Vài nhận thức về trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều
Tôi hỏi nhiều nhà thơ và văn, rằng họ thấy trường ca “Lò mổ”
của Nguyễn Quang Thiều như thế nào và đặng họ có thể khai sáng chút gì cho tôi
nhưng không ai có câu trả lời khiến tôi thỏa mãn, đa phần đều nói “Ái
chà, Lò mổ của Nguyễn Quang Thiều hả, bọn tớ cũng chỉ nghe dư luận ồn
ào trên mạng thôi chứ có sách đọc đâu!”.
Rốt cuộc việc dọ hỏi rơi vào ngõ cụt, nhưng tôi không bỏ cuộc. Sở dĩ có tình trạng vậy bởi tôi không biết cách mua sách trên mạng, đi lướt vài nhà sách không thấy bày bán là thôi. May quá, gần đây nhà thơ Phan Hoàng đã cho tôi mượn “Lò mổ” bản bìa cứng, tôi đọc và mạo muội có vài dòng cảm nhận dưới đây.
Trường ca “Lò mổ” là một tác phẩm siêu thường trong đó tính
hiện thực, siêu thực và huyền ảo hòa quyện chặt chẽ.
Lò mổ trong mắt đại chúng là nơi giết thịt những con vật to lớn
như trâu, bò, heo hoặc dê, đại loại vậy. Tôi đã thấy cách người ta giết trâu,
chẳng khác mấy cảnh giết bò trong mô tả của ông Thiều. Đồ tể cột dây vào hai
chân trước của con vật giật mạnh từ phía sau khiến nó khuỵu xuống và sau đó hạ
sát bằng nhát đập chí mạng vào cái đốm hình sao trắng sáng ở trán. Trong khoảnh
khắc đó người chủ thường lánh đi bởi họ không chịu nổi cú sát thương con vật của
mình.
Con bò trong “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều đổ xuống, như bản
mệnh phải thế, nó “không kêu rống, không vật vã, không bắn vọt phân và nước
tiểu, không ợ máu mũi. Đôi mắt mở dịu dàng. Buồn bã. Không bao giờ rơi lệ” (Trang
16), và thế là từ cái chết không cưỡng lại ấy không gian thi ca mở ra, bắt đầu
từ “chàng” – người tung nhát búa kết liễu con vật, tới “lão chủ nhà trọ” – người
làm nghề đập đầu bò đã ba mươi năm, tới “bầy ruồi” và tới vô vàn triết lý nhân
sinh, trải suốt 18 chương sách.
Tôi thích cách tác giả “Lò mổ” cho các nhân vật trong trường
ca của mình xuất hiện. Hình ảnh của “chàng” đẹp não nùng, triết lý của “chàng”
gần gũi và lạ lẫm, “Một ban mai tĩnh lặng gọi chàng. Trong cơn mê chàng
không thể nào đi hết dãy nhà cấp bốn. Chàng thèm khát những đồng cỏ. Đêm qua từ
lò mổ trở về, chàng đổ xuống giường như người trúng đạn”(Trang 13). “Lão
chủ nhà trọ” thì thế nào? Lão ta được khắc họa rõ nét và có vẻ bê bối “Giờ
lão bị tật nguyền. Cánh tay phải bị teo và cong” (Trang 19), không được lung
linh như “chàng”.
Tôi tự hỏi tại sao không phải tay trái mà lại là phải, hoặc
là cả hai? Cánh tay đồ tể mạnh mẽ từng giáng những nhát búa kinh hoàng giờ bị
teo và cong, có chăng yếu tố ngẫu nhiên hay nhân quả gì ở đây? Những đứa con
thành đạt của “lão chủ nhà trọ” lớn lên bằng tiết bò và gạo hầm, món ăn đại bổ
lắm kẻ ao ước, và “giờ chúng từ chối lão” (Trang 19). Vậy là nhân quả
nhỡn tiền. Lão là người thầy đầu tiên dạy “chàng” bài học nhập môn nghề đồ tể: “Quan
trọng nhất cái chết phải đến từ từ/Đấy là một nghề/Tàn bạo và trung thực/Những
con bò ngã xuống như đi ngủ/Thịt bò tươi phủ ngập thế gian” (Trang 21).
Giáo huấn lạnh lùng của lão, viết ra được như thế khó biết chừng nào, bất giác
khiến tôi nhớ tới nhân vật Triệu Giáp trong tiểu thuyết “Đàn hương hình” của
nhà văn Mạc Ngôn bên Tàu với triết lý “nghề nào cũng có trạng nguyên”.
Theo chủ quan của tôi, tinh thần mang theo trong “Lò mổ” đã
vượt ngoài dự liệu của tác giả. Sự can thiệp của vô minh đã đưa những ký tự của
“Lò mổ” tiến nhập vào bến mới. Nguồn cội của sự thoát xác này tôi đọc thấy từ
hơn ba chục năm trước trong tập thơ “Sự mất ngủ của lửa”, cụ thể hơn là trong
bài thơ “Bài hát về cố hương”…
Trong nghề đao phủ thì Triệu Giáp đích thực là “trạng
nguyên”, còn “lão chủ nhà trọ” trong “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều đích thực
là “trạng nguyên” nghề đồ tể. Bản hợp xướng dài dặc máu bò càng lúc càng siêu
thường. Ám ảnh của đôi mắt con bò bị giết khiến “chàng” dằn vặt khôn nguôi và tự
cật vấn “có phải chúng ta tội lỗi”. Đỉnh điểm cái tôi gọi là siêu thường vẻ
như nằm ở “Bầy ruồi” (Trang 24-39), 16 trang thơ giấy khổ lớn với phông chữ nhỏ
chỉ có một mỹ từ duy nhất: “Ruồi”. Không còn là bầy ruồi mà là một thế giới
ruồi, phình từ trong trang thơ ra ngoài đời. Tôi hình dung trong khoảnh khắc
giông gió, thi nhân vò nhàu mái tóc và thống thiết gọi “Ruồi, ruồi!”, và bầy ruồi
liền xông đến. Tôi chưa thấy tác phẩm nào chất “cảm giác mạnh” rõ rệt như trong
phần “bầy ruồi” của ông Thiều, nó tràn ngập và hết sức chân thực. Bức tranh “Ruồi”
trở nên đặc biệt sinh động khi vở kịch một hồi có tên “Phán xử” (Chương 16) kéo
màn lên, để ba nhân vật gồm tay “chủ lò mổ”, “bầy ruồi” và “chàng” đối đáp giữa
thanh thiên bạch nhật.
“Chủ lò mổ: Ta có linh hồn. Ta tặng lại linh hồn ta cho các
ngươi. Nhận lấy đi, nhận đi.
Bầy ruồi: (Cười rú lên) Ngươi thật ngu dốt. Linh hồn ngươi bẩn
thỉu hơn mọi sự bẩn thỉu” (Trang 117).
Trong nhận thức thông thường ruồi là giống dơ bẩn, “Thớt có tanh tao ruồi đỗ bấy/ ang không mật mỡ kiến bò chi” (“Thế tục”, Nguyễn Bỉnh Khiêm). Đọc “Lò mổ”, bất chợt ta ngộ ra, ruồi đâu dơ bẩn nhất, có thứ dơ bẩn hơn. Tôi thích vở kịch một hồi này, nó sáng tạo và triết lý. Thông qua phần “Phán xử”, tác giả không chỉ thanh tẩy cho “bầy ruồi” mà còn thổi hồn cho nhặng, họ hàng nhà ruồi. “Thuở ấu thơ tôi thường ngắm những con nhặng bay như bất động giữa không gian tinh khiết/ Có ai còn nhớ cảnh này không?/ Quá ít người giơ tay” (Trang 79). Tôi quên từ lâu hình ảnh con nhặng xanh bay như bất động giữa không trung cho tới khi được “Lò mổ” đánh thức. Một hình ảnh vu vơ, một lời hỏi gió thoảng, đã gợi lên thời ấu thơ tươi đẹp của bao người, trong đó có tôi.
“Lò mổ” là một tác phẩm kỳ vĩ, khởi lên từ đôi mắt của con bò
bị giết và khép lại bằng sự xuất hiện của chú bê con.
“Lặng lẽ và cô đơn/ Khôi nguyên và huyền bí/ Chưa bao giờ một
đôi mắt như thế/ Nhìn chàng” (Trang 16).
“Búa đã vung lên/ Tiếng rống dội vang/ Chiếc kèn đồng lớn nhất
thế gian/ Dội vào toàn bộ đời sống/ Con bò từ từ quỵ xuống/ Dịu dàng như nằm xuống
đồng cỏ/ Đôi mắt nó vẫn mở/ Ngôi sao hôm lấp lánh/ Sau tiếng rống dội vang/ Tiếng
kèn hiệu/ Một chú bê được sinh ra/Con bò gục xuống sàn đá lạnh/ Trút hơi thở cuối
cùng/ Như cơn gió lớn đi qua/Làm tất cả những cái cây trên mặt đất rung chuyển” (Trang
128).
Sự sống xuất hiện kỳ vĩ và chấn động. Tôi chia sẻ sang chấn ấy,
bởi còn có gì lớn lao hơn khi sự sống xuất hiện. Trong thế giới động vật, cụ thể
ở “Lò mổ” của ông Thiều là con bò bị đem đi giết trong khi mang thai, nó cam chịu
số phận và mong sinh linh mong manh kia sẽ được thấy ánh mặt trời. Tình mẫu tử,
người hay bò cũng vậy, là thiêng liêng của thiêng liêng, đã sẵn trong huyết quản
của mọi sinh vật trên trái đất, trong đó có con người với tư cách là động vật bậc
cao. Hình ảnh “Con bò từ từ quỵ xuống/ Dịu dàng như nằm xuống đồng cỏ” thật
xúc động, đẹp và buồn náo nức!
Ông Thiều viết: “Tinh thần mang theo trong Lò mổ là
một câu hỏi “đời sống tôi đang sống có thực sự là một đời sống?” (Tôi viết
Lò mổ, Nguyễn Quang Thiều, trang 7). Cuộc đời ai chả giông gió, chỉ có thể
thoát ra bằng sức mình. Thi nhân thoát giông gió bằng ký tự thơ. Những ký tự
mang theo nỗi niềm thao thiết của nhân gian, cũng là của thi nhân, bởi vậy
chúng có linh hồn, đủ sức để vuốt ve, an ủi mọi nỗi niềm. Người phàm nhắm tới
ăn uống hưởng lạc, tiền bộn thì đánh chén ngày 5-7 bận, sơn hào hải vị, lầu son
gái đẹp, đạm bạc thì 2-3 bữa, liu riu thì 1 bữa, ai cũng tồn tại trong giá trị
tính bằng túi tiền của mình. Thi nhân cần nhiều hơn. Theo chủ quan của tôi,
tinh thần mang theo trong “Lò mổ” đã vượt ngoài dự liệu của tác giả. Sự can thiệp
của vô minh đã đưa những ký tự của “Lò mổ” tiến nhập vào bến mới. Nguồn cội của
sự thoát xác này tôi đọc thấy từ hơn ba chục năm trước trong tập thơ “Sự mất ngủ
của lửa”, cụ thể hơn là trong bài thơ “Bài hát về cố hương” (1991):
“Tôi hát, tôi hát bài ca về cố hương tôi
Trong những chiếc tiểu sành đang xếp bên lò gốm
Một mai đây tôi sẽ nằm trong đó
Kiếp này tôi là người
Kiếp sau phải là vật
Tôi xin ở kiếp sau là một con chó nhỏ
Để canh giữ nỗi buồn – báu vật cố hương tôi”.
“Lò mổ” của hiện tại và “Sự mất ngủ của lửa” của thập niên 1990, đều xoay quanh trường con người, khác chăng là về biên độ và chiều kích của trường ấy. Nhiều người có thể cảm thán hoặc tệ hại hơn thì chửi đổng “Mẹ, thơ phú gì rối rắm, chả hiểu gì cả!”, còn tôi thì thấy “Lò mổ” đang nâng tầm nhận thức cho người đọc. Muốn hòa nhập, muốn chơi với thế giới, mình phải có thứ ngang hoặc vượt tầm. Hát về những chiếc tiểu sành là hát về thân phận người, nói về con bò con bê con ruồi con nhặng là hát về bản nguyên con người. Khó lắm thay! Phải có một nỗi niềm đủ lớn, nói như cụ Nguyễn Tiên Điền trong “Truyện Kiều”: “Một mình mình biết một mình mình hay” (câu 2674) và một tình yêu đủ lớn cộng tài năng vượt trội mới có thể cất lên tiếng hát vị tha và bao dung như thế về con người. Để tiệm cận “Lò mổ” đầy đủ thiết nghĩ phải có nghiên cứu sâu của các nhà lý luận chuyên nghiệp, tối thiểu cũng tầm luận văn tiến sĩ. Tôi mù lòa về thơ, nhất thời cưỡi ngựa xem hoa, chỉ có thể nhận thức đến đấy.
3. Sự sống không đến từ vô minh mà được khởi lên từ bên trong
cái chết, từ tro tàn của sự hủy diệt.
Ý nghĩ sự sống không đến từ vô minh mà khởi lên từ bên trong
cái chết, từ tro tàn của sự hủy diệt bám riết lấy tôi suốt lúc trong và sau khi
đọc trường ca “Lò mổ”. Thiết nghĩ, sự soi chiếu của khoa học và của tôn giáo về
bản nguyên con người chẳng mâu thuẫn với nhận thức này. Lời tâm huyết được cho
là của Nguyễn Minh Châu “Hãy đi tới tận cùng của cái ta, ta sẽ gặp nhân loại” rốt
cuộc đã ứng với “Lò mổ”, và ông Thiều là người được chọn giữa hàng ngàn thi
nhân và đã thực hiện xuất sắc bổn phận. Tôi đặt “Lò mổ” của ông Thiều bên vài
tác phẩm xuất sắc của những văn/thi nhân xuất chúng của thế giới đương đại thì
thấy chả kém cạnh gì. Lý gì ta không tôn lên. Văn đàn Việt sẽ rạng rỡ mày mặt.
“Khi con biết ngước mắt lên cao bởi nỗi sợ hãi thì chính đó
là lời nguyện cầu chân thành nhất”
(Trang 64).
“Một ngọn cỏ tự do làm thành thảo nguyên.
Một cái cây tự do làm thành cánh rừng.
Một con cá tự do làm thành biển cả.
Một con chim tự do làm thành bầu trời.
Một con người tự do làm thành vũ trụ”
(Trang 107).
Có phải vậy không? Đương nhiên là vậy rồi, con người là tiểu
vũ trụ mà. Chúc mừng và cảm ơn ông Thiều đã cho chúng sinh trong đó có tôi thưởng
thức một món lạ, xuất sắc!.
Tp.HCM, 14/9/2025
Cao Chiến
Nguồn: Vanvn
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét