Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2023
Câu chuyện Triết học 1
PLATON
Những ý niệm trên không có gì mới mẻ hoặc lạ lùng và chúng ta
có thể nghi ngờ những lý thuyết tự cho là mới mẻ trong lãnh vực triết học. Chân
lý có thể mỗi ngày khoác một bộ áo khác nhưng dưới bộ áo ấy chân lý luôn luôn
không thay đổi. Trong lãnh vực luân lý, chúng ta không nên chờ đợi một cái gì mới
lạ: tất cả các ý niệm luân lý đều quay xung quanh sự điều hoà của tập thể. Luân
lý bắt đầu với tập thể, với sự tương quan, với sự tổ chức. Đời sống trong xã hội
đòi hỏi sự nhượng bộ của một ít quyền lợi cá nhân để góp phần vào trật tự
chung. Một xã hội sẽ được tồn tại nhờ khả năng hợp tác của những phần tử trong
xã hội ấy. Còn sự hợp tác nào đẹp đẽ hơn khi mỗi cá nhân có thể làm việc theo
đúng bản tánh của mình, đó là mục tiêu mà tất cả các xã hội phải tìm đến. Đạo đức
đối với Gia tô giáo là sự thương yêu kẻ yếu hèn, đối với Nietzsche là sự can đảm
của kẻ mạnh, đối với Platon là sự điều hoà của tập thể. Rất có thể cả ba định
nghĩa đều đúng và phải được phối hợp với nhau nhưng chúng ta có thể tự hỏi
trong ba định nghĩa ấy, định nghĩa nào là căn bản ?
Nếu 2 vợ chồng trẻ quá thì sức khoẻ của con cái sẽ bị tổn
thương. Những cặp vợ chồng trẻ thường sinh con gái nhiều hơn con trai. Sức khoẻ
quan trọng hơn tình yêu giữa vợ chồng. Những phụ nữ lập gia đình quá sớm thường
dễ hư hỏng, những thanh niên lập gia đình quá sớm thường không phát triển được
tất cả những khả năng vật chất và tinh thần của mình. Vấn đề hôn nhân là một vấn
đề tối quan trọng đối với quốc gia xã hội, vì vậy cần phải được hướng dẫn và kiểm
soát bởi chính phủ: chính phủ phải ấn định tuổi tối thiểu và tuổi tối đa để kết
hôn cho mọi công dân nam nữ, những thời kỳ nào được phép sanh sản và mức độ gia
tăng của dân số. Nếu mức độ này quá lớn cần phải áp dụng phương pháp phá thai.
Dân số trong mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào các nguồn lợi và vị trí của quốc gia ấy.
Nếu dân số quá ít quốc gia không thể tự túc, nếu dân số quá nhiều các nguyên tắc
dân chủ sẽ khó áp dụng. Dân số một quốc gia không nên quá 10 000 người.
Dĩ nhiên "Tiểu luận" phải được kể trong số ít sách
đáng được nhai nghiền và tiêu hoá. Hiếm khi ta tìm thấy nhiều hào thiện được
gia vị và gia hương một cách tuyệt diệu như thế trong một đĩa ăn bé nhỏ. Bacon
ghét rườm rà, và không ưa phung phí một tiếng nào; ông cho ta vô vàn của cải
trong một câu ngắn; mỗi bài tiểu luận trong đó, với khoảng một, hai
trang, đem lại sự tinh tế được chưng lọc, của một tâm trí bực thầy về một vấn đề
chính yếu của đời sống. Thật khó nói xem bên hình thức, bên nội dung, bên nào
tuyệt hơn; vì ở đây ngôn ngữ đã đến chỗ tuyệt xảo về tản văn cũng như ngôn ngữ
Shakespeare đã tuyệt xảo về văn vần. Đấy là một lối văn giống như văn của
Tacite, hùng mạnh, cô đọng nhưng gọt giũa; và quả vậy một phần sự sáng sủa
khúc triết của nó là nhờ ở sự mô phỏng khéo léo những từ ngữ La Tinh.
Nhưng kho tàng ẩn dụ của nó đặc biệt có tính cách của thời đại Elizabeth, và phản
ảnh sự dồi dào của thời Phục hưng; không người nào trong văn chương Anh lại
sung túc về lối so sánh hàm súc và ý nhị như thế. Sự chưng bày phung phí những
so sánh này là khuyết điểm độc nhất trong lối văn của Bacon : những ẩn dụ bóng
gió tượng trưng bất tận đổ xuống như những nhát roi quất trên thần kinh của ta
và cuối cùng làm cho ta chán mệt. Cuốn "Tiểu luận" giống như món ăn nặng
nề nhiều gia vị, không thể tiêu hoá nhiều trong một lúc, nhưng nếu đọc mỗi lần
bốn hay năm bài, thì chúng là dưỡng chất tinh thần bổ khoẻ nhất bằng Anh ngữ.
Bởi thế ông kêu lên vua James I, dốc hết những lời ca ngợi mà
ông biết đức vua rất khoái thưởng thức. James vừa là một học giả vừa
là một vị đế vương kiêu hãnh về ngòi bút của ông hơn về cây quyền trượng và
chuôi gươm; ta có thể hy vọng từ nơi một vì vua uyên bác văn tài như thế. Bacon
bảo vua James rằng những kế hoạch ông vừa phát họa "rõ là công việc của đế
vương mà những nỗ lực của một người không thể làm gì hơn một cái bóng trên ngả
ba đường, chỉ có thể chỉ lối đi chứ không thể đi được". Dĩ nhiên những
công trình đế vương này sẽ tốn nhiều tiền; nhưng "cũng như những thư ký và
gián điệp của các quân vương và các quốc gia đệ lên những phiếu trả tiền cho
các tin tức thâu lượm được, thì Ngài cũng phải cho phép những gián điệp và kẻ săn
tin về thiên nhiên đệ lên Ngài những biên lai của họ nếu Ngài không muốn bỏ qua
nhiều điều đáng được biết đến. Và nếu Alexandre đã dành một kho tàng lớn theo lệnh
Aristote để nâng đỡ những người săn thú, bắt chim, câu cá v.v. ...
thì những kẻ mở ra những mê lộ của thiên nhiên lại còn cần đến lòng từ thiện ấy
biết bao nhiêu nữa". Với sự viện trợ của hoàng đế như vậy, công việc Tái tạo
vĩ đại chẳng bao lâu sẽ được hoàn tất; nếu không nó phải đợi đến hằng mấy thế hệ
mới xong.
Bắt một người quá bận rộn như Bacon, mà công việc tái tạo triết học phải
nhét vào những khe hở của một sự nghiệp chính trị nặng nề đầy sóng gió, sáng tạo
dồi dào phức tạp như Shakespeare, thì thật là phí thời giờ học giả với
những tranh luận phòng trà của những người lý thuyết rởm. Shakespeare thiếu
chính cái yếu tố tạo nên con người của vị quý tộc quan lớn kia - sự bác học và
óc triết lý-. Shakespeare biết chút ít về mọi khoa học; nhưng
không nắm vững khoa nào; trong mọi ngành khoa học ông đều phát ngôn với
sự hùng hồn của một người tài tử. Ông công nhận khoa chiêm tinh "Quốc gia
lớn lao nầy ...(Sonnet, XV), ông luôn luôn có những lỗi mà học giả
Bacon không bao giờ có; nhân vật Hectoz của ông trích dẫn Aristote và nhân vật
Coriolanus nói đến Cato; ông cho Lupercalia là một ngọn đồi và ông hiểu César
có lẽ cũng sâu sắc như H.G. Wells đã hiểu. Ông không ngừng nói đến thời niên
thiếu của ông và những đau buồn trong đời hôn phối. Ông có những cái tầm thường,
thô tục, những trò đùa khác hẳn với nhà triết học lạnh lùng bình
thản, Carlyle gọi Shakespeare là con người có trí năng vĩ đại nhất, nhưng đúng
hơn phải nói Shakespeare có trí tưởng tượng vĩ đại nhất, con mắt tinh anh nhất,
ông không cố ý thống nhất tư tưởng cho cuộc đời mình và cho nhân loại. Ông đắm
mình trong tình yêu và chỉ nghĩ đến triết lý khi trái tim tan vỡ. Khi
nó chưa vỡ thì ông cũng khá yêu đời, ông không thèm bận tâm đến viễn tượng tái
tạo triết học đã nâng cao Platon, Nietzsche hay Bacon.
Trong tác phẩm kể trên, Spinoza viết rằng các thánh tông đồ
đã dùng một lối văn gồm có nhiều điển tích, một là để có cơ hội trình bày các
chân lý một cách hoa mỹ, hai là để khỏi động trí tưởng tượng. Họ phải điều chỉnh
tư tưởng cho đúng với trình độ và căn cơ của dân chúng. Thánh kinh được soạn thảo
cho toàn thể nhân loại, do đó phải thích hợp với trình độ của quảng đại quần
chúng. Các tác giả không đưa ra những lý thuyết mà chỉ kể lại những câu chuyện khả
dĩ ảnh hưởng đến trí tưởng tượng của những người ít học. Ít khi người ta
kêu gọi đến lý trí, người ta chỉ kêu gọi đến trí tưởng tượng. Vì những lẽ trên,
có rất nhiều phép lạ và rất nhiều lần Thiên chúa xuất hiện trong thánh kinh. Quần
chúng tưởng rằng quyền lực của Thiên chúa và lòng quảng đại của ngài được thể
hiện một cách hùng hồn nhất trong những biến cố phi thường hoàn toàn khác với
những điều tai nghe mắt thấy hàng ngày. Quần chúng tưởng rằng Thiên chúa không
hoạt động khi mọi việc xảy ra một cách bình thường. Họ quan niệm hai quyền lực
hoàn toàn khác nhau: quyền lực của Thiên chúa và quyền lực của thiên nhiên. Sự
thật thì hai quyền lực ấy chỉ là một. Người ta thích tưởng tượng rằng Thiên
chúa phá vỡ những định luật thiên nhiên để giúp đỡ họ, người Do-thái tin rằng
Thiên chúa đã làm cho ngày dài hơn để nâng đỡ dân Do-thái. Tất cả những dân tộc
khác đều có những tín ngưỡng như vậy. Những lời nói giản dị không lôi kéo
tâm hồn. Nếu người ta nói rằng ngọn gió phía tây đã làm cho nước biển Hồng hải
rút lui và cho phép đoàn quân của Moise đi qua, dân chúng sẽ không mấy cảm động.
Họ sẽ cảm động hơn khi nói rằng chính Thiên chúa đã làm khô nước biển và giúp
cho Moise và đoàn quân của ông đi qua. Do đó những phép mầu rất cần thiết để ảnh
hưởng đến sự hiểu biết của dân chúng. Những người sáng lập tôn giáo dùng những
lối hành văn bóng bẩy có thể làm cho dân chúng tin tưởng hơn tin tưởng những triết gia
hoặc những nhà khoa học.
Tuy nhiên, tất cả những đức tính chủ chốt của Voltaire. Đặc
tính nổi bật nhất của ông là trí thông minh vô cùng phong phú và sáng lạn. Ông
sáng tác 99 pho sách, trong đó mỗi trang giấy đều chứa đựng những ý nghĩ bổ
ích. Tất cả những vấn đề trên thế giới đều được bàn đến không khác gì trong một
cuốn bách khoa. Voltaire thường nói: "Nghề của tôi là nói lên những cái gì
tôi suy nghĩ". Và tất cả những cái gì ông suy nghĩ đều đáng được nói lên.
Hơn nữa, tất cả những cái gì ông nói lên đều đẹp. Nếu phần lớn tác phẩm của
Voltaire không được chúng ta chú ý đến ngày nay là vì những vấn đề thuộc lãnh vực
tôn giáo và siêu hình ghi dấu sự tranh đấu của Voltaire không còn là những vấn
đề thời sự của thế hệ chúng ta. Ngày nay, sự tranh đấu trên lãnh vực tư tưởng
thường hướng về khía cạnh kinh tế hơn là khía cạnh siêu hình. Mặt khác, chính sự
tranh đấu dũng mãnh của Voltaire đã làm biến mất những thành kiến có tính cách
mê tín độc tôn của thời ông . Một yếu tố làm Voltaire trở nên danh tiếng là lối
nói chuyện vô cùng hấp dẫn và xác đáng của ông. Rất tiếc là ngày nay
chúng ta chỉ còn giữ lại phần thể xác tức là những tác phẩm của Voltaire, còn
phần tinh anh, tức là những cuộc đối thoại của ông thì đã mai một cùng một lúc
với tác giả. Voltaire có biệt tài biến đổi sự giận dữ thành những nét khôi
hài trào lộng, biến đổi lửa thành ánh sáng. Một con người luôn luôn hùng hồn, một
bộ óc vô cùng tinh vi, phải chăng Voltaire là một con người với nhiều óc sáng tạo
nhất trong lịch sử loài người ?
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
"Trong và ngoài căn phòng tôi": Hai thế giới của Trần Nhã Thụy XXXXX
"Trong và ngoài căn phòng tôi": Hai thế giới của Trần Nhã Thụy Hầu như mỗi năm nhà văn Trần Nhã Thụy đều cho ra đời tác phẩm mới...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét