Từ Hoa quả sơn của Ngô Thừa Ân đến Linh sơn của Cao Hành Kiện
Từ Hoa quả sơn của Ngô Thừa Ân đến Linh sơn của Cao Hành Kiện
TỪ HOA QUẢ SƠN ĐẾN LINH SƠN DƯỚI GÓC NHÌN DỊCH CHUYỂN
KHÔNG GIAN Từ Hoa Quả Sơn (1) trong tiểu thuyết thần ma Tây Du Ký của
Ngô Thừa Ân đến Linh Sơn (2) trong tiểu thuyết cùng tên của Cao Hành Kiện là một
hành trình đậm chất văn hóa. Có thể nói rằng, đây là hai tác phẩm khá nổi tiếng
viết bằng tiếng Trung Quốc. Cả hai cuốn tiểu thuyết này đều in đậm dấu ấn của
thể loại du ký. Dưới góc nhìn dịch chuyển không gian - một lát cắt trong thi
pháp không gian, có thể giúp chúng ta giải mã được nội dung tư tưởng của tác phẩm. Hành trình tìm đến Linh Sơn là mục đích chung của những nhân
vật chính trong cả hai tác phẩm. Chúng tôi muốn nhấn mạnh đến sự bất biến của
ngọn núi Linh Sơn trong Tây Du Ký khi được dịch chuyển vào trong không gian
trong tiểu thuyết cùng tên. Thực tế, ngọn Linh Sơn vẫn chẳng mảy may thay đổi
trong khi con người, thời đại đã trải qua biết bao sóng gió, đổi thay. Tác giả
thì “kẻ còn người mất”; Giá trị của Linh Sơn là bền vững. 1. Linh Sơn - Liên văn bản, văn hóa Ở góc độ tiếp nhận, mỗi văn bản đều đưa chúng ta đến những sự
liên tưởng so sánh trong hiện thực ngoài văn bản hoặc giữa các văn bản với nhau
- Liên văn bản, liên văn hóa. Li Xia trong tạp chí văn học so sánh Canada năm
2006 với chủ đề: “Sự pha trộn – liên văn bản văn hóa trong tiểu thuyết Linh Sơn
của Cao Hành Kiện” (Cross-Cultural Intertextuality in Gao Xingjians Novel
Lingshan) Đã đặt ra 5 vấn đề làm nổi bật tính chất liên văn bản và liên văn hóa
thông qua các chủ điểm gồm: Điểm nhìn trần thuật trong Linh Sơn (Narrative
Perspectives of Lingshan), Cao Hành Kiện và Samuel Beckett (Gao Xingjian and
Samuel Beckett), Linh Sơn và kĩ thuật dòng ý thức (Lingshan and the Stream of
Consciousness Technique), Linh Sơn và Ludwig Josef Johann Wittgenstein
(Lingshan and Wittgenstein), Ngọn núi diệu kỳ của Thomas Mann và Cao Hành Kiện
(Gao Xingjian and Thomas Manns The Magic Mountain). Đặc biệt trong nội dung “điểm nhìn trần thuật trong Linh Sơn”
tác giả đã trình bày một cách khái quát những đặc trưng của văn học du ký truyền
thống Trung Quốc với 4 nội dung chủ yếu: những cuộc hành trình, nhiệm vụ, tìm
kiếm thiên đường và sự bất tử. Theo đó, tác giả nhấn mạnh, cuốn tiểu thuyết
Linh Sơn được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với văn học du ký Trung Hoa
truyền thống, tuy vậy sự khác nhau cơ bản nằm ở trọng tâm của sự trần thuật gắn
với dịch chuyển của nhân vật trong văn bản Linh Sơn. Không chỉ thế Li Xia còn
chỉ ra sợi dây liên văn bản từ cuốn Linh Sơn của Cao Hành Kiện với Lão Tàn du
kí của nhà văn Lưu Ngạc (1857 – 1909), nếu nhân vật của Cao Hành Kiện xuống
phía nam thì hành trình của Lão Tàn đi về phía bắc, nhân vật Lão Tàn một mặt từ
bỏ sự hỗn loạn, suy đồi đạo đức, chính trị thời nhà Thanh, mặt khác viếng thăm
những người ẩn dật và tìm đến núi Thái sơn (một trong năm ngọn núi linh thiêng
của Trung Quốc) để kiếm tìm sự yên bình cho tâm hồn. Chuyên luận “Hành trình của người anh hùng trong văn học”(The
Hero Journey In Literature)của Evans Lansing Smith - trường đại học Press,
Hoa Kỳ cũng nêu ra mối tương đồng giữa hình tượng thần khỉ Hanuman trong sử thi
Ramazana và hình tượng Ngộ Không trong tiểu thuyết Tây Du Ký. Vai trò tương tác
của nhân vật một lần nữa được Cao Hành Kiện sử dụng để xây dựng nên hình tượng
và cơ chế hoạt động của các nhân vật kỳ ảo trong tiểu thuyết Linh Sơn. Đặc biệt
là hình tượng người phụ nữ đồng hành, người chỉ đường, ông lão ở bên này sông Ô
Y… Yếu tố nguyên mẫu có thực trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa
là Trần Huyền Trang cũng được thần thoại hóa và hư cấu làm cho cuốn tiểu thuyết
trở nên hấp dẫn, thú vị gắn với những nội dung tư tưởng tiến bộ của thời đại.
Trong công trình “Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc” Lỗ Tấn cũng đã tiến
hành khảo sát câu chuyện thỉnh kinh từ Đại Đường Tây Vực đến Tây Du Kí trong mối
quan hệ với bút kí của nhân vật lịch sử Đường Tam Tạng. Như vậy, yếu tố nguyên
mẫu được thể hiện trong các văn bản còn mang tính chất lịch đại. Điều này càng
chứng tỏ, chất liệu văn hóa, tôn giáo đã trở thành một dòng chảy lịch sử từ lâu
đời. Nếu như không có sợi dây liên kết văn hóa trong từng tác phẩm chúng ta sẽ
khó nhận thấy điểm nhân văn chung đó là: chân, thiện, mĩ trong tâm thức của
nhân loại nói chung và dân tộc nói riêng. Mặc dù có cùng motip du ký, có cùng địa điểm tìm kiếm Linh
Sơn nhưng cuốn tiểu thuyết của Cao Hành Kiện mang màu sắc hiện đại đã cách biệt
rất xa với lối tiểu thuyết chương hồi truyền thống trong Tây Du Ký. Mặc dù vậy,
nếu xét ở góc độ tiếp nhận thì sức cuốn hút, sự hấp dẫn và lí thú của mỗi văn bản
thì khó có thể đem ra so sánh được. Hơn thế, ngôn từ và kỹ thuật trần thuật độc
đáo in đậm dấu ấn phương Tây đã khiến cho Linh Sơn của Cao Hành Kiện trở thành
những mảnh vỡ tự sự độc đáo chứa đựng nhiều triết lý nhân sinh. 2. Giải mã văn học từ góc nhìn Dịch chuyển không gian Dịch chuyển không gian, có thể được xem là một cách kết hợp
giữa “thi pháp không gian” và “giải mã văn hóa” để cùng soi chiếu và làm nổi bật
nội dung, tư tưởng nhân văn của tác phẩm. Nếu khái niệm dịch chuyển không gian
được nhìn nhận từ phía hiện thực với: du ký, kinh lịch thì đó là cách lý giải từ
mã văn hóa. Bên cạnh đó dịch chuyển không gian nghệ thuật đã được mở rộng nội
hàm và được nhìn nhận dưới góc độ thi pháp văn học. Suy cho cùng, không gian hiện
thực và không gian nghệ thuật đều nằm trong “thi pháp về không gian”. Văn hóa
có bề dày, từ văn hóa đồ sộ phong phú có thể giải mã những hình tượng văn học
cá biệt, từ việc hiểu được cái cũ sẽ làm nền tảng cho cái mới, bồi đắp thêm trầm
tích văn hóa chung của nhân loại. 2.1. Dịch chuyển không gian và không gian dịch chuyển Dịch chuyển không gian là cách thức, phương pháp chiếm lĩnh
không gian gắn với nhân vật trong tác phẩm. Nhân vật ấy đã dịch chuyển bằng
phương tiện gì? Những sự cản trợ và hỗ trợ diễn ra như thế nào? tần số, tần suất
dịch chuyển ra sao? Cách thức dịch chuyển chủ yếu là gì? Dịch chuyển từ đâu đến
đâu? Phương hướng, tư thế, tâm trạng khi dịch chuyển? Cuối cùng là cuộc hành
trành đã đem lại những giá trị nhận thức gì cho nhân vật? Nếu như dịch chuyển không gian gắn với hành trình của nhân vật
thì không gian dịch chuyển lại gắn liền với điểm nhìn và nghệ thuật xây dựng
không gian của tác giả. Hai vấn đề này tồn tại độc lập nhưng luôn trong sự
tương tác lẫn nhau để làm nổi bật vấn đề con người vì sao phải dịch chuyển? Phải
làm gì để đến đích? Và đã trải qua bao nhiêu thời gian và địa điểm dịch chuyển?
Nhân vật đã vượt qua thử thách hay bỏ cuộc trong hành trình đó? Từ đó rút ra một
quan niệm toàn diện hơn về con người. Tư tưởng, ước mơ của nhân vật hay quan niệm
của tác giả đều được kiến tạo và phóng chiếu từ tác phẩm. 2.2. “Du ký- một hành trình” dưới góc nhìn dịch chuyển
không gian Có thể nói rằng vấn đề “dịch chuyển không gian gắn với nhân vật
trong văn học” đã được chú ý từ việc phân loại và hệ thống hóa trong văn học
dân gian các dân tộc qua công trình “hình thái học truyện cổ tích” của V.Propp
và “bảng mục tra cứu type và motif văn học dân gian” của S. Thompson. Vấn đề
phân loại này chỉ ra một thực tế, đó chính là việc dịch chuyển không gian có tầm
bao quát rộng và mang tính chủ đề tiêu biểu cho hàng loạt nhân vật truyện cổ
tích. Bên cạnh đó, vấn đề “du kí” trong văn học với đặc trưng gắn với các cuộc
hành trình, những chuyến phiêu lưu thám hiểm vốn là một đề tài truyền thống khá
quen thuộc trong cả nền văn học phương Đông lẫn phương Tây. Năm 1997, Evans Lansing Smith của trường đại học Press,
Hoa Kỳ có chuyên luận “hành trình của người anh hùng trong văn học”(The Hero
Journey In Literature) đã trình bày một cách khái quát “lịch sử du ký” trong
văn học. Công trình này bao gồm 5 chương, chương 1 và chương 2 là hành trình của
những anh hùng thời cổ đại đến trung cổ và thời phục hưng. Từ chương 3 trở đi
là hành trình của người anh hùng trong văn học từ chủ nghĩa lãng mạn đến chủ
nghĩa tự nhiên và sau cùng là chủ nghĩa hiện đại với các tác giả tiêu biểu
như : Eta. Hoffman, Rabindranath Tagore, Nathaniel Hawthorne, Herman Melville,
Walt Whitman, Mark Twain, Thomas Mann, Joseph Conrad, James Joyce, D.H.
Lawrence. Công trình này giúp chúng ta có một cái nhìn khái quát về motif cuộc
hành trình hay những chuyến phiêu lưu chinh phục đầy thú vị của những người anh
hùng từ khắp các nền văn minh: Hy Lạp, Ấn Độ, Lưỡng Hà, Trung Quốc… Đối với thể loại du kí ở Trung Quốc phải kể đến tiểu thuyết
tiêu biểu Tây Du Kí của Ngô Thừa Ân. Bên cạnh đó, vấn đề dịch chuyển không gian
gắn với hành trình của các nhân vật có công trình “Nguyên mẫu và biểu trưng
trong Tây Du Ký” của nhà nghiên cứu Khai Trương - giáo sư trường đại học
Victoria, Mĩ. Hành trình của người anh hùng được nhìn nhận từ lúc “khởi hành”
cho đến khi “trở về” trong chuyến hành trình sang phương Tây thỉnh kinh muôn
vàn vất vả. Vấn đề nhân vật hỗ trợ trong chuyến hành trình được nhìn ngắm dưới
góc độ tâm lí học ở chương 2 với tên gọi “vô thức tập thể và đơn huyền thoại”
The Collective Unconscious and Monomyth) tác giả làm thao tác giải mã biểu tượng
và biểu trưng của các lực lượng siêu nhiên có vai trò hỗ trợ người anh hùng
trong suốt cuộc hành trình gian nan và nguy hiểm; các nhân vật siêu phàm nổi bật
hẳn lên như: bồ tát, chư phật, sơn thần, thổ địa… Đặc biệt là sự phò tá của Tôn
hành giả thần thông quảng đại. Ở Việt Nam, nghiên cứu văn học dưới góc nhìn “những chuyến
đi”, “những hành trình” hay “dịch chuyển không gian” chưa thực sự được chú ý”.
Số ít có thể kể đến: luận văn thạc sĩ của Phạm Vũ Lan Anh – Đại học sư phạm
thành phố Hồ Chí Minh (2009) mang tên “Không gian lữ thứ trong thơ Đường”, tác
giả dẫn luận rằng, hoàn cảnh đặt nhà thơ vào trong không gian lữ
thứ đã làm cho “thuộc tính cố hữu” của nhà thơ bộc lộ nhiều tâm
tư, xúc cảm: “ở lữ thứ mười năm đã than thở quan hà đầu bạc, lìa nhà mười dặm
đã bùi ngùi mưa gió hoa vàng…” Đó những xúc cảm khi nhà thơ mới rời khỏi
không gian gia đình, bản xứ; bởi thi cử đỗ đạt, được bổ nhiệm làm quan; khi đã
làm quan được ít năm bị biếm trích, lưu lạc nơi góc biển chân trời; cũng có khi
là những người chinh chiến nơi trận mạc, khi binh giáp tả tơi, dựng lều hạ trạm
không khỏi bơ vơ nơi đất khách mà mong nhớ gia đình… Tiếp cận với vấn đề “dịch chuyển không gian” mang tính trực
tiếp hơn là luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Vân Anh – Đại học sư phạm Hà Nội
(2010) với tên gọi “sự dịch chuyển không gian trong Tây Du Kí của Ngô Thừa Ân”.
Công trình này đã kế thừa và phát triển lí thuyết về không gian nghệ thuật, được
soi chiếu từ mô hình không gian trong thần thoại, cổ tích, tiếp đó bắt đầu xác
lập lí thuyết dịch chuyển không gian trong thể du kí và trình bày cụ thể nó
trong trường hợp tác phẩm Tây Du Kí. Năm 2013, tiếp nối cách thức khai thác xem
“dịch chuyển không gian” là yếu tố then chốt trong việc khám phá nội dung tư tưởng
của tác phẩm có công trình do PGS.TS. Trần Lê Bảo hướng dẫn với tên gọi “dịch
chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh Sơn của Cao Hành Kiện”. Hai công trình này đã nghiên cứu dưới góc độ vi mô, đã phóng
chiếu yếu tố không gian làm trọng tâm để khai thác nội dung tư tưởng của tác phẩm
và đã có những thành công nhất định. Các tác giả luận văn đã làm thao tác thống
kê, phân loại, so sánh loại hình và dùng phương pháp liên ngành để khám phá nội
dung tư tưởng cũng như giá trị nghệ thuật của tác phẩm. 3. Dịch chuyển của tâm và thân giữa không gian hư và thực Dịch chuyển không gian gắn với nhân vật hay không gian dịch
chuyển gắn với tác giả thì cũng nằm trong hai phạm trù vật chất và tinh thần của
con người. Hai yếu tố hiện thực - tưởng tượng, nghệ thuật – đời thường luôn
song hành tồn tại và bổ khuyết cho nhau. Làm rõ vấn đề dịch chuyển là thực hay
chỉ là ảo, dịch chuyển là thiết yếu hay chỉ là thứ yếu trong quá trình nhận thức
của nhân vật trong hai tác phẩm trên sẽ giúp chúng ta nắm bắt được nội dung,
thông điệp tư tưởng của nhà văn. 3.1. Linh Sơn - Hành trình chiếm lĩnh không gian Trong Tây Du Kí, khi xét đến không gian Hoa quả sơn là nhắc đến
hành trình của Tôn Ngộ Không, khi này nhân vật chính lại chính là con khỉ đá.
Khi còn ở núi hoa quả thì làm vua, xưng làm tề thiên đại thánh nhưng suốt quãng
đường đi đến Tây Trúc thì hắn chỉ là đồ đệ, là một hộ pháp tháp tùng cho Tam Tạng.
Trong suốt quá trình ấy Tôn Ngộ Không đã phải cầu đảo đến không biết bao là
tiên, thánh, phật ở tam giới. Qua mỗi động yêu quái, Tôn Hành giả đã chiếm lĩnh
được không gian vật lí, diệt ác phục thiện đem lại an vui, yên bình cho đời sống
con người. Trong tiểu thuyết Tây Du Ký, nhân vật Đường Tăng và ba đồ đệ
đã phải lội suối, băng rừng muôn vàn cực nhọc để vượt qua một quãng đường 10 vạn
8 ngàn dặm với 81 kiếp nạn để thỉnh được chân kinh, tu thành chánh quả, hoàn
thành sứ mệnh thì tiểu thuyết Linh Sơn - cuốn tiểu thuyết mang màu sắc hiện đại
của Cao Hành Kiện là một câu chuyện dài kể về chuyến đi thực tế của nhân vật
trong thời gian 10 tháng, với khoảng cách không gian kéo dài 15 ngàn km dọc
sông Trường Giang, tiến sâu vào thung lũng Tứ Xuyên - trung tâm lục địa của
Trung Quốc, đã trèo lên núi cao, xuống vùng thung lũng thấp, đi khắp nẻo rừng để
sưu tầm văn hóa dân gian đồng thời tìm kiếm ngọn núi Linh Sơn kỳ ảo. Mặc dù nhiều lúc, nhân vật đã làm chủ không gian vật lí nhưng
đó chưa phải là chiến thắng cuối cùng, muốn thực sự đạt mục đích còn phải chiếm
lĩnh không gian tâm tưởng, tâm linh – Đó cũng chính là hành trình giác ngộ. Tác giả Ngô Thừa Ân chỉ cho Tôn Hành Giả hóa giải được “vòng
kim cô” khi đến Linh Sơn. Cao Hành Kiện thì đến gần cuối tác phẩm mới cho nhân
vật gặp ông lão bên sông Ô Y xuất hiện và khuyên: “có cũng về, không cũng về, đừng
ở bên sông gió lạnh thổi”. Tất cả cũng chỉ nằm trong chữ hồi (回) đều là
nhận thức từ tâm (心) thâu nhiếp lại. 3.2. Linh Sơn - Hành trình giác ngộ Trong kinh điển Phật giáo, núi non là những biểu tượng quen
thuộc có tính chất biểu tượng cho sự giác ngộ, chẳng hạn như núi Tu Di, núi
Linh Sơn, núi Phổ Đà… Núi non rừng sâu vốn là địa điểm của nhiều bậc đại sư,
thánh hiền lựa chọn để tu hành. Ngay từ chương đầu, người kể chuyện đã bày tỏ
những nhận thức về Linh Sơn (núi linh hồn). Từ trong những thư tịch Linh Sơn đã
được ghi trong vô số các sách vở, văn bản lịch sử cổ xưa, từ tác phẩm bói toán
và ma thuật cổ đại Sơn Hải Kinh, đến bộ sách lâu đời về địa lý nhan đề Thủy
Kinh Chú. Chính ở nơi này đức Phật đã giáo hóa cho đấng tổ sư thứ nhất chí tôn
Ma Ha Ca Diếp. Trước hết, nói đến Linh Sơn trong tiểu thuyết cùng tên của
Cao Hành Kiện là một sự phản ánh về quan niệm nhân duyên trong giáo lí Phật
giáo. Ngay từ chương 1, nhân vật tìm đến Linh Sơn là một sự tình cờ. Sự kiện kỳ
lạ: “hai nắp tách trà va vào nhau” giống như motif rùng rợn trong phim kinh dị
được thể hiện đầy ẩn ý, nếu như không có sự kiện này, ắt hẳn không có hành
trình tìm kiếm Linh Sơn. Và nếu không có Linh Sơn trong thực tại thì tại sao
ban đầu một anh bạn lại có thể vẽ bản đồ chỉ đường (chương 1) và cuối nơi tìm
kiếm (chương 76) một ông lão chống gậy, áo chùng lại tỏ ra am hiểu rất tường tận
vị trí của Linh Sơn. Không chỉ thế, cả cuốn tiểu thuyết là một vòng tròn nhân
duyên kéo dài từ chương 1 đến chương 76 thông qua hàng loạt những thông tin từ
“người dẫn đường”, “người đồng hành”… Trong Linh Sơn ta có thể thấy rất rõ quan
niệm nhân duyên và duyên khởi trong giáo lí đại thừa, phải chăng con người chỉ
cảm thấy an lạc tuyệt đối trong không gian tinh khiết của thiên nhiên và trong
chính tâm linh của bản ngã. Linh Sơn hay còn gọi là núi hồn hay núi thiêng thì vốn dĩ
cũng chỉ là một tên gọi tâm linh chung cho tất cả mọi ngọn núi chứa đựng sự màu
nhiệm linh ứng. Nhưng nhân vật trong tác phẩm của Cao Hành Kiện đã tìm Linh Sơn
trong cái khu biệt cá thể so với cái chung, nghĩa là tìm cái hữu ngã trong sự
vô ngã: “người ta dễ dàng tìm thấy những địa điểm có tên Linh Đài, Linh Khâu,
Linh Nham và thậm chí cả Linh Sơn nếu lật giở tập bản đồ Trung Quốc các tỉnh”.
Bản chất Linh Sơn là vô ngã vì núi vốn dĩ là biểu trưng của sự hiển linh, màu
nhiệm. Huống chi ở Trung Quốc có ngũ nhạc gắn với Lão giáo và tứ đại danh sơn gắn
với Phật giáo nối tiếng linh thiêng, thậm chí có bản đồ địa chỉ cụ thể rõ ràng,
hà tất phải tìm Linh Sơn? Do đó, bản chất của cuộc tìm kiếm này chính là hành
trình “phá chấp” trong tâm hồn con người. Sự khác biệt giữa nhân vật trong Tây Du Ký và trong tiểu thuyết
Linh Sơn đó chính là niềm tin. Nếu như Tôn Ngộ Không luôn tin tưởng vào một
phương thuốc cứu cây rồi tìm đến Đông Hải Bồ Tát thì “ta” và “mi” trong Linh
Sơn thường hoài nghi và mất phương hướng trong cuộc đời. Trong tác phẩm của Cao
Hành Kiện, tên gọi của thị trấn Ô Y có thực, sông Hựu có thể kiểm chứng nhưng
không thể tìm thấy Linh Sơn bằng phương pháp định vị thông thường. Chỉ bên này
hay bên kia sông mà cũng khiến nhân vật hồ nghi không dứt. Dường như tác giả muốn
gửi đến chúng ta một quan niệm sống mới, đó chính là sự bình tĩnh cần thiết để
nhận ra những giá trị đích thực, điềm đạm tỉnh thức và dừng lại thay vì trượt
dài trong vô minh, lạc lối. Có thể nói, dù là một tác phẩm văn học cổ điển đầy yếu tố thần
thoại như Tây Du Ký hay một tác phẩm hiện đại đầy mảnh vỡ của sự thật và hư cấu
thì đều có sự hòa quyện, tương tác không tách rời giữa hai yếu tố hiện thực và
hư ảo.Bản chất của Linh Sơn là lấy chính bản thân làm tâm điểm để quán chiếu mọi
điểm nhưng nhân vật lại làm ngược lại - cứ đi tìm đáp án từ bên ngoài: “Sau
chuyến lang thang dài trong cô quạnh, hắn đến trước một ông lão chống gậy, áo
chùng. Hắn xin ông lão lời khuyên bảo (chương 76) và nội dung câu hỏi chỉ quanh
quẩn: bên này hay bên kia sông. Phải chăng Cao Hành Kiện đưa chúng ta đến ranh
giới của văn chương phi lí. Nhưng bằng phán đoán thông thường, Người tìm đường
và người chỉ đường có những quy chiếu riêng về Linh Sơn, nhân vật đứng đối diện
(迎面遇) để hỏi lão trưởng giả, nếu xét theo hướng bên này của “anh
ta” thì chắc chắn sẽ là hướng bên kia của “ông lão”. Sự hoang mang và vô minh của
nhân vật thể hiện ở chỗ: người chỉ đường lấy chính họ làm quy chiếu về Linh Sơn
thì người tìm kiếm hắn lại lấy người khác làm quy chiếu. Tâm lí dùng dằng không
có điểm quy chiếu đã đưa con người vào trạng thái hoang mang trong khi đó: “chỉ
mảy may vô minh cũng biến cuộc tìm kiếm trở thành công cốc”. Do vậy Linh Sơn là
vọng tưởng dẫn đến tham vọng tìm kiếm không điểm dừng, đó còn là biểu hiện của
u mê, của vô minh, cố chấp. Quả thực, Linh Sơn chỉ ngộ được trong một sự trở về,
nếu tiếp tục kiếm tìm sẽ là vô ích: “có cũng về, không cũng về, đừng ở bên sông
gió lạnh thổi. Đó chính là vạn pháp nơi tâm, quy nguyên phản bản, tất cả chỉ là
chữ “trở về”. Khi “trở về” có thể thấy tất cả mà cũng có thế chẳng thấy gì. Do
đó, tìm đến Linh Sơn phải ngộ được tính không: “sắc tức thị không, không tức thị
sắc”. Linh Sơn là tất cả các ngọn núi trong thiên hạ mà cũng chẳng
là gì cả, Linh Sơn ở đâu đó trong “thọ, tưởng, hành, thức”(3) nhưng cũng chỉ sừng
sững trong tâm ta. Do vậy chương cuối của tác phẩm không còn sự phân hóa bố cục
không gian cao – thấp, trên – dưới mà chủ yếu là sự quy chiếu tâm thức trong
không gian thiền. Linh Sơn chỉ được thấy bằng tâm (心)chứ không
thể nhìn bằng tướng (象). Thế nên, trong cả cuốn tiểu thuyết
Linh Sơn, tài năng hội họa điêu luyện của Cao Hành Kiện cũng chẳng điểm được
nét nào để vẽ về ngọn Linh Sơn huyền thoại. Linh Sơn là không gian của phá chấp đạt đến an lạc, nó gần với
tự tính vũ trụ - nơi mà nhân vật tìm đến với mong muốn thấy mọi vật: “đều ở dạng
sơ khai”, “có rừng nguyên sinh” (chương 1), “có thể ngắm cảnh phượng hoàng
trong Linh Sơn”(chương 3). Ở đó không chỉ là niềm tin thánh thiện về con người
“cả hai cùng leo lên Linh Sơn, nàng muốn ngắm toàn vẹn tâm hồn mi trên đó”
(chương 32). Rốt cuộc, không gian nơi chứa đựng mọi thứ ở dạng hồng hoang, sơ
khai cũng như rừng nguyên sinh chỉ tồn tại trong tâm tưởng, một sự tìm kiếm đầy
mộng ảo. Do đó, tìm đến Linh Sơn là khao khát tìm lại bản thân, khao khát trở về
với cái ban đầu của thiên nhiên cũng như cái chân thiện mĩ trong quan niệm của
con người. Cuốn tiểu thuyết đậm chất Thiền và mang màu sắc tâm linh độc đáo. 4. Biểu trưng - Không gian vô cùng và thời gian vô tận Khi nhìn vào một khoảng đất rộng và đẹp, nhà thiết kế đã thấy
cả một công trình kiến trúc quy mô. Khi nhìn thấy đường bay đầu tiên, con người
đã thấy hàng ngàn đường bay mới, xuyên quốc gia, lục địa. Tính giới hạn của ký
tự vẫn có thể làm nên tính vô hạn của tư duy biểu tượng và cảm thụ văn chương.
Mấy trăm năm trước ngọn Linh Sơn đã có trong Sơn Hải Kinh và Thủy Kinh Chú- những
cổ tịch của văn hóa Hán. Mấy trăm năm sau Linh Sơn lại xuất hiện trong tiểu
thuyết Tây Du Ký, hàng thế kỷ hiện đại sau lại xuất hiện trong tiểu thuyết cùng
tên của nhà văn Cao Hành Kiện. Hàng ngàn năm rồi, ta thấy bóng dáng của Phật,
Như Lai, Thế Tôn, Thiên Nhân Sư, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Ứng Cúng Chánh Biến
Tri (4) tỏa bóng ở Linh Sơn và trong cả nền văn hóa nhân loại. Thời gian là một chiều khác của không gian không thể tách rời.
Không gian kinh lịch và không gian suy tưởng tâm linh trong cuốn tiểu thuyết
Linh sơn “bàng bạc một sắc màu huyền thoại” hòa kết không tách rời, đem đến cho
tác phẩm một sức cuốn hút kỳ lạ. Bên cạnh nghệ thuật hội họa và kỳ ảo hóa đến từng
bố cục, màu sắc, chi tiết ta còn thấy không gian không ngừng biến ảo của tâm
linh, đặc biệt là sự tĩnh lặng trong không gian thiền. Thông qua hàng loạt những biểu trưng không gian như: Núi
sông, con đường, người chỉ đường, căn phòng… nhà văn đã giúp chúng ta giải mã
được tính quan niệm trong không gian nghệ thuật. Linh Sơn đã được xây dựng nên bằng cách mà người ta tìm kiếm
nó, đó là một trạng thái chứ không phải là một thực tại. Điều đó lí giải vì sao
Cao Hành Kiện dù rất chú trọng miêu tả chi tiết không gian kinh lịch và tâm lí
nhưng chẳng hề miêu tả về Linh Sơn. Chính điều này đã khiến “ngọn núi Hồn”
không ngừng ám ảnh, văng vẳng tiếng vọng “mi’ và “ta” trong tâm ý bạn đọc. Từ
góc độ nghiên cứu: “dịch chuyển không gian” chúng ta phần nào hiểu được đời sống
tâm lí, tâm linh vô cùng phức tạp và kỳ lạ của con người. Có đôi khi trong cuộc
sống bế tắc, dịch chuyển không gian sẽ giải phóng những ẩn ức tâm lí của con
người đem lại cho con người niềm tin và sức sống mới. Ngày nay, dịch chuyển không gian với những phương tiện hiện đại
như máy bay, tàu ngầm… đã giúp con người xích lại gần nhau. Cảm thức “đất khách
quê người, chân trời góc biển” dần biến mất. Nhưng dù có tiện nghi thế nào thì
hạnh phúc mới là điều con người mong muốn đạt được. Đó chính là sự bình an
trong tâm hồn trước những vòng xoáy của hiện thực, sự mỏng manh của kiếp người. Từ Hoa Quả Sơn đến Linh Sơn là một dòng chảy văn hóa tâm
linh, là niềm tin cần có trong cuộc đời, là chỗ dựa tinh thần cho con người khi
đương đầu với những thử thách đau khổ. Nếu Tôn Hành Giả dùng phương thức cân đẩu
vân thì phút chốc đã đến chùa Lôi Âm trên núi Linh Sơn hà tất phải lặn lội theo
chân “tiểu Bạch Long”, nhưng chỉ khi phò tá Đường Tăng sang Thiên Trúc gặp phải
muôn vàn yêu ma quỷ quái với những bảo bối lợi hại đã giúp cho đại thánh ngộ ra
sự hữu hạn của bản thân mình. Nếu như Ngộ Không ở Hoa Quả Sơn là hống hách, vô
lối thì Tôn Ngộ Không ở Linh Sơn lại thuần phục, khiêm nhường. Hộ tống Đường
Tăng là quá trình nhận thức không ngừng của hành giả. Tôn trưởng lão còn
phải gánh trên vai trách nhiệm, bổn phận với tha nhân. Đó chính là tinh thần “tự
giác giác tha, từ bi hỉ xả” của giáo lí Đại thừa. Do đó có thể nói dịch chuyển
không gian đã mang đến một sự thay đổi về chất trong nhận thức của con người.
Cũng như vậy, hành trình đến với Linh Sơn của Cao Hành Kiện mang trong mình nhiều
ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Có thể nói triết lí Phật giáo về “sắc sắc không không” giống
như ngọn Linh Sơn sừng sững tuyết phủ mây bay lập tức biến thành dòng sông Bát
Nhã chảy trôi qua miền giác ngộ. “Linh trong linh hồn, Sơn trong sơn thủy” nên
Linh Sơn không chỉ hiểu là núi hồn mà nó còn là sơn nhai hải ngạn, còn là dòng
sông mê; nó không chỉ là núi thiên đường mà còn là dòng sông địa ngục. Đúng như
quan niệm “vạn vật giai bị vu ngã” và đúng như tư tưởng thiền tông “trăm sông vẫn
về biển, trăng lặn không lìa trời”. Linh Sơn là sông là núi, là tâm hồn ta.Chú thích: (1) Hoa Quả Sơn: Tên ngọn núi trong tiểu thuyết Tây Du Ký của
Ngô Thừa Ân (2) Linh Sơn: Tên ngọn núi trong Phật giáo, cũng là tên ngọn
núi trong tiểu thuyết Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân và tên ngọn núi trong tiểu thuyết
cùng tên của nhà văn Cao Hành Kiện. (3) Thọ, Tưởng, Hành, Thức: khái niệm của Phật giáo nhằm chỉ
những cảm giác, nhận thức của con người qua các giác quan. (4) Tất cả những tên gọi ấy đều chỉ đến Đức Phật - một bậc
giác ngộ. TÀI LIỆU THAM KHẢO: Phần Tiếng Việt 1- Antoine Compagnon (1998), Bản mệnh của lý thuyết (Lê Hồng
Sâm và Đặng Anh Đào dịch năm 2006), Nxb Đại học sư phạm Hà Nội. 2- Trần Thị An (2008), “Nghiên cứu văn học dân gian từ góc độ
type và motif những khả thủ và bất cập”; Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số tháng
7. 3- Nguyễn Thị Vân Anh (2010), Luận văn thạc sĩ: Sự Dịch chuyển
không gian trong Tây Du Kí của Ngô Thừa Ân, Đại học sư phạm Hà Nội. 4- Phạm Vũ Lan Anh (2009), Luận văn thạc sĩ: Không gian lữ thứ
trong thơ Đường, Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. 5- Ngô Thừa Ân (Thụy Đình dịch 2001), Tây Du Ký - 3
tập, Nxb Văn học 6- Vương Văn Anh, Phạm Công Đạt (dịch 2005), Văn học hiện đại
Trung Quốc nhìn từ Thượng Hải, Nxb Văn học. 7- Trần Lê Bảo (2002), Lỗ Tấn: thân
thế, sự nghiệp, những sáng tác tiêu biểu, Nxb Văn hoá - Thông tin. 8- Trần Lê Bảo (2011), Giải mã văn học từ mã văn hóa, Nxb Đại
học quốc gia Hà Nội. 9- Nguyễn Công Cảnh (2013), Luận văn thạc sĩ: Dịch chuyển
không gian trong tiểu thuyết Linh Sơn của Cao Hành Kiện, ĐHKHXH-NV QG Hà Nội. 10- Nguyễn Văn Dân (2006), Phương pháp luận nghiên cứu văn học,
Nxb khoa học xã hội, Hà Nội. 11- Trần Xuân Đề (2003), Tiểu thuyết cổ
điển Trung Quốc, Nxb Giáo dục. 12- Cao Hành Kiện (Trẫn Đĩnh dịch 2003), Linh Sơn, Nxb Phụ Nữ. 13- Cao Hành Kiện (nhiều người dịch, 2006), Tuyển tập tác phẩm,
Nxb Công An nhân dân – Trung tâm văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây. 14- Nguyễn Thị Hiền (1996), “Nghiên cứu truyện cổ dân gian Việt
Nam theo bảng mục lục tra cứu típ và mô típ truyện cổ dân gian của Antti Aarne
và Stith Thompson”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 2-1996, tr.13-24. 15- Đào Huy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại,
Nxb Giáo Dục. 16- Trần Trung Hỉ (2002), Luận án tiến sĩ: Thi pháp thơ Lí Bạch,
Đại học KHXHNV Hà Nội. 17- Lương Văn Kế (2010), Văn hóa châu Âu lịch sử thành tựu và
hệ giá trị, Nxb Giáo dục. 18- Nguyễn Văn Khỏa (2002), Anh hùng ca của Hômerơ, Nxb Văn Học. 19- IU.M.Lotman (1970), Cấu trúc văn bản nghệ thuật (In lần
hai năm 2007, Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch), Nxb Đại học
quốc gia Hà Nội. 20- Nguyễn Thị Diệu Linh (2004), Biểu tượng Linh Sơn trong
tác phẩm cùng tên của Cao Hành Kiện và cuộc hành trình tìm kiếm chính mình, Kỷ
yếu hội thảo khoa học những nhà nghiên cứu ngữ văn trẻ, Đại học Sư Phạm Hà Nội. 21- Manfred Jahn (2000), Trần thuật học - Nhập môn lí thuyết
trần thuật, (Nguyễn Thị Như Trang dịch, 2005), Hà Nội. 22- Milankundera (Nguyên Ngọc dịch, 1998), Nghệ thuật tiểu
thuyết, Nxb Đà Nẵng. 23- Hồ Á Mẫn (Lê Huy Tiêu dịch 2010), Giáo trình văn học so
sánh, Nxb Giáo Dục. 24- N. I. Niculin (1999), “Những sáng tác về các chuyến viễn
du”(Trần Hồng Vân dịch), trong sách Những vấn đề của lý luận và lịch sử văn học.
Viện Văn học XB, tr.82-104. 25- Nhiều tác giả (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới,
Nxb Đà Nẵng. 26- Hoàng Thị Phương Ngọc (2010), Nghệ thuật tự sự trong tiểu
thuyết Linh Sơn của Cao Hành Kiện, Luận văn Thạc sĩ đại học KHXHNV-Hà Nội. 27- Nguyễn Tôn Nhan (2004), Bách khoa thư văn hóa cổ điển
Trung Quốc, Nxb Văn Hóa Thông Tin. 28- Lê Chí Quế (1994), “Trường phái văn học Phần Lan - những
nguyên tắc ứng dụng và khả năng lí luận, Tạp chí Văn học, số 5-1994, tr.37-44. 29- Roland Barthes (1953), Độ không của lối viết (Nguyên ngọc
,dịch 1997), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội. 30- Nguyễn Hữu Sơn (2007), “Thể tài du ký trên Tạp chí Nam
Phong”, TC Nghiên cứu Văn học, số 4-2007, tr.21-38. 31- Nguyễn Hữu Sơn (2009), “Du ký của người Việt Nam viết về
các nước và những đóng góp vào quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt giai
đoạn thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX”, 31- Lê Thị Thanh Tâm (2006), “Con người hành hương trong thơ
thiền Lí – Trần và Đường – Tống, TCNCVH Số 3/70 – 81. 32- Thông Thiền, Thuận Hùng (2010), Huyền Trang hành trình
sang Thiên Trúc, Nxb Tôn Giáo. Phần tiếng Anh: 33- Mabel Lee (2001), “Gao Xingjian: First Chinese Writer
of the Nobel Prize for Literature.” Persimmon, vol. 2, no. 1 (2001):
38-40. Shepherd, Eric. “The Reaction in China.” Persimmon, vol. 2, no. 1
(2001): 44-5. 34- Li, Xia (2006), “Cross-Cultural Intertextuality in Gao
Xingjian’s Novel Lingshan. a Chinese perspective, Canadian Review of
Comparative Literature/Revue Canadienne de Litterature Comparee Vol. 31, Issue
1, p. 39-57. 35- Marian Galik (2001), Gao Xingjians Novel Lingshan (Soul
Mountain): A Long Journey in Search of a Woman, http://ejournals.library.ualberta.ca/index.php/crcl/.../8340 36- Stith Thompson (1955-1958), “Motif-index of folk-
literature : a classification of narrative elements in folktales, ballads,
myths, fables, medieval romances, exempla, fabliaux, jest-books, and local
legends, Indiana University Press. http://www.ruthenia.ru/folklore/thompson/. 29/1/2015 Nguyễn Công Cảnh Theo http://vanchuong.com.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét