Văn học dịch và những tác động đến đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI
Nói đến văn học dịch những thập niên đầu thế kỷ 21, có lẽ,
trước hết, phải nhắc tới việc rất nhiều tác phẩm thuộc hàng “tinh hoa”, “kinh
điển”, hay các tác phẩm đạt được các giải thưởng văn chương danh giá (Nobel,
Pulitzer, Man Booker...) đã được chú trọng chuyển ngữ trong giai đoạn này.
1. Văn học dịch và những gợi mở về kĩ thuật viết
Rất nhiều tên tuổi lừng lẫy của dòng văn học tinh hoa trên thế
giới (cả kinh điển lẫn đương đại) đã xuất hiện trong không gian văn học dịch Việt
Nam giai đoạn này, trong đó có thể kể tới: Marcel Proust, Franz Kafka, Milan
Kundera, Gunter Grass, Orhan Pamuk, Cao Hành Kiện… và nhiều tác giả nữ nổi bật
như Toni Morrison, Margaret Atwood… Việc dịch thêm các tác phẩm kinh điển trong
quá khứ và cập nhật các tác phẩm được giải thưởng lớn trên thế giới theo từng
năm vừa tạo ra một áp lực đối trọng, buộc các tác giả Việt Nam phải có những
chuyển dịch về tư tưởng và bút pháp, vừa cung cấp những gợi dẫn trong thực hành
sáng tác. Chẳng hạn, tính phi lý trong truyện của Kafka, thủ pháp dòng ý thức
trong tác phẩm của Marcel Proust, William Faulkner, Cao Hành Kiện… có lẽ là những
lối viết đi vào nhiều nhất trong các sáng tác thuộc dòng văn học đặc tuyển ở Việt
Nam.
Văn học Nga tiếp tục được dịch. Nếu ở các giai đoạn trước đó,
các tác phẩm được dịch chủ yếu thuộc mảng văn học xã hội chủ nghĩa thì đến hiện
tại, tác phẩm của một loạt các tác giả Nga hải ngoại nổi tiếng được chọn dịch,
trong đó nhiều nhất có lẽ là Vladimir Nabokov với một loạt các ấn bản liên tiếp
như Lolita, Tiếng cười trong bóng tối, Mỹ nhân Nga, Phòng
thủ Luzhin… Bên cạnh đó, có thể kể tới Mikhail Bulgacov với Những quả trứng
định mệnh, Nghệ nhân và Margarita; Ivan Bunin với Quý ông từ San
Francisco đến, Những lối đi dưới hàng cây tăm tối… Việc dịch các tác phẩm
văn học Nga hải ngoại đem đến cho không khí thưởng thức một cảm giác vừa quen
thuộc, vừa mới lạ. Nó “tái định hình” một hình dung khác về văn chương Nga,
thoát khỏi những mô thức quen thuộc kiểu “định hướng xã hội chủ nghĩa”, đồng thời
đưa lại cho người đọc nhiều trải nghiệm mới và đa dạng về lối viết.
Bên cạnh đó, có lẽ cần nhắc tới một mảng quan trọng trong dịch
thuật là các tác phẩm lý luận-phê bình văn học. Giai đoạn đầu thế kỷ 21 có lẽ
là một trong những thời kì các ấn bản lý thuyết phê bình văn chương của nhiều
trường phái khác nhau được dịch nhiều nhất, phong phú và đa dạng nhất. Động
thái dịch thuật này, đương nhiên, có những tác động và ảnh hưởng nhất định đến
giới cầm bút ở Việt Nam, đôi khi gắn với những bước chuyển rõ nét trong lối viết
và bút pháp của các thế hệ nhà văn. Trước hết, có thể kể tới Nghệ thuật
như là thủ pháp: Lý thuyết Chủ nghĩa hình thức Nga của Roman Jakobson, được
dịch và xuất bản vào năm 2001. Việc dịch công trình lý thuyết Nghệ thuật
như là thủ pháp là một hiện tượng dịch quan trọng của dịch lý luận-phê
bình giai đoạn này. Nó không chỉ được đón nhận từ phía giới nghiên cứu-phê bình
văn học mà còn gây ấn tượng với giới sáng tác, là một trong những lực thúc đẩy
nhà văn Việt Nam kiên quyết chối bỏ, vượt thoát những định kiến cũ mèm về văn
chương, về trách nhiệm xã hội mà văn chương thường bị “tròng” lên vai từ xưa đến
nay, để có thể dấn thân trọn vẹn hơn vào cuộc chơi ngôn ngữ, chơi thủ pháp, vào
những sáng tạo theo nguyên tắc “lạ hóa”, trả nghệ thuật về cõi riêng của nó, vừa
độc lập, vừa có khả năng gây hấn với sự nhàm chán buồn tẻ của những “cái thường
ngày”.
Mikhail Bakhtin, dù đã bắt đầu được dịch từ những năm 1993 với
cuốn Những vấn đề thi pháp Đốtxtôiepski, đến giai đoạn này, hai công trình
quan trọng nhất của ông được dịch thêm là: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Sáng
tác của Francais Rabelais và nền văn hóa dân gian trung cổ và phục hưng. Những ấn
bản sách dịch các nghiên cứu của Bakhtin, một lần nữa, không chỉ làm thay đổi
cách nhìn của các nhà nghiên cứu phê bình trong việc phân tích các tác phẩm văn
chương, mà còn mở ra rất nhiều hướng mới cho sáng tác, đặc biệt là tiểu thuyết.
Tính đa thanh, đối thoại được nâng lên thành đặc trưng của tiểu thuyết. Điều
này cũng thúc đẩy các nhà văn Việt rời xa dần quỹ đạo của tiếng nói sử thi độc thoại
trước đó để hướng tới một cái nhìn đa chiều hơn, một sự pha trộn giọng điệu sống
động hơn trong các tác phẩm của mình. Những thi pháp tiểu thuyết quan trọng như
giễu nhại, tính không hoàn kết, thì hiện tại chưa hoàn thành… cũng xuất hiện
ngày một nhiều hơn trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam giai đoạn này. Ngoài
ra, có thể kể thêm một số cây bút lý luận tiêu biểu của chủ nghĩa cấu trúc cũng
được dịch ở giai đoạn này như Yuri Lotman với Cấu trúc văn bản nghệ thuật;
Tzevan Todorov với Thi pháp văn xuôi, Dẫn luận về văn chương kì ảo, Văn
chương lâm nguy… Mảng sách dịch này, có thể nói, càng nhấn mạnh việc coi mỗi
tác phẩm văn chương như một “công trình kiến trúc” đầy tính nghệ thuật.
Các lý thuyết gia thuộc hướng giải cấu trúc như Roland Barthes và Foucault cũng đã và đang được dịch ở Việt Nam, chẳng hạn có thể kể tới Những huyền thoại của Roland Barthes, Giám sát và trừng phạt – Nguồn gốc nhà tù của Michael Foucault. Công trình của một tác gia giải cấu trúc quan trọng khác là Gilles Deleuze cũng đã được dịch: Kafka – Vì một nền văn học thiểu số. Những văn bản này, cùng với một công trình nền tảng của hậu hiện đại là Hoàn cảnh hậu hiện đại của Jean Francois Lyotard đã đem lại một không khí mới cho bối cảnh văn học đương đại.
Bên cạnh đó, có thể kể thêm những hướng phê bình văn học khác
cũng được dịch và giới thiệu trong giai đoạn này, chẳng hạn xã hội học văn học
(với Quy tắc của nghệ thuật: sự sinh thành và cấu trúc của trường văn
chương của Pierre Bourdieu), phê bình sinh thái với cuốn Phê bình
sinh thái là gì? trong đó tuyển dịch những bài luận của các tác giả kinh
điển nhất như Peter Bary, Kate Rigby, Richard Kerridge…; và gần đây hơn cả là
phê bình nữ quyền với các công trình dịch tiêu biểu như Lịch sử vú của
Marilyn Yalom, Rắc rối giới, Các thuật ngữ then chốt của nghiên cứu
giới. Những hướng dịch thuật này, không ít thì nhiều, mài sắc thêm nữa ý thức
giới và nữ quyền, ý thức sinh thái và góc nhìn xã hội của những cây bút đương
thời, hứa hẹn sẽ đem lại những bước chuyển mới cho văn học Việt.
2. Ảnh hưởng của văn học dịch nhìn từ các ấn phẩm đại chúng
Ngoài dòng sách dịch được tạm phân loại là dòng văn học tinh
hoa, thế kỷ 21 thực sự là giai đoạn đánh dấu một sự bùng nổ của việc chuyển ngữ
tức thời tất cả những ấn phẩm đang gây “sốt” trên thế giới, những cuốn sách được
xếp vào hàng “best-seller”, và những tác phẩm thuộc các dòng văn học đại chúng
đang càng ngày càng có thêm lượng độc giả đông đảo, đặc biệt là thế hệ trẻ. Văn
học ngôn tình Trung Quốc, các thể loại du ký, trinh thám, giả tưởng, fantasy là
các thể loại có được thành công ấy. Chính sự ồ ạt của thị trường sách dịch này
sẽ đưa lại sự bung nở trong sáng tác của bản thân các tác giả trong nước để vừa
như một sự hồi ứng, vừa như một nỗ lực cất lên tiếng nói của riêng mình.
Dù vậy, trước khi đi vào những thể loại đại chúng này, có lẽ
nên bắt đầu bằng một trường hợp nằm ở đường biên giao thoa giữa tinh hoa và đại
chúng là Murakami Haruki. Tác phẩm đầu tiên của Murakami được dịch sang tiếng
Việt là Rừng Na Uy. Ngay sau khi cuốn sách này ra đời và tạo được cơn sốt
trong công chúng đón nhận tại Việt Nam, liên tục các tác phẩm khác của ông được
dịch và xuất bản: Biên niên ký chim vặn dây cót, Phía nam biên giới,
phía tây mặt trời, Kafka bên bờ biển… Với Murakami, độc giả Việt và độc giả
thế giới dường như được đem tới một luồng gió mới trong hình dung về đất nước mặt
trời mọc, bứt thoát khỏi nỗi bi cảm vốn được mặc định là một phần tất yếu của
Nhật Bản. Việc các tác phẩm của Murakami trở thành hiện tượng thống lĩnh thị
trường sách dịch Việt không những cho thấy sự xuất hiện của một lớp độc giả mới
đã sẵn sàng đón nhận các giá trị mới đậm cảm quan phương Tây, mà chắc chắn đưa
lại cả những tác động (dù có ý thức hay không ý thức) tới những cây bút mới
đương thời. Cơn sốt Rừng Na Uy có khả năng cao đã khơi mở một cái
nhìn phóng khoáng, nhưng cũng đa chiều hơn về tính dục ở các cây bút Việt trẻ.
“Sex” không chỉ còn là tiếng nói bản năng của con người, mà còn là một cách để
phơi bày nỗi cô đơn bản thể và niềm khát khao kết nối của một thế hệ hoang mang
mất niềm tin, mất gắn kết với quá khứ.
Từ góc nhìn đại chúng, truyện tình cảm phương Tây hay truyện
ngôn tình Trung Quốc là một trong những mảng được dịch nhiều nhất (cả chính thống
và online), cũng có một đời sống sôi động thực sự trong ngành xuất bản phát
hành và để lại những dấu ấn đậm nét trong sáng tác của các nhà văn Việt. Về
truyện tình cảm phương Tây, không thể không kể tới Marc Levy, một nhà văn Pháp.
Tác phẩm của ông được dịch khá nhiều ở Việt Nam, gây dựng được một lượng fan
hùng hậu, và là một trong những tác giả nước ngoài thuộc hàng best-seller. Có
thể dẫn ra một số tiểu thuyết của Marc Levy được dịch như Và nếu như chuyện
này là có thật, Kiếp sau, Em ở đâu… Kể từ 2006, sau khi bản dịch Xin
lỗi em chỉ là con đĩ của Tào Đình do Trang Hạ dịch được xuất bản, một cơn
lốc đọc và dịch truyện ngôn tình được khởi xướng, và càng ngày càng mạnh mẽ hơn
song song với tốc độ phổ cập chóng mặt của mạng internet. Dấu ấn của thể loại
truyện tình cảm (hay ngôn tình theo cách gọi của Trung Quốc), không khó để nhận
ra, khá rõ nét ở các tác giả trẻ Việt giai đoạn này như Iris Cao, Hamlet
Trương, Anh Khang, Tuệ Nhi, Gào, Phan Ý Yên… Không chỉ thế, khi các thể loại
như đam Mỹ, bách hợp trở nên quen thuộc với độc giả Việt, các tác phẩm về đề
tài đồng tính như Dị bản của Keng, Cây rắn lục của Vũ Đình
Giang, Thành phố không lạc loài của Phạm Thành Trung (Lê Anh Hoài chấp
bút), Lạc giới của Thủy Anna, Đời Call Boy của Nguyễn Ngọc
Thạch… lần lượt xuất hiện và thu hút được sự quan tâm của bạn đọc.
Thêm một điểm đáng chú ý có thể thấy trong văn học đại chúng
giai đoạn đầu thế kỷ 21 là sự nở rộ về thể loại du ký của các cây bút nữ. Những
tác phẩm du ký nữ thuộc hàng best-seller của cả phương Đông và phương Tây được
dịch trong giai đoạn này như Muôn dặm không mây của Tôn Thư
Vân, Đảo tường vi của An Ni Bảo Bối, Ăn, Cầu nguyện và Yêu của
Alizabeth Gilbert cũng có thể được nhìn nhận như một “cú hích” góp phần khuyến
khích và thúc đẩy một thế hệ nữ trẻ trung lên đường, xê dịch và viết về hành
trình xê dịch của chính mình. Những chuyến đi và những ghi chép này ít nhiều đã
là nguồn cảm hứng cho cây bút Việt. Nguyễn Chí Linh – tác giả cuốn du ký Trên
con đường tơ lụa Nam Á chia sẻ, tác phẩm này được viết từ niềm say mê khi
đọc Muôn dặm không mây của Tôn Thư Vân.Có thể kể tên rất nhiều tác giả
nữ đã làm nên sự nổi dậy của một dòng du ký Việt Nam giai đoạn này như Dương Thụy,
Nguyễn Phương Mai, Trang Hạ, Phan Việt, Huyền Chip, Uyên Nguyên, Trang Nguyễn...
Hình ảnh Trang Hạ nằm lên chiếc xe máy hầm hố cùng tuyên bố “Đời ta là những
chuyến xe” được đăng công khai trên blog cá nhân có thể được xem như lời tuyên
ngôn cho các cây bút du ký nữ thời đại mới, khi dịch chuyển và trải nghiệm du
hành không còn là độc quyền của nam giới. Xách ba lô lên và đi của
Huyền Chip cũng được đánh giá như một bước khởi đầu quan trọng của trào lưu
này. Tây Ban Nha, hành trình không ngôn ngữ của Uyên Nguyên ghi lại
những trải nghiệm của một cô gái quyết định kiếm tìm một khóa học tự túc ở trời
Tây để từ đó, có cơ hội hòa mình vào một ngôn ngữ mới, một nền văn hóa mới. Trở
về nơi hoang dã của Trang Nguyễn lại là hành trình năm năm của một cô gái
bé nhỏ nhưng gan dạ ở một nơi chốn vốn được cho là khắc nghiệt nhất: châu Phi.
Hành trình này, trước hết, là để thỏa mãn niềm khát khao “thám hiểm”, và thứ nữa,
là một hành trình theo đuổi đam mê của một nhà bảo tồn động vật hoang dã. Trở
về nơi hoang dã, bởi thế, không chỉ là một chuyến đi thỏa mãn những mong muốn
cá nhân mà còn là một lời kêu gọi và thức tỉnh trách nhiệm của con người trước
lời kêu cứu của môi trường.
Việc dịch các tác phẩm thuộc thể loại fantasy như Harry
Potter và cơn sốt mà nó đưa lại đã có thể xem là một gợi ý và truyền cảm hứng
cho dòng truyện này ở Việt Nam, với những tác giả tiêu biểu như Nguyễn Nhật
Ánh, Phan Hồn Nhiên, Phạm Bá Diệp. Bộ truyện Chuyện xứ Lang Biang của
Nguyễn Nhật Ánh xuất bản lần đầu năm 2004 và được tái bản liên tục trong các
năm sau đó là một thành công nổi bật của văn học Việt thuộc thể loại này.
Sự cập nhật những bước tiến mới của thể loại khoa học viễn tưởng
cũng là một thành tựu khác mà văn học dịch đem lại trong giai đoạn này. Những
năm đầu thế kỷ 21, có thể nói, thực sự là khoảng thời gian rực rỡ về mảng dịch
thuật truyện viễn tưởng. Trước đó, trong khoảng từ những năm 1945 cho đến trước
2000, khoa học viễn tưởng đã được dịch, chủ yếu là các tác phẩm của Nga và Liên
Xô như Vùng đất Xan-nhi-cốp, Những cuộc phiêu lưu của Xe-muy-en Pinh... Một
số các tác phẩm sci-fi kinh điển Âu Mỹ cũng đã được dịch ở Việt Nam trước đó có
thể kể thêm như các tác phẩm về chủ đề du hành thời gian như Kẻ vượt thời
gian của H.G.Wells hay du hành về không gian như Hai vạn dặm dưới đáy
biển của Jules Verne. Nhiều tác phẩm văn chương viễn tưởng về hiểm họa và
nguy cơ sinh thái, cũng như những tác phẩm đặt lại vấn đề về mối quan hệ giữa
con người với thế giới tự nhiên đã được dịch, chẳng hạn: Mùi Adam của
Jean-Christophe Rufin, Bộ ba Kiến – Ngày của kiến – Cách
mạng kiến của Bernard Werber. Những tác phẩm như Chuyện người tùy nữ của
Margaret Atwood, Chúng tôi của Zevgeny Zamyatin Thế giới mới
tươi đẹp của Aldous Huxley, Đấu trường sinh tử của Suzanne
Collis… lại đặt vấn đề về sự nguy hiểm của một nhà nước toàn trị dùng công nghệ
để kiểm soát người dân một cách phi nhân, bạo lực. Những hình dung viễn tưởng
và sự đáng báo động của đạo đức nghề nghiệp, đặc biệt là nghề y được đề cập
trong các tác phẩm như Thế giới nghịch của Michael Crichton. Trong
câu chuyện này, tác giả tập trung vào những hệ lụy đáng sợ của các tiến bộ về
nghiên cứu gen. Thay vì chỉ dừng lại việc ca tụng các đột phá trong nghiên cứu
di truyền, Thế giới nghịch đặt ra vấn đề đạo đức khoa học khi con người
giành quyền năng sáng tạo của Chúa trời, khi đến cả người chết cũng bị đưa lên
bàn đấu giá. Cuối cùng, chủ đề người máy và cuộc khủng hoảng nhân tính khi công
nghệ trí tuệ nhân tạo phát triển cực độ cũng được đặt ra trong các tác phẩm viễn
tưởng đương thời trên thế giới, mà một trong số đó có thể kể tới là một ấn bản
đã được dịch mang tên Người máy có mơ về cừu điện không của Phillip
K.Dick. Việc dịch truyện viễn tưởng sang tiếng Việt, như thế, có thể nói, đã có
những tác động rõ nét đến các sáng tác thuộc thể loại này ở Việt Nam. Có thể kể
đến Máu hiếm, Luật chơi, Hiện thân của nhà văn Phan Hồn Nhiên, Thiên
Mã của nhà văn Hà Thủy Nguyên, Nym – Tôi của tương lai của
Nguyễn Phi Vân...
Cuối cùng, có lẽ cần nhắc tới sự nở rộ và đa dạng hóa thể loại
trinh thám ở Việt Nam – một hiện tượng có lẽ đa phần cũng được đem lại qua con
đường dịch thuật. Trước thế kỷ 21, trinh thám cũng là một thể loại đã được dịch
khá nhiều ở Việt Nam. Một trong những mảng trinh thám đầu tiên được dịch là tiểu
loại trinh thám-phản gián chủ yếu được dịch từ văn học Xô Viết, chẳng hạn: Vụ
bắt cóc thế kỷ của Valixi Arđamátxki. Sang đến thế kỷ 21, việc dịch truyện
trinh thám trở nên phong phú đa dạng hơn. Các tác giả trinh thám Âu-Mỹ như Dan
Brown (với Pháo đài số, Thiên thần và ác quỷ...), Agatha Christie (với Thời
khắc định mệnh, Những chiếc đồng hồ kì lạ…) được dịch. Không chỉ thế, các tác
giả trinh thám-kinh dị Nhật Bản cũng được dịch như Kiego Higashino, Natsuo
Kirino… Theo đó, trinh thám Việt Nam cũng dần bước ra khỏi được mô hình thể loại
tình báo-phản gián trước đó (kiểu Ván bài lật ngửa của Trần Bạch Đằng)
để hình thành một dòng văn học trinh thám đa dạng trẻ trung hơn với những cái
tên như: Di Li, Giản Tư Hải, Bùi Anh Tấn, Kim Tam Long…
Di Li được coi là một hiện tượng mới của truyện trinh
thám-kinh dị Việt Nam, trước Trại hoa đỏ, cô đã từng xuất bản hai cuốn
sách khá thành công cùng thuộc thể loại này là Tầng thứ nhất và Điệu
Valse địa ngục. Với Trại hoa đỏ, Di Li đẩy người đọc vào một cuộc phiêu
lưu đầy bất ngờ mới, với vô số những bí ẩn không dễ khám phá, những vướng mắc
không thể giải quyết, những âm mưu không dễ gì ngăn chặn. Đây được coi là tác
phẩm đặt nền tảng cho kiểu loại trinh thám-thriller của Việt Nam. Ngoài ra có
thể kể đến những cây bút trinh thám đương đại tiêu biểu nhất như Giản Tư Hải với Âm
mưu thay não, Mật mã Champa, Minh Mạng mật chỉ; Kim Tam Long với Mặt
nạ trắng, Ẩn ức trắng, Nguyễn Dương Quỳnh với Thăm thẳm mùa hè...
Nếu tác phẩm của Giản Tư Hải xoay quanh những bí mật và tội ác ở tầm vĩ mô,
cùng nhịp điệu trần thuật nhanh, kịch tính kiểu Dan Brown thì Kim Tam Long khéo
léo kết hợp các yếu tố quỷ ma kinh dị và ý thức đan cài những cuộc chơi cấu
trúc. Nếu Nguyễn Dương Quỳnh được mệnh danh là “Di Li thứ hai”, thì Đức Anh
dùng những kĩ thuật vô cùng quen thuộc của trinh thám thế giới như kĩ thuật
vòng tròn. Mỗi gương mặt, mỗi cây bút lại có một giọng rất riêng, đầy tính hiện
đại và mới mẻ của một thế hệ lớn lên trong một thời đại mà mảng văn học dịch
trinh thám đang đạt tới thời kì rực rỡ.
Phần viết, như thế, điểm lại một số ảnh hưởng của văn học dịch đến đời sống tiếp nhận, và đặc biệt đến các sáng tác văn chương Việt. Dù ở mảng văn học tinh tuyển hay đại chúng, văn học dịch cũng để lại những dấu ấn đa dạng và nhiều gợi mở. Dịch thuật, bởi vậy, có thể được nhìn như một hướng để mở rộng trường giao tiếp và đối thoại văn chương, từ đó, có những bài học và hướng đi riêng. Những “trải nghiệm đọc khác” mà dịch thuật mang lại đã và sẽ còn nhiều hứa hẹn trong tương lai. Bên cạnh dịch văn học, mảng dịch thuật các công trình lý thuyết-phê bình văn chương cũng được phân tích, trong sự gắn kết với bước chuyển về mô hình và tư duy sáng tác ở bối cảnh Việt Nam. Tác động của dịch thuật, bởi vậy, cần được nhìn từ điểm nhìn tương tác đa chiều, không chỉ với một cộng đồng độc giả đại chúng, với “tầm đón đợi cao” của giới lý luận phê bình, mà cả với chính những người sáng tạo.
15/11/2025
Đặng Thị Thái Hà
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét