Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2023
Nghiên cứu văn học
Một hồ sơ nhỏ về Đốt - Vương Trí Nhàn
Đào xới đến tận cùng, dĩ nhiên là tới khu vực của vô thức, tiềm thức. Ở
Raskolnikov, cái ý thức của anh ta là lạnh lùng, nhưng trong tiềm thức lại thấy
có sự hoà hợp với cái tốt. Trên phương diện này mà xét, cái vô thức của Đốt rất
hiện đại. Nó không phải là một thứ bản năng phi cá tính mà ngược lại, nó cũng
được cá tính hoá. (Dneprov).
Hoàng Hiểu Quyên dựa trên cảnh ngộ có phần giống nhau đó của hai nhà thơ nữ
Trung Quốc và Việt Nam để so sánh về phương diện Tố cáo và phản kháng. Thơ Nôm
của Xuân Hương được dẫn ra trong bài chỉ có Lấy chồng chung và Tự tình I mà chị
lấy lại bản dịch của giáo sư La; thay vào đó là những đoạn bình luận, phân tích
thơ Hồ Xuân Hương của Minh Tranh mà chị dẫn lại từ Việt Nam sử lược qua bản dịch
tiếng Trung; của Xuân Diệu và Hoài Thanh qua Việt Nam cổ đại nữ tính văn học do
học giả Trung Quốc Dư Phú Triệu viết. Chị nhận thấy: “Hồ Xuân Hương giỏi vận dụng
lời nói dân gian, lại tiếp thu sở trường riêng có của thơ Hán nên thơ bà rực rỡ
sắc màu, phong cách sinh động, ngôn ngữ điêu luyện, giàu hơi thở cuộc sống”.
Sau khi so sánh, chị nhận xét rất đúng: “Về biểu đạt tư tưởng tình cảm, lời tố
cáo qua thơ của Lục Tiểu Cô tràn đầy tình điệu ai oán, thê lương, có vẻ đẹp chất
phác của văn học dân gian. Ý thức phản kháng của bà chưa đột phá được những khe
hở của trật tự cố hữu, tư thế sinh mệnh của bà về bản chất chưa tạo nên sự rời
bỏ phương thức sinh hoạt truyền thống, ý thức nữ tính của bà còn ở trạng thái
mông lung. Còn thơ của Hồ Xuân Hương thì trong nhu có cương, cho thấy sức sống
thực sự mới mẻ, sống động, dám giận dám nói, dám hận dám làm, rất giàu cá tính.
Một số nét bỡn cợt và tình dục ánh lên trong tình cảm phản kháng là dấu hiệu
khinh miệt và vượt rào đối với quy phạm tình cảm và luân lý, đạo đức truyền thống,
mang vẻ đẹp dã tính của văn học dân gian”.
Trong ba vị Thiền sư đã tham gia trực tiếp vào cuộc chiến tranh năm 981 là Thiền
sư Khuông Việt, Vạn Hạnh và Pháp Thuận, thì hình như Thiền sư Pháp Thuận là người
được vua Lê Đại Hành tín nhiệm và kính trọng nhiều nhất. Sự tình này ta có thể
thấy qua việc vua Lê Đại Hành đã đem vận nước ngắn dài ra để trưng cầu ý kiến của
Thiền sư Pháp Thuận. Phải nói rằng Thiền sư Pháp Thuận đã được tín nhiệm tới một
mức độ nào đó, thì Lê Hoàn mới dám đem vấn đề ấy ra để hỏi. Khi nói đến vận nước,
thực tế là nói đến vận mạng của một triều đại. Vua Lê Đại Hành đã đem vận mạng
của triều đại mình để hỏi, điều này cũng có nghĩa ông hoàn toàn tin tưởng Thiền
sư Pháp Thuận.
Vậy rõ ràng, khi nói đến vô vi trên điện các, Thiền sư Pháp Thuận đã muốn đề xuất
một mẫu người lý tưởng cho vua Lê Đại Hành trong việc trị vì đất nước, một mẫu
người có trí, có đức. Người lãnh đạo phải sở hữu những phẩm chất tài và đức này
thì đất nước mới thái bình thịnh trị, nơi nơi mới chấm dứt chiến tranh. Khi một
đất nước đã thế, tất nhiên vận nước sẽ dài lâu, và vận mạng của triều đại cũng
nhờ thế mà tồn tại với đất nước. Cho nên, tuy không trả lời trực tiếp cho câu hỏi
vận nước ngắn dài của vua Lê Đại Hành, nhưng ý nghĩa của bài thơ thì hết sức hiển
nhiên, không cần phải bàn cãi đâu là yếu tố cấu thành nên vận nước.
Dù nhìn thơ của Hồ Xuân Hương theo ý hướng tục hay thanh đa số mọi người đều
công nhận giống như Đào Duy Anh là văn chương của Hồ Xuân Hương rất “khinh bạc
mà tài tình”.[3] Chỉ cần đọc lại bài thơ Đèo Ba Dội của Hồ Xuân Hương cũng đủ
thấy tài làm thơ của bà. Nếu đứng về phương diện ý nghĩa thanh nhã mà so sánh
bài thơ này với bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan vẫn được người đời ngợi
khen thì bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan như là một bức hình đen trắng bằng phẳng
còn bài Đèo Ba Dội như là một bức tranh nổi ba chiều sống động đầy màu sắc và
âm thanh.
Hồ Xuân Hương đã đặc biệt chống đối kịch liệt chế độ đa thê của xã hội đương thời.
Với kinh nghiệm bản thân sau hai lần lập gia đình với Tổng Cóc và ông phủ Vĩnh
Tường bà thấy rõ chế độ đa thê rất phổ biến trong xã hội phong kiến là một sự bất
công của xã hội phụ quyền. Đàn ông thì năm thê, bảy thiếp trong khi đó đàn bà
phải chính chuyên một chồng. Cho nên thân phận người đàn bà, đặïc biệt là các
tì thiếp thì thật đáng thương chẳng khác gì một thứ nô lệ hay một thứ dụng cụ
cho đàn ông. Tuy mang tiếng là vợ nhưng về phương diện sinh lý bình thường người
làm thiếp cũng không được quyền đòi hỏi: “kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng / năm
khi mười họa, nên chăng chớ / một tháng đôi lần, có cũng không”. Tuy vậy, làm
thiếp vẫn còn đỡ hơn các phụ nữ chẳng may phải lâm vào cảnh: “cán cân tạo hóa
rơi đâu mất” khiến cho “cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không” thì ô hô “miệng túi càn
khôn” đành phải khép lại cả đời vì xã hội phụ quyền không chấp nhận cho đàn bà
được đi bước nữa.
Hiện tại, không ai biết được chính xác bao nhiêu bài thơ mà Hồ Xuân Hương đã viết.
Mặc dù bà viết ra hàng chục bài nhưng đủ để người đọc cảm nhận biết đó là một
thế giới thơ mạnh mẽ và nguyên bản, thơ bà xứng đáng được xếp vào hàng đầu của
nền thi ca Việt Nam. Chính vì lẽ đó nên thơ bà đã chu du khắp thế giới.
Trong tác phẩm về sự không biết này, các nhân vật lên đường về nhà, mang trong
mình “niềm ngây ngất dành cho cái đã biết” và muốn biết về những gì đã xảy ra với
quê hương, sẽ nhanh chóng đụng phải một thực tế: ở đó người ta không muốn biết
gì về họ. Từ trong sử thi, Ulysse đã gặp phải bi kịch đó. Trở về nhà, Ulysse hiểu
rằng những gì tốt đẹp nhất của cuộc đời chàng thuộc về hai mươi năm lưu lạc,
chàng chỉ có thể tìm lại quãng thời gian đó bằng cách nói về nó, kể về nó,
nhưng “không ai có ý định nói với chàng: kể đi” (43), người dân Itact, khác với
người dân Phéacie, không muốn biết đến quá khứ của chàng, không muốn biết đến
cuộc phiêu lưu và những gì đã đến với chàng.
[6] Giữa Ulysse và những người lưu vong hiện đại như Irena hay Josef có một sự
khác biệt quan trọng: Ulysse lưu lạc trên con đường trở về, một sự lưu lạc mà
chàng không lựa chọn, mang tính ngẫu nhiên. Lưu lạc chỉ là một giai đoạn của
hành trình trở về. Ulysse chỉ có một mục đích duy nhất: tìm về Itact, quê hương
chàng. Và sự lưu lạc của chàng chỉ là vấn đề riêng của chàng, không liên quan
gì đến Itact. Hoặc có liên quan nhưng theo kiểu: sự vắng mặt của chàng khiến
cho hòn đảo quê hương lâm nguy. Chính là chàng trở về để giải quyết các vấn đề
của nó. Còn Irena và Josef buộc phải từ bỏ quê hương, trong suốt quãng đời lưu
vong họ không nghĩ tới chuyện trở về, cho đến khi có những thay đổi căn bản
trên quê hương họ. Cuộc lưu đày của họ gắn liền với số phận và biến cố của đất
nước họ, họ lưu đày vì đất nước họ lâm nguy, và họ trở về khi nó đã bình an,
khi nó đã tự tìm lại được chính nó sau cuộc cách mạng. Kundera gọi biến cố 1989
ở châu Âu là một cuộc cách mạng, ông đặt nó trong đối sánh với cuộc cách mạng
1789. Nỗi luyến nhớ của Ulysse và con người lưu vong hiện đại, vì thế, vừa giống
vừa không giống nhau. Ulysse trở về và tìm lại được cảm giác thân thuộc từ mọi
vật xung quanh: vũng biển, ngọn núi, cây ô liu, cả cái giường đặc biệt của vợ
chồng chàng. Còn Irena và Josef đều có chung một cảm giác: họ trở nên xa lạ với
chính quê hương mình, họ trở thành người ngoại quốc ngay trong nhà mình, họ trở
về là để lại ra đi, để tìm kiếm cuộc đời của chính họ. Họ là những kẻ lưu vong
vĩnh viễn.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét