Những vần thơ sáng nghĩa
kim bằng
* Thương nhớ Trịnh Bửu Hoài
Nhà thơ Trinh Bửu Hoài là người bạn văn tốt của tôi đã quen thân nhau từ năm 1970 khi anh hoạt động văn nghệ ở An Giang. Cách nay hơn 10 năm, sau khi nhà văn quá cố Nguyễn Khai Phong đã vài lần giục tôi làm đơn xin gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam cùng với tán thành của nhà thơ đánh kính Trịnh Bửu Hoài. Dù biết ở Cần Thơ mình là người mồ côi, kém tài lại vụng về trong giao tiếp nên ít có bằng hữu tình thâm, năm 1918, tôi vẫn đánh bạo nghe lời những người bạn tốt xin vô Hội Nhà văn Việt Nam với sự giới thiệu nhiệt tình cùng lúc của các nhà văn : Nguyễn Khai Phong, Trịnh Bửu Hoài, Lê Đình Bích, Lương Minh Hinh, Nguyễn Trọng Tín. Mặc dù biết rằng với mình, con đường về La Mã vẫn còn diệu vợi ! Hôm nay, nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã về với cõi Ly Tao bất diệt, tôi viết bài này để ân tình bày tỏ lòng nhớ ơn anh, một thi sĩ tài hoa nhân cách rất tốt với bạn bè.
Trong đội ngũ những nhà thơ hàng đầu ở phương Nam, Trịnh Bửu Hoài sở hữu một sắc thơ hồn hậu và dễ thương với bút pháp dung dị mà kinh điển. Trịnh thi sĩ cũng viết báo, truyện ngắn, tiểu thuyết, biên khảo… nhưng sự nghiệp của anh tập trung vào lĩnh vực thi ca gồm nhiều tập thơ, trường ca và tiểu thuyết. Số tác phẩm xuất bản khoảng trên 60 quyển. Hai bài thơ được phổ nhạc: Cánh phượng hồng thuở xưa (NS Anh Bằng), Làm thơ tình em đọc (NS Trúc Hồ).
Nhà thơ đã kinh qua nhiều
chức vụ: Phóng viên đài phát thanh, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Châu Đốc,
Chủ tịch Hội Liên Hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Anh Giang, Phó Ban Công tác Hội
Nhà văn Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long. Và là Hội viên của: Hội Nhà văn
Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và Hội Khoa học
Lịch sử Việt Nam.
Đất An Giang, miền biên
thùy Tây Nam tổ quốc với đồng lúa mênh mông và núi rừng bạt ngàn là vùng đất
linh nhân kiệt về lịch sử văn hóa. Bác Tôn Đức Thắng kính yêu, hai nhà văn lớn
cùng được giải Hồ Chí Minh là Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo. Nhà thơ Viễn
Phương, nhà văn Nguyễn Văn Hầu, các nhạc sĩ Hoàng Việt, Phan Nhân…nghệ sĩ Thẩm
Thúy Hằng, ông hoàng dĩa nhựa Tấn Tài, soạn giả Thái Thụy Phong… Trong lĩnh vực
thi ca, Trịnh Bửu Hoài là một khuôn mặt thơ quen thuộc trong nước có khối lượng
tác phẩm nhiều và đa dạng ở phương Nam.
Trịnh Bửu Hoài (sinh năm
1952) là tên thật, người xã Mỹ Đức, tỉnh An Giang. Say mê văn nghệ và sách vở từ
thuở còn ngồi trên ghế trường tiểu học, mới 14 tuổi (năm 1966), Trịnh Bửu Hoài
đã cầm bút làm thơ. Khoảng thời gian này, Mỹ đưa quân trực tiếp vào miền Nam,
tôi trốn quân dịch, bỏ trường Trung học ở một huyện xa về tỉnh nhà ẩn náu dạy
tư và chủ trương tạp chí Văn nghệ Miền Tây cùng một nhóm sinh viên học sinh và
trí thức, nhà văn tiến bộ: Nguyễn Bá Thế, Sơn Nam, Kiên Giang, Hoài Nam Tử, Lý
Thị Kim Xương, Giáo sư: Nguyễn Bá Thảo, Nguyễn Đức Minh, nhà giáo Nguyễn Văn Xứng,…
Tôi vừa đi dạy học, vừa viết báo và mở phòng tranh theo sở thích của mình.
Tây Đô lúc này ở trong
không khí hoạt động văn nghệ, báo chí khá sôi nổi: nhà báo An Khê Nguyễn
Bính Thinh làm tờ Miền Tây ở đường Thủ Khoa Huân, gần Sở Bưu Điện – sau đó gần
10 năm, ông Hải cũng làm lại tờ Miền Tây ở đường Minh Mạng (nay là đường Đồng
Khởi). Tờ tạp chí có lửa Văn nghệ Miền Tây (1967-1970) của Nguyễn Thanh chủ
trương đặt tại Garage 2 Hòa Bình của gia đình anh Dương Văn Hóa cũng là một bạn
văn. Trong lúc đó, bạn thơ Lê Trúc Khanh phụ trách Thi Văn đoàn Về Nguồn trên
đài Phát thanh Cần Thơ, thường xuyên có chương trình văn nghệ khá sung
túc vào tối thứ năm hằng tuần. Tại căn hộ cặp sát lề đường số 11 đường Pasteur
– nay là Võ Thị Sáu – nơi nhà một chị bạn yêu văn nghệ Trương Huỳnh Mai có cà
phê Thằng Cuội. Nơi đường Cống Quỳnh, cạnh hồ Xáng Thổi bên bờ sông Cái Khế
lộng gió (gần cầu Nhị Kiều đường Hoàng Văn Thụ hiện nay) có Cà phê Sống vốn
là điểm gặp gỡ rầm rộ của anh em văn nghệ. Các bạn sinh viên, học sinh và văn
nghệ sĩ đất Tây Đô ngồi uống cà phê, nghe nhạc phản chiến, nhạc buồn của Trịnh
Công Sơn, Trúc Phương, Thanh Sơn,… và nghe nói về các đề tài nghệ thuật văn
chương trình bày bởi những văn nghệ sĩ nổi tiếng vào những chiều thứ bảy.
Trong không gian sinh hoạt
văn nghệ rầm rộ ở Đồng bằng Sông Cửu Long lúc bấy giờ, tôi và Trịnh Bửu Hoài đã
nghe biết tiếng nhau, cùng quý trọng nhau ở sở thích và đam mê, nhưng ở xa nhau
nên chưa hề gặp mặt một lần hoặc cùng ngồi uống cà phê và tán gẫu chuyện văn
chương. Mãi cho tới sau ngày hòa bình thực sự lập lại trên quê hương, qua báo
chí và tác phẩm xuất bản thêm của anh, và những lần đi thực tế ở Núi Cấm, An
Giang, tôi mới có dịp được hiểu nhiều về cuộc đời và thân thế của nhà thơ tài
hoa Trịnh Bửu Hoài nơi miền biên thùy Tây Nam của tổ quốc.
Trịnh Bửu Hoài là chân
dung hồn hậu của một nhà thơ tài năng và đa dạng, nổi bật ở nhiều bình diện văn
hóa. Sự nghiệp văn chương phong phú của anh là những tác phẩm văn học mang chủ
đề tư tưởng thâm thúy và lành mạnh mà nhiều bạn thơ, nhà phê bình như nhà
thơ Lê Thiếu Nhơn, nhà văn Mường Mán, nữ nhà văn Trầm Nguyên Ý Anh… đã có dịp
nói đến trong các bài tiểu luận về nhà thơ miền biên thùy Tây Nam bộ này.
Trong văn đàn thế giới,
ngoài tình yêu là chủ đề quan trọng trong thi ca đông tây xưa nay, tình bằng hữu
được coi là mảng đề tài sâu sắc mang tính nhân văn trong thi ca. Người yêu văn
chương không bao giờ quên tình bạn cao đẹp trong văn học dân gian hay bác học
qua các truyện nổi tiếng thể hiện mối tình thâm rực sáng nghĩa kim bằng như
Bá Nha-Tử Kỳ, Trần Minh-Nhuận Điền, Lưu Bình-Dương Lễ, Xuân Diệu-Huy Cận
hay Arthur Rimbaud – Paul Verlaine…
Với một tâm hồn lãng tử
phóng khoáng của người nghệ sĩ, Trịnh Bửu Hoài đã xuôi ngược sông hồ đây đó
ngay từ thuở mới cầm bút nên anh có nhiều cơ hội phơi trải lòng mình với
bè bạn văn nghệ tri âm ở ba miền đất nước. Ngoài miền đất mẹ Bảy Núi An Giang với
thế núi hình sông hùng vĩ hữu tình: Ngước mặt về tây, Thất Sơn sừng sững/
Áo giang hồ cuồn cuộn gió phương đông, nơi đâu “có chùm khế ngọt” và “con
đò nhỏ” từng đặt chân đến, nhà thơ cũng coi là quê hương và ai cũng là anh
em, bè bạn – tứ hải giai huynh đệ – Huống chi là người bạn đồng hương ngày xưa
vốn đã xem nhẹ cuộc đời dâu bể, tình cờ nhà thơ gặp lại nơi bến sông trăng. Bạn
xem công danh là phù vân, suốt đời lênh đênh mái chèo trên sông nước như chiếc
bèo nhỏ giữa trường giang mặc cho bao kẻ bon chen xuôi ngược vì vật chất áo
cơm: “Áo cơm không là nợ/ Hồn phơi phới ngàn lau/ Ai vào cuộc bề dâu/ Bạn
đùa trăng vọc nước (Bạn tôi)”. Ở đây, phải chăng người đọc cảm thấy tư tưởng
nhà thơ phảng phất một nhân sinh quan yếm thế của Lão Trang từng thể hiện trong
thi ca Việt Nam (Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…) và Trung Quốc (Lý Bạch,
Đào Tiềm…).
Hẳn là không. Vì lẽ đến
hôm nay, sau thời khói lửa tóc tang, đất nước đã thanh bình hơn bốn mươi năm,
nhân dân đã xây dựng lại quê hương trở nên giàu mạnh. Và mọi người ai cũng được
tự do, bình đẳng sống trong sự thụ hưởng vật chất và tinh thần trong đảm bảo an
ninh trật tự của một quốc gia hòa bình thịnh vượng. Nhà thơ, người nghệ sĩ, chắc
hẳn hơn ai hết đã đến lúc muốn được mở rộng vườn lòng sâu kín của mình để cộng
hưởng tất cả niềm vui đích thực từ cuộc đời sung mãn của mình cũng như đất nước
giàu đẹp của mình với bè bạn, anh em như câu nói lạc quan của một nhà
thơ: Đấy là quán tha hồ muôn khách đến hay là vườn chim nhả hạt
mười phương khi mọi người tình cờ được hội ngộ cùng nhau ở bất cứ nơi nào
trên non sông hoa gấm hôm nay.
Với tình cảm trong ấy,
khi dùng chân nơi xứ Huế với sông Hương thơ mộng và núi Ngự hữu tình, đã
vui mừng trong gặp gỡ anh em bao nhiêu, phút chia tay, Trịnh Bửu Hoài càng cảm
thấy lưu luyến ngậm ngùi bấy nhiêu: Chúc bạn về ngủ ngon/ Nhưng ta
làm sao ngủ được…/ Huế thơ mà bạn ta nghèo/ Quá đêm còn nằm thao thức/ Nhậm
ngùi một mảnh trăng treo. Đến phố cổ Hội An, Quảng Nam trầm mặc u huyền,
được quen thêm bạn mới. Khi giã biệt nhà thơ khôn ngăn nỗi bịn rịn, muốn bạn
theo luôn mình xuôi về phương Nam: Mênh mông tình người xứ Quảng/ Theo ta…
xuôi về phương Nam (Về phố cổ). Một chiều đến Sa-Pa mộng mơ, cheo leo trên
đỉnh Hoàng Liên Sơn sương giăng mây phủ, hồn thơ cảm thấy chơi vơi, thăng hoa
như trút bỏ hết được mớ bòng bong ưu nhân thế trức ánh mắt hồn nhiên tình tứ của
cô gái Mèo: Chiều Sa-Pa sương giăng mịt mùng/ Tôi lạc vào nẻo hư hay thật/
Cô gái Mèo hồn nhiên ánh mắt/ Tôi bỏ ưu tư ở lại bên trời (Chiều Sa
Pa).
Cả những ngày đầy nắng ở
Tây Nguyên mịt mùng sương mù phố núi càng làm cho nhà thơ nhớ thương dào dạt về
người bạn thơ ngày xưa thân phận long đong trôi dạt mà không buồn độc ẩm: Ta
về Pleiku thương người bạn cũ/ Ta ngó núi không buồn rót rượu/ Nằm nghe rừng
núi hát thơ người… Tình bạn ở Trịnh Bửu Hoài là nghĩa tình sâu nặng, đằm
thắm cháy lên nồng nàn từ trái tim một nhà thơ rực sáng nghĩa kim bằng: Ta
về Pleiku một ngày đầy nắng/ Thêm chút mùa đông trên má hồng/ Nhớ anh ta một đời
lận đận/ Trôi dạt đồng bằng sông nước mênh mông/ Lang thang Tây nguyên bồng bềnh
mây trắng/…Ta về Pleiku thương người bạn cũ/ Gió hạ Lào thông thốc thổi mây
trôi… (Về Pleiku nhớ bạn).
Tự muôn đời, ta thấy thơ,
rượu cả nhạc thường gắn liền với nghệ sĩ thi nhân, bè bạn như một định mệnh.
Rimaud-Verlaine với mối tình trai trong văn học Pháp rồi Lý Bạch, Tản Đà, Vũ
Hoàng Chương, Văn Cao, Trịnh Công Sơn… cùng bằng hữu tri âm đã để lại hậu thế
những vần thơ tuyệt bút ngan ngát men nồng. Vì lẽ, vắng bạn thì nhà thơ lấy ai
để cùng đối ẩm và tâm sự hàn huyên: Ra đi hồn chở đầy cố xứ/ Đêm dài ai uống
rượu tri âm (Tiễn bạn). Những vần thơ tiễn bạn của Trịnh Bửu
Hoài mang âm hưởng ngậm ngùi khiến tôi nhớ đến bài thơ “Lâm giang tống Hạ
Chiêm” (Bên sông tiễn Hạ Chiêm) của thi sĩ thời Trung Đường Bạch Cư Dị (772 –
846): Bi quân lão biệt, lệ triêm cân/ Thất thập vô gia vạn lý thân/ Sầu kiến
chu hành phong hựu khởi/ Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân ( Muôn dặm thương anh,
lệ biệt sầu/ Bảy mươi tuổi tác cửa nhà đâu/ Buồn trông trận gió theo thuyền nổi/
Sóng bạc đầu quanh khách bạc đầu – Tản Đà dịch thơ). Giọng thơ tiễn bạn
của Trịnh Bửu Hoài – tâp thơ Ký ức – và tác giả Tỳ Bà hành đều lâm ly buồn não,
hoàn toàn khác biệt với phong cách nhà thơ Thâm Tâm (1917-1950) trong bài “Tống
biệt hành” với giọng hào sảng của kẻ nam nhi có chí khí và lý tưởng trong thời
chiến. Nhưng tôi thiển nghĩ hình ảnh người bạn hiện diện trong thơ Trịnh Bửu
Hoài có lẽ cũng gián tiếp nói lên một phần mặc cảm cô đơn trong cuộc sống
của nhà thơ mà ít ai biết được! Về bút pháp, nhìn chung, thơ Trịnh Bửu Hoài dựa
trên nền tảng thơ mới phá cách: ngũ ngôn, lục ngôn rồi 7 chữ, 8 chữ nhưng giai
điệu, cung bậc luôn thay đổi. Ngôn ngữ chọn lọc, giàu hình tượng, câu thơ dài
ngắn khác nhau diễn tả thích hợp với biến thiên tình cảm mang mang trong lòng kẻ
ở người đi và người đọc.
Hôm nay, chinh chiến đã
lùi xa, đạn bom im tiếng, từ cuối miền đất nước, Trịnh Bửu Hoài có cơ hội đi
qua miền Trung gió Lào cát trắng để “hành Tây Bắc” – chiếc nôi ấm huyền thoại của
cách mạng qua hai cuộc đấu tranh thần thánh và chiến thắng vĩ đại của dân tộc.
Đến đâu, nhà thơ cũng cùng nhau thù tạc chuyện trò, trong không khí tình cảm “tứ
hải giai huynh đệ” (bốn bể đều là anh em) khiến tác giả càng có thêm những vần
thơ ấm nồng tình bạn…
Dù sở hữu số lượng đồ sộ
về thi tập, nhưng ít ai ngờ nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã từng là tác giả của một
best-seller (sách bán chạy nhất) bán đắt như tôm tươi. Theo nhà thơ quen thuộc
Lê Thiếu Nhơn, cuối những năm của thập niên 1980, Trịnh thi sĩ đã từng viết 20
tiểu thuyết trong đó quyển truyện dài “Tình yêu đâu phải là trò chơi” từng được
hơn ba nhà xuất bản săn đón in trên 70 ngàn cuốn. Sự hấp dẫn của “Tình
yêu đâu phải là trò chơi” khiến cho một người đã nhái theo, viết cuốn Tình
yêu đâu phải là trò đùa nhưng ký tên Trịnh Vũ Hoài để đánh lừa độc giả. Vỡ
lẽ ra rùm beng chuyện đạo văn, cục Xuất bản ra lệnh thu hồi cuốn truyện
nhái Tình yêu đâu phải là trò đùa của Trịnh Vũ Hoài!
Tình bạn thơ Trịnh Bửu
Hoài nói đến đích thực là tình bằng hữu mang ý nghĩa tình bầu bạn thủy chung
cao đẹp trong đời người, không tương đồng với tình cảm giữa những bạn đời, bạn
tình, bạn đường, bạn đồng chí (comrade)… Và hôm nay – nhà thơ Trịnh Bửu
Hoài-người nhiều sách ở miền Tây – đã nghỉ ngơi, nhưng vẫn hồn
nhiên mỗi ngày theo đuổi chữ nghĩa với đau đáu nhân sinh “không còn ai bên máy
chữ gọi thơ về”.
25/9/2024
Nguyễn Tấn Thành
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét