối
trí lắm rồi. Hôm sau, ai vào việc nấy. Đám cưới liền tay chưa đầy tuần đã
xong xuôi, cũng là đám đầu tiên bà lấy cớ ốm, nằm lì trong buồng, kệ thây chú
cháu nhà nó. Thử xem không có bà cứt có lộn lên đầu, người ta có chửi cho
không? *** Nhưng không có bà mọi việc vẫn đâu vào đấy. Đám cưới thằng Cả
hóa ra lại to nhất nhà. Chú Út phục viên, làm văn hóa xã tha về bộ loa đài. Rạp
bắc từ đầu ngõ nối sang nhà cô dâu, không chỉ lũ trẻ con rỗi việc mà cả bọn lớn
nhồng nhồng rửng mỡ cũng nhao vào hát ông ổng mấy ngày. Không lấy cớ ốm thì bà
đã nhao ra chửi cho tan rạp. Nước chè tươi nồi này ra, nồi kia vào. Kẹo bột, kẹo
dồi mấy thím dâu tự nấu, đĩa nào đĩa ấy đầy có ngọn. “Cả nhà còn mỗi thằng Cả.
Phải đàng hoàng!”. Chú lớn chỉ đạo. Anh em, con cháu răm rắp nghe theo. Cả xóm
vui như hội. Nhờ giời mấy hôm cưới nó không lên cơn. Rước dâu về còn xung phong
lên hát tặng quan viên hai họ: “Rất dài và rất xa. Là những ngày thương nhớ…”.
Đúng đến chỗ: “Pháo anh lên đồi cao…” thì con cháu đi tiếp nước, vướng chân bật
dây loa, tịt ngóp. Cười vỡ rạp. Bà nằm tận trong buồng cũng phải bật dậy: “Cha
vạn đời tổ cái thằng điên!”. Nhưng rồi bà chợt tủi thân. Chú cháu nó quên bà rồi!
Giá kể có đứa nào vào dìu, bà cũng miễn cưỡng mà ra. Đằng này cứ tớn lên vì cái
con sâu ruột ấy. Để rồi xem ở với bà được mấy bữa? Nhưng rồi con mẹ Cả ở với bà đến giờ ngót ba mươi năm. Ba
mươi năm cơm bưng nước rót, gọi dạ bảo vâng, cúc cung tận tụy phục vụ bà, phục
vụ thằng chồng dở ngô dở ngọng, nuôi ba đứa con gái gầy nhẳng, khô quắt như mẹ
và nhao nhác với hàng mẫu ruộng bãi ngoài triều. Cưới về hôm trước, chưa để bà
chửi ngày nào, thằng Cả đã lên cơn. Mà đổn đời, ma xui quỷ khiến, không đập
phá, không bỏ đi như trước, chỉ lao vào đánh vợ như đánh kẻ thù bằng đủ mọi
ngón đòn đặc công của nó. Ngày đầu, con vợ rúm vào một góc chịu đòn, hộc máu mồm,
máu mũi. Bà lao vào, ăn nguyên một cái đạp của thằng con giai máu mủ đang lồng
lên như con thú điên. Hôm sau, gượng dậy được, bà nhao ra sân, giật tung cái
nón rách con mẹ Cả đang đội sùm sụp, che đi nửa khuôn mặt bầm tím mà gào lên:
“Cha vạn đời tổ mày… Mày ăn bát cơm hay bát cứt vào mồm mà mày ngu thế! Nó đánh
mày thì mày phải biết chạy đi chứ. Đứng đấy cho nó đánh vào chỗ hiểm, chết sặc
gạch ra thì lại bảo nhà bà thất đức!”. Mẹ Cả khuỵu xuống. Hai bu con cùng khóc. *** Sáu năm bà cụ Thao nằm liệt một tay mẹ Cả thay giặt, cháo
cơm, không khiến đến ai. Chỉ lúc nào cùng lắm mới đến lân con mẹ Út cạnh nhà. Một
năm chả mấy bận nhưng nó đã trữ sẵn đồ nghề găng tay, áo mưa, khẩu trang. Như
hôm nay. “Mẹ Cả đâu mà đến phiên chị?”. “Bác trai hôm qua lại lên cơn
bà ạ! Bác Cả gái bị đánh gẫy xương sườn, phải nằm viện. Con thay giặt cho bà rồi
đi làm. Bà không được rứt bỉm ra nữa!”. Nó nói một thôi dài như sợ bà hỏi lằng
nhằng rồi lật nghiêng người bà buộc chặt cái dải rút ra sau lưng. Nó buộc thế để
bà khỏi quài tay rút ra. Bà biết điều đó, đang định chửi đứa nào rứt ra chứ bà
rứt làm gì. Nhưng rồi im lặng. Mẹ Út khép cửa, nhà tối om chỉ còn vài vệt sáng lờ mờ qua khe
gỗ nứt. Bà cụ Thao day mặt vào tường, nước mắt nhòe hết hai tròng đục. Thương
con mẹ Cả thân tàn ma dại, mấy chục năm gánh bao trận đòn thù. “Ông giời ơi! Chẳng
thà ông cứ để nó đập phá như ngày mới lên cơn. Ông cứ để nó lao đầu vào tường
lõa máu như xưa còn đỡ xót. Cả Huy ơi! Mày ác quá. Mẹ nó làm gì nên tội. Phải
trận này dễ chết. Gẫy xương chứ có phải thường…”. Bà đưa cánh tay chưa bị rệt
lên lần cái bị khươm năm gối đầu giường. Bỗng rụng rời, lạnh toát sống lưng, rú
lên ngằn ngặt: “Ối giời ơi! Nó giết tôi rồi!”. Con mẹ Út vừa gài xong cánh cổng, nghe bà rú, giật sấp giật
ngửa lao vào, giật bung cánh cửa: “Bà làm sao thế?”. “Ối giời ơi! Nó giết tôi rồi!”.
“Ai giết? Làm sao mà giết?”. “Mất hết rồi!”. “Bà mất cái gì?”. “Tiền của tôi!
Chúng nó cướp hết rồi!”. Bà cụ Thao có tiền, ai cũng biết. Bà giấu ở đâu, ai cũng biết.
Bà tích cóp tiền từ cái đận thằng Út bảo bà: “Con thay cho bà cái giường. Giờ
không ai nằm chõng tre. Vào người ta cười chúng con”. “Đứa nào cười mặc bố nó.
Tiền đâu ra mà thay!”. “Cái giường rẻ. Chỉ có năm nghìn thôi!”. Lâu lắm bà chẳng
ra chợ mua bán gì, chẳng biết giá trị tiền thế nào. Năm nghìn mua được cái giường,
chắc to lắm! “Phí tiền. Mày cho bu năm nghìn để dành. Tao nằm chõng quen rồi. Nằm
giường đau lưng lắm!”. Đến lúc ấy mọi người mới biết bà thích tiền. Cái gì cũng
quy ra năm nghìn. “Thôi! Tao dùng cái bị quen rồi. Đừng mua làn nhựa. Cho tao
năm nghìn!”. “Mua dép mới làm gì. Có đi đến đâu. Đem hàn lại đôi cũ. Cho tao
năm nghìn”. Quen tính, đứa nào về biếu quà cũng giao hẹn: “Bà phải ăn đi! Con
biếu bà thêm năm nghìn”. Bao nhiêu năm nghìn bà tích cóp, giấu vào cái bị cói gối
đầu giường. Nhiều vô số. Mấy hôm quên không bỏ ra đếm. Hôm nay sờ đến mất sạch
rồi. “Ối giời cao đất thấp ơi!”. Bà cụ Thao bỏ ăn hai bữa, nằm day mặt vào tường mà khóc. Cả
nhà nháo nhác gọi nhau về đủ mặt. Mẹ Cả xanh rờn như tàu lá cũng được khiêng từ
bệnh viện huyện về ngồi vòng trong, sau đó lần lượt kín các vòng ngoài. Bà cụ
Thao vẫn hờ chồng, hờ mấy đứa con bỏ đốt, não ruột mặc cả nhà truy hỏi nhau quyết
làm cho ra nhẽ. Mấy đứa cháu gái dúm vào một góc: “Chúng cháu không lấy. Bà lúc
nào chả ôm cái bị khư khư. Vào nhà vệ sinh bà còn xách đi theo”. Mẹ Út ấm ức:
“Em vừa vào thay cho bà thì bà kêu mất. Em lấy làm gì mấy đồng bạc lẻ”. Thằng
Hai lật tung đống chăn gối, dòm cả xuống gậm giường: “Hay là rơi ở đâu?”. “Ối
giời ơi! Ối cha mẹ ơi! Rơi làm sao được. Nó cướp của tôi rồi!”. “Đứa nào cướp?”.
“Có hai thằng to lớn lắm xông vào đây hôm nọ”. “Con chịu bà!”. “Ối mẹ Cả ơi! Ối
ông Cang ơi! Tôi chết đây! Mất hết rồi!”. Nghe bà nhắc đến đội Cang, cả nhà lặng ngắt. Mấy đứa cháu lủi
ra vòng ngoài. Lại có chuyện rồi! Thằng Cả vừa qua cơn điên ngồi phịch xuống
đất, vô tình duỗi chân, đá lăn cái bô sắt tráng men vẫn để cuối chân chõng.
Cùng nghe đánh “xoảng” một cái là tiếng reo to: “Đây rồi bà ơi!” Lũ cháu lao
vào hét ầm lên: “Bà ơi đây rồi!”. Bà cụ Thao chồm được nửa người dậy, rú lên:
“Đây rồi! Tôi nhớ mà! Hôm hai thằng xông vào cướp, tôi giấu ở đây mà”. Từ cái
bô, từng cuộn tiền nhỏ bằng ngón tay út, chẵn lẻ, cũ mới đều được quấn trong nịt
lăn ra mặt chõng. Bà vồ lấy đống tiền thu gọn vào lòng rồi trỏ tay vào mặt thằng
Cả rít lên: “Cha vạn đời tổ thằng hùm vồ! Nó làm gì mày mà mày đánh nó nên nỗi.
Mày thất đức vừa thôi! Lần sau, biết sắp lên cơn, tự khóa cửa buồng vào,
chết một mình trong ấy thôi!”. Chửi xong thằng chồng bà quay sang con vợ đang
ngồi lặng đi trên cái xe lăn, quờ quạng nắm lấy bàn tay toàn gân với đốt của
nó: “Tiền này bu tích cóp từ lâu để dành cho mẹ mày đấy. Cầm hết mà ăn uống,
thuốc thang. Khổ thân mày! Mày về làm dâu là về gánh tội, gánh nợ cho cái nhà
này”. Rồi quay sang cả nhà: “ Bà truyền đời báo danh cho cả
nhà lớn nhỏ chúng mày, không bao giờ được để thằng Cả đánh vợ như thế này
nữa. Nếu không tao chết không nhắm mắt. Không biết ăn nói thế nào với người
ta”. Mấy đứa cháu gái khóc tu tu. Mẹ Cả gào lên: “Bu đừng gở chết
bu ơi!”. Bà cụ Thao day mặt vào bức tường vôi phèn giấu nước mắt, lẩm bẩm: “Bà
còn lâu mới chết. Cha vạn đời tổ chúng mày!”. NGUYỄN HẢI YẾN 27/6/2020 Nguyễn Lê Vân Khánh Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét