Thế giới kỳ vĩ của thơ
Bài viết “Thế giới kỳ vĩ của thơ” của nhà văn Nguyễn Quế (từ
Bình Dương cũ) là một cuộc dạo bước qua nhiều miền thi ca Việt Nam – từ ánh
trăng ca dao, vẻ cổ điển của Kiều, tiếng thơ Hồ Xuân Hương, đến những câu thơ
đã thành “ký ức tinh thần” của thời kháng chiến. Qua từng trích dẫn và phân
tích, tác giả cho thấy thơ không chỉ là nghệ thuật ngôn từ mà còn là nguồn sức
mạnh nâng đỡ con người trong mọi thời điểm lịch sử.
Nhân loại có hàng trăm định nghĩa về thơ. Có thể hiểu: Thơ là
sự kết tinh tư tưởng, cảm xúc, trải nghiệm của con người về thế giới và cuộc sống,
được biểu đạt bằng nghệ thuật ngôn từ.
Thế giới của thơ, với thi sỹ là bến đậu của tâm hồn, là cánh đồng gieo trồng cảm xúc và chữ nghĩa, là bầu trời để cất cánh ước mơ và thả hồn phiêu lãng; với đọc giả là nhịp cầu kết nối con tim, là dòng sông soi rọi, tắm táp tâm hồn để được nâng đỡ và bay cao.
Khó có thể đưa ra con số thống kê cụ thể, nhưng chắc chắn,
hàng ngày nhân loại sản xuất ra một lượng thơ ca không hề nhỏ. Chỉ riêng ở Việt
Nam, một đất nước được xem “mỗi người dân là một nhà thơ”, con số ấy có lẽ đã
khó đong đếm. Trong cái kho tàng ấy, chất lượng mỗi sản phẩm cũng mỗi khác. Việc
xem xét giá trị một tác phẩm văn học nghệ thuật nhiều khi còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như quan điểm thẩm mỹ, khả năng cảm thụ của mỗi người… Tuy nhiên, một
bài thơ hay sẽ góp phần bồi đắp nên một thế giới kỳ vĩ, được đông đảo người đọc
đón nhận. Đó cũng là cơ hội giúp đọc giả khám phá những miền sâu thẳm trong tư
tưởng, cảm xúc và cảm thụ các giá trị chân, thiện, mỹ để làm giàu cho tâm hồn
mình. Từ nhận thức sẽ đi tới hành động. Đó là con đường tất yếu và là sức mạnh
của thơ ca.
Chúng ta đã từng được chứng kiến thế giới kỳ vĩ ấy qua các
áng thơ bất hủ. Trước hết nói về thơ dân gian. Một trong những hình ảnh vừa thơ
mộng, vừa gần gũi và thân thiết với con người, đã sớm đi vào ca dao là ánh
trăng. Trăng tạo mối giao hòa giữa trời, đất và lòng người. Sự kết nối ấy diễn
ra ở nhiều khung cảnh khác nhau của cuộc sống, cả trong lời “trách” của chàng
trai đối với cô thôn nữ trong một buổi tối lao động:
“Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”
Câu ca dao trên đây cho ta một cảm nhận vừa lãng mạn, vừa
tinh tế: trong từng gàu nước của cô gái trẻ có ánh trăng vàng lung linh. Từ một
dạng vật chất bình thường, không có hương vị, màu sắc, dưới sự tác động của ánh
trăng, nước chợt hóa thân thành một thực thể vừa sống động, vừa huyền ảo. Chính
vì vậy, đêm tát nước của cô thôn nữ tưởng chừng như rất mệt nhọc lại mang một sắc
thái nhẹ nhàng và rất đáng yêu. Câu ca dao không miêu tả hình ảnh cô gái nhưng
người đọc có thể cảm nhận được sự tươi trẻ, dịu dàng và thanh thoát của cô
trong một đêm lao động miệt mài dưới ánh trăng huyền diệu. Bối cảnh ấy lại diễn
ra “bên đàng”, nơi nhiều người có thể đi ngang qua và thưởng ngoạn. Qua câu ca
dao trên đây, hoạt động lao động sản xuất của con người được thi vị hóa và tôn
vinh, làm cho ta cảm thấy trân trọng và thêm yêu cuộc đời này.
Truyện Kiều của Nguyễn Du là thế giới kỳ vỹ của lục bát
thơ. Đắm mình trong thế giới ấy, ta được tiếp cận rất nhiều câu thơ tuyệt tác
mà sau đây là một ví dụ:
“Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”.
Với hai câu thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển, đại thi hào đã vẽ nên
một bức tranh tuyệt mỹ về thiên nhiên. Ở đó, ta được tiếp cận mặt nước trong
veo, tĩnh lặng như chiếc gương soi để trời in bóng xuống tận đáy. Trời và nước
vốn là hai thế giới xa cách, đối lập, bỗng giao hòa với nhau trong một khung cảnh
thật hữu tình và nên thơ. Kế cận bức tranh trên là hai tuyệt tác khác, một của
con người, một của thiên nhiên, huyền ảo và rực rỡ như thực, như mộng. “Thành
xây khói biếc” mang một vẻ đẹp vừa gần gũi, vừa cổ kính, linh thiêng, gợi
tả không khí yên ả, thanh bình và một nền nếp, một trật tự xã hội vững chãi, tồn
tại từ lâu đời. Còn“non phơi bóng vàng” là một thực thể vừa uy nghi, vừa lộng
lẫy. Cái “bóng vàng” được “phơi” trên non ấy là sắc thái kỳ
diệu của trời đất, đẹp như một bức tranh sơn dầu khổng lồ, tỏa rạng khắp không
gian. Với các tính từ tả sắc thái sự vật, hiện tượng (“long lanh”, “biếc”,
“vàng”) và việc sử dụng biện pháp nhân cách hóa (“in”, “xây”, “phơi”), hình ảnh
thiên nhiên hiện lên trong câu thơ càng thêm sống động, lung linh.
Trong lịch sử văn học nước nhà, thơ Hồ Xuân Hương là một hiện
tượng rất độc đáo. Dương Quang Hàm cho rằng: “Là một nữ sỹ thiên tài và
giàu tình cảm nhưng vì số phận hẩm hiu, thân thế long đong, nên trong thơ bà hoặc
có ý lẳng lơ, hoặc có giọng mỉa mai, nhưng bài nào cũng chứa chan tình tự”.
Xuân Diệu gọi Hồ Xuân Hương là Bà chúa thơ Nôm và khẳng định, kể về sự
độc đáo thì thơ bà đứng vào bậc nhất trong nền văn học Việt Nam. Ông cho rằng,
một khi người đàn bà ấy đã cất tiếng lên thì đố ai đã nghe một lần lại có thể
quên được: “Thứ thơ ấy không chịu ở trong khuôn khổ thông thường, một thứ
thơ muốn lặn sâu vào sự vật, vào những đáy rất kín thắm của tâm tư, nhưng đáy
kín thắm ấy không phải lạc lõng, cô đơn, cá nhân chủ nghĩa, mà trái lại, đã được
hàng vạn, hàng vạn người đồng tình, thông cảm”. Mỗi bài thơ của nữ sĩ họ Hồ
là một thế giới riêng. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của bà là bài Bánh
trôi nước:
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dù tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.
Tác giả mượn hình ảnh của bánh trôi nước để ẩn dụ cho số phận
người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ
tuyệt, ngắn gọn, cấu trúc chặt chẽ, súc tích, kết hợp với việc sử dụng ngôn ngữ
của ca dao (“thân em”, “bảy nổi ba chìm”, “tấm lòng son”), tạo nên sự trang nhã
mà sâu sắc, bình dị và gần gũi. Hình ảnh chiếc bánh trôi nước “vừa trắng lại
vừa tròn” mang nghĩa tả thực, đồng thời tượng trưng cho vẻ đẹp hình thể và
phẩm chất trong sáng, duyên dáng, đầy nữ tính của người phụ nữ. Tuy vậy, thân
phận của họ cũng rất mong manh, dễ bị ảnh hưởng bởi tác động từ bên ngoài.
Thành ngữ “Bảy nổi ba chìm” đã diễn tả cuộc đời lênh đênh, bất định của
họ dưới xã hội phong kiến tàn bạo và bất công. Dù vậy, họ thể hiện thái độ cam
chịu nhưng không khuất phục. Mặc cho “tay kẻ nặn” có bạo liệt thế
nào, họ quyết “vẫn giữ tấm lòng son”, tức tấm lòng trung thực, thủy chung,
son sắt của người phụ nữ Việt Nam.
Nói đến nền văn học nước nhà, mỗi chúng ta lại sung sướng và
tự hào khi nhắc tới các tác phẩm của Bác Hồ kính yêu. Là nhà văn, nhà thơ lớn đồng
thời là lãnh tụ thiên tài và vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Bác đã để lại cho
dân tộc ta những tác phẩm văn học đặc sắc, trong đó có thơ chúc tết. Từ cái tết
đầu tiên sau khi trở về Tổ quốc đến cái tết cuối cùng trước khi từ giã cõi đời
này, vào lúc giao thừa, Bác thường đọc thơ chúc tết đồng bào, chiến sỹ cả nước.
Đó là những phút giây vô cùng quý báu, có ý nghĩa to lớn, tạo nên không gian
văn hoá trang trọng, thiêng liêng gắn kết lãnh tụ với nhân dân. Nhiều người cho
rằng sự kiện ấy cần được củng cố, giữ gìn như một báu vật đặc biệt của quốc gia
để đáp ứng tình cảm sâu nặng cùng ước nguyện tha thiết của các tầng lớp nhân
dân hôm nay và mãi mãi mai sau. Các bài thơ chúc tết của Bác, mỗi bài đều có ý
nghĩa to lớn và sâu sắc, gắn liền với các thời điểm lịch sử của dân tộc. Ở đây,
một lần nữa xin nói về bài Mừng Xuân 1969, bài thơ chúc tết cuối cùng
của Người:
“Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào
Tiến lên! Chiến sỹ, đồng bào
Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn.”
Viết cho đồng bào và chiến sỹ, Bác sử dụng thể thơ truyền thống
của dân tộc. Hai câu đầu nói về kết quả kháng chiến trong năm qua và triển vọng
của năm tới mà lời thơ bình dị, tự nhiên như lời ăn tiếng nói hàng ngày của
nhân dân. Nhưng chính điều đó đã tạo nên sức khẳng định to lớn về quy luật tất
yếu của cuộc kháng chiến. Hai câu tiếp theo, chỉ với 14 chữ, Người đã xây nên một
toà lâu đài ngôn ngữ với các trục kiến trúc thật cân đối, hài hoà và vững chãi.
Tòa lâu đài ấy chứa đựng những giá trị tư tưởng, nghệ thuật vĩ đại, khẳng định
mục tiêu cao cả của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là vì độc lập, vì tự
do, đồng thời chỉ rõ, để thực hiện mục tiêu ấy, các nhiệm vụ chiến lược,
các bước đi cụ thể của cách mạng và phương thức kết thúc chiến tranh là “Đánh
cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”. Câu thơ đã trở thành ngọn đuốc soi đường
cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối
cùng. Hai câu cuối vừa là mệnh lệnh tiến công, vừa chỉ ra tương lai tươi đẹp của
dân tộc khi đất nước hoà bình, thống nhất. Bài thơ chỉ có sáu câu lục bát mà đã
tạo nên một tuyệt tác có ý nghĩa to lớn về nhiều mặt: văn hoá, chính trị, quân
sự, ngoại giao; và qua đó thể hiện cách xử thế cao cả của Con Người.
Có người cho rằng, so với Nguyễn Du, Nguyễn Trãi của Việt Nam
hay Gớt của Đức, Pushkin của Nga chẳng hạn, tên tuổi của Xuân Diệu còn rất
khiêm tốn. Nhưng nếu chọn từ thơ của Xuân Diệu và thơ của các đại thi hào kia mỗi
người hai câu tiêu biểu nhất thì không ai có thể qua được hai câu thơ của “ông
hoàng thơ tình Việt Nam”:
“Trái đất ba phần tư nước mắt
Trôi như giọt lệ giữa không trung”.
Ở đây, xin không bàn tới câu chuyện to tát là so sánh thơ của
các bậc tiền bối lừng danh nói trên. Tuy nhiên, chúng ta có thể bày tỏ lòng yêu
quý và kính phục trước tầm vốc hai câu thơ của Xuân Diệu.
Với câu thơ đầu, từ thực tế bề mặt trái đất có ba phần tư là
biển cả, sông suối, ao hồ, nhà thơ ví đó như là “ba phần tư nước mắt”. Có
lẽ không còn cách diễn đạt nào tuyệt vời hơn thế. Bởi, bên cạnh những niềm vui
sướng và hạnh phúc đã đạt được, còn có biết bao gian truân, mất mát, thương đau
loài người trên trái đất này phải gánh chịu. Nỗi niềm ấy do nhiều nguyên nhân
gây ra, không phải một vài địa điểm mà ở nhiều nơi, dai dẳng không dứt. Từ
các cuộc thế chiến lôi kéo cả nhân loại vào vòng chết chóc, nghèo đói, đến các
cuộc xung đột vũ trang đẫm máu. Từ các đại dịch đến các loại bệnh hiểm nghèo. Từ
những đợt sóng thần, động đất kinh hoàng đến những trận bão lụt, hạn hán
tàn khốc. Rồi tai nạn lao động, đụng độ giao thông… Sự so sánh ấy không chỉ
đúng ở thì hiện tại mà còn chính xác khi nhìn nhận lại suốt chiều dài lịch sử
nhân loại và cả dự báo trong tương lai. Oái oăm thay, những tấn bi kịch ấy, trực
tiếp hoặc gián tiếp, phần lớn đều do con người gây ra. Càng oái oăm hơn, khi
trái đất đầy nước mắt này đang “Trôi như giọt lệ giữa không trung”. Nghĩa
là nhân loại đã và đang thờ ơ, thụ động trước sinh mệnh của chính mình. Chữ “trôi” vừa
là động từ, vừa là tính từ chỉ trạng thái, đã diễn tả thực trạng ấy. Hai câu
thơ của Xuân Diệu như một lời cảnh tỉnh đối với cả loài người trên trái đất.
Có lần, một nhà thơ nói rằng: Người xưa quan niệm đường chân
trời là nơi đất và trời tiếp giáp nhau. Đó là chốn xa xôi đến vô cùng, người ta
có thể nhìn thấy trước mặt nhưng đi mãi, đi hoài không bao giờ tới. Vậy mà
trong bài thơ Vạn lý tình, Huy Cận lại viết:
“Người ở bên trời, ta ở đây
Chờ mong phương nọ, ngóng phương này”.
Đọc câu thơ trên đây, anh nghĩ:“ở bên trời” nghĩa là xa
hơn cả chân trời. Anh cho rằng đây là một khái niệm hoàn toàn mới. Có lẽ vì hai
người cách chia bởi một khoảng không gian mênh mông quá, thời gian xa nhau dằng
dặc quá nên đã không biết bao nhiêu lần tác giả đứng trông chờ người thân, và mỗi
lần nhìn mãi về phương dự kiến người thân sẽ trở về mà không thấy, tác giả lại
ước, biết đâu người ấy sẽ xuất hiện từ một phương khác chăng, nên mới có
câu “Chờ mong phương nọ, ngóng phương này” ? - Anh suy luận nhưng
không giám khẳng định và “bị” câu thơ ám ảnh mãi. Để giải tỏa nỗi niềm, đồng thời
với lòng kính yêu, trân trọng nhà thơ lớn, anh mong một ngày ra Hà Nội để tới
thăm và xin được hỏi chuyện ông, nhưng anh chưa kịp thực hiện ý định của mình
thì tác giả Lửa thiêng đã đi xa.
Thơ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến có nhiều tác phẩm đặc
sắc. Một trong số đó là bài thơ Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây của
Phạm Tiến Duật. Nhiều người đã thể hiện lòng yêu thích tác phẩm này, nhất là khổ
thơ sau:
“Từ nơi anh đưa sang bên nơi em
Những binh đoàn nối nhau ra trận tuyến
Như tình yêu nối lời vô tận
Đông Trường Sơn nối Tây Trường Sơn”.
Khi được phổ nhạc, bài thơ trên càng cất cánh bay cao, bay
xa. Dù đã nghe nhiều lần, nhưng mỗi khi bài hát được ngân lên, chúng ta lại bị
thu hút bởi cái đẹp, cái hay của bài hát, nhất là chữ lời trong
câu “Như tình yêu nối lời vô tận”. Nếu xem ngôn từ trong bài thơ là một
chuỗi hạt thì chữ lời tựa hạt ngọc lung linh làm sáng bừng lên cả chuỗi
hạt ấy. Khi người con trai và người con gái yêu nhau, họ thường trao nhau
những “lời” yêu nồng ấm. Dù ban ngày mới gặp gỡ, tối đến họ vẫn ước
ao được cùng nhau tâm sự đến thâu đêm. Có thể chỉ là những câu chuyện không đầu
không cuối, nhưng giữa họ lời cứ nối lời vô tận. Ngôn ngữ của
tình yêu cũng rất phong phú, đa dạng. Có khi là những câu nói ngọt ngào thốt ra
từ hai con tim rạo rực. Lại có khi là những cử chỉ vuốt ve âu yếm, hay là “tiếng
ngón tay anh thủ thỉ, trong bàn tay em chiếc lá non mềm”… Cứ như vậy, những
“binh đoàn” ngôn ngữ tình yêu cứ điệp điệp trùng trùng nối tiếp nhau, tưởng chừng
không bao giờ dứt. Vậy mà chàng trai lại ví “Từ nơi anh đưa sang bên nơi
em/Những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến/ Như tình yêu nối lời vô tận” thì
quá tuyệt vời.
Cũng viết về Trường Sơn những năm đánh Mỹ, tác phẩm Sợi
nhớ, sợi thương của Thúy Bắc khắc họa bức tranh tinh tế và sâu sắc về tâm
hồn người phụ nữ Việt Nam, được thể hiện qua khúc tình ca tuyệt đẹp, mang màu sắc
huyền thoại. Thiên nhiên hiện lên trong bài thơ thật khắc nghiệt:
“Trường Sơn Đông
Trường Sơn Tây
Bên nắng đốt
Bên mưa quây”
Trước hoàn cảnh ấy, nữ tác giả “giang tay”, “xoè tay” muốn
ôm ấp, chở che người thương của mình là người chiến sỹ đang làm nhiệm vụ nơi tiền
tuyến nhưng đành bất lực. Tuy vậy, với tình yêu rực cháy cùng niềm thủy chung
son sắt và sự hy sinh to lớn, chị muốn “Rút sợi thương/ Chằm mái lợp”,
“Rút sợi nhớ/ Đan vòm xanh”, rồi dùng sức mạnh thần kỳ từ tình cảm thiêng
liêng ấy, hoá thân vào thiên nhiên, “nghiêng sườn Đông”, “nghiêng sườn
Tây” để “che mưa”, “xòa bóng mát” nhằm che chắn cho người
thân. Kết quả - dù chỉ là trong ước vọng - chị đã tạo nên một khung cảnh dịu êm
và thơ mộng: “Rợp trời thương/Màu xanh suốt”. Giữa không gian huyền
diệu ấy, người phụ nữ vui mừng và hạnh phúc thể hiện ý chí của mình: “Em
nghiêng hết/ Về phương anh”. Đó là một hình ảnh tuyệt đẹp của tình yêu, biểu
thị sự toàn tâm toàn ý dâng hiến cho người mình yêu thương nơi chiến hào của phụ
nữ Việt Nam. Để khắc hoạ bức tranh trên đây, tác giả đã sử dụng thể thơ ba chữ,
mỗi khổ hai câu, tạo nên hệ thống ngôn từ ngắn gọn, súc tích và thống nhất; nhịp
điệu thơ dịu dàng, nữ tính nhưng nhanh và dứt khoát. Ngôn ngữ thơ được chọn lọc
kỹ. Chữ “đốt” và chữ “quây” được sử dụng đắc địa, đặc tả
tính chất khắc nghiệt của thiên nhiên. Tác giả cũng đã dùng các hình ảnh đối lập
như “nắng đốt” - “mưa quây”, hoặc ẩn dụ như “sợi nhớ” - “sợi
thương”, “chằm mái lợp” - “đan vòm xanh” đầy sáng tạo và đọc đáo, tạo nên
hồn cốt tác phẩm. Tuy các yếu tố thực, hư đan xen nhau và chủ yếu là sự tưởng
tượng của nữ nhà thơ nhưng ta cảm thấy trân trọng tư tưởng, tình cảm của tác giả
và tin rằng, trước tấm lòng cao đẹp ấy, người thân của chị và các đồng đội sẽ
vượt qua mọi thử thách, gian truân để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Dù thế giới rộng mở, thơ không bị giới hạn thời gian, không
gian và không hề đơn độc. Có khi tác phẩm tạo sức hút mạnh mẽ bởi chất thơ được
kết hợp nhuần nhuyễn với âm nhạc, hội hoạ, điện ảnh, tạo nên âm hưởng dạt dào,
say đắm như các câu thơ trong bài thơ viết về đất nước bạn của Tố Hữu:
“Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trắng, nắng tràn”.
Cũng có khi sự lôi cuốn đến từ các màu sắc của sự sống và hạnh
phúc hiện lên một cách tươi đẹp, thần kỳ từ những mất mát, hy sinh của biết bao
đồng bào, đồng chí trong cuộc chiến chống quân thù như ở tác phẩm Hoan hô
chiến sỹ Điện Biên của tác giả:
“Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam
Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng”.
Trong gia tài thơ của các tác giả, nhất là những tác giả lớn,
nhiều khi chỉ cần một vài bài, thậm chí một vài câu đã có thể gợi nên cả một
chân trời suy tưởng. Với Nguyễn Đình Thi, đó là bài thơ Đất nước nổi
tiếng cùng hai câu kết hào sảng: “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Giũ bùn đứng dậy
sáng lòa”. Một trong những lý do để Chế Lan Viên chiếm được tình cảm của
người đọc là sức lan toả của hai câu thơ trong tác phẩm Tiếng hát con tàu: “Khi
ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”. Hoàng Trung Thông khẳng
định vị thế của mình qua Bài ca vỡ đất với hai câu kết bất hủ: “Bàn
tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Chính Hữu lưu danh
bằng bút pháp tả thực và lãng mạn với hình ảnh độc đáo trong tác phẩm Đồng
chí: “Đầu súng trăng treo”…
Thế giới của thơ rất kỳ vĩ, đa dạng và phong phú, trong phạm
vi một bài viết không thể nói hết. Một điều chắc chắn là sức mạnh và sự lan tỏa
từ thế giới kỳ vĩ ấy đã góp phần tạo nên “nền tảng tinh thần của xã hội”. Từ “nền
tảng” cao đẹp và vững bền ấy, bao thế hệ người Việt Nam đã không quản ngại
vất vả hy sinh, vững bước lên đường ra tiền tuyến chống giặc hoặc tích cực cống
hiến sức lực, trí tuệ của mình trên các mặt trận lao động sản xuất, công tác và
học tập. Thế giới kỳ vĩ của thơ đã góp phần tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn,
giúp họ lập nên những kỳ tích trong Cách mạng tháng Tám, các cuộc chiến tranh
giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước.
Các nhà thơ không phải tự nhiên sinh ra để làm thơ. Phần lớn
họ tự gắn cái “nghiệp” làm thi sỹ lên vai mình, mặc dù, thời nào cũng vậy, hầu
như ít ai có thể đủ sống bằng cái “nghiệp” ấy. Như thân tằm rút ruột nhả tơ,
các nhà thơ đào xới trong cõi lòng mình để khai quật ra từng con chữ tạo nên những
đứa con tinh thần góp làm của cái chung cho nhân quần. Để làm được điều
đó, cũng như bao nghệ sỹ khác, các nhà thơ phải đổ mồ hôi và nhiều khi cả máu nữa.
Nhờ sự hy sinh thầm lặng ấy, tình yêu thương giữa con người với con người ngày
một nảy nở, thế giới càng thêm tươi xanh, cái đẹp đơm hoa kết trái, cuộc sống
thêm tươi vui, an bình và hạnh phúc. Cũng chính vì vậy, vai trò, sự đóng
góp của họ cho cuộc đời không hề nhỏ.
17/11/2025
Nguyễn Quế
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét