Bụi lửa
Phía trước là lửa. Lửa đâu đó thấp thoáng giữa bốn bề mù sương. Trong hơi gió thoảng con ngửi thấy vị đậm của lửa. Mùi thơm nồng dẫn dụ bước chân con tìm đường về nhà. Cứ đi thôi. Tay chạm vào sương buôn buốt. Những hạt ngọc sương bé tí xíu bay lửng lơ dưới ánh sáng trong vắt.
Phía trước là lửa. Lửa gọi
khiến lòng như ai đốt. Con không đi mà là bay. Con không bay mà rơi. Rơi không
ngừng. Trong đáy sâu vô cực không gian, con rơi thẳng đứng, rơi ngang, xiên
chéo, rơi liệng như một đóm tàn bụi bùng lên rồi gặp sương tắt lụi. Trước mắt,
một giọt nước tròn vo, đẫm mát, óng ánh màu sắc nghịch ngợm như đôi mắt cu
Thoong rơi theo. Con thích thú bay cùng nó.
Chân con bất ngờ chạm đá.
Rêu trơn truội. Con nhớ rồi, cây cầu Hà Sa bên bến Giang Lâm. Con chạy ù xuống.
Thành cầu mát lịm. Mặt cầu ướt đẫm sương nhưng con không thấy lạnh. Những cơn
gió xé sương thổi qua tóc, ngực đẫm mùi hoa dại. Con hít mãi, sâu vào ngực mùi
hương núi đặc quánh cho đến khi thấy mình thơm như một đụn khói chiều đông bay
về trời.
Phía bên kia cầu Hà Sa có
một ngôi nhà gỗ nhỏ. Con ngây người trước cánh cổng sao giống nhà mình. Mấy cây
gỗ gác sàn bếp đen bóng, ngâm dưới lòng suối mấy bận trăng giờ ngay ngắn tựa
vào nhau dõng dạc đón chào. Con ôm chầm lấy cột gỗ hít hà, sờ từng vết khắc, từng
mối dao rạch chằng chịt trên thân của mình và cu Thoong. Con bối rối hít hà mùi
khói thấm đẫm đặc quánh trong từng mắt gỗ. Phía sau cánh cổng, treo trên mấy bậc
thang là bếp lửa của bà ngoại đang cháy rí rách giữa nhà. Con tựa lưng cổng, chạm
tay vào bờ rào đá mát lịm sương, chộn rộn, háo hức, nhấc khẽ then cài. Cánh cửa
gỗ nhẹ bẫng đồng loã mỗi lần con trốn mẹ băng núi trở về nhà.
“Mày tìm gì ở ngôi nhà mốc
thếch của bà ngoại chứ”. “Mày tìm gì ở cái chốn “trước mặt là núi, sau lưng là
đá”(1) ”? Câu hỏi của mẹ con không sao trả lời được. Nhà bà ngoại
ở thung lũng, phía trước đồi Cam, sau là sông Giang Lâm treo từ vách núi đổ xuống.
Sườn đồi, ngô mọc kín mít, quanh năm bà trỉa đậu, trỉa kê. Con thèm mùi hoa ngô
trổ bông sớm thơm ngai ngái suốt cả mùa xuân, mùi hạt kê rụng cuối mùa, mùi cỏ
lau, cây dại ven đường thơm đẫm chái hiên nhà mình. Mùi những loài hoa núi con
chưa kịp và cũng chẳng muốn đặt tên từ trên núi phả về thơm nhức đầu, mùi gỗ dờ
ong thơm nừng nực. Khói dờ ong không trắng mà xanh lam, quyện vào nhau như chiếc
nơ cài trên đầu bếp. Bao lâu ở phố rồi con không thấy lửa. Con sợ mình quên mất
mùi thơm, hơi ấm mềm mại, tiếng reo, điệu múa tuyệt đẹp của lửa trong những đêm
cuối năm chờ bánh tét chín đợi giao thừa. Nhưng thèm nhất là tha hồ ăn bọt lửa,
kiến đỏ và ngửi lửa, ngủ lửa suốt cả mùa đông cùng bà. Có những khi nhớ lửa quặn
ruột, con lén lút bắt xe từ thành phố, gà gật khúc khuỷu một ngày mới về được
bên bếp của bà nằm lăn kềnh ra chân bà ngủ nguyên một ngày.
Sao bây giờ nhà bà ngoại
lại ở đây, dưới chân cầu Hà Sa bên bến sông Giang Lâm mà không phải ở phía sâu
trong thung lũng hoa đào? Con thận trọng ngó lên nhà. Ôi là bà ngoại, vẫn ngồi
bên bếp giữa gian nhà rộng. Bếp nay có gì vui mà lửa nhảy múa. Hay lửa biết con
về. Con muốn nhào vào bịt mắt ú oà bà. Thể nào bà cũng đánh rơi cành gỗ dờ ong
đỏ rực ứa một khúc than dài ba đốt xuống cửa bếp khiến cho tàn bắn tung toé. Bà
giật nẩy mình bởi mùi cháy khét trên mái tóc trắng phau. “Ây dà, ây dà, cái con
Hoa mày lại về trêu bà đây. Sao không chết dẫm chết dúi với con mẹ Moong của
mày luôn còn về quấy rầy bà làm gì chứ. Mẹ con mày bỏ bà đi mấy mùa trăng rồi”.
Mỗi lần về thăm, nghe bà
nói dỗi, con lại cười trừ lăn vào bà. Hôm nay bà không thèm giật mình. Bà ngồi
bên cạnh Bường Khun. Cái dáng ngay ngắn như tạc vào bếp lửa đỏ là con biết bà
đang nghĩ điều quan trọng rồi. Mỗi lần Bường Khun đến, bà đều nghiêm trang còn
Bường Khun thì ngồi canh đến lúc bếp lạnh mới nhấc đít quay về. Không mang hũ mật
ong rừng thì cũng phải làm cho bà bát muối kiến thơm phức, mà không mang muối
kiến vì bà ngoại hay làu bàu ăn không hết, thì Bường Khun lại nhẫn nại vác đến
tảng thịt nai cho bà gác bếp dành tết. Bà cứ việc đốt bếp cả đêm cả ngày, còn
Bường Khun cứ việc lên rừng tìm gỗ dờ ong.
Củi dờ ong Bường Khun lấy
trên rừng. Lá dờ ong cháy lách tách, gỗ đượm lửa, cả gian nhà nưng nức, thơm
qua mấy bậc cầu thang, lan ra ngõ, ra đường. Cái tình người già ấm áp, ngọt
ngào, thơm như nhựa dờ ong. Nó quyện đậm vào không gian, vào căn bếp của bà đến
nỗi, mỗi lần về nhà, không thấy Bường Khun ngồi hơ tay cùng bà, con thấy nhà chống
chếnh, bếp như muốn tàn. Bà mải nói chuyện gì với Bường Khun mà không nhận ra
con đã về sau lưng? Bóng Bường Khun chập chờn. Cả Bường Khun cũng không nhận ra
con ư? Bường Khun ngồi im lặng, xoè hai bàn tay, mỗi ngón như rễ cây dé toẽ ra
sần sùi gồ ghề chập chờn trong ánh lửa. Đôi tay trèo rừng, vượt núi, bẫy con
chim sali về cho bà nuôi, bắt con thú trong rừng sâu, tìm mật ong núi, đào củ
măng rừng ngon nhất non nhất để mang về cho bà ngoại. Đôi bàn tay như những chiếc
rễ gừng già nhảy múa bên bếp. Mặt Bường trầm ngâm như tảng đá nâu bên suối bị
những rãnh nước xẻ thành khe. Bà vân vê những khúc gỗ dờ ong sáng bóng, nâu
nhưng nhức, thịt gỗ chắc lẳn lộ ra trắng đục lấp lánh bắt sáng, cất tiếng:
“Hoa! Mày về rồi à. Ngồi xuống đây hơ tay đi. Tao nghĩ tay mày lạnh như đá vực
rồi đấy. Mày ngồi hơ tay trông bếp để bà đi pha cho mày một chén trà”.
Hóa ra tai bà vẫn thính
như nai, mắt tinh như hoẵng rừng, ý nghĩ nhanh như sóc vậy. Con phụng phịu ngồi
lên khúc gỗ mòn vẹt cạnh bếp, miệng lủng bủng chào Bường Khun. Con xòe tay hít
hà. Lửa cháy xèo xèo ở cuối đốt củi đùn ra một đụn bọt trắng đục sôi lục bục.
Con nhón tay quẹt bọt rồi đưa lên mồm nhấm. Bọt lửa muốn bỏng lưỡi, thơm mùi
khói hăng xộc lên cay xè mũi. Vị bọt lửa của củi dờ ong chua chua, ngòn ngọt,
thơm thơm. Con sà xuống bếp. Than trong bếp đã chín đỏ. Những cành củi dờ ong ứa
ra những khúc than đỏ ối. Chiếc ấm đất bà ngoại đun nước sôi xèo xèo. Tay con
chạm vào lửa âu yếm.
Bà ngoại từ trong buồng lụi
cụi bước ra. Bà bắt đầu say mê với nghi lễ hãm trà. Thứ trà chỉ hái búp nõn mới
nhú, hái trên núi vào những sáng trăng, sương đọng giọt, cõng trà về nhà, đi
qua ba bốn quãng đường núi mới đến bậc cầu thang. Bà không rửa, để nguyên những
búp mơn mỡn, thơm mùi sương trăng, đổ hết vào cái chảo rang nóng rãy trên bếp,
sao đủ chín lửa, hạ thổ chín lần trên đất rồi mới cất vào hũ gốm thổ mộc của cụ
ngoại để lại. Trà sao lên chỉ để dành, mỗi lần ai đó có việc trọng, bà mới vào
buồng dúm cho vài lá mang về.
Bà tỉ mẩn tháo cái dây buộc
bằng cọng rơm nếp vàng rượi dù qua mấy vụ vẫn lên hương dìu dịu. Bà nhón mấy
búp trà khô cong như con sâu cuộn tròn thả nhẹ vào ấm nung bằng đất sa mộc ở
sông Giang Lâm. Khi nước sôi xèo xèo phụt khói qua vòi ấm đun đen bóng bồ hóng,
bà chiêu nước vào ấm trà. Búp nõn từ từ duỗi cánh mở ra ba lá biêng biếc chật
kín ấm trà. Căn bếp của bà bốc lên một làn khói hương thơm dịu, ngây ngất.
Bà đưa chén trà cho con
long trọng kính cẩn như thực hiện một nghi lễ.
Nhưng mà sao nay con lại
được thưởng trà quý của bà. Trà này bà chỉ mời ông ngoại và tổ tiên uống thôi.
Chén trà nghi ngút khói, con mới chỉ hít vào ngực mùi hương ngây ngất mà đã bồng
bềnh như ai xoá dần trí nhớ. Cơ mà Bường Khun giờ mới cất giọng trầm đục, thứ
âm thanh như vọng từ đâu đó. “Bà đừng vội. Gượm hẵng…”
Không gian hẫng đi một nhịp.
Chén trà nghi ngút khói, bỗng khựng lại… Lúc này con mới dụi mắt nhìn rõ hơn. Ơ
kìa, bố, mẹ và cu Thoong ngồi bên bếp từ lúc nào. Thằng bé đến tệ. Mới được kết
nạp đội viên một tuần nên ngày nào nó cũng đeo khăn quàng đỏ, cả khi đi ngủ. Ha
ha! Lần trước gọi facetime cho bố, vẫn đeo khăn mới hâm. Bố là bộ đội, đóng
quân ở đảo xa. Mấy mẹ con vẫn thường gọi cho bố qua màn hình chiếc điện thoại
ríu rít. Thằng Thoong khoe chiếc khăn quàng đỏ đầy vẻ sung sướng tự hào khiến
cho con và mẹ chỉ biết bụm miệng cười. Đêm qua đón bố cắt phép lên phố thăm tụi
con, mẹ đi vắng, ba bố con nằm ôm nhau trò chuyện mãi. Con than với bố con nhớ
lửa. Ngôi nhà nhỏ như cái hộp diêm treo lơ lửng trên tầng cao con thấy bí bách
và bất an. Nhà thành phố bếp không có lửa. Lên thành phố học xong đại học là
con về thôi, làm cô giáo ở làng mình. Con thích ở nhà gỗ có bếp lửa của bà,
thích chạy giữa những thung lũng đầy hoa cải. Nhưng mẹ mắng con: Về làng mày
không sống được đâu. Học xong bám trụ lại thành phố mà thay đổi số phận. Mẹ nói
quê hương không phải là nơi con quay trở về để tìm kiếm cuộc đời mình.
Dưới sân, tiếng chiêng hối
thúc. Và tiếng hát của thầy mo.
“Bà gượm hẵng”… Tiếng Bường
Khun khản đặc cổ, xa xăm. Bà ngoại làu bàu những gì không rõ. Tiếng ư ử của con
mèo già bên bếp lửa nằm rên thấm vào không gian như dậy lên những kí ức.
Mẹ nói, mẹ không muốn
quay về bản. Mẹ sợ cơn lũ ống dựng đứng đã quét sạch cả nhà của Bường Khun dưới
chân ngọn đồi cam. Mẹ ám ảnh tiếng khóc của bà ngoại khi làng tìm được mế
Lương, vợ và con trai nhỏ của Bường Khun dưới lớp bùn đỏ quạch. Tiếng khóc như
xé ruột của bà ngoại làm cho mẹ ám ảnh nhiều năm sau đó, mà có lẽ là ám ảnh cả
đời.
Đó là lần thứ hai mẹ chứng
kiến bà ngoại khóc như vắt mình thành nước. Lần đầu tiên là ngày lang cun, lang
đạo, thầy mo, thầy tào kéo đến nhà bà ngoại tự tay chặt chuối xanh, đẵn tre nứa
lập một cái bàn thờ nhỏ gian giữa nhà. Các mế già đến đầy nhà, đồ xôi, thịt một
con gà trống hoa đặt lên bàn thờ để làm cỗ cúng.
Mẹ không biết nhà mình có chuyện gì. Các mế, già làng, các thím các cậu, các bác đến chật nhà. Ai ôm mẹ cứ ôm, ai xoa dầu cho mẹ cứ xoa, nhưng cái bàn thờ thì rất nhanh, mỗi lúc một hoàn thiện. Trên đó, ảnh của ông ngoại con hẵng còn rất trẻ, ngự trên cái khung gỗ màu đen bình thản tươi rói mỉm cười như một lời chào tạm biệt làm đau lòng tất cả bà con họ hàng. Cả làng đều mặc áo chàm xanh, cả làng đều đeo khăn trắng trên đầu. Chiêng lớn chiêng nhỏ được khiêng về đầy nhà. Những thanh niên múa chiêng cứ việc múa. Các thầy mo hát cứ việc hát. Tiếng nức nở của mọi người xen lẫn những hồi chiêng dài ngân lên trầm buồn thê thiết. Không ai nói với nhau một lời, ai nấy cặm cụi hối hả trong lặng lẽ làm nhanh phần việc của mình.
Ngày đó Bường Khun cùng
những chú bộ đội từ đơn vị trở về. Cả ông ngoại con cũng về nhưng theo cái cách
kì lạ chẳng giống ai. Già làng nói ông ngoại con đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ,
giờ trở về làng và ngủ yên trong chiếc hòm gỗ phủ lá cờ đỏ sao vàng. Một vòng
hoa rừng vội vã ai đó đã kịp kết đủ các loài xanh đỏ tím vàng, trên đó đeo một
dải băng đỏ rực với dòng chữ Đời đời Tổ quốc ghi công.
Mẹ kể, bà ngoại con không
đủ sức để đứng lên. Bà gục xuống phủ phục trước quan tài của ông ngoại. Già
làng mặc áo chàm trang trọng, đầu chít khăn trắng. Những người đánh chiêng ở
làng cũng áo lam đầu đeo khăn trắng. Các thầy mo, thầy tào hát những bài ca cổ.
Tiếng chiêng vang lên như tiếng nước suối trên ngàn đổ xuống núi. Tiếng chiêng
rền như sấm tháng ba làm vỡ cả bầu trời xanh gọi mưa. Những hồi chiêng trầm buồn
kéo từng hồi thê thiết nức nở sầm sập như mùa lũ ống đổ nước về. Mẹ nói chỉ khi
trong làng có người về với tổ tiên thì người làng mới đánh chiêng và hát. Những
màn múa chiêng gọi hồn người chết vừa bí hiểm vừa lạ lùng vừa mê hoặc.
Ông là chàng trai sinh ra
và lớn lên từ núi rừng, ngực rộng vai nở bắp chân chắc nịch như thớ gỗ lim trèo
núi thoăn thoắt, thông thuộc núi đồi như thông thuộc lòng bàn tay. Ông nhanh
như sóc và khoẻ như chú lợn rừng dũng mãnh. Ông cùng Bường Khun là những thanh
niên ưu tú ở làng. Khi chiến tranh biên giới nổ ra, cả hai đều xung phong cầm
súng đi bảo vệ Tổ quốc. Giờ đây Bường Khun khoẻ mạnh rắn rỏi vẫn ở đây mà ông lại
ngủ vùi trong mường trời. Mẹ không biết nhiều về bố mình.
Ngày bà ngoại sinh mẹ,
ông đi chiến đấu xa không về kịp. Mẹ lớn lên chưa kịp nhớ mùi mồ hôi, chưa kịp
cảm nhận đôi cánh tay săn chắc và bầu ngực căng vồng ấm áp khỏe mạnh như tảng
đá núi phơi dưới ánh nắng trời của cha mình thì đã phải chứng kiến cảnh cha
mình ngủ trong quan tài trở về nhà. Và tất nhiên mẹ không biết khóc. Mẹ bặm
môi, hai mắt mở to thao láo nhìn lên di ảnh.
Lớn lên mẹ mới biết đó là
lễ truy điệu liệt sĩ. Mẹ nhớ khá đông những chú bộ đội cao lớn, đầu đội mũ gắn
sao vàng đứng chỉnh tề hai bên hòm. Một người lính trịnh trọng đọc bài ca ngợi
công lao. Mẹ không thể nhớ được những lời lẽ trang nghiêm mà người lính kia đã
đọc. Chỉ đến khi bài hát của thầy mo vang lên thì hai dòng nước mắt bò lẫm chẫm
trên gương mặt bé tẹo của mẹ rơi xuống ướt má bà ngoại. Bài hát của thầy mo làm
cho cả làng khóc.
“Này hồn ơi
Người có phận người
Ma có phận ma
Hồn ở yên trên núi
Hồn canh nương đuổi thú
Đừng theo ta về nhà
Đừng ăn tiếng khóc của
con
Đừng uống nỗi buồn của vợ
Đừng nấu rượu nỗi đau
Người sống say lâu
Người thân nhớ lâu
Làm sao hết khổ
Ta mượn con dao này
Hòn đá này
Chén rượu này
Tiễn hồn về mường trời”(2)
Những ám ảnh đầu đời chưa
kịp vơi bớt thì mẹ đã phải chứng kiến cú sốc thứ hai mang tên Bường Khun. Đó là
một ngày không lâu sau nỗi đau của bà ngoại, một cơn lũ ống tràn về vùi sạch
căn nhà của Bường Khun ở đồi Cam, nơi có mế già Lương và vợ trẻ cùng con trai
nhỏ của Bường Khun. Cơn lũ ống tràn về trong đêm, người làng bới bùn tìm được vợ
Bường Khun đang ôm con trai nhỏ chết quỳ dưới đất. Lần đầu tiên cả làng đóng
cái hòm vuông dựng đứng đặt hai mẹ con vào. Bường Khun chết lặng. Mẹ nhớ giây
phút đó, đôi mắt đỏ ké long lanh của Bường Khun như chứa cả ngàn vạn cơn lũ ống
cuộn lên dữ dội. Bường Khun quỳ trước thi thể của mẹ, vợ và con trai. Những người
lính từ đơn vị kịp về cùng. Bường Khun quỳ trên sàn nhà, ngửa mặt hú lên một tiếng
vang động đau đớn như con hổ rừng bị trọng thương, như con sói rừng tru lên tiếng
cuối cùng trước cái chết. Đó là lần đầu tiên mẹ thấy Bường Khun như một cơn sấm
vỡ ra trăm ngàn mảnh.
Không biết bao nhiêu lần
những cơn lũ ống vẫn thình lình về bắt người đưa đi. Nỗi đau như vết chém sâu
chưa kịp khép miệng đã bổ xuống vết chém khác. Mẹ không hiểu vì sao tai ương giận
dữ của ông trời trút xuống những sinh mệnh bé nhỏ nơi ngôi làng của mình. Mặc
những căn nhà bị lũ cuốn, bị đất lở vùi lấp, làng vẫn mọc lên, những ngôi nhà mới
được dựng lại. Sức sống lại phủ xanh lên mọi cánh rừng, làm liền da mọi nỗi
đau, lấp đầy những vết thương cũ. Mẹ nhớ như in bài hát của thầy mo khi hát đưa
tiễn cả nhà Bường Khun về mường trời.
Phạ ơi
Đường lanh dẫn lối
Cần trúc bắc cầu
Qua bảy ngày bảy đêm
Hồn về mường trời
Mặc sức rong chơi
Hồn ơi
Sống làm hòn đá biết nói
Chết làm chim khướu chim
ri
Sống uống nước bương đầu
suối
Chết ăn hạt bắp trên
nương
Hồn đi đường cây hồn uống
nước suối
Hoa mận làm mây
Hoa đào làm trăng
Chén rượu này tiễn hồn về
mường trời
Hồn đậu ngọn cây nêu
Đem chia lời yêu khắp bản
Hồn chui vào vòng vía
Cho trai gái buộc thương…
Hồn có linh có thiêng
Ta tung đồng tiền sấp ngửa
Rước hồn về hôm nay(3)
Sau đám tang ba người
trong gia đình, Bường Khun không lên đơn vị nữa mà cấp trên giao nhiệm vụ mới
cho Bường Khun ở lại giúp bà con vực dậy dựng làng sau lũ quét. Nhiệm vụ nào
cũng quan trọng. Nhiệm vụ nào cũng là yêu đồng bào, bảo vệ Tổ quốc. Với lại, thủ
trưởng của Bường Khun khi chia tay còn dặn Bường Khun phải về làng để còn tìm
người đàn bà thay vợ lên nương trỉa hạt, xuống suối giặt váy, về nhà nhen bếp lửa
đỏ đồ xôi, nấu canh măng thịt chua, hâm rượu men lá cho nóng mỗi khi Bường Khun
trên nương trở về.
Dựng làng mới cho bà con Bường Khun làm. Đi từng nhà giục bọn trẻ con tập bơi cho giỏi để vượt suối đi học Bường Khun đi không biết mỏi cẳng, gõ cửa bằng hết mấy mươi ngôi nhà, tập cho không biết bao nhiêu đứa trẻ trong làng đến tuổi đi học biết bơi như rái cá. Nhưng tìm một cô gái khỏe mạnh bên bếp lửa nhà mình thì Bường Khun lại lảng tránh. Bường Khun thành ông mờ tốt vía cho không biết bao nhiêu cặp trai gái đến thì dựng vợ gả chồng. Ông mờ Bường Khun biết hát mo, hát đối đáp hát chúc tụng trong lễ hợp cẩn để chúc phúc cho đôi trẻ. Bường Khun trở thành già làng lúc nào không hay, có mặt không sót lễ đầy cữ, lễ pò hươn của những đứa trẻ sau cưới hỏi được sinh ra. Bường Khun hát rằng: “Phạ ơi, đứa trẻ này không chỉ là con của bố của mẹ. Đứa trẻ còn là con của Phạ, của dòng họ mường bản. Lớn lên cho nhanh chân chạy như sóc. Lớn lên cho nhanh tai thính như nai, lớn lên làm chàng trai cô gái đẹp xinh. Chàng trai giữ lửa trong nhà, cô gái giữ nếp làng bản”. Nhưng thầy mo già nhất làng nói Bường Khun “có con, nhà mới thành, không con, nhà coi như chưa dựng”. Bường Khun nghe vào tai này thì lọt sang tai kia. Mặc kệ người già nói rát tai. Bường Khun vẫn lặng lẽ sang nhà bà ngoại ăn nắm xôi nếp hương bà nấu, uống chén rượu men lá bà ngoại ủ rồi ngồi bên bếp lửa hơ tay cứ thế ngủ gục, ngủ ngồi cho đến khi tàn bếp, bà ngoại bỏ vào buồng đã lâu, con mèo già cũng đi tìm bạn từ đời nảo đời nào, sương ngoài trời bò vào đậu trĩu vai, thì Bường mới giật mình đứng dậy, chất thêm củi khơi cho bếp lửa đỏ rực rồi mới chậm rãi lê bước về nhà. Bường Khun và bà ngoại đối đãi với nhau thế cho đến khi tuổi già chầm chậm quàng xuống cả hai, rắc sương muối lên tóc, chấm hạt kê lên má, mài những rãnh sâu nơi khoé mắt thì bà ngoại vẫn không đi lấy chồng mà Bường Khun cũng chẳng đi lấy vợ.
Tiếng ngao ngao nức nở
thê thiết của con mèo già làm cho kí ức con như dội ngược trở lại. Con với tay
qua lửa gọi:
– Mẹ! Mẹ! Mẹ, bố và em
Thoong về từ bao giờ sao không bảo con. Mẹ ơi! Mẹ ơi, mẹ nghe tiếng con gọi
không?
Không ai trả lời con. Bường
Khun ngồi bên bếp gục đầu vào hai bàn tay lầm rầm. Bà ngoại loay xoay với chén
trà còn lại đẫm khói trên khay. Thằng Thoong đã lăn kềnh ra bên bếp cùng con mướp
già ngủ ngon lành. Ôi Thoong, mày cũng nhớ lửa như chị phải không, không nhớ lửa
làm sao tìm được đường về nhà chứ, không nhớ lửa làm sao hễ về là mày lăn kềnh
ra bên bếp bà ngoại mà ngủ như chết.
Bà ngoại đứng lên đưa con
chén trà, dứt khoát giục con uống. Hơi trà bốc lên dội vào tim gan con một thứ
mùi kì lạ hấp dẫn như thể chỉ cần uống vào một ngụm con đi qua bảy bến lú chín
bến mê. Ngửi hơi trà, bỗng nhiên con nhớ ra chuyện đêm qua. Ôi, đêm qua, lửa bò
vào căn nhà chung cư nhỏ nơi mấy bố con đang ngủ. Mẹ đi vắng, con sang phòng bố
ngủ cùng thằng Thoong. Thằng Thoong thích thú gọi con:
– Chị Hoa ơi! Bố Cương
ơi, mẹ Moong ơi! Lửa! Lửa. Lửa to hơn bếp nhà bà ngoại mình nấu bánh tét đợi
giao thừa.
Giờ thì con nhớ lại chuyện
đêm qua. Con đang ngủ rất sâu giấc, trong mơ con mặc áo dài trắng tinh khôi, bố
về phép để đưa con đi nhập học. Đường phố đầu thu nhộn nhịp đông vui người xe
đi lại như mắc cửi. Bố đèo con trên chiếc xe đạp màu xanh mang từ đơn vị về.
Hai bố con vừa đi vừa ríu rít trò chuyện. Bố nói con chăm học, mai này về huyện
mình tỉnh mình con là cô giáo dạy văn đẹp nhất xứ mình. Con ngồi sau xe bố, vạt
áo trắng bay lên lấp lánh như một cánh én. Nắng sớm rõ đẹp, chan chứa trên áo
con. Nhưng sao cổng trường đại học nơi con hằng mơ mộng hai bố con mình chỉ đi
trong mơ mà vĩnh viễn không tới được.
Con choàng tỉnh dậy khi
tiếng thằng Thoong gọi rối rít. Nó hét lên lửa, lửa. Con dụi mắt choàng tỉnh hẳn.
Thấy bố một tay ôm che lửa cho thằng Thoong, một tay kéo con cố gắng thoát ra
khỏi biển lửa. Mặt bố thất thần. Sao lửa ở đâu mà nhiều thế? Bao lâu rồi con mới
thấy lửa. Ở thành phố bếp nhà ai cũng không đỏ lửa. Mọi người nấu cơm bằng bếp
điện, bếp từ. Từ ngày lên thành phố, hai chị em con nhớ lửa lắm. Đôi khi nhớ
điên lên, hai chị em bàn nhau mua bật lửa ga về bật lên để nhìn thấy lửa cho đỡ
nhớ. Hai chị em chỉ mong đến hè, đến tết, được về nhà bà ngoại ngồi bên bếp lửa
trông xôi cho bà.
Nhưng hôm nay sao lửa ở
đâu ùa về nhiều thế. Những lưỡi lửa xanh đỏ tím vàng xoè ra liếm lên má con,
tóc con. Mùi lửa thơm như lửa bên bếp của bà ngoại. Tiếng lửa reo như khi siêu
nước trên bếp sôi phụt khói. Con ngửi thấy mùi gỗ dờ ong cháy, mùi xôi nếp
nương, mùi rượu men lá của bà.
Nhưng lửa nóng quá rồi, bốn
bề lửa vây quanh xé thịt da con ra trăm ngàn mảnh đau buốt, bỏng rát tột cùng,
thấu vào tim con xuyên lên não con. Con chưa bao giờ trải qua một cơn đau mà
cái thú đau thương cho con một cảm giác như thế. Có lẽ tận cùng của đau sẽ
không còn thấy đau nữa. Nỗi đau dội ngược, đẩy con vọt cao lên. Từ từ, con
thoát ra nhẹ bồng bềnh và bay lên. Tiếng mẹ xa xăm gọi ba bố con qua màn lửa…
– Về thôi! Về nhà thôi
anh, về thôi các con.
Con không thể dừng lại mà
bay xuyên qua những tầng lửa đủ màu. Con thấy sau màn lửa, bố mẹ và em Thoong
đã đợi con ở đó. Mặt mẹ buồn lắm, lạ thế. Mẹ khẽ vẫy vẫy con:
– Về thôi con! Về nhà thôi.
Con nhớ ra rồi, không hiểu
sao con chỉ có một mình trên hành trình về nhà. Con đã rơi, đã bay, đã liệng
như cánh chim trời trong không gian mù sương như một hạt bụi nhỏ. Con đã đến cầu
Sa Hà bên bến Giang Lâm, con đã trở về nhà còn chậm hơn mẹ, bố và cu Thoong có
mặt bên bếp lửa của bà ngoại. Bường Khun đứng dậy. Đã đến lúc rồi. Những linh hồn
tinh khiết sẽ về với lửa, với nước, với gió và tái sinh trong một mảy may.
Bà ngoại trao cho con
chén trà bên bếp. Cái lưỡi con bị cuốn trong vòng xoáy của hơi trà. Bường Khun
rời đi. Ông ngoại từ trên bàn thờ bước xuống, ngồi kế bên con, ôm lấy cu Thoong
bé bỏng đang ngủ khì. Hãy nhớ thịt da con là đất, hơi thở con là gió, máu trong
trái tim con là nước, nhiệt độ trong cơ thể con là lửa. Một trăm năm trước
không có. Một trăm năm sau cũng không. Làm một hạt bụi lửa, bay trong vũ trụ
con sẽ tìm thấy đường.
Con uống xong ngụm cuối của
chén trà. Cả cơ thể con nhẹ bỗng bé xíu như một hạt bụi lửa bắt đầu hành trình
phiêu du. Ngôi nhà bà ngoại tan biến, bóng bố, mẹ, và cả cu Thoong nữa tan biến
như hơi sương. Trước mắt con là một giọt sương nằng nặng mang tiếng cười khúc
khích của một đứa trẻ. Tiếng cười quen lắm mà con không nhớ nổi là ai, từ đâu vọng
về. Giọt sương cứ bay lượn trước mắt con. Con là ai? Không biết vì sao con lại
tái sinh trong hạt bụi này. Con là một hạt bụi lửa biết hát và bay trong mênh
mang vũ trụ. Một trăm năm trước không có, một trăm năm sau cũng không. Con tinh
khôi một hạt bụi lửa bay trong triệu năm ánh sáng. Hạt bụi lửa hát rằng:
Trăm năm trước không có
Trăm năm sau cũng không
Thịt da ta là đất
Hơi thở ta là gió
Máu ta chảy là nước
Từ vũ trụ sinh ra.
Chú thích:
(1) Tên truyện ngắn của Trang Thuỵ.
(2),(3). Trích thơ của nhà thơ Nguyễn Kiến Thọ.
15/3/2026
Như Bình
Nguồn: VNQĐ
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét