Thấy gì từ “Ký họa thơ” của Nguyên Hùng?
Bài đăng Tạp chí Nhà văn và Cuộc sống:
Cầm Ký họa thơ của Nguyên Hùng trên tay,
ấn tượng trước tiên mà tôi nhận được là từ bìa sách đồng hiện một bức tranh đa
sắc mầu... với những là một nửa hình ảnh các gương mặt
văn nhân... Và giữa đó nổi lên, thật rõ ràng, ba chữ tên gọi tập sách, mà
ngay dưới đó là cái ngoặc đơn này: “(81 chân dung văn học)”...
Hình ảnh bìa sách đậm chất
biểu trưng, ẩn dụ chuyển đi từ nơi đó không chỉ là thông điệp tư tưởng của tập Ký họa thơ, mà còn cũng chính từ bìa sách
đó, sức hấp dẫn người đọc đã được tạo ra... Có đến 81 văn nhân đã được ký họa,
khiến tôi rất muốn cầm lấy sách để mở ra xem, nhất là những văn nhân mà tôi từng
biết; khuyến – động tôi lật tìm xem những văn nhân mà tôi chưa biết.
Tôi hồi hộp tự hỏi,
Nguyên Hùng đã Ký như thế nào, đường nét có thật không;
đã Họa ra sao, sắc mầu có giống không; những văn nhân được
Nguyên Hùng vẽ bằng Thơ ấy, có Thơ không? Ký họa
thơ của Nguyên Hùng, tóm lại là ĐẸP hay XẤU? Bìa sách càng
tạo sức hấp dẫn, gây xung động hồi hộp đối với tôi. Bởi tôi biết, sẽ là rất khó
khi vẽ chân dung văn học của văn nhân, nhất là lại vẽ bằng thơ!
1. Đọc Ký họa
thơ, tôi thấy trên tất cả là tình yêu văn chương và tấm lòng quý yêu bạn văn của
Nguyên Hùng. Bằng “Lời tác giả”, Nguyên Hùng chia sẻ: “Đây chưa
phải là tập hợp những gương mặt tiêu biểu được chọn, mà chỉ gồm các phác họa về
những tác giả thân quen, hoặc những tên tuổi lớn mà tôi được đọc, ít nhiều hiểu
về họ và đem lòng quý mến”.
Vâng! Đúng chất giọng
chân thành của một nhân cách khiêm nhường rồi! Sau bìa sách, được đọc
thêm “Lời tác giả” như trên kia nữa, tôi lại càng thêm đồng cảm
hơn... Và, tôi đã xem Ký họa thơ một mạch từ đầu đến cuối... Để khi gấp
tập sách lại rồi... tôi lại mở ra xem lại... nhất là những bức chân dung mà bản
thân tôi cũng thực sự thích thú... (vui như chính mình đã vẽ được nên nó).
Với Ký họa thơ,
tôi thấy, quả thực Nguyên Hùng không có động cơ, không đặt ra mục đích
làm “Chân dung văn học”, như một nhà văn viết chân dung văn nhân, cũng
không như một nhà nghiên cứu sử học văn chương làm TUYỂN VĂN. Tập Ký
họa thơ cho tôi thấy, là một nhà thơ, trên tất cả, Nguyên Hùng chỉ muốn
bày tỏ sự yêu quý và mê say hứng khởi biểu thị quý yêu riêng mình, bằng cách khắc
họa chân dung về những văn nhân mà anh đồng cảm được với tất cả tấm chân tình của
anh...
Tuy nhiên, không gian, thời
gian và con số những gương mặt, được Nguyên Hùng hướng đến và đồng cảm nhận, là
khá sâu rộng, đã cho thấy diện hiểu biết và năng lực ký họa của anh, nhìn từ tầm
vóc và giá trị sử lịch (chữ dùng của Bùi Giáng) về nhân diện văn
chương... quả thực là rất không nhỏ hẹp. Tôi và bạn đọc hoàn toàn có thể
minh định điều này bằng một thông kê số lượng và phân loại chất lượng văn nhân
có mặt trong Ký họa thơ một cách dễ dàng, mau lẹ và đơn giản, đúng
không!
Trong Ký họa thơ có “Lá
cờ đầu” của thơ ca cách mạng, cũng đồng thời là một nhà lãnh đạo, từng giữ
trọng trách Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng (Phó
Thủ tướng Thường trực), đó là nhà thơ lớn Tố Hữu. Góp mặt trong ký họa của
Nguyên Hùng, thời đổi mới xây dựng Kinh tế thị trường, còn có nguyên Ủy viên Bộ
Chính trị, đó là nhà thơ tài danh Nguyễn Khoa Điềm. Bạn đọc cũng dễ dàng nhận
ra những yếu nhân văn chương thế kỷ XX, như Văn Cao, Huy Cận, Chế Lan Viên,
Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi...; những gương mặt đã và
đang chốt định những vị trí quan trọng như Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật, Xuân
Quỳnh, Nguyễn Duy, Trần Mạnh Hảo, Vương Trọng...; những ngôi sao đã tỏa sáng
như Nguyễn Minh Châu, Thu Bồn, Nguyễn Trọng Tạo..., và đang ngày một sáng lên
như Trần Đăng Khoa... hay Nguyễn Phúc Lộc Thành...
Từ đó, tôi thấy cảm hứng
“vẽ” chân dung văn nhân của Nguyên Hùng hẳn là đã đến với anh trước hết như một thú
chơi Thơ... cứ như người ta chơi chim trời, cá nước vậy mà. Rồi khi tôi biết,
có đến con số cả trăm văn nhân đã được Nguyên Hùng phác họa, dù chỉ mới 81
gương mặt được anh chọn vào tập Ký họa thơ để xuất bản kỳ này, thì
tôi đã thấy thêm một điều ý nghĩa nữa, là chính Nguyên Hùng, dù vẫn đang vô tư
vui thú vẽ chân dung, nhưng quả thực là anh đang phục dựng lịch sử văn
chương... Đọc xong sách rồi, tôi không thể không cảm ơn Nguyên Hùng, bởi tôi đã
thấy, chẳng những thật sâu nặng và hiếm hoi là tình cảm và đam mê anh dành cho
các tên tuổi lớn và bạn bè văn chương mà anh “...đem lòng quý mến...”; mà
sẽ còn đó là những giá trị sử lịch văn học mà anh đã xây dựng được.
2. Có đúng thật là thế
không thì xin bạn đọc hãy nhìn ngắm “81 chân dung văn học” kia, để thấy
nổi lên hai sắc mầu chính yếu mà Nguyên Hùng đã dùng để ký họa. Đó là thành tựu
văn chương và đặc trưng thân phận của văn nhân. Chính là tác phẩm và con người
làm nên tác phẩm ấy. Với hai sắc mầu chủ đạo đó, Nguyên Hùng đã đặc tả, khắc họa
nên những gương mặt văn nhân thật ĐẸP như tình yêu anh giành cho họ,
bằng bút pháp thơ của anh.
Tôi xin dẫn một thí dụ
thôi, như về Văn Cao, bức chân dung được Nguyên Hùng vẽ bằng thơ của anh đây:
VĂN CAO
Trai Hải Phòng
trong Một đêm Hà Nội
Hồn mơ màng theo
khúc Thiên Thai...
Những bản tình ca
như Suối mơ mềm mại
Như khói như sương như Lá ra đời.
Cung đàn xưa gọi mời Đàn
chim Việt
Cho Làng tôi ríu
rít những Ngày mùa
Trường ca Sông Lô thẳng Tiến
về Hà Nội
Cùng triệu tim hồng hòa Tiến quân ca.
Một
đêm đàn lạnh trên sông Huế
Càng ngẫm càng yêu Khuôn
mặt em
Càng thương Những
người trên cửa biển
Bạc đầu chờ Mùa xuân đầu tiên.
Anh có nghe không những
bài ca sống lại
Về Bến xuân hát
mãi không thôi?
Tự lúc nào trong âm thầm
gác tối
Buồn tàn thu ám vận
suốt một đời?
[Những chữ đậm trong bài
thơ là tên của những bản nhạc bất hủ, những bài thơ chan chứa tình đời của Văn
Cao].
Bức Ký họa về Văn Cao của
Nguyên Hùng chỉ có 16 câu thơ, nhưng xem ký họa này, tôi đã thấy hiện rõ
một Văn Cao thiên tài âm nhạc, cùng một Văn Cao tài danh thơ rất Văn Cao.
Với mảng mầu âm nhạc,
Nguyên Hùng đã đưa vào ký họa 13 nhạc phẩm nổi tiếng từ trước và sau Cách mạng
Tháng Tám 1945 như: Buồn tàn thu, Thiên thai, Bến Xuân, Suối mơ, Đàn chim
Việt, Trường ca Sông Lô, Làng tôi, Cung đàn xưa, Ngày mai, Tiến quân ca,
Tiến về Hà Nội, Ngày mùa và nhất là nhạc phẩm Mùa
xuân đầu tiên.
Tôi chỉ xin lưu ý bạn đọc,
riêng Mùa xuân đầu tiên, đã đủ khắc họa được một thiên tài âm nhạc
Văn Cao. Ca khúc Mùa xuân đầu tiên ra đời trong dịp Tết Bính Thìn
1976 để mừng “kháng chiến đã thành công” (Phạm Tuyên), nước nhà đã Thống
nhất; Mùa xuân đầu tiên cũng là tiếng lòng Văn Cao cất lên sau
20 năm (1955 – 1975) bị buộc phải im lặng... nhưng rồi liền ngay sau đó, nó lại
đã bị cấm hát trong suốt 24 năm (1976 – 2000)...
Riêng mảng mầu thơ ca, số
lượng hiện diện trong chân dung này chỉ có 7 tác phẩm, bằng phân nửa mảng mầu
âm nhạc. Đó là những thi phẩm: Anh có nghe không, Một đêm Hà Nội, Khuôn mặt
em, Một đêm đàn lạnh trên sông Huế, Lá (tập thơ xuất bản năm 1988), Có
lúc, Những người trên cửa biển (trường ca). Tôi chỉ dẫn lại đây một câu
thơ trong Ký họa của Nguyên Hùng: “Càng ngẫm càng yêu Khuôn mặt em”; và thay vì bình luận câu thơ này của
Nguyên Hùng, tôi xin dẫn nguyên văn trọn vẹn bài thơ Khuôn mặt em, mà
Văn Cao viết về người vợ yêu thương của mình, bà Nghiêm Thúy Băng... ra đây để
chúng ta cùng đọc:
Khuôn mặt em
Giữa những ngày dài dằng
dặc
Chỉ còn khuôn mặt em
Sáng trong và bình lặng
Dù hai đứa chúng ta
Chưa lúc nào sung sướng
Những ngày đau khổ ấy
Khuôn mặt em
Như mảnh trăng những đêm rừng cháy
Trên đường đi
Anh đặt em trên đồng cỏ
Thấy đẹp mãi màu xanh cỏ dại
Trên đường đi
Anh đặt em trên dốc núi
Để tìm lại những đường mềm của núi
Trên đường đi
Khuôn mặt em làm giếng
Để anh tìm lấy đáy ngọc châu
Ôi khuôn mặt sáng trong và bình lặng
Tôi được đầu tiên và còn lại cuối cùng.
Chân dung thơ khép lại bằng
hai câu thơ nhói lòng :
Tự lúc nào trong âm thầm
gác tối
Buồn tàn thu ám vận suốt một đời?
Ai đã biết Văn Cao một đời
sống trên căn gác hẹp; đã biết Buồn tàn thu là ca khúc đầu tay
nổi tiếng được Văn Cao sáng tác năm 1939 khi mới 16 tuổi; đã biết thủ
phạm bằng việc quản thúc ông suốt 30 năm, từ 1955, khi mới ngoài ba mươi
tuổi, cho đến tận ngày ông qua đời năm 1995; thì sẽ biết kẻ đã giết chết thơ ca
– nhạc họa của thiên tài Văn Cao là ai; thì mới biết cái “... ám
vận suốt một đời?”... Văn Cao là gì ?!...
Trên kia, tôi đã có một
lưu ý bạn đọc về ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” , là câu thơ thứ 12 của
bài thơ ký họa của Nguyên Hùng, nhưng là ghi dấu một sự kiện bi kịch thân phận
một đời của Văn Cao. Với sự kiện ấy, Nguyên Hùng chỉ phác một nét đồng cảm
tâm can: “Bạc đầu chờ Mùa xuân đầu tiên” thôi, nhưng đã
khiến trào lên biết bao nỗi niềm nhức nhối, bi phẫn khôn nguôi... Ai hôm nay
nghe Mùa xuân đầu tiên mà không khỏi ngậm ngùi, đắng cay, đau
xót... trong tưởng nhớ hình dáng Văn Cao ngồi gác tay lên cây đàn số
mệnh “...CHỜ...” Mùa xuân đầu tiên sẽ lại về... đến bạc trắng
mái đầu xanh... mà mùa xuân của Văn Cao vẫn không trở lại...
Còn chúng ta nay, dù vẫn
biết thi lễ trang nghiêm, mắt nhìn cờ Tổ quốc, miệng hát Quốc ca do Văn Cao
sáng tác, nhưng phần đông vẫn dè dặt, rón rén... không dám công nhiên thừa nhận,
ngay đối với cả những nhạc phẩm đã trở thành những tượng đài âm nhạc vĩ đại, những
thi phẩm đã trở thành những dấu mốc đặt nền móng cho một nền thơ ca trữ tình
lãng mạn mà Văn Cao đã để lại… Chỉ khi đã biết như thế về Văn Cao, thì đọc
hai câu kết bức tranh của Nguyên Hùng, ta mới thấy câu thơ ký họa kia gợi lên sức
liên tưởng về bi kịch thân phận kiệt cùng nghiệt ngã của Văn Cao...
3. Vậy là đã rõ! Cái ấn
tượng mà tôi đọc được, trong mỗi Ký họa thơ của Nguyên Hùng về bạn
văn của anh, bao giờ cũng không chỉ trước hết là văn tài đóng góp của văn nhân,
mà còn đồng thời là cả cái thân phận riêng có của riêng họ nữa. Đó là hai phẩm
chất, hai sắc mầu chủ đạo, hai chất liệu chính làm nên diện mạo văn nhân
mà Nguyên Hùng thường sử dụng để dựng nên những bức chân dung ĐẸP. Tôi đã
dẫn ra đây trường hợp Văn Cao, một gương mặt khó phục hiện nhất, bởi cả
văn nghiệp lẫy lừng, cũng như chướng nghiệp bão giông của Văn Cao đều thực sự
quá vĩ đại, thực sự quá phi thường. Dừng lâu nhìn ngắm ký họa chân dung Văn Cao
là để tôi nói rằng đó là thành công của Nguyên Hùng mà tôi ghi nhận được từ Ký
họa thơ của anh.
Thành công đó do
đâu?
Là nhờ thi pháp mà Nguyên
Hùng đã đặc dụng, biểu thị ở thủ pháp sắp đặt (Installation Art) lấy
ra từ nghệ thuật trưng bày gây ấn tượng tri giác ý niệm của triển lãm và thủ
pháp lắp ghép (Montage) lấy ra từ nghệ thuật không gian đa chiều đồng
vọng tri nhận ý niệm của điện ảnh.
Cần chứng minh ư? Thì đấy!
Ta đã xem và đã thấy thao tác đầu tiên của Nguyên Hùng là chọn lựa những
tác phẩm tiêu biểu của Văn Cao (cái có sẵn) và đưa nó vào câu thơ,
vào bài thơ (sắp đặt), để tạo dựng chân dung. Như vậy là Nguyên Hùng đã
dùng thủ pháp của nghệ thuật sắp đặt (Installation Art). Thí
dụ, những tên gọi của những tác phẩm của Văn Cao, chính là “cái có sẳn”,
và nó vốn đã là những ẩn dụ chuyển tải thông điệp tư tưởng của tác phẩm, được
Nguyên Hùng chọn ra, đặt vào Ký họa, chính là để biến nó thành ẩn dụ ý niệm cho
bức tranh ngôn ngữ của ký họa của anh.
Tôi dẫn xin làm thí dụ một
khổ thơ 4 câu này:
Một
đêm đàn lạnh trên sông Huế
Càng
ngẫm càng yêu Khuôn mặt em
Càng thương Những
người trên cửa biển
Bạc đầu chờ Mùa xuân
đầu tiên.
Đọc 4 câu thơ ký họa kia,
bạn cần phải xem lại 3 thi phẩm bước ngoặt và một nhạc phẩm tuyệt tác của Văn
Cao, thì mới phần nào hình dung ra được chân dung thiên tài Văn Cao.
Như đọc câu thơ thứ nhất
của khổ thơ trên, bạn sẽ phải tự hỏi tại sao Nguyên Hùng lại dùng cả cái tiêu đề
của bài thơ đầu tiên của Văn Cao: “Một đêm đàn lạnh
trên sông Huế”, xuất hiện trên thi đàn năm 1940 khi ông mới 18 tuổi, để làm
câu thơ ký họa của mình? Đây, tôi xin dẫn 4 câu kết của bài thơ này
để trợ giúp ý niệm về cái tình thơ thuở mười tám của Văn Cao:
“Em cạn lời thôi anh dứt
nhạc
Biệt ly đôi phách ngó đàn
tranh
Một đêm đàn lạnh trên
sông Huế
Ôi nhớ nhung hoài vạt áo
xanh”
Đọc biết thế, để kế đến bạn
sẽ thấy và lại tự hỏi, tại sao liền theo đó Nguyên Hùng có câu thơ ký họa:
“Càng ngẫm càng yêu Khuôn mặt em”; là thấy và lại phải tự hỏi, tại
sao Nguyên Hùng lại lấy ngay cái tiêu đề bài thơ Khuôn mặt em, để làm ẩn dụ
cho câu thơ ký họa của anh. Tôi đã dẫn ra nguyên văn như ở trên bài thơ Khuôn
mặt em, giờ dẫn thêm 4 câu kết của bài thơ “Một đêm đàn lạnh trên
sông Huế”, là để bạn có cơ sở hình dung ra Em của Văn Cao thời
thanh xuân cũng đúng là, mà cũng không phải chỉ là một Nghiêm Thúy Băng của ông
lúc đầu đã điểm bạc.
Đặc biệt những kết nối “càng
ngẫm”, “càng yêu”, “càng thương” ... “Những người trên cửa biển” – Một
trường ca tiên phong Văn Cao đặt nền móng cho loại hình thơ Trường ca mới với
những tài danh như Thu Bồn... đặc biệt là Trần Mạnh Hảo sau này... Tôi đọc câu
thứ 4 của khổ thơ: “Bạc đầu chờ Mùa xuân đầu tiên” mà lòng cứ rưng
rưng, đau xót, hận trào... tưởng nhớ Văn Cao...
Đấy sắp đặt và nghệ thuật
sắp đặt đã được sử dụng hiệu quả, đã tạo ra hiệu ứng nghệ thuật như vậy đấy!
Còn với thủ pháp lắp
ghép (Montage) thì sao? Cần chứng minh ư? Thì đó, như trên, là từ 4
câu thơ ký họa, Nguyên Hùng đã liệt kê ra những tiêu đề các tác phẩm của Văn
Cao làm chất liệu, chính là Nguyên Hùng đã dựng đối tượng cho độc giả đối thoại
bằng độc thoại với bản thân, để qua đó mà nhận thức về Văn Cao; đặc biệt, anh lắp
ghép các hình tượng nghệ thuật (có sẵn), là từ tác phẩm của Văn Cao,
để tạo thành câu thơ ký họa của mình, gây ấn tượng chốt định không gian đa chiều
đồng vọng trong liên tưởng thức nhận của độc giả, về quá trình thành tựu của
chính Văn Cao.
Bắt đầu là “Một đêm
đàn lạnh trên sông Huế”, rồi đến “Càng ngẫm càng yêu Khuôn mặt em / Càng
thương Những người trên cửa biển / Bạc đầu chờ Mùa xuân đầu tiên”.
Mỗi một tác phẩm thơ – nhạc kể trên, đều có không gian và thời gian xuất hiện,
gắn với đời sống nghệ thuật và nhân sinh mang tính bước ngoặt thân phận văn
chương của Văn Cao, trong bối cảnh văn chương và lịch sử thời ông sống,
nên chính nó khơi dậy cảm hứng thẩm mỹ cho cho độc giả, khi xem Ký họa thơ của
Nguyên Hùng.
Tựu trung, giá trị
thi pháp mà tôi nhận thấy được từ 81 ký họa thơ của Nguyên Hùng là
như vậy. Tôi nói 81 ký họa thơ kia là những Chân dung ĐẸP bởi nó khiến
cho tôi hứng thú khi xem; nó giúp tôi thức nhận được thành tựu văn chương và
nhân cách thân nhân của văn nhân; nó định vị được văn nhân trên đồ bản văn
chương được Nguyên Hùng ký họa.
4. Cần nói cho thật rõ ở
đây là không phải bức ký họa thơ nào của Nguyên Hùng cũng tròn đầy sắc đẹp
toàn bích cả. Thú chơi mà, có chân dung Nguyên Hùng phác họa đặc tả nét đẹp
này, có chân dung anh đặc ta nét đẹp kia, tạo ra bức tranh đa sắc mầu văn
chương của một nền văn học – nghệ thuật vẫn đang trên đường phát triển và định
hình giá trị.
Tôi xin dẫn ra đây một “ký
họa thơ” khác, mà ai cũng thích dừng lại trong “cái phòng tranh” của anh để
ngắm xem, đó là chân dung Hoàng Cát, (đúng là cát vàng trong
làng văn), người mà Nguyên Hùng xếp thứ tự “an pha bê” (ABC)...
ngay sau Văn Cao. Bức họa về Hoàng Cát của Nguyên Hùng đây:
HOÀNG CÁT
Một chân còn lại ông
Lành bẻ đôi
Tháng giêng dai dẳng nghẹn
lời
Cầu Ngôi sao biếc nhưng trời chẳng nghe...
Cám ơn mưa nắng vỉa
hè
Mùa thu nem chạo, bóng
bì, chè tươi...
Tưởng đâu Thanh thản cuối
đời
Mà sao khổ nạn Cõi người chưa buông.
19/2/2017 – 19/4/2024
Tôi xin không nói
thêm về cảm nhận của mình khi xem bức chân dung “đời thường” văn nhân
Hoàng Cát, mà tôi cũng đồng cảm với rất nhiều thẩm bình của bạn đọc “ký họa
thơ”. Tôi chỉ muốn kể lại đây cái ấn tượng, là khi xem bức chân dung này,
tôi đã tưởng thấy bàn tay cầm ‘cọ’ của Nguyên Hùng run rẩy như
thế nào khi ‘vẽ’ ra chữ “BẺ” trong hai câu
thơ: “Một chân mất bởi chiến tranh/ Một chân còn lại ông Lành bẻ
đôi”, để đặc tả chướng nghiệp Hoàng Cát mắc phải trong cuộc đời văn
nghiệp của ông, mà nguyên nhân gây ra chỉ bởi một thứ công quyền ngẩn ngơ, ấu
trĩ...
Dẫn thêm Hoàng Cát, là để
tôi xin nói ở đây rằng, điều tôi còn thấy nữa khi xem Ký họa thơ của
Nguyên Hùng là sức đọc, là năng lực quảng giao, là sức cảm thức văn chương... của
nhà thơ Nguyên Hùng thật đáng kính phục và nể trọng. Phải đọc nhiều, bao quát rộng,
hiểu kỹ, cảm sâu... thì mới có thể phác họa được như thế. Ký họa thơ ra
đời như ánh lửa đã góp khuyến thức tình yêu văn chương đã có phần ngật
- ngà - ngủ - gật trong sôi động thị trường kim tiền hiện nay...
Ánh lửa từ Ký
họa thơ ấy tỏa sáng là nhờ đâu, nếu không phải là từ đam mê và năng
lực phát sáng của chính tác giả? Đọc Ký họa thơ, cái mà tôi thấy ở
đây nữa là tài năng thi pháp thực sự của Nguyên Hùng. Ký họa vẽ bằng
thơ kia mà! Về vẻ đẹp này, của những bức chân dung, tôi xin nêu khái quát
thêm, rằng Nguyên Hùng đã biết biến các thi phẩm của bạn văn thành những ẩn dụ
và định vị chúng trong những bức chân dung, để chuyển hóa chúng thành những thi
ảnh, những hình tượng thơ; để chuyển tải đi những thông điệp về dung mạo của
văn nhân từ chúng. Không có năng lực, không có đam mê, không có tình yêu văn
chương đủ rộng, đủ sâu... đối với văn nhân mà mình yêu quý, thì không thể Ký họa
bằng thơ về họ được.
Cần thí dụ thêm ư? 81
chân dung văn học trong Ký họa thơ, tuy sắc mầu đậm nhạt có khác
nhau, nhưng thảy đều là 81 thí dụ minh chứng cho một nhận định như thế!
Như Văn Cao, Như Hoàng
Cát mà tôi đã chứng dẫn ở trên.
Hay như đây, xin chỉ dẫn
hai câu thơ Nguyên Hùng khắc họa một nét chân dung nhà thơ nổi tiếng, nguyên Ủy
viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Khoa Điềm: “Từ
ngày trở lại làm dân/ Thơ nơi Cõi lặng trở trăn phận người”, khiến
tôi giật mình khi đọc đến hai chữ “Cõi lặng” – tên một tập thơ
của Nguyễn Khoa Điềm; và lòng bỗng dậy sóng khi liên tưởng so sánh đến sự nghiệp
văn chương muôn đời dân sinh và hào quang chính trị chói ngời một thời quan chức
của ông. Đấy! Chính cái tên tập thơ, được Nguyên Hùng đem vào đặt trong hai câu
thơ kia, đã vụt biến thành ẩn dụ, thành hình tượng thơ gây nổ sức liên tưởng đến
đời Dân và đời Quan của tác giả “Trường ca Mặt đường khát vọng”... khi
người lại biết “trở trăn phận người”...
Hay như đây nữa, là khi vẽ
chân dung nhà văn Nguyễn Trường, Nguyên Hùng đã dùng những nét màu thật
bình dị khiêm nhường, như chính bản thân nhà văn, để phác thảo: “Lặng lẽ
viết mà văn đàn báo bão”... “Luận chuyện hôm nay bằng chuyện ngỡ đã xưa”
... để rồi Nguyên Hùng đưa một nhát cọ: ông Đạo Dừa – nhân vật chính trong
truyện ngắn “Khai khẩu”, rút từ tập truyện ngắn cùng tên, ở trang
183, “tấu trình” lên Tổng thống Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm, rằng: “Thua dân thì
còn, thắng dân thì mất” để làm nền chốt hạ ký họa bức chân dung, mà ai đã
xem cái ký họa này, đều không thể không nhớ đến Nguyễn Trường... Nguyên Hùng
như muốn nói to với mọi người, rằng: “Thua dân thì còn, thắng dân thì mất”,
là đạo lý cầm bút làm văn của Nguyễn Trường!
5. Đến đây, xin bày
tỏ thêm điều mà tôi trân quý nhất đối với tập Ký họa thơ của Nguyên
Hùng, chính là cảm thức luôn xốn xang, xáo động trong tôi, mỗi khi đọc từng
trang sách, như đọc từng tấm chân tình mà Nguyên Hùng ký thác, gửi nhờ mỗi bức
chân dung chuyển đến bạn bè văn chương và cả bạn đọc của anh...
Nguyên Hùng chỉ “coi
ấn phẩm này như một cuốn kỷ yếu nho nhỏ có thể giúp bạn đọc biết thêm hoặc nhắc
nhớ tác phẩm của các nhà văn nhà thơ, những người đã có những đóng góp xứng
đáng cho nền văn học nước nhà” , với “... hy vọng rằng, cuốn
sách sẽ góp một phần nhỏ trong việc cổ động văn hóa đọc, đặc biệt trong điều kiện
sách báo in đang bị lấn át bởi các phương tiện nghe nhìn của thời đại công nghệ
số”.
Còn riêng tôi, tôi thấy Ký
họa thơ của Nguyên Hùng, như trên tôi đã nói, rằng, sự ra đời của nó
sẽ như ánh lửa, góp khuyến thức dậy, giúp đốt cháy lên... ngọn lửa tình yêu văn
chương đã có phần leo lắt, vật vờ, ngật ngủ... giữa sôi động thị trường kim tiền
hiện nay...
Vì thế, xin có hai khuyến
nghị:
1. Những bạn văn chương của
Nguyên Hùng hãy quảng bá thật rộng rãi tập Ký họa thơ này đến nhiều tầng
lớp độc giả, viết và đăng thật nhiều bài giới thiệu tập sách này... Thế là
đã như cùng Nguyên Hùng giới thiệu ra diện rộng, chân dung của các
văn nhân đương đại. Bởi đã từ lâu, diễn đàn văn chương lý luận phê bình của ta
vắng lặng quá, trong khi những vấn đề của nó ngày một chất chứa những vấn nạn
thời cuộc, neo giữ, trì níu... ngay cả sự phát triển tự nhiên...
2. Từ ngay sau lần ra mắt
bạn đọc này, Nguyên Hùng nên đầu tư thêm sức lực, huy động thêm nguồn lực để mở
rộng, khai sâu thêm chiều kích của những bức chân dung, bằng chỉnh sửa gia cường
thêm chất thơ để Ký họa thơ thêm thơ hơn. Đồng thời, tôi cũng mong muốn
giới văn chương ta nhìn thấy từ Ký họa thơ của Nguyên Hùng như một
sáng kiến khởi phát việc xây dựng và thực hiện dự án TUYỂN TẬP CHÂN
DUNG VĂN HỌC VIỆT NAM, bằng phương thức “ký họa thơ” rất lý
thú và hấp dẫn này, trên quy mô rộng lớn hơn, khoa học hơn, tạo dựng nên những Biên
niên kỷ Ký họa văn nhân hữu dụng hơn!...
21/9/2024
Lê Xuân Lâm
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét