Lịch sử văn học như là sự sáng tác và nghiên cứu: Trường hợp Bakhtin
Trong vai trò nhà ngữ văn học, nhà triết học Bakhtin vẫn
giữ nguyên bản chất sáng tạo, có điều bản chất sáng tạo ấy của ông được bộc lộ
hết sức độc đáo. Ông sáng tác ra một nền văn học mới giống như nhà hiền triết
sáng tạo ra một hệ thống triết học mới.
M.L. GASPAROV
M.M. Bakhtin là nhà triết học.
Nhưng Bakhtin còn được xem là nhà ngữ văn học, vì cả hai cuốn sách ông viết đều
lấy cứ liệu từ sáng tác của Dostoievski và Rabelais. Đó cũng là nguyên nhân gây
ra nhiều sự ngộ nhận. Trong văn hóa có lĩnh vực sáng tác và lĩnh vực nghiên cứu.
Hoạt động sáng tác làm phức tạp hóa bức tranh thế giới bằng cách tạo ra những
giá trị mới. Hoạt động nghiên cứu lại làm bức tranh thế giới trở nên đơn giản bằng
cách sắp xếp, hệ thống hóa những giá trị cũ. Triết học là lĩnh vực sáng tác giống
như văn học nghệ thuật. Còn ngữ văn học là lĩnh vực nghiên cứu. Cần phải đặt
Bakhtin vào vị trí trang trọng của người sáng tác chứ không cần ghi cho ông
công lao của một nhà nghiên cứu. Trong vai trò nhà ngữ văn học, nhà triết học
Bakhtin vẫn giữ nguyên bản chất sáng tạo, có điều bản chất sáng tạo ấy của ông
được bộc lộ hết sức độc đáo. Ông sáng tác ra một nền văn học mới giống như nhà
hiền triết sáng tạo ra một hệ thống triết học mới.
Trong bài tựa cho tuyển tập Bakhtin
and the classics mới xuất bản gần đây (Evanston, 2002, p, XIV) có đoạn viết: “Mục đích của ông (M.Bakhtin.- ND) là viết lại lịch sử văn học châu Âu”.
Phải nói chính xác hơn là Bakhtin đã viết lại bản thân văn học châu Âu. Nếu cần
chính xác hơn nữa, lại phải nói: không phải viết lại, mà là ông sáng tác lại
văn học châu Âu.
Loại văn học mới chưa từng có ở đâu với hồn cốt do Bakhtin sáng tạo ra được gọi là menippeja [1]. Tên gọi ấy đã đánh lừa người ta bởi cái ý nghĩa cụ thể của nó. Nó có nguồn cội từ những tác phẩm trào phúng của Menipp thời Hy Lạp và của Varron thời La Mã. Các tác phẩm này chỉ còn giữ được những mẩu, những đoạn rất khó hiểu, rất dễ bị diễn giải một cách tùy tiện. Trong chương IV cuốn Những vấn đề sáng tác của Dostoievski, Bakhtin đã gói vào tên gọi ấy hàng chục tác phẩm văn học cổ đại, từ những tác phẩm đã bị thất lạc (của Antisthène, Héraclitde, Bion) và những tác phẩm còn giữ được (của Pétrone, Apulée, Lukian) cho đến tận Những lá thư của Hippocrate và Boethius. Rồi ông mở rộng tên gọi này ra toàn bộ văn học thế giới để đặt vào truyền thống menippeja rất nhiều tên tuổi như Érasme, Rabelais, Cervantes, Grimmenxgauden, Voltaire, Hopman, Banzac, cuối cùng (dù chỉ một phần nhỏ thôi) là cả Dostoievski, và xoay quanh những tên tuổi ấy còn rất nhiều nhân vật ở hàng hai,- gần như tất tật những tác phẩm được Bakhtin nhắc tới đều có một chút hơi hướm nào đó của menippeja. Việc phóng đại một cách quá đáng tầm quan trọng về phương diện văn học của khía cạnh nói trên đã làm cho tất cả những khía cạnh còn lại bị mờ đi.
Những tưởng tượng phóng túng về lịch sử văn học trên một quy mô rộng lớn như thế cũng đã có tiền lệ. Vào năm 1903 người ta xuất bản cuốn sách hai tập của H. Reich, cuốn Der Mimus, trình bày bức tranh toàn cảnh về lịch sử của một thể văn hiện thực rất hoành tráng với vô số những cành nhánh, một thể loại chỉ còn giữ lại được những tên gọi mơ hồ, những phác đoạn sơ sài và những chứng lý đầy mâu thuẫn. Các nhà phê bình viết rằng, Reich đã “sáng tác một vở kịch cổ đại thứ hai cùng với Shakespeare dưới cái tên Filistion”. Bakhtin mở rộng truyền thống menippeja, thì Reich cũng kéo dài truyền thống mim [2] xuyên qua nhiều thế kỷ cho tới tận Shakespeare của nước Anh và Petruska của nước Nga. Bakhtin tìm thấy trong menippeja (ante literam) có đối thoại Xôcrat, thì Reich cũng phát hiện trongg mim có những đặc điểm của trường phái Péripatéticiens[3]. Không ai chê trách Reich khi ông dựa vào những dữ liệu chẳng có ý nghĩa gì để dựng lại các sự kiện văn học lớn lao, vì đó là cách làm mang tính tất yếu đầy đắng cay thường xảy ra trong ngữ văn học cổ điển. Người ta chỉ chê trách vì ông đặt quá nhiều kỳ vọng vào việc tái chế, hơn thế, dựa vào sự tái chế để tạo ra những bức tranh văn hóa - lịch sử hoành tráng với một nhiệt tình có phần thái quá.
Bakhtin có biết cuốn sách của Reich và ông
đã nói về cuốn sách này trong công trình viết về Rabelais. Suốt từ 1914 đến
1918, khi Bakhtin theo học chuyên ngành văn học cổ điển, “Mim” của Reich vẫn đang
là câu chuyện ngữ văn rất ầm ỹ chưa hề có chút lắng dịu, và phương pháp dựa vào
sự vĩ đại, hoành tráng của cái không còn được bảo tồn đã có lần được Bakhtin nhắc
tới trong giờ dạy của F. Zelinxki. Cũng đúng vào những năm ấy, nhà nghiên cứu nổi
tiếng Zelinxki rất chuyên tâm vào việc khôi phục một cách tinh vi nội dung những
vở bi kịch Hy Lạp đã bị thất lạc (Tragodoumena) bằng chính những thủ pháp ngữ
văn học đáng tin cậy. Tất nhiên, khi làm như thế, bao giờ ông cũng rào trước
đón sau, biết dừng lại ở những chỗ thú vị nhất và nói: “Chúng tôi sẽ không chú
mục vào những khoảng trống: cho dù lúc nào chúng tôi cũng muốn nhìn thấy ở đó một
cái gì đấy” (ý muốn nói về những bài thơ dithyrambe của Arion). Nhưng việc dựa
vào những văn bản không còn tồn tại để dựng lại những bi kịch đã thất lạc chắc
chắn là công việc đầy hấp dẫn. Ở đây cách tiếp cận kiểu nghiên cứu được thay thế
bằng cách tiếp cận kiểu sáng tác. Nhà triết học Bakhtin thì có khả năng ấy, còn
nhà ngữ văn học Reich thì không. Giả tưởng của Reich về mim thì từ lâu đã rơi
vào quên lãng, còn giả tưởng của Bakhtin thì nổi tiếng khắp châu Âu.
Khác với Reich, Bakhtin không quan
tâm tới việc phục chế lịch sử, mà chỉ quan tâm tới những khái quát loại hình,
sau đó trình bày lại như một thứ hiện thực có thật - tức là trình bày cấu trúc
lý thuyết như một sự thật lịch sử. Rất dễ nhận ra, Gargantua và
Pantagruel của Rabelais luôn nằm ở vị trí trung tâm trong mọi sự khái quát
của Bakhtin, còn ở ngoài rìa là tất cả những gì có một nét nào đó tương đồng với
tác phẩm ấy: về tư tưởng, về đề tài hoặc về phong cách. Trong Những vấn đề
thi pháp Dostoievski, có tới 14 dấu hiệu của menippeja được liệt kê, nhưng ở tất
cả những kiểu mẫu về menippeja được Bakhtin nhắc tới, chắc chắn là không có ngoại
lệ, bao giờ cũng có những dấu hiệu không thể nào tìm thấy (Menippeja là “tiếng
cười”, nhưng tác phẩm của Boethius lại chẳng có gì buồn cười; menippeja còn là
cái bức thiết hàng ngày, mà ở Apulée thì chẳng có gì gọi là cái hàng ngày bức
thiết, “chủ nghĩa tự nhiên hạ tiện” không thấy ở Apocolocynithōsis, “quan
điểm huyền ảo” không có trong tác phẩm trào phúng của Horace v.v…). Rốt cuộc,
menippeja chỉ còn là danh xưng mang tính định giá đầy ước lệ tất cả những gì được
cá nhân Bakhtin ưa thích, được ông xem là tốt, là quan trọng. Thậm chí, cuộc đối
thoại giữa Raskolnhikov với Xonia mà chúng ta đều nhớ cũng được gọi
là“minippeja theo kiểu Ki-tô giáo”. Trong quá trình khảo sát văn học toàn thế
giới, Bakhtin chỉ tâm đắc với sự hỗn loạn mang tính bi kịch ở bên trên, có thể
tìm thấy trong sáng tác của Dostoievki, và sự hỗn loạn mang tính hài kịch ở bên
dưới, có thể tìm thấy trong sáng tác của Rabelais, còn cái trật tự, ngăn nắp ở
quãng giữa thì bị ông cự tuyệt thẳng thừng. Ông có ý định thống hợp cái hỗn loạn
ở hai cực mà ông xem là có thể chấp nhận vào một khái niệm gọi là minippeja
“trào tiếu - trang nghiêm” (spuodogeloion).
Tất cả các nhà nghiên cứu lịch sử
văn học, nhất là lịch sử văn học cổ đại, đều biết rõ một sự thật là trong
ý thức của những người truyền bá văn hóa châu Âu chưa bao giờ tồn tại một truyền
thống phổ quát như vậy. Nhưng thường thì người ta quên điều đó, bởi vì không phải
các nhà lịch sử, mà chủ yếu là các nhà lý luận đã nghiên cứu tư tưởng của
Bakhtin, và họ bị thuyết phục mạnh mẽ bởi những lời khẳng định quyết đoán, dứt
khoát, chắc như đinh đóng cột, nhất là khi ông nói về những di tích văn hóa mà
giờ đây hầu như chẳng còn giữ được gì, - chẳng hạn, về Menipp, về Varron, hay
là về văn nhại thời trung cổ. Chỉ những ai đã từng đọc vài dòng cực kỳ khó hiểu
còn sót lại từ tác phẩm trào phúng“Bimarcus” của Varron, sau đó lại đọc thêm
vài trang cũng cực kỳ khó hiểu của những nhà nghiên cứu thuộc nhiều thế hệ khác
nhau đã phân tích, giải thích tác phẩm ấy thì mới đủ thẩm quyền để đánh giá
xem, liệu Bakhtin đã phân tích xung đột tâm lý trong tác phẩm này một cách chi
tiết như thế nào. Trong lời bình luận về F. Marx, người tổ chức xuất bản sách của
Lutsily, A. E. Houseman đã viết thế này: “Khi giải thích những dòng còn sót lại,
quý ngài xuất bản không phải bao giờ cũng thành công, bù lại, khi giải thích những
dòng không còn được bảo tồn, ông ấy lại là ông vua, là ông trời”. Tôi dám quả
quyết rằng, Bakhtin đã cố gắng mở rộng cái khoảng trống văn học sử mà khi nhìn
vào đấy bao giờ ông cũng trông thấy một cái gì đó. Kết quả là, menippeja,
- “cái tư tưởng thể loại kiểu Platon, universalia ante rem” (R. Wellec) này,-
đã nhập vào các từ điển bách khoa văn học hiện đại như một thực tại văn học-sử.
Do đâu mà Bakhtin, một người am hiểu
ngữ văn học cổ điển không phải theo kiểu nghe hơi nồi chõ, lại cố tình dẫn dắt
những người đọc chưa được trang bị đầy đủ tri thức vào con đường lầm lạc như thế?
Chỉ có một cách trả lời duy nhất, ấy là ông nhìn vật liệu của mình không phải bằng
đôi mắt của nhà ngữ văn học, mà nhìn bằng đôi mắt của nhà triết học. Lãnh địa của Bakhtin
- nhà triết học là luân lý học, khoa học về cái cần phải có, chứ không phải
ngữ văn học, khoa học về cái hiện tồn. Bakhtin đã áp vào văn học những ý tưởng
của mình về cái cần phải có. Định đề của triết học bao giờ cũng là sự đối lập
giữa cái thế giới ở đây với một thế giới đích thực, lý tưởng, sự đối lập này
càng gay gắt càng hay. Nó cũng giống như với Bakhtin, minippeja chính là sự thể
hiện của cái cần phải có, chứ không phải là cái hiện có, và nó càng được
Bakhtin đề cao bao nhiêu thì nó lại càng không giống với văn học mà tất cả đều
biết, đều thừa nhận bấy nhiêu.
Bakhtin dửng dưng với hài kịch của
người Attic,- những day dứt của nó không đầy ắp tính đối thoại của Bakhtin đó
sao! - ông cũng dửng dưng với nhà văn carnaval kiểu như Aristophane (thậm chí,
trong Các hình thái thời gian và cronotop trong tiểu thuyết, ông còn cố ý
tách Aristophane ra khỏi Rabelais), bởi vì Aristophane quá chính trị, quá trào
phúng một cách có khuynh hướng, quá trật tự, và cuối cùng, chỉ đơn giản vì Aristophane
tồn tại như một văn bản chứ không phải như một phỏng đoán. Thay vào đó, ông rất
thích trích dẫn Dịch tễ của Ion de Chios và Thuyết giáocủa
Kritias, tức là những tác phẩm mà ngày nay, ngoài cái nhan đề, chúng ta không
thể biết được gì cả.
Với Bakhtin - nhà triết học, điều quan
trọng không phải là triết học, mà là luận bàn về triết học, không phải là hệ thống
mà là quá trình. Cái chính yếu trong triết học, đối với ông, là luân lý, tức là
lĩnh vực, theo quan niệm của ông, chưa được giải quyết, là lĩnh vực lựa chọn,
lĩnh vực hình thành của hành vi. Ông đem cách ứng xử rất riêng của bản
thân áp vào văn học: tác phẩm đối với ông chẳng có gì quan trọng, cái quan trọng
chính là sự hình thành của các tác phẩm ấy. Ông cự tuyệt tất cả những gì còn được
bảo tồn nguyên vẹn, bởi vì những cái đã được ghi lại thì đã hóa thành thây ma,
chỉ có ích cho thứ ngữ văn học chuyên nghiên cứu xác ướp. Xuyên qua lớp văn bản
chết cứng, ông muốn nhìn thấy con người sống động với tiếng nói và ngữ điệu của
nó,- cũng giống như các nhân vật của Sedrin đã viết một bài luận ở trường trung
học: “Homer như một nhà thơ, một con người và một công dân”. Bakhtin không thể
nào hình dung được một Homer như thế, nên ông phủ nhận sử thi thẳng thừng. Ông
gạt bỏ thơ để khẳng định văn xuôi, cự tuyệt sử thi để đề cao tiểu thuyết, vì
sao lại làm như thế? Bởi vì không phải ai cũng có đủ khả năng làm thơ, thế thì
thơ là thứ độc đoán, mà độc đoán thì chẳng hay ho gì. Còn tiểu thuyết, ai cũng
viết được, ít ra thì cũng viết được theo cái cách mà người ta đã nói từ thế kỷ XIX: “Mỗi người đều có khả năng viết được một cuốn sách, ấy là cuốn sách đời
mình” - tức là câu chuyện về những hành vi, về sự lựa chọn đạo đức của mình giữa
cõi hỗn độn bi hài của những cái không thể giải quyết. Hãy tưởng tượng câu chuyện
ấy được thể hiện một cách hoàn hảo bằng ngôn từ, thế là ta đã có một cuốn “tiểu
thuyết” theo quan niệm của Bakhtin. Nhưng trong văn học thế giới chưa bao giờ
có những cuốn tiểu thuyết như thế (không hiểu sao Bakhtin không nhắc tới cuốn Trải
nghiệm và suy ngẫm của Ghersen?. Rất đơn giản, chỉ vì nó là cuốn sách đang
tồn tại).
Chính điều trên đã khiến Bakhtin
chuyển sự chú ý từ văn học có thật sang văn học tiền cổ sơ, được tưởng tượng
ra, nơi chưa có cái gì được giải quyết, và cuối cùng là đến với chủ nghĩa hoang
tưởng đầy lãng mạn về thứ sáng tác tuyệt vời của nhân loại thời viễn cổ, tức là
loại sáng tác, dù còn mang tính sơ khai, nhưng hình như đã ảnh hưởng tới
Rabelais lớn hơn so với Aristophane. Không phải là những cuộc đối thoại của
Platon (dù nó hết sức cởi mở), vì những cuộc đối thoại này vẫn còn được bảo tồn,
mà là “đối thoại kiểu Socrate nói chung”. Không phải là kịch, vì trong kịch đối
thoại bao giờ cũng tường minh và mang tính hoàn kết, mà là “nguyên tắc đối thoại
nói chung” mới là loại đối thoại ưa thích trong nội tâm của con người. Cái mà
Bakhtin cần là cái chưa định hình, vì ở đó mới có chỗ cho sự lựa chọn, tức là
có chỗ cho hành động, cũng tức là có con đường đến với Thượng đế.
Với Bakhtin, thế giới lộn ngược của
lễ hội carnaval chính là thế giới quan của menippeja. Bakhtin thích nhất là được
nói về đấng siêu nhiên, tức là về Thượng đế, (một Thượng đế luôn luôn có mặt ở
ngôi thứ ba trong tất cả các cuộc đối thoại của con người), mà về Thượng đế thì
không thể nói bằng tiếng nói của con người, và điều ấy chẳng liên quan gì tới
chuyện kiểm duyệt của nhà nước xô viết. Chỉ có thể nói về Thượng đế theo kiểu
ngược đời. Trong quan niệm của Bakhtin, carnaval là một dạng ngớ ngẩn, nhìn bề
ngoài thì có vẻ như báng nhạo, nhưng thực chất, nó lại khẳng định các giá trị
Ki-tô giáo một cách rất ngược đời. Trong hệ thống lí thuyết của Bakhtin,
carnaval vừa là đối thoại theo kiểu Socrate, vừa là lễ hội tuẫn nạn. Nếu nhìn cứng
nhắc từ bên ngoài thì ở đây có mâu thuẫn, cho nên M. Judina mới cương quết khẳng
định rằng cuốn sách về Rabelais là cuốn sách phản Ki-tô giáo. Nhưng nếu xuất
phát bằng cái nhìn từ bên trong, thì mâu thẫn ở đây chính là mâu thuẫn giữa loại
văn học do Bakhtin bịa tạc, tưởng tượng ra với loại văn học có thật mà ông đã
thuận lòng hạ cố tới trước khi nghiên cứu. Từ văn học có thật ông thừa nhận chỉ
mỗi mình tiểu thuyết (chính xác hơn, ông chỉ thừa nhận Pruefungs-, Bildungs,-
Entwicklungsroman: những thứ còn lại với Bakhtin hoàn toàn không tồn tại).
Nhưng theo Bakhtin, loại tiểu thuyết này xác lập sự hình thành, cái khả biến của
con người cá nhân, còn carnaval lại xác lập sự bất biến trong bản chất con người,
chúng là những hiện tượng đối lập có quan hệ mật thiết với nhau. Thế là
Bakhtin, người sáng tác ra thứ văn học chưa thấy ở đâu đã tự mâu thuẫn với
Bakhtin, người có ý định nghiên cứu thứ văn học đang tồn tại. Trong sáng tạo của
Bakhtin, mâu thuẫn ấy mãi mãi không được giải quyết mà chỉ được làm mờ đi.
Nếu Bakhtin có tài năng nghệ thuật,
chắc chắn ông đã viết lại văn học thế giới theo kiểu khác. Chắc sẽ được một cái
gì đại loại như Bản thảo královédvorský [4] (tuy nó không có, nhưng nó
cần phải có), hay những sonate của Shakespeare qua bản dịch của Marshak (chúng
không phải như thế, nhưng cần phải như thế), cùng lắm là giống bản thánh ca
dành cho thần Zeus của Cleanthes (thế thì phải cúi lạy Thượng đế thôi). Đây là
thi ca theo quy chế hành nghề [5] - là sự tiếp cận nghệ thuật ngôn từ thực
sự của triết học. Nhưng Bakhtin không bao giờ kỳ vọng vào năng khiếu nghệ thuật,
ông chỉ miêu tả, bình luận về thứ văn học thay thế ấy. Chuyện như vậy cũng đã
có tiền lệ trong lịch sử, chẳng hạn, trong Galia hoang dã của thế kỉ thứ VII,
phái ngữ pháp duy mỹ (“các môn đồ chủ nghĩa vị lai ở Toulouse”) đã bình luận về
thơ của “bốn ông Lucan”, trong đó có tới ba vị chưa bao giờ bao giờ tồn tại.
Để tạo ra từ bản thân mình một thế giới
khác thay thế cho thế giới hiện hữu, một loại văn học khác thay thế cho thứ văn
học ai ai cũng biết, Bakhtin, tín đồ của chủ nghĩa duy ngã, cần dẫn dắt con người
tới đâu? Giống như tất cả các nhà hình thức chủ nghĩa, Bakhtin cũng là con đẻ của
thời đại mình (sự chối bỏ bằng cách giễu nhại của Bakhtin đối với quá khứ làm
ta nhớ tới sự tiến hóa của văn học theo Shklovski và Tynhianov). Nhưng khác với
đám người ấy, Bakhtin không kì vọng vào thời đại mình mà chối bỏ nó. Để đi về
đâu? Đi vào đường hào duy ngã để từ đó có thể tiếp xúc trực tiếp với thượng đế,
để tạo ra một thế giới menippeja chưa từng có, còn với con người thì có thể
giao tiếp qua Medvedev và Volosinov (tiếp theo sự bịa đặt ra văn học là sự bịa
đặt ra khoa học: có cả một khuynh hướng khoa học có lẽ là do Medvedev và
Volosinov khởi xướng. Trong những cuốn sách ấy, bên dưới lớp mặt nạ là cảm hứng
tự khẳng định đang chuyển thành cảm hứng tự phủ định. Điều đó nhắc ta nhớ tới
các trò chơi bút danh của Kierkegaard).
Hình thức nhẹ nhàng hơn của chủ
nghĩa duy ngã được gọi là thuyết vị kỉ trung tâm. Với người theo chủ nghĩa vị kỷ,
tầm quan trọng của một tác giả được quyết định không phải là ở chỗ, với bản
thân mình, anh ta là người thế nào, mà là ở chỗ anh ta là người thế nào đối với
tôi. Bakhtin gọi đó là nguyên tắc đối thoại và xem đối thoại là sự kính trọng đối
với Người Khác. Đó là nguồn cội đem đến cho ông niềm tin mang tinh thần vị kỷ,
rằng chúng ta hiểu Shakespeare tốt hơn so với những người đương thời: “Vì tôi đọc
Shakespeare, nên tôi làm cho Shakespeare trở thành vĩ đại” (cũng giống như
trong những bức chân dung bằng hồi kí của Svetaeva bao giờ cũng thấy vang
lên một tiếng nói chung: “Belyi và Volosin đẹp làm sao khi họ được vây bọc
trong ánh hào quang của tôi”). Đó cũng là một nghịch lý; ngữ văn học với thiên
hướng nghiêng về cái đã chết cứng biết kính trọng Người Khác nhiều hơn. Nhà ngữ
văn học chắc sẽ nói: “Tôi còn tồn tại chừng nào tôi còn đọc Shakespeare”. Đối
thoại với quá khứ bao giờ cũng che đậy sự cưỡng đoạt quá khứ, đó là sự đối thoại
giả dối, vì nó là sự đối thoại một chiều: quá khứ bao giờ cũng câm lặng.
Ảo tưởng đối thoại với văn bản xuất
hiện từ sự ảo tưởng về sự đọc lần đầu (thay vì phải đọc đi đọc lại, chủ nghĩa
lãng mạn sùng bái sự đọc lần đầu). Chúng ta đọc đi đọc lại văn bản nhiều lần,
có điều mỗi lần đều đọc trong một tâm thế mới mẻ, không lặp lại, và vì thế, mỗi
lần đọc đều cố tìm trong văn bản và tất nhiên là tìm thấy một cái gì đó khác
trước. Đó chính là chúng ta thay đổi trước văn bản, thế mà chúng ta lại tưởng
là văn bản - người đối thoại đứng trước ta đang thay đổi. Thực ra văn bản chỉ
là tấm gương phản chiếu khuôn mặt luôn luôn thay đổi của chúng ta. Bakhtin nhìn
vào cái Tôi của mình trong gương, nhưng lại tưởng tượng đó là Anh. Khi Kristeva
gọi chủ nghĩa đối thoại là lôgic của giấc mơ, có lẽ là bà ấy muốn nói tới sự hư
ảo này chăng?
Đối thoại là trạng thái nội tại của
cá nhân, không thể diễn đạt rõ ràng trong văn bản: đó là hiện tượng mang tính nội
tại của cá nhân chứ không phải là hiện tượng liên cá nhân. Với người đối thoại,
ở trường hợp tối ưu, trạng thái ấy chính là đối tượng của sự tái tạo. Trong đối
thoại, Bakhtin tập trung sự chú ý vào bản thân chứ không phải vào người khác,
đó là hình thức tự khẳng định theo kiểu tự kỷ trung tâm: bản chất của nó không
phải là ở chỗ, làm thế nào để hình dung được người đối thoại trong lời của
mình, mà là làm thế nào để qua lời của người đối thoại hình dung được bản thân
mình (đối chiếu với Mandenstam, trong Về người đối thoại), - ví như nhận
ra mình là người tiếp nhận văn học toàn thế giới. Chủ thuyết tự kỷ trung tâm
bao giờ cũng hiếu thắng: trong đối thoại, những người tham gia đối thoại bao giờ
cũng tranh đấu giành giật cho tri thức của mình quyền lực thống ngự đối với từ
ngữ - ký hiệu. Cơ sự diễn ra như thế có lẽ là bởi vì Bakhtin chỉ sử dụng những
nguyên tắc đối thoại thường nhật ấy để đánh lạc sự chú ý của ta ra khỏi cuộc đối
thoại của ông với Thượng đế, còn bản thân, tự trong tâm can, ông bao giờ cũng
nhìn nhận chúng với sự khinh miệt sâu sắc. Vậy mà với Volosinov, cuộc
tranh đấu giành quyền lực cho ngôn ngữ ngay lập tức bị biến thành cuộc đấu
tranh giai cấp chẳng hề úp mở. Bởi vì, trước hết, chính carnaval cũng hiếu thắng.
Carnaval đối lập với cuộc sống hàng ngày ở điểm nào? Cuộc sống hàng ngày hành hạ
tôi bởi những luật lệ bất di bất dịch, carnaval lại hành hạ tôi vì nó chẳng có
một thứ luật lệ gì. Chẳng lẽ Bakhtin lại tôn vinh điều đó: bởi thế, đây cũng là
sự nghịch lý.
Ở Bakhtin, bản thân carnaval cũng chỉ
là chuyện tưởng tượng. Đối với Bakhtin, (theo K. Emerson) bản chất của carnaval
nằm ở chỗ, nó giúp con người dùng tiếng cười để soi ngắm mình từ phía bên ngoài
(“các người cười ai? Các người cười chính mình”), nhờ đó mà nó tự tẩy rửa, tự
hoàn thiện bản thân. Chẳng hiều vì sao không thể đạt được điều đó bằng những cuộc
đối thoại tay đôi, vì sao muốn soi ngắm bản thân lại phải cần tới đám đông
carnaval: chẳng lẽ đó là thói quen suy nghĩ theo kiểu lãng mạn, rằng dường như
tất cả những gì mang tính nhân dân, tính cộng đồng đều là tốt đẹp. Carnaval hóa
ra là hình thức tao nhã của chủ nghĩa bế dục. Nó chẳng có gì giống với các hình
thức hiện hữu của văn hóa carnaval mà mục đích của nó là trút bỏ niềm đam mê hiếu
thắng rất nguy hiểm đối với xã hội.
Cảm nhận của Bakhtin về quyền sáng tạo
của bản thân là sự tiếp tục cảm nhận của toàn nhân loại về quyền đồng sáng tạo.
Với Bakhtin, cái quyền đồng sáng tạo này trở nên hiển nhiên tới mức, đọc dòng
chữ nào ông cũng ngầm nói tới nó. Theo ông, văn bản được kiến lập từ những phát
ngôn, mỗi phát ngôn là “một sự kiện duy nhất của văn bản”, chứ không phải là tập
hợp của những từ ngữ dùng chung cho mọi người và vì thế mà trở nên xa lạ. (Để
khẳng định được như thế, không biết phải có niềm tin lớn như thế nào vào những
tình cảm đặc sắc và độc đáo của mình!). Sự độc đáo, không lặp lại của phát ngôn
được Bakhtin rút ra từ cái giọng điệu duy nhất biểu thị ý đồ của nó, - có điều,
Bakhtin không bao giờ nghĩ rằng, giọng điệu ấy cũng có thể hiểu theo cách khác.
Bakhtin đồng nhất bản thân với người cùng đàm đạo trong đối thoại, bất luận đó
là người ngồi bên cạnh trên tàu điện hay là Dostoievski, ông ứng xử với ý kiến
của họ từ quan điểm của người sáng tác, từ bên trong, biết trước ý nghĩa của
chúng, chứ không phải từ quan điểm của người đọc - nhà nghiên cứu lúc nào cũng
bị dao động giữa các giọng điệu và ứng với nó là những cách giải thích khác
nhau có thể có. Bakhtin đã trao cái quyền đồng sáng tạo cho cách hiểu hách dịch
ấy của mình. Phải sau Bakhtin người ta mới hiểu cho rằng, các phát ngôn, cũng
giống như từ ngữ, khi đã được nói ra, chúng trở thành lời lạ và tạo thành một
dòng chảy không ngừng được nhân lên của những diễn ngôn, từ đó có thể lọc ra
các ý kiến một cách máy móc và có thể lắp ráp một cách tạm bợ những văn bản rất
ít màu sắc cá nhân mà chúng ta vẫn sống ở trong đó.
Xin kết thúc câu chuyện về quyền
sáng tạo đối với cái không tồn tại, cái chưa thành hình, chưa giải quyết
xong xuôi bằng chính phát ngôn của Bakhtin về một đề tài còn quan trọng hơn,
phát ngôn chỉ có trong sổ ghi chép của người được đàm đạo với ông (Tuyển tập,
T. 6, trang 522). Phát ngôn này hoàn toàn không nói về văn học. Bakhtin nói: “…
Nhưng đây mới là điều chính yếu: Cái quan trọng chính là cái không thể chứng
minh được sự tồn tại thực thụ của Nó. Những sự thực tương đối chi tiết vừa
lộ ra, thì lập tức tất cả lại biến mất, cả niềm tin và chân lý đều biến mất. Nó
biến thành sự phân loại”.
[Lã Nguyên dịch, Nguồn: История литературы как
творчество и исследование: случай Бахтина// Русская литература
XX-XXI веков: проблемы теории и методологии изучения. Материалы Междунар. науч.
конф. Москва, 10 - 11 ноября 2004 года. - М., 2004. Bản dịch tiếng Việt: http://vanhoanghean.vn]
Chú thích:
[1] “Menippeja”: một tiểu loại của thể “trào tiếu - trang nghiêm”.
Đó là thuật ngữ của M.Bakhtin, được ông sử dụng lần đầu trong Những vấn đề
thi pháp Dostoievski để khái quát những đặc điểm của thể văn thời cổ đại
được gọi là trào phúng menippov. M.Bakhtin đã chỉ ra 14 dấu hiệu cụ thể của
thể Menippeja. Theo Bakhtin, khác với thể trào phúng menippov, menippeja
là hiện tượng bao trùm mọi thời đại văn học, nó tồn tại trong truyện kể thời Phục
hưng, trong văn trào phúng và tiểu thuyết triết học thời trung đại… ND.
[2] “Mim”: Trò hài, một thể loại sân sân khấu thời
Hy Lạp và La Mã cổ đại.- ND.
[3] “Péripatos”: Tiếng Hy Lạp (περιπατέω), nghĩa
là “dạo chơi”, “tản bộ”. Sinh thời, Aristotle thường dạy học trò trong lúc tản
bộ, dạo chơi, nên về sau chữ “péripatéticiens” được sử dụng để chỉ các môn
đệ, hậu bối của Aristotle và trường phái triết học của ông. - ND.
[4] Một tác phẩm giả mạo tuyệt vời trong lĩnh vực
văn học và văn hoá dân gian Slavo.- ND
[5] Dịch từ chữ: “деонтологическаяпоэзия”. - ND.
10/4/2012
Lã Nguyên dịch
Theo http://vanchuong.com.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét