Chúng ta có thực sự tự do trong chính tác phẩm của mình?
Văn học, cũng như các lĩnh vực khác, theo tôi đều có những
dòng chảy nối tiếp âm thầm, tạo nên nhiều sự giao thoa, đan cài giữa cũ và mới,
quen thuộc và khác lạ.
50 năm văn học Việt Nam từ năm 1975 đến nay, cũng đã và đang
tạo nên một bộ mặt văn chương đất nước từ những sự giao thoa. Trong tầm hiểu biết
hạn hẹp của mình, với tư cách là một độc giả và cũng là một người viết trẻ, tôi
được kế thừa rất nhiều từ thế hệ các nhà văn đi trước. Từ giai đoạn Đổi mới năm
1986, đến giai đoạn Hội nhập mở cửa năm 1995, văn học cũng vận động theo tiến
trình lịch sử của đất nước. Tôi đã được nghe, được đọc các tên tuổi, tác phẩm
như Đứng trước biển, Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, Thời xa vắng của
Lê Lựu, Bến quê của Nguyễn Minh Châu, Tướng về hưu của Nguyễn
Huy Thiệp, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của
Dương Hướng…
Tiếp tục là những sự giao thoa sang giai đoạn hội nhập với nhiều tên tuổi lớn trên văn đàn mà tôi thật sự ngưỡng mộ tài năng của họ. Tất cả dường như đều có một địa hạt văn chương riêng, với sự phát triển trong cả chủ đề, bút pháp, nhằm không chỉ kế thừa mà còn tự vẽ ra cho mình một con đường riêng, một phong cách riêng, trong công việc sáng tạo mà tự mỗi nhà văn đều ý thức rất rõ những sự thôi thúc, dồn nén bắt nguồn từ thời đại họ đang sống, từ thân phận con người.
Tài năng của họ được thể hiện rất rõ trong những tác phẩm mà
tôi có điều kiện được tiếp xúc từ nhỏ, chính là một trong những yếu tố thôi
thúc tôi dấn thân vào con đường văn chương, mặc dù tôi là dân tự nhiên chính hiệu,
từ thời học cấp III đến nghề nghiệp hiện tại. Với bản thân tôi, ngoài những trải
nghiệm trong cuộc sống cá nhân, thì việc đọc và học hỏi từ thế hệ cầm bút đi
trước, đã đem lại nguồn cảm hứng và động lực âm thầm để tôi sẵn sàng cất lên tiếng
nói qua con chữ của mình. Và tôi nghĩ không chỉ riêng tôi mà thời đại nào cũng
vậy, thế hệ sau luôn có tính kế thừa thế hệ trước, nhưng việc phải làm sao viết
khác đi, mới hơn những gì đã được khai thác rất nhiều trở thành một thách thức
lớn, đặc biệt là với thế hệ nhà văn trẻ.
Có lẽ sẽ có nhiều tác giả như tôi, bắt đầu hình thành niềm
yêu thích văn chương từ những bộ truyện dành cho tuổi mới lớn của nhà văn Nguyễn
Nhật Ánh, vào lúc còn ngồi trên ghế nhà trường. Rồi lớn hơn chút nữa, tôi lại
muốn tìm đọc những tác phẩm mới hơn, quyết liệt hơn, mở rộng nhận thức của mình
về đời sống. Trong những trải nghiệm văn chương của mình, tôi vẫn còn nhớ cảm
xúc của lần đầu đọc Cánh đồng bất tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, tôi
đọc trong một nhà sách ở thành phố, không đủ tiền mua cả cuốn sách nên tôi đã
ngồi hết một buổi chiều ở đó để đọc đến kết truyện. Hay một buổi tối mùa đông ở
kí túc xá, tôi học bài đến khuya, rồi tình cờ đọc được truyện ngắn Mùa hoa
cải bên sông của nhà văn Nguyễn Quang Thiều, tôi đã rùng mình vì thân phận
con người trong tác phẩm. Đó chính là những tác phẩm gây ấn tượng mạnh trong nhận
thức một đứa trẻ mới lớn là tôi lúc ấy.
Càng trải nghiệm đời sống, mở rộng vốn sống và sự hiểu biết,
tôi càng muốn tìm tòi để đọc và học hỏi. Có những cuốn sách tôi chưa hiểu hoặc
hiểu chưa đủ sâu ở thời điểm này, nhưng qua nhiều năm sau đọc lại tôi thấy tác
phẩm ấy lại tạo những dấu ấn khác. Từ một người cảm thấy chủ đề chiến tranh
không phù hợp với mình, tôi chuyển qua tìm đọc những tác phẩm viết về chiến
tranh. Từ giai đoạn không thích đọc văn học nước ngoài vì thấy xa lạ, sau này
tôi lại muốn đọc nhiều hơn văn học Nhật, văn học phương Tây, những tên tuổi lớn.
Và tôi thấy ở những tác phẩm lớn, dường như các nhà văn luôn sẵn sàng mở rộng
chiều kích văn chương, tức là họ không dè chừng, hay e ngại, rằng tác phẩm của
mình với phong cách và chủ đề này sẽ kén người đọc, hay gây ra những hiệu ứng
ngược. Nói như Makenzy Orcel, một nhà thơ và tiểu thuyết gia người Haiti, rằng “Văn
chương cũng phải sục cả vào những vùng tối” (Tuổi trẻ cuối tuần, 2023).
Văn học Việt Nam 50 năm qua, theo tôi có nhiều tác phẩm đã
gây tiếng vang ngay lúc mới công bố, và sống mãi trong lòng người đọc. Chủ đề
chiến tranh, hậu chiến tranh, thân phận con người, nông thôn Việt Nam được khai
thác xuyên suốt. Nhưng dường như vẫn chưa có nhiều tác phẩm vượt thoát tư tưởng
thời đại, mở ra một con đường mới ít người dấn thân, một bản sắc mới, tư tưởng
mới, thay đổi những cách nhìn quen thuộc. Chúng ta dường như vẫn đã và đang đi
theo những lối mòn, với cách tiếp nhận bằng một hệ quy chiếu ít chịu thay đổi.
Có những cuộc thi mà tác phẩm được vinh danh khiến tôi bất ngờ, vì sự cũ mòn
trong tư tưởng và bút pháp. Điều đó khiến một bộ phận lớn độc giả cảm thấy mất
tin tưởng vào chất lượng văn chương nước nhà. Chúng ta đang sống ở thời kì hội
nhập, và cùng với đó văn chương Việt Nam cũng đang dần hội nhập. Các cây bút trẻ
hiện nay đã và đang quyết liệt tìm một lối đi mới, không còn là chủ đề chiến
tranh, hậu chiến tranh, không còn là nông thôn Việt Nam, bi kịch gia đình, khắc
hoạ bức tranh một đất nước đang phát triển bước ra từ chiến tranh, mà họ đã có
sự giao thoa, ảnh hưởng từ văn chương thế giới. Khi biên độ được mở rộng, họ muốn
vượt thoát những cái kén cũ mòn, chọn một cách viết khác, mạnh mẽ hơn, quyết liệt
hơn, độc đáo hơn, sẵn sàng chọn những chủ đề, hình ảnh gai góc mang vào trang
viết, cho nên theo tôi, chúng ta cũng cần phải thay đổi trong cách tiếp nhận.
Thế hệ nhà văn đi trước, cần thay đổi trong cách tiếp nhận những tác phẩm thể
hiện tính tìm tòi của thế hệ nhà văn kế thừa. Cần tôn trọng sự đa dạng, phong
phú, nhiều chiều kích của văn chương, và không áp đặt tư tưởng, cách nhìn cá
nhân để đánh giá chất lượng một tác phẩm mới.
Chúng ta còn đang đi những lối đi an toàn, né tránh những chủ
đề được coi là nhạy cảm. Chúng ta có thực sự tự do trong chính tác phẩm của
mình? Dường như chúng ta vẫn còn phải khéo léo uốn nắn, tránh né nhiều chỗ
trong tác phẩm để vượt qua khâu kiểm duyệt, hay chấp nhận chọn một tác phẩm an
toàn để vinh danh? Vẫn chưa có nhiều tạp chí, kênh văn học nghệ thuật chọn đăng
bài theo xu hướng mở, tức là đăng những tác phẩm có tính tìm tòi, thể nghiệm.
Tôi tự hỏi những nhà văn, nhà thơ của văn học Việt Nam ở thế hệ trước có những
áp lực vô hình như những nhà văn, nhà thơ ở thế hệ hiện tại? Rồi tôi nghĩ thời
nào cũng sẽ có áp lực riêng. Việc sống trọn vẹn với văn chương để cho ra đời những
tác phẩm lớn trong thời buổi nào cũng đầy rẫy khó khăn. Với thời đại hiện nay,
việc sống đủ chỉ bằng nghề viết văn thật sự bất khả. Và nhiều cây bút chấp nhận
chọn con đường viết theo lối thị trường, tạo sự dễ dàng, thuận lợi trong việc
công bố tác phẩm, cũng là một trong những nguyên nhân khiến nội tại văn chương
chưa được khai phóng hết. Ta sẽ thấy những tác phẩm lặp lại, na ná nhau, nhưng
lại dễ đọc, và cũng chưa đột phá. Càng nhiều tác phẩm như vậy sẽ khiến văn
chương chững lại, không có sự phát triển.
Tôi nghĩ rằng muốn có sự phát triển, cần tôn trọng và chấp nhận
những cái nhìn đa chiều. Nhưng theo tôi quan sát, chúng ta hiện nay dường như
đang có một khoảng trống rất lớn của lí luận phê bình. Phải là lí luận và phê
bình đúng nghĩa, tức là không cả nể, sợ mất lòng nhau. Dựa trên các cơ sở khoa
học một cách khách quan, để thấy sự đủ và thiếu của một tác phẩm. Chúng ta cũng
còn nhiều hạn chế ở mảng truyền thông các tác giả, tác phẩm trong nước để công
chúng được biết đến rộng rãi. Đối với những tác giả mới chưa có sẵn tệp người đọc,
thì việc in ấn, xuất bản cũng luôn gặp khó khăn. Các ngành nghề liên quan đến
viết văn cũng chưa được tư vấn và phổ cập rộng rãi. Và trong xu thế kỉ nguyên mới
như hiện nay, những người viết thực thụ còn gặp phải sự cạnh tranh đến từ AI
(Artificial Intelligence – trí tuệ nhân tạo). Có một số người sẽ bắt đầu dùng
AI để viết văn, làm thơ, và cũng không ít tác phẩm từ AI sẽ lọt qua khâu duyệt
bài, cũng chính từ tiêu chí chọn những tác phẩm dễ đọc, dễ hiểu, dễ tiếp cận.
Bên cạnh đó, cũng có một số phần mềm AI kiểm tra sai những tác phẩm vốn hoàn
toàn được viết bởi con người. Kết quả là một số tác giả bị đánh đồng rằng sử dụng
AI để viết văn, đặc biệt là những tác giả mới, chưa có nhiều tên tuổi. Cho nên
trong bối cảnh thật giả lẫn lộn đó, việc viết một tác phẩm chất lượng, tránh những
vòng lặp cũ kĩ lại càng quan trọng. Và đạo đức của người viết lại phải càng được
giữ vững.
Tóm lại, theo tôi, văn học Việt Nam 50 năm qua đã có nhiều
thành tựu góp phần định hình cho thế hệ nối tiếp. Nhưng chúng ta cũng cần phải
tự cởi trói ra khỏi những sáo mòn. Chúng ta cần thay đổi trong cách tiếp nhận
những tác phẩm mang tính tìm tòi, giao thoa với văn chương thế giới, nhưng vẫn
giữ được bản sắc vốn có. Cần thay đổi tiêu chí đăng bài ở các tạp chí, kênh văn
học nghệ thuật. Cần có chính sách tạo điều kiện trong việc in ấn, xuất bản,
công bố tác phẩm những tác giả mới, chưa có nhiều tên tuổi và lượng người đọc.
Tạo nhiều hơn những buổi gặp gỡ, trao đổi để người trẻ được thẳng thắn cất lên
quan điểm, tiếng nói. Tư vấn các ngành nghề liên quan đến văn học để bổ trợ việc
sáng tác, tạo các buổi tư vấn hướng nghiệp, trung tâm tư vấn. Thúc đẩy văn hoá
dịch thuật, xây dựng và mở rộng không gian kết nối, giao lưu cùng các tác giả
trẻ trong phạm vi khu vực (Đông Nam Á, Châu Á) và thế giới, mở rộng các cuộc
thi viết song ngữ, đa ngữ. Mở rộng không gian trình diễn nghệ thuật với các
trưng bày, triển lãm văn học, hay sân khấu hóa các tác phẩm văn học…
Bằng những trải nghiệm và quan sát thực tế, cũng như những ý kiến, quan điểm mà tôi góp nhặt được từ thế hệ người viết cùng trang lứa, tôi xin bày tỏ suy nghĩ của mình như trên. Tôi là một người viết trẻ, lần đầu xuất hiện tại những buổi toạ đàm như thế này, nên rất mong được học hỏi thêm từ thế hệ đi trước, các nhà văn, nhà thơ, cô chú, anh chị tham dự ở đây. Mong mọi người sẽ gỡ được những nút thắt trong chính văn chương của mình, và có được sự tự do thực sự trên trang viết. Xin chân thành cảm ơn!.
19/11/2025
Trần Văn Thiên
Nguồn: Báo Văn Nghệ
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét