Nội trú trong ta một nỗi buồn
(Đọc “Năm ngón chưa đặt
tên” của Đinh
Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2024)
Tôi ấn tượng với “Năm
ngón tay chưa đặt tên” ngay từ hai bài thơ đầu tiên: “Vẫn thế nhiều khi” và
“Cánh đồng”. Một bài viết về em (tình yêu) và một bài viết về cánh đồng (quê
hương).
Trong cái nhịp thời gian “Ngày đung đưa/ Tháng đung đưa/ Em và anh ngồi trên cánh võng/ Lắc qua ngày, lắc qua đêm” và ví “Thời gian quanh ta là con chó nhỏ”, Đinh Nho Tuấn nhận thấy em lớn lao đến mức: “Những ngày em xanh rất tuyệt/ Trái đất quay vì có em/ Những ngày em lệch lạc/ Em vùi trái đất vào đêm”. Khi yêu, con người ta thường tuyệt đối hóa tình yêu như vậy, coi tình yêu lớn lao như vậy! Đó là điều dễ hiểu và dễ giải thích. Rồi tình yêu cứ thế mà trào dâng như một lẽ tự nhiên: “Những vần thơ anh không bằng ngôn ngữ/ Xin vang lên như triệu triệu vòng ôm”.
Viết đến đây, tự dưng tôi
lại nhớ đến một bài thơ có cái tứ thật khác người của Đinh Nho Tuấn, cũng viết
về tình yêu: “Sao em nhiều thế em ơi!”. Một em mà trở thành nhiều em, nhiều
em mà vẫn chỉ là một em và có xuất phát từ em... Đó là một ý tưởng hay, chỉ có
người nào thực sự yêu, thực sự sống với tình yêu, thực sự say đắm với tình yêu,
mới có thể viết ra được như thế!
Trong “Cánh đồng”, nhìn
bông lúa mà nảy sinh ý nghĩ như thế này, tâm trạng như thế này, thì cũng thật
là hiếm hoi: “Nặng lòng/ Mỗi bông treo hàng trăm mặt trời/ Cúi đầu trùng trùng
câu hỏi”. Rồi cũng từ đấy mà hốt nhiên bật ra: “Còn lúa là còn quê hương/
Còn cánh đồng là còn lối ta về”, thì thật là sâu sắc và chí lý!
Đó là hai câu thơ cho thấy
“lúa” và “cánh đồng”, quan trọng đến mức nào đối với làng quê Việt, làm nên sự
sống còn của làng quê Việt, là chứng chỉ của làng quê Việt và đây cũng là những
lời xác quyết như “dao chém đá” về “lúa” và “cánh đồng”.
Cũng ít người, tri ân lúa
hết mực như Đinh Nho Tuấn: ”Dành cho lúa những lời thứ nhất/ Dành cho lúa những
lời sau cùng” và cũng ít người, canh cánh nỗi lo mất ruộng, mất làng đến
xót xa như Đinh Nho Tuấn: “Tháng năm ăn hết những cánh đồng/ Những ngôi nhà nuốt
hết những cánh đồng” để đến mức chỉ còn “Tiếng côn trùng/ Dắt nhau về những khoảng
không/ Sót lại”. “Ăn” và “nuốt” là hai động tự mạnh, đã gọi sự vật với đúng tên
gọi của nói, nói đến sự tàn phá đến mức huỷ diệt của thời đô thị hóa mang màu sắc
thị trường.
Cố hương trong “Năm ngón
chưa đặt tên”, lúc nào cũng đằm sâu ký ức với những kỷ niệm đẹp đến nao lòng và
“lâu đến bao nhiêu cũng không già”: “Tắc kè thảng thốt đêm không trăng/ lung
linh tàn tro, cong dáng người nhóm bếp/ bụi tre gai sao đêm nào cũng khóc/ đêm
bao mươi oa oa bật lên khỏi tro vùi” (“Nồi bánh đêm ba mươi”), “Làng tôi
xanh một vệt dài đuôi mắt/ Sống bình yêu như một đóa hoa rừng/ Lấy tiếng diều từ
linh hồn của đất/ Làm nắng vàng, trăng sáng, mưa tuôn” (“Tôi rơi về làng tôi”),
“Đất còn run, ngày còn se lạnh/ Nước co ro, cỏ tai tái đôi bờ/ Mặt trời xa, nắng
vẽ vầng ánh sáng/ Ru nỗi buồn mắt hồ biếc vu vơ” (“Đồng quê”)...Và những cái đã
qua ấy đã trở thành cái nhớ dai dẳng đến nỗi:
Ký ức dội về hạnh phúc,
khổ đau
Làm sẹo trên thân tôi da
thịt...
(“Ký ức”)
Trở lại với em (tình
yêu), ít nhất Đinh
Nho Tuấn có hai tứ thơ: “Khi còn năm ngón chưa đặt tên” và “Mười ngón
chưa đặt tên”. Rõ ràng ở đây, ngón (tay) đã trở thành biểu tượng. Nếu trong
“Khi còn năm ngón chưa đặt tên” có năm ngón chưa đặt tên, thì trong “Mười ngón
chưa đặt tên” lại có đến cả mười ngón chưa đặt tên. Vậy là mỗi ngón cũng có mỗi
ngôn ngữ của riêng nó, mà chỉ những lứa đôi mới gọi ra được, đọc ra được như một
mật ngữ của tình yêu. Chắc chắn, trong mười ngón đó, chất chứa rất nhiều bí ẩn,
chưa dễ giải mã được. Và đó cũng là thế giới riêng của tình yêu. Không thế, tại
sao Đinh Nho Tuấn lại hạ bút: “Mười ngón chưa đặt tên/ Thoa dịu mái đầu phủ
khói và trái tim ngập tràn nỗi đau anh/ Anh không thể tưởng tượng nổi mình ngờ
nghệch đến mức nào/ Khi chưa đặt tên cho mười ngón”.
Thơ tình của Đinh Nho Tuấn
đau đáu nỗi niềm, nhiều lúc chữ như cuộn xoáy vào nhau, xoắn xuýt vào nhau để
sinh nghĩa mới: “Vết anh, vết em ăn vào nhau da thịt” (“Cho em ngày cạn”), “Thì
em hỡi đời người như gió thơm/ Tình yêu đó không bao giờ nguyên khối/ Bao mảnh
vỡ chính là ta nhập lại/ Rồi tan ra từ giây phút lúc này” (“Phép màu”), “Trời
đất giao thoa, cánh nhạn thiên di/ Khi xa em, gia tài là nỗi nhớ/ Trăn trở, mơ
hồ gửi vào giêng hai/ Theo cánh chim trời bay đi muôn ngả” (“Nhớ”)...Riêng
trong “Logic em”có bốn câu hay ở cách nói, lại rất thi sĩ:
Không phải mùa khô đâu
anh
Đó là mùa bầu trời quên
khóc
Không phải mùa mưa đâu
Đó là mùa lệ dâng đầy mắt.
Nhiều bài thơ đạt về tổng
thể, trong đó có “Tấm nhân từ đâu có quê hương”. Chỉ tên bài thơ này, riêng câu
thơ này, đã được coi là một phát hiện. Còn những câu thơ hay có sắc thái tình cảm,
có phần tài hoa và tài tình cũng không hiếm: “Nội trú trong ta một nỗi buồn”
(“Chốn điêu linh nhịp thở không màu”),“Nếp thơm trong chén hay lửa đắng/ Nuốt
vào mình thành ngụm rưng rưng” (“Ly rượu đầu năm”), “Tay ấp thiền cho năm
ngón có đôi” (“Tay ấp thiền cho năm ngón có đôi”)...Tôi dám chắc, cũng ít người
viết về chữ “dưng” lạ và biến ảo như Đinh Nho Tuấn:
Duyên kiếp nhân gian hay
biết mấy
Dưng dửng ngàn năm vẫn
dưng thôi
Em đi dưng này sang dưng
khác
Thoắt cái dưng thầm em là
tôi.
Cho dù phải “bơi trong đời
rộng/ vẫy vùng nước mắt nhân gian”, sống trong “nạn đói tình người” và đôi khi
phải “đâm sầm vào nhân tình thế thái”, nhưng về mặt thái độ và bản lĩnh của
Đinh Nho Tuấn, lúc nào cũng quyết liệt, nhất quán. Anh chấp nhập đến mức: “Ngọt
ngào và mặn chát/ Xin cứ hắt vào tôi” (“Ly rượu tháng tư”). Anh coi: “Mải miết
chết bằng mải miết sống” (“Hoa lộc vừng”). Anh luôn sẵn sàng “năm ăn năm thua”
với chính mình trước trang giấy trắng: “Tôi vẫn viết như ngày mai tuyệt chủng”
(“Tôi thách tôi”). “Đêm” vẫn “đuổi theo ngày”, “ngày” vẫn “đuổi theo đêm” theo
quy luật tự nhiên, cũng giống như “không ai đốt nhưng phượng hồng vẫn cháy”,
còn nhà thơ của chúng ta thì “đuổi theo những ký tự”, “ẩn trong phe nước mắt
quê hương” mà làm thơ hết mình một cách tự thân.
Nói không quá thì “Năm
ngón chưa đặt tên” giống như một tòa nhà thơ có nhiều cánh cửa để đi vào và
chính ở đó, mỗi cánh cửa như mở ra một điều gì đó mà độc giả hằng trông đợi.
Phố Khuất Duy Tiến, 23/9/2024
Đặng Huy Giang
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét