Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016

Những bóng hồng dự phần vào văn nghiệp Tú Xương

Những bóng hồng dự phần 
vào văn nghiệp Tú Xương
Đó là bà Phạm Thị Mẫn, sinh năm 1869, hơn ông Tú một tuổi, là hậu duệ của danh sĩ Phạm Quý Thích ở làng Lương Đường (Hải Dương). Nghĩa là bà cũng thuộc dòng dõi nho giáo, rất “môn đăng hộ đối” với Tú Xương.
Cơn lốc đô thị hóa Thành Nam cuối thế kỷ 19 đã cuốn gia đình bà từ Hải Dương sang thành phố Nam Định mở cửa hiệu buôn bán. Gia đình bà ở cùng dãy phố với gia đình Tú Xương. Tú Xương và Phạm Thị Mẫn quen thân nhau, rồi trái tim trai tài gái sắc cảm được nhau ngay từ thủa vị thành niên. Hai người lấy nhau khi họ còn trong trắng của mối tình đầu. Cô Phạm Thị Mẫn trở thành bà Tú, theo cách gọi của dân Thành Nam khi ấy.
Bà Tú vừa có cái ung dung khoan hòa của một người được dung dưỡng trong một gia đình nề nếp, thuần phong lại vừa có cái mau mắn tháo vát của một người con gái đảm đang, hiền thục truyền thống, va đập với kinh tế thị trường. Bà đối xử với bố mẹ chồng rất cung kính hiếu đễ; với kẻ ăn người ở cũng nhẹ nhàng, tình cảm.
Với ông Tú thì bà có tình yêu thực sự. Trong tình yêu vợ chồng còn có chút bao dung, che chở của một người chị, người mẹ. Suốt 10 năm, bà nuôi ông đèn sách đi học, đi thi, những tưởng đỗ cử nhân, tiến sĩ, ra làm quan ông sẽ trả ơn bà, nhưng cuộc đời ông nó không có cái hanh thông như thế. Ông Tú học hành sáng dạ lắm. Vốn chữ Nho và kiến thức văn chương Đông- Tây, ở Nam Định thời ấy không mấy người sánh được với ông.
Nhưng ông đi thi lần nào cũng trượt. Trượt không phải vì ông lười học hay kém tài mà cái thói phóng túng nghệ sĩ của ông, nó không phù hợp với những nội quy trường ốc ngặt nghèo và không kém phần phi lý lúc bấy giờ. Tú Xương “phạm trường quy” tới 8 khóa thi. Cuối cùng ông chỉ đỗ có cái tú tài!
Tú Xương viết bao nhiêu thơ phú mà thơ phú không đủ cho ông ngày hai cốc rượu quê. BàTú phải bao nuôi, che chở ông Tú như bao nuôi che chở những đứa con của mình vậy. Không những lo việc cơm áo nuôi sống cái thể xác, bà còn là chỗ dựa lớn cho tinh thần thi ca của ông. Nói theo ngôn ngữ bây giờ, bà chính là “nàng thơ” của ông.

Tỷ dụ như Tết nhất đến nơi mà vẫn thấy ông ngồi ôm gối buồn thiu, lọc xọc thuốc lào, không động dạng gì đến bút mực thì bà gợi ý cho ông đừng quên văn chương bằng cách giục ông hãy viết đôi câu đối dán lên cột nhà cho có không khí Tết. Hay là những khi thấy mặt mũi ông khó đăm đăm, thần khí ngưng trệ, bà lại đem chuyện thơ phú ra giao đãi, tạo thi hứng cho ông cầm bút. Chưa bao giờ bà mở miệng than phiền hay trách cứ ông điều gì.
Cái tầm làm vợ của bà nó lớn quá, vĩ đại quá nên ông Tú đã bỏ qua mọi kiêng quý, làm thơ tế sống bà; đặc biệt là ông đã viết bài thơ Thương vợ rất nổi tiếng. Theo thiển ý của người viết bài này thì đây là tác phẩm thơ viết về người vợ hay nhất trong văn chương Việt Nam từ xưa đến nay.
Quanh năm buôn bán ở mom song
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo xèo mặt nước buổi đò đông
Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không.

Người đàn bà thứ hai dự phần vào văn nghiệp Tú Xương là một tiểu thư, con gái rượu của tiến sĩ Vũ Công Độ. Tiểu thư này vốn là hoa khôi nổi tiếng Thành Nam, lấy chồng là một viên quan cỡ tầm tầm có tên là Hai Đích. Từ khi lấy chồng người ta hay gọi tiểu thư nọ là bà Hai Đích.
Ông Hai Đích mất sớm, khi bà mới ở tuổi 23 và họ mới có với nhau một mụn con gái. Cô con gái đó đặt tên là Sính. Cô Sính lớn lên, lấy chồng là một viên quan huyện, người ta quen gọi ông Huyện Thuật. Vợ chồng này chính là thân phụ thân mẫu của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Như vậy, bà Hai Đích “nàng thơ thứ hai” của Tú Xương là bà ngoại của Vũ Hoàng Chương.
Bà Hai Đích chơi với Tú Xương từ thời họ còn đi học. Nhưng khi đến tuổi chọn vợ chọn chồng thì không hiểu sao họ không chọn nhau, để rồi sau này khi mỗi người đã có một bến bờ riêng, họ vẫn không sao quên được bóng hình nhau. Sau cái ngày ông Hai Đích về cõi, bà Hai vẫn còn xuân sắc lắm, rất nhiều thi nhân tài tử ve vãn, nhưng bà chỉ giữ lòng trung trinh thờ chồng.
Bà Hai Đích đã không tái giá, nhưng chút tình dành cho Tú Xương là điều có thật. Vào cái đêm mưa phùn gió bấc, Tú Xương và bà Hai Đích từ nhà bạn ra phố, ông Tú đã cởi chiếc áo bông của mình che đầu cho bà Hai, trong niềm xúc động dạt dào, là chuyện nhiều người biết.
Nhờ cái khoảnh khắc thần tiên ấy mà ông Tú cho ra đời bài thơ Áo bông che đầu:
Ai ơi có nhớ ai không
Đêm mưa, một mảnh áo bông che đầu
Rạng ngày, ai biết ai đâu
Áo bông ai ướt, khăn đầu ai khô
Người đi Tam Đảo, Ngũ Hồ
Kẻ về khóc Trúc thương Ngô một mình
Non non, nước nước, tình tình
Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ.

Trong bài ta cần chú ý tới các chữ Tam Đảo, Ngũ Hồ là những nơi ông Tú vì cảm xúc mà tưởng tượng ra, nó như chốn thiên thai của tình yêu. Còn chuyện khóc Trung thương Ngô, Tú Xương mượn điển tích của Trung Quốc, vợ góa của vua Thuấn khóc chồng mà nước mắt thành máu, để lại vết hằn ở câu Trúc thương Ngô. Viết thế là ông Tú thương cảm, chia sẻ sự lỡ dở của bà Hai lắm. Áo bông che đầu cũng là một trong những tác phẩm xuất sắc của Tú Xương.
Người đàn bà thứ ba dự phần vào văn nghiệp Tú Xương là một người con gái hát ả đào. Hát ả đào là một thú chơi tao nhã của trí thức – văn nghệ sĩ thời ấy. Tại Nam Định có hẳn một dãy phố, với hàng trăm chiếu ả đào, người ta quen gọi là phố ả đào, chính là phố Hàng Thao bây giờ. Tú Xương thường hay đến đây.
Có khi ông Tú tìm đến chiếu ả đào chỉ là để trút vợi nỗi sầu muộn, quên đi những trái ngang, bế tắc của cuộc sống ô trọc, trầm luân. Mỗi lần như thế, ông Tú thường có thơ. Bài thơ hay nhất viết về chuyện đi hát là bài Đi hát mất ô. Bài này lâu nay tồn tại hai thuyết. Một thuyết cho rằng ông Tú có một người bạn cụ thể đi hát bị mất ô, về kể lại ông Tú cảm khái và viết nên bài thơ ấy.
Thuyết thứ hai cho rằng chính ông Tú đi hát bị mất ô mà làm được bài thơ ấy. Theo tôi thì thuyết thứ hai đáng tin cậy hơn. Xin hãy đọc cuốn Trông dòng sông Vị của Trần Thanh Mại, xuất bản tháng 4 năm 1935, nghĩa là chỉ sau ngày ông Tú mất 28 năm, viết về sự ra đời của bài thơ đó như sau:
“… Ông Tú Xương thường hay liều lĩnh; không tiền mà vẫn về chơi xóm ả đào. Người ta trọng đãi ông, vì ông là một nhà thi sĩ tao nhã, ăn nói vui vẻ lại hay cho chị em nhiều bài hát ý vị thâm trầm. Nhưng mà hát chịu mãi thì cũng bất tiện cho chị em, vì bà chủ hẳn không ưa lắm.
Mối tình của khách giang hồ có chăng chỉ đối với bạn hồng nhan, thừa đâu đến bà chủ để bắt bà chịu những thiệt thòi ấy? Vả chăng đối với hạng người ấy, tình là cái mồi để câu một thứ khác, kêu hơn, nặng hơn kia: Tiền! Cho nên người ta đã quyết định phải đến lượt ông Tú chịu thiệt một bữa.
Bữa ấy là bữa ông mất cái ô tây:
Hôm qua anh đến chơi đây
Giầy dôn anh diện, ô tây anh cầm
Rạng ngày sang trống canh năm
Anh dậy em vẫn còn nằm trơ trơ
Hỏi ô, ô mất bao giờ!
Hỏi em? Em những ỡm ờ không thưa!
Sợ khi rày gió mai mưa
Lấy gì đi sớm về khuya với tình!

Hay nhất là sự ông đã hiểu vì sao ô mất, và ai lấy mất ô. Những cử chỉ khả nghi của người bạn hát: Anh dậy em vẫn còn năm trơ trơ. Với lại: Hỏi em? Em những ỡm ờ không thưa!
Đủ chứng cho ông rõ. Nhưng nhà thi sĩ không cần để ý đến chuyện nhỏ nhặt ấy; thương tiếc, tức giận, sợ bà Tú hay chăng? Nào ai biết! Nhà thi sĩ chỉ than một câu, nó tình tứ biết bao, ý vị biết bao!
Sợ khi rày gió mai mưa
Lấy gì đi sớm về khuya với tình!

Thật là cứu được cả sĩ diện mà tỏ ra một người si, ngoài chữ tình, không thèm kể một vật gì, dù là một cái ô tây cũng vậy!…”. Phân tích như thế quả là chí lý.
Những năm gần đây, đang tự dưng tự lành, không hiểu sao lại có một số người cho rằng, ở câu hai của bài thơ phải đọc là “Giầy chân anh dận, ô tay anh cầm” mới là phải. Vì Tú Xương thường đi giầy Gia Định, ô lục soạn của ta chứ ông Tú không sính đồ tây.
Nói thế thì cũng có lý, nhưng câu thơ mà như thế lại mất đi tính trào lộng, đâu còn là bút pháp Tú Xương! Vậy nên theo văn bản của Trần Thanh Mai, như tôi vừa trích là khả dĩ hơn cả.
Như vậy, ba người đàn bà có liên quan đến văn nghiệp của Tú Xương, có người xe tơ kết tóc trăm năm, có người là tình yêu trong tâm tưởng, có người chỉ là chuyện tình thoáng chốc, nhưng cả ba đều “táp” vào tài năng trác việt của Tú Xương, khiến tài năng ấy thăng hoa, phát sáng, hoài thai ra ba thi phẩm hoàn hảo, xếp đầu bảng trong mảng thơ trữ tình của Tú Xương, và cũng là những thi phẩm xuất sắc trong kho tàng văn chương Việt Nam.
Lê Hoài Nam
Theo http://forum.trungtamasia.com/

Đọc hiểu bài ca phong cảnh Hương Sơn của Chu Mạnh Trinh

Đọc hiểu bài ca phong cảnh 
Hương Sơn của Chu Mạnh Trinh
1. Chu Mạnh Trinh (1862-1905) tự Cán Thần, hiệu Trúc Vân, quê ở làng Phú Thị, tổng Mễ Sở, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu (nay là Mễ Sở, huyện Văn Giang) tỉnh Hưng Yên. Ông là người tài hoa, thạo đủ cầm, kì, thi, hoạ, lại giỏi cả nghệ thuật kiến trúc, và đặc biệt say mê cảnh đẹp. Hương Sơn phong cảnh ca là một trong ba bài thơ được Chu Mạnh Trinh viết vào dịp ông đứng ra trông coi việc trùng tu tôn tạo quần thể thắng cảnh Hương Sơn.
2. Hương Sơn là thắng cảnh nổi tiếng thuộc huyện Mĩ Đức, Hà Tây. Bài thơ được viết theo thể hát nói, giàu nhạc tính, là một bức tranh về phong cảnh Hương Sơn vô cùng xinh đẹp và nên thơ. Đây là một bài thơ vịnh cảnh và thể hiện tâm sự, nhưng trước hết là một bài vịnh cảnh rất hay.
3. Đọc chậm, diễn cảm. Chú ý diễn tả sự thay đổi nhịp thơ linh hoạt trong bài.
1. Bài thơ có thể chia thành ba đoạn:
– Đoạn 1 (bốn dòng thơ đầu): giới thiệu thắng cảnh Hương Sơn, nhận xét tổng quát về cảnh đẹp và thể hiện tình cảm.
– Đoạn 2 (từ Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái đến Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây): tả cảnh đẹp Hương Sơn. Hương Sơn mang vẻ đẹp của chốn tiên cảnh, như một bức tranh đẹp và nhiều sắc màu.
– Đoạn 3 (phần còn lại): Suy nghĩ của nhà thơ về giang sơn đất nước. Đọc Đoạn thơ này có thể gắn với hiện thực đất nước để hiểu rộng và sâu hơn giá trị của bài thơ. Bài thơ thể hiện tình yêu quê hương đất nước tha thiết và tâm sự sâu kín của một nhà thơ về đất nước, cuộc đời.
2. Bốn câu thơ đầu giới thiệu bao quát toàn cảnh Hương Sơn và trực tiếp nêu cái thú ban đầu khi đến với Hương Sơn. Hai nhịp cân xứng xác định nét cơ bản bao trùm lên cảnh trí Hương Sơn bằng một nhận xét tinh tế: vừa là danh lam thắng cảnh do tạo hoá ban tặng vừa là công trình tôn giáo. Cảnh được dựng lên vừa mang nét bình dị, gần gũi, vừa thấm đượm không khí huyền diệu, linh thiêng. Đó là niềm “ao ước” không chỉ trong giây lát mà đã trở thành niềm khát khao “bấy lâu nay” của bao du khách.
Câu thơ thứ ba có giá trị tạo hình đặc sắc nhờ cách kết hợp giữa hình thức điệp từ liệt kê và thủ pháp luyến láy “non non, nước nước, mây mây”… Vừa vẽ ra cảnh trí hùng vĩ của non nước, mây trời Hương Sơn như một bức tranh thuỷ mặc cổ điển vừa tạo được âm điệu ngân nga, bâng khuâng man mác như cảm xúc của du khách trước vẻ huyền ảo chốn bồng lai tiên cảnh.
3. Ba khổ giữa miêu tả cảnh đẹp cụ thể của Hương Sơn. Rừng mơ, suối Yến, tiếng chim ca thỏ thẻ “rừng mai”, dáng cá “lững lờ” dưới dòng nước trong veo, phẳng lặng, tiếng chuông chùa ngân nga… là những hình ảnh, âm thanh sinh động biến hoá như có hồn. Bức tranh phong cảnh vừa hiện thực vừa mang màu sắc huyền thoại lãng mạn được dệt nên bởi nghệ thuật ẩn dụ nhân hoá: “chim cúng trái”, “cá nghe kinh”. Cách phối thanh, phối hình tài hoa tinh tế đã gợi lên được thần thái Hương Sơn. Âm điệu của “tiếng chày kình” (tiếng chuông chùa) như dẫn dụ du khách vào giấc mộng cõi tiên cảnh để tâm hồn được cao khiết, thánh thiện hơn.
Khung cảnh thiên nhiên đẹp như trong cõi mộng và không gian tĩnh lặng đã khiến cho “khách tang hải giật mình”. Cái giật mình ấy vừa làm nổi bật lên vẻ tĩnh lặng của không gian vừa diễn tả được sự say sưa của khách khi đứng trước cảnh đẹp Hương Sơn.
Qua đoạn thơ, những lớp lang trập trùng cao thấp của thắng cảnh Hương Sơn lần lượt hiện lên như mời gọi, như mê hoặc. Đại từ chỉ định này được lặp lại 4 lần để liệt kê 4 thắng cảnh tiêu biểu nổi tiếng gắn với những huyền thoại li kì về cửa Phật đã nhân lên cảm xúc say sưa khoan khoái. Tiếp theo là những câu thơ giàu chất hoạ, chất nhạc với các từ láy gợi hình long lanh, thăm thẳm, gập ghềnh vẽ ra vẻ đẹp mộng ảo, thần tiên huyền bí của “Nam thiên đệ nhất động”.
4. Đoạn kết bài thơ là nơi tập trung thể hiện tư tưởng và cảm hứng về tình yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc của nhà thơ. Câu hỏi “Chừng giang sơn còn đợi ai đây?” vừa kín đáo biểu lộ niềm tự hào của người đã đóng góp nhiều công sức tôn tạo thêm vẻ đẹp huyền diệu của Hương Sơn vừa nhắc nhở mọi người cùng có trách nhiệm làm đẹp cho giang sơn đất nước. Bài ca kết lại trong sự hoà quyện giữa cảm hứng tôn giáo đầy thành kính trang nghiêm và tình yêu quê hương đất nước tha thiết. Điều đó góp phần làm cho Hương Sơn đẹp hơn, hấp dẫn hơn.
Bài này viết theo thể hát nói, một thể nhỏ của thể lớn là ca trù. Ngày xưa các nhà trí thức phong lưu thường sáng tác những bài hát nói rồi họp nhau năm ba người, tổ chức một hình thức sinh hoạt văn hoá là hát ả đầu, có giọng nữ hay ngâm thơ theo các làn điệu khác nhau, có nhạc đệm bằng phách, bằng giọng đàn đáy và tiếng trống điểm câu. Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát dày công nghiên cứu loại nhạc độc đáo này và trong một hội nghị âm nhạc châu á, nhạc ấy đã được công nhận là loại nhạc ưu tú.
Là một thể thơ có yêu cầu cao về nhạc điệu nên ở bài này cũng như mọi bài hát nói khác, cứ nghe âm điệu réo rắt ngay trong kí hiệu thẩm mĩ của âm thanh các từ ngữ đã giàu có hơn ở mọi thể thơ. Thơ lục bát và các thể văn đều thường dùng cân đối âm thanh, đặc biệt là thanh với nhịp 2/2 hoặc bội số của nhịp 2, lấy thanh cuối nhịp làm chuẩn, thảng hoặc mới có nhịp 3. Câu 7 chữ trong thể song thất lục bát, nhịp gieo 3/2/2 hoặc 3/4 nhưng vẫn giữ cân đối thanh cuối nhịp 3/2/2 (cân đối thanh: Trăm năm (b) trong cõi (t) người ta (b) – Chữ tài (b) chữ mệnh (t) khéo là (b) ghét nhau (b); Thuở trời đất (t) nổi cơn (b) gió bụi (t) – Khách má hồng (b) nhiều nỗi (t) truân chuyên (b). Câu 7 chữ Đường luật cũng giữ cân đối như thế: Bước tới (t) Đèo Ngang (b) bóng (t) xế tà (b) – Cỏ cây (b) chen đá (t) lá chen hoa (b)… Còn ở thể hát nói như bài này thì cân đối thanh ở cuối nhịp vẫn là nguyên tắc nhưng nhịp thì rộng rãi, không hạn định bao nhiêu nên chữ dòng nhạc luôn thay đổi, biến hóa:
Bầu trời (nhịp 2-b) cảnh Bụt (nhịp 2-t),
Thú Hương Sơn (nhịp 3-b) ao ước (nhịp 2-t) bấy lâu nay (nhịp 3-b).
Kìa non non (nhịp 3-b), nước nước (nhịp 2-t), mây mây (nhịp 2-b).
Đệ nhất động (nhịp 3-t), hỏi rằng (nhịp 2-b) đây có phải ?(nhịp 3-t)…
Này suối Giải Oan (nhịp 4-b), này chùa Cửa Võng (nhịp 4-t) hoặc Này suối (1/2 nhịp 4-t), Giải Oan (1/2 nhịp 4-b), này chùa (1/2 nhịp 4-b), Cửa Võng (1/2 nhịp 4-t)…
Đó là nhịp và cân đối thanh, còn vần cũng luôn biến đổi, lúc là vần lưng (Bầu trời cảnh Bụt, Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay) lúc cũng vần lưng nhưng đã ở trong câu mở rộng chứ không phải lục bát (Thoảng bên tai một tiếng chày kình - Khách tang hải giật mình trong giấc mộng; Nhác trông lên ai khéo vẽ hình - Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt…). Số chữ trong câu cũng tự do miễn giữ được cân đối thanh =: câu 1 : 4 chữ, câu 2 : 8 chữ, câu 3: 7, câu 4: 8, câu 5, 6: 7, câu 7 =: 7, câu 8: 8… câu cuối: 6. Giọng điệu, hơi thơ thay đổi thành 3 kiểu: 4 câu đầu =: giọng điệu háo hức, 10 câu tiếp: hơi thơ dồn dập phát hiện, chiêm ngưỡng, trong ngạc nhiên, 5 câu cuối: hơi thơ trở lại tĩnh lặng, nghĩ suy; mở bài là một câu hỏi náo nức, hào hứng; khép bài là một lời khẳng định lặng thầm, thành kính; giữa bài, ngăn dòng tâm thế khách vãn cảnh ra hai đoạn trần tục và thoát tục là một tiếng chuông siêu thoát huyền diệu. Màu sắc âm thanh, đường nét cũng đóng góp vào bản nhạc điệu chung của bài thơ: rộn ràng, vui tươi nhưng vẫn lắng suy trầm mặc, không những chỉ vãn cảnh mà thấm cảnh.
(Lê Trí Viễn, Đến với thơ hay, tập 1, NXB Giáo dục, 2003).
Theo https://luonluon.com/

Hát đúm của người Thổ ở Việt Nam

Hát đúm của người Thổ ở Việt Nam
Tóm tắt: Hát đúm là sinh hoạt văn hóa gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng của các cư dân làm nông nghiệp. Ở người Thổ hát đúm tuy có những hình thức khác nhau (như hát em ôi, hát trống chiêng, hát ghẹo,...) nhưng vẫn chung bản chất là một hình thức giao duyên nam nữ. Bài viết giới thiệu hát đúm của người Thổ ở Việt Nam.
Từ khóa: Dân tộc Thổ; hát đúm; diễn xướng; bảo tồn.
1. Mở đầu
Hát đúm của người Thổ được tổ chức vào dịp lễ khai xuân, trong những ngày đầu của tết Nguyên Đán. Ở một số làng người Thổ thuộc huyện Như Xuân (Thanh Hóa), hát đúm thường được tổ chức từ mồng một đến mồng mười tháng giêng ở đình làng. Hát đúm là một hình thức diễn xướng dân gian của cộng đồng được diễn ra ở ngoài trời, trên đường làng, cổng chùa, cổng đình. Nó có những hình thức như hát ghẹo, hát trống chiêng, hát em ôi... Trong ngày hội xuân, những người đi hội, đi hát đều mặc trang phục ngày lễ đẹp nhất của mình; nam giới thường mặc áo dài có hàng cúc đồng bên sườn phải, quần dài, khăn đóng; còn nữ giới thì mặc áo tứ thân hoặc năm thân may dài đến đầu gối, cổ áo hình chữ nhật và khăn trùm đầu có màu trắng, gấp chéo hình tam giác. Ở vùng cửa sông Bạch Đằng, tục hát đúm (có thêm hội mở mặt) được diễn ra ở chùa Phục Lễ (tổng Phục Lễ) và miếu Thập Cửu Tiên Công (tổng Hà Nam) từ ngày mồng bốn đến mồng mười tháng giêng hằng năm; trai gái tham gia hát đúm cũng mặc bộ trang phục truyền thống của người Kinh. Có thể thấy rằng, hát đúm của người Thổ cũng như người Kinh đều được tổ chức chủ yếu vào mùa xuân và gắn với lễ hội làng. Không gian của hát đúm luôn rộng mở, gắn với một địa điểm thờ tự (như đình, đền, chùa, miếu) và mang đậm tính chất tâm linh. 
2. Tính thức giao duyên nam nữ của hát đúm
Hát đúm là một hình thức sinh hoạt dành cho tầng lớp bình dân, nhưng nó vẫn có những quy định khá chặt chẽ về lề lối cũng như cách thức diễn xướng được cộng đồng chấp nhận. Cả hát đúm của người Thổ và người Kinh đều không giới hạn lứa tuổi người tham gia. Đối với những cặp đôi hay nhóm mà hát với nhau thì không cùng một gia đình, dòng họ; những người đã có gia đình, khi thấy chồng hay vợ của mình hát với người khác thì không được ghen; những thanh niên mà đang để tang thì trong ba năm không được tham gia hát đúm. Trong hát đúm của người Kinh còn có thêm quy định nam giới không được hát chua, hát trêu chọc hay chọn các từ có nghĩa khó hiểu khi hát. Mỗi cuộc hát đúm đều có những phần thưởng thú vị dành cho người thắng cuộc. Ở hát đúm người Kinh thì bên thắng được lấy chọn bất kì món đồ nào mà bên thua mang đi như nón, ô, khăn tay, cơi trầu,... Còn ở người Thổ thì bên thua phải mời bên thắng đi ăn quà, ăn trầu hoặc mời rượu.
Nếu xem xét bối cảnh xã hội Việt Nam truyền thống thì tư tưởng đạo Khổng chi phối ít nhiều đến cuộc sống của người Kinh và người Thổ. Đặc biệt ở người Kinh sống trong vòng cương tỏa của các nghi lễ Khổng giáo [1, tr.23 - 25]. Điều này được thể hiện rõ trong thành phần đối tượng tham gia hát đúm. Ở người Kinh, các cô gái con nhà quan lại, chức dịch, nhà giàu tại địa phương không bao giờ có thể hòa mình trong những cuộc hát đúm. Họ đã bị trói chặt trong hệ tư tưởng Khổng giáo. Trong ngày hội làng quê khi mà những trai gái khác tự do yêu đương, tìm hiểu, thì những cô gái này đã có những “cuộc hôn nhân được sắp đặt trước”. Nếu nhìn sang hát đúm của người Thổ thì tư tưởng Khổng giáo đã bị lu mờ, bằng chứng là trong các cuộc hát mọi đối tượng đều được tham gia không kể con nhà quan lại hay bình dân.
Một điều dễ dàng nhận thấy rằng, trình tự trong hát đúm của người Thổ và người Kinh đều phải trải qua ba giai đoạn cơ bản sau: mở đầu có các chặng hát gặp, hát chào, hát mời giầu… (giai đoạn này được coi là thủ tục làm quen, thăm hỏi danh tính và họ đưa ra những quy định và thể lệ cuộc hát); giai đoạn giữa là trung tâm của các cuộc hát đúm và nó có thể kéo dài hay ngắn tùy thuộc vào cảm hứng của người hát (nó bao gồm các chặng: tỏ tình, đối - đáp, hát họa, hát thách cưới, hát lính…; đây là lúc trai gái bày tỏ tình cảm với nhau và thử tài nhau); giai đoạn kết hay gọi là hát chia tay, đây là lúc trai gái thể hiện sự lưu luyến của mình với đối phương và họ có thể hẹn nhau vào mùa hát năm sau.
Khi nói đến các hình thức hát giao duyên nam nữ, người ta thường quan tâm đến đạo cụ trong lúc diễn xướng. Nếu như hát đúm của người Kinh chỉ đơn giản là chiếc nón để người con gái che đi khuôn mặt của mình thì hát đúm của người Thổ được đặc trưng bởi quả đúm. Vào những ngày trước tết, mỗi cô gái thường tự làm cho mình một quả đúm và trong khi hát cô sẽ ném sang phía đám con trai đối diện. Đó là một sự thỏa thuận, một tín hiệu yêu thương được người con gái hướng tới bạn hát của mình.
Thường thì cả tốp nam, nữ cùng chứng kiến các “đại diện” của “bên mình” hát đối với người “bên kia” và vừa hát vừa tung quả đúm về phía đối phương. Khi vào cuộc hát, bao giờ câu hát (khổ thơ) chúc tết cũng là lời hát khởi đầu. Lần lượt từng người trong hai nhóm nam nữ có thể hát những câu chào mừng để làm quen, nhưng người hát sau không được hát trùng với lời ca của người hát trước. Bài bản lời ca dường như có sẵn, thể thơ được dùng để sáng tạo vào lời hát là thể song thất lục bát (hai câu 7, một câu 6 - 8) hoặc thể lục bát (6 - 8), có một số bạn hát giỏi ứng đối có thể “sáng tác” thêm, cứ như thế một số bài bản được bổ sung thêm lời thơ (hát) theo thời gian. Thông qua những cuộc hát đúm hàng năm, các cá nhân đã tự làm phong phú thêm lời ca của mình và truyền dạy cho bạn cùng nhóm.
3. Hát đúm tại đình làng
Những cuộc hát đúm, được diễn ra trong không gian của ngày tết và được tổ chức ở các sân bãi của chùa, đình trong các làng xóm người Thổ. Khi ấy làn điệu của nó cũng chậm rãi để phù hợp với tâm trạng cũng như không khí của cuộc giao duyên. Tuy nhiên, trong hát đúm của người Thổ còn tồn tại một hình thức khác được gọi là hát trống chiêng. Đây là một hình thức được tổ chức trong đình, lễ cầu phúc và chỉ những đôi trai gái tài năng nhất mới được thể hiện. Trong các ngày hội đình Thi, đình Thấng (ở hội Thanh Hóa), làng xóm sẽ cử ra vài đôi trai gái để thể hiện các bài hát đúm trước sự chứng kiến của dân làng, quan lại. Khi ấy nam đứng một bên đánh trống, nữ đứng đối diện để gõ bốn chiếc chiêng với các âm thanh khác nhau.
Trong cuộc hát, tiếng trống chiêng vang lên để tạo ra một âm thanh với nhịp điệu nhanh hơn hát đúm ngày thường và họ chỉ được hát những bài hát chúc tụng, ca ngợi quê hương, làng xã. Ở đây hát trống chiêng mang tính chất của một hình thức hát thờ, hát cửa đình mà chúng ta vẫn thường thấy ở hát quan họ, hát xoan hoặc ca trù. Điều này dường như đã phai nhạt trong hát đúm của người Kinh. Ở vùng cửa sông Bạch Đằng, hát đúm chỉ đơn thuần còn tính chất thờ tự, tôn giáo; chỉ còn phảng phất trong một số câu hát ca ngợi vẻ đẹp của chùa Phục Lễ, các vị Tiên công.
Tuy hát đúm của người Kinh đã phai nhạt đi những tính chất của một nghi lễ hát thờ thần, nhưng xét dưới góc độ hình thức thì nó lại có vẻ phong phú hơn hát đúm của người Thổ. Chẳng hạn, cư dân trong tổng Phục Lễ có thêm hình thức hát đúm ống (hát ví ống), hát trông trăng vào những đêm trăng sáng mùa thu; cư dân tổng Hà Nam có hát đèn vào buổi tối mùa xuân và hát giao thuyền trong lễ hội.
4. Ca từ trong hát đúm
Là một loại hình dân ca gắn bó lâu đời với người Thổ, hát đúm đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học Việt Nam. Những lời ca trong hát đúm đã vận dụng tài tình những câu thơ lục bát, thơ bảy chữ, song thất lục bát… để làm cảm hứng sáng tạo. Trong thời kỳ hình thành và phát triển, lời ca trong hát đúm chỉ là sự ứng vận những cặp từ, vốn từ đã có sẵn trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, cộng với tư duy liên tưởng phong phú [6, tr.119]. 
“Đúm này thêu bốn chữ vàng
Bay lên phấp phới cho chàng bảnh bao 
Nó lên tải thấp tải cao 
Tải lụa, tải đào, tải xía, tải xanh”.
Về sau với sự phát triển mạnh mẽ của nền văn học thế kỷ XV, thơ ca đạt ở trình độ đỉnh cao thì những lời ca trong hát đúm lại có một bước chuyển mình mới. Những người đi hát đều biết vài câu, đến vài trăm câu thơ nổi tiếng trong Chinh Phụ ngâm, Truyện Kiều, Nhị Độ Mai, Phạm Công... Khi hát họ có thể “tam sao thất bản” thêm; cũng có khi giữ nguyên những bài thơ đó, miễn sao phù hợp với bối cảnh và có thể ứng đáp được. 
“Thuở trời đất nổi cơn gió bụi 
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên 
Xanh kia thăm thẳm tầng trên 
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?”.
Trong văn hóa người Thổ nói riêng và cư dân nhóm ngôn ngữ Kinh - Mường nói chung, tục ăn trầu đã trở thành một biểu tượng đẹp, thể hiện khát vọng yêu đương: 
“Hát xê hát xịch lại đây 
Trầu ăn với quế ghế mây ta ngồi 
Hát xê hát xịch lại rồi 
Trầu ăn chả có ghế ngồi cũng không”.
Hơn vậy, việc chàng trai và cô gái nhai trầu với nhau trong văn hóa người Thổ được coi là tín hiệu của ngày cưới. Đưa và nhận trầu là một hành động nghiêm chỉnh ràng buộc người con trai và người con gái [6, tr.109]. Trong hát đúm nội dung này được thể hiện một cách đậm nét, nó trở thành một chủ đề rộng cho các đôi thanh niên nam nữ khi diễn xướng.
Trong truyền thống, địa bàn cư trú của người Thổ ở Việt Nam là nơi diễn ra nhiều cuộc chiến ác liệt. Cũng vì thế mà các đề tài về đi lính, hát lính, gửi thư cho lính luôn hấp dẫn và chiếm được tình cảm của con người nơi đây. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, họ sáng tác ra những bài hát lính để động viên người thân ra mặt trận: 
“Chú lính là chú lính ôi
Đổ gạo qua nồi mà chắt nước đi
Nào ai phải lính thì đi 
Cửa nhà đeo vận buồn chi vợ hiền”. 
Chủ đề này dường như cũng là một nội dung quan trọng trong các cuộc hát đúm của người Kinh: 
“Anh đi tích cực xung phong
Nhập vào bộ đội đồng lòng đánh Tây 
Việc nhà đã có em thay
Em xin đảm nhiệm từ nay chu toàn”.
Do bản chất là một hình thức giao duyên nam nữ nên yếu tố “mời gọi” trong hát đúm được thể hiện rõ ràng. Hát đúm của người Kinh bao giờ cũng bắt đầu và kết thúc bằng câu: “Duyên kết bạn mình ơi” hoặc “rằng người thương ơi”; còn hát đúm người Thổ mở đầu và kết thúc bằng một tiếng gọi dài “ơ ơ... ơi... ới ới...”. Đó như một báo hiệu để người hát bắt nhịp cho làn điệu cho mình và nó cũng giúp người nghe nhận biết sắp kết thúc bài hát để chuẩn bị đối lại. Hơn nữa, các từ xưng hô trong hát đúm cũng rất phong phú, thể hiện một sự gắn bó, yêu thương giữa người hát. Những từ ngữ này luôn là ngôi thứ nhất và có sự đối xứng giữa nam với nữ: chàng - nàng, anh - em, chàng - thiếp... Điều này rất khác với một số hình thức hát giao duyên khác của người Kinh, như trong hát quan họ thì bên nam luôn xưng em - gọi chị, bên nữ thì xưng em - gọi anh; hay trong hát trống quân thì chỉ có một cách xưng hô là anh - em.
5. Kết luận
Trong xã hội người Thổ truyền thống, hát đúm là một loại hình dân ca, một sân chơi dành cho nhiều người. Bởi tính dân dã trong lời ca, làn điệu thì chỉ có một, nên trong khắp xóm làng ai cũng biết hát, không ít thì nhiều. Người có chất giọng tốt thì chú tâm luyện tập nhiều bài hát, còn người không có giọng thì cũng cố gắng biết vài câu để có thể tự hát. Trong ngày hội làng, xung quanh những đám hát là những người theo dõi, phần nhiều là phụ nữ, đàn ông đã nhiều tuổi hoặc những thanh niên mới lớn. Họ đứng xung quanh những đúm hát và có nhiệm vụ nhắc lời, gợi ý cho người đang thi tài bên trong. Dân gian gọi là những “người xui hát”, tất nhiên họ cũng được cộng đồng chấp nhận như một thành phần tham gia để làm cho đám hát vui hơn, kéo dài được lâu hơn. Nhìn ở góc độ này, có thể thấy hát đúm là một nét sinh hoạt của cả cộng đồng, người ta không chỉ hát đúm mà còn đi chơi đúm.
Như đã nói ở trên, sau mỗi mùa chơi xuân hát đúm trong làng xã người Thổ lại đồn là có đôi yêu nhau, có đám chuẩn bị ăn hỏi... Mọi người kể cho nhau nghe với sự khâm phục, ngưỡng mộ, đặc biệt là những thanh niên mới lớn. Đi hát đúm và chơi hội xuân là một cơ hội để họ đi tìm tình yêu cho mình, như một chu kì cần có của đời người. Nội dung trong các cuộc hát không có gì khác xung quanh chủ đề tình yêu, gia đình.
Trong hát quan họ của người Kinh ở Kinh Bắc, liền anh, liền chị không được lấy nhau. Hát đúm của người Thổ lại là một cơ hội để những người hát nên vợ nên chồng. Họ hẹn ước thề thốt và trao cho nhau những vật làm tin. Đôi khi nó là cái khăn mùi xoa mà chàng trai đã chuẩn bị trước khi đi hội, cũng có khi là quả đúm của cô gái, hay những miếng trầu mà cả hai đã chuẩn bị sẵn. Họ cùng ăn với nhau để có thể cảm nhận rõ hơn hương vị của tình yêu, thấm đượm qua những câu hát đúm.
Có thể thấy, hát đúm dù trong cộng đồng người Thổ hay người Kinh thì đều là một cách thức giúp người dân bổ sung kiến thức về sản xuất lao động. Thông qua nội dung, ca từ của các bài hát đố, hát họa, hay hát giảng,... mà các thanh niên nam nữ trau dồi thêm cho mình những tri thức về hiện tượng thiên nhiên, khí hậu, thực vật, canh tác nông nghiệp. 
“Tháng chạp thì chở trồng khoai
Tháng giêng trồng đậu tháng hai trồng cà 
Tháng ba cày bở ruộng ra
Tháng tư gieo mạ thuận hòa mọi nơi”.
Trong khắp các làng xóm của người Thổ ngày trước, hát đúm được diễn ra chủ yếu vào mùa xuân - khoảng thời gian quan trọng của các cư dân làm nông nghiệp. Hát đúm ở đây đã vượt ra ngoài những lời ca bình thường, nó trở thành một thứ “âm nhạc của cuộc đời”, một hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng trong đời sống của người Thổ ở Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
[1] Đào Duy Anh (1937), Influecnce Confucianism in Viet Nam, Vietnamese studies.
[2] Lê Văn Bé (1977), Bước đầu tìm hiểu về người Thổ ở Như Xuân, Thanh Hóa, Luận án tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hà Nội.
[3] Nguyễn Đỗ Hiệp (2013), Hát đúm của người Việt ở Bắc Bộ, Luận án tiến sĩ Văn hóa học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.
[4] Phạm Lê Hòa, Đỗ Lan Phương (2001), “Hát đúm Phả Lễ - Thủy Nguyên - Hải Phòng”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật.
[5]   Nguyễn Đăng Hòe (1979), Bước đầu tìm hiểu hát ghẹo Vĩnh Phú, Nxb Ty Văn hóa Thông tin Vĩnh Phú, Vĩnh Phú.
[6] Nguyễn Văn Huyên (2002), “Hát đối của thanh niên nam nữ ở Việt Nam”, Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam, t.1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[7] Hữu Ngọc (2002), Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội.
[8] Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo (1997), Kho tàng diễn xướng dân gian Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
[9] Nguyễn Xuân Kính (2006), Thi pháp ca dao, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[10] Trần Đức Tùng (2014), Hát đúm của các làng vùng cửa sông Bạch Đằng: lịch sử, văn hóa và di sản, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội.
[11] Viện Dân tộc học (2014), “Dân tộc Thổ”, Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
Trịnh Hữu Anh 
Theo http://vssr.vass.gov.vn/

Sứ mạng thi sĩ: Nhớ và tưởng

Sứ mạng thi sĩ: Nhớ và tưởng
Thi sĩ, người thiết lập một con đường ngôn ngữ, một thế giới ngôn ngữ, dù để cho cái Đẹp (Mỹ), cho cái Thật (Chân), hay cho cái Tốt (Thiện), thì thế giới ngôn ngữ đó bao giờ cũng in đậm nét sự tìm lại, nhớ lại, khám phá trở lại cái thiên đường hài hòa đã mất, hay nói một cách triết học, in đậm sự mong mỏi trở về Hữu thể, nỗi nhớ quê nhà Hữu thể (nostalgie de l'Etre).
Con người từ bao giờ, ít nhất  là từ khi sanh ra đời, đã bị  cắt lìa với Hữu thể (Etre, Being, Sein), như đứa bé phải cắt lìa cuống rốn để giã từ thai tạng, giã từ lòng mẹ. Hữu thể là chữ của văn hóa Tây phương, còn trong ngữ cảnh Đông phương thì có thể gọi là Đạo, là Thể tánh, là Pháp giới tánh, là tánh Không... Còn nói theo ngôn ngữ hiện đại chung cho cả Tây lẫn Đông thì đó là Thực tại (ví dụ phẩm Nhập pháp giới của kinh Hoa Nghiêm, Thomas Cleary dịch là Entry into the Realm of Reality), là cái Toàn thể, cái đầu tiên và cuối cùng, cái Đời Sống viết hoa. Ra đời, nghĩa là từ giã thế giới bản thể, cái hỗn mang đồng nhất để đến sống trong thế giới hiện tượng sai biệt và vì sai biệt cho nên có thời gian, vô thường và cái chết.
Thi sĩ, người thiết lập một con đường ngôn ngữ, một thế giới ngôn ngữ, dù để cho cái Đẹp (Mỹ), cho cái Thật (Chân), hay cho cái Tốt (Thiện), thì thế giới ngôn ngữ đó bao giờ cũng in đậm nét sự tìm lại, nhớ lại, khám phá trở lại cái thiên đường hài hòa đã mất, hay nói một cách triết học, in đậm sự mong mỏi trở về Hữu thể, nỗi nhớ quê nhà Hữu thể (nostalgie de l'Etre).
Người ta thường trách các thi sĩ có giọng điệu buồn, luyến tiếc, ca thương cho những mất mát. Nhưng trách làm sao được, khi những người đầy tính xã hội, tính lý trí như Khổng Tử ở Đông phương và Karl Marx ở Tây phương cũng đi tìm tương lai của xã hội bằng sự hoài nhớ quá khứ. Một đằng là nhớ tưởng về đời Nghiêu Thuấn, một đằng ngầm ẩn một hoài nhớ Do Thái giáo về viễn tượng trời mới đất mới sau khi thế giới đã kinh qua những đảo lộn cách mạng. Nhưng biện chứng pháp là gì nếu không phải là sự lặp lại ở mức cao hơn cái ban đầu?
Thi sĩ là sự hoài nhớ cái ban đầu (Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên). Thi sĩ là người nhớ lại Hữu thể qua ngôn ngữ. Hữu thể là cái mà mình đã đánh mất, đã quên đâu đó từ lúc nào không rõ. Phải chăng Hữu thể là cái tinh túy, là yếu tính (essence) của cuộc sống, của hiện hữu (existence) ở trần gian này? Phải chăng Hữu thể là cái hiện hữu của hiện hữu, cái đời sống của đời sống (existence de l'existence, existence vừa có nghĩa là hiện hữu, vừa có nghĩa là đời sống)? Và nếu theo chủ nghĩa hiện thực thì thi sĩ sẽ ở mức độ của mình thể hiện cái hiện thực của chủ nghĩa hiện thực (la réalité du réalisme).
Thi sĩ là người tìm lại sự hài hòa của trời - đất - người (Thiên - Địa - Nhân), tìm lại một vũ trụ hài hòa trước khi có cơn gió bụi:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm tầng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này

(Chinh phụ ngâm)
Không phải tình cờ mà tập thơ đầu tay và cảm thức đầu đời của Chế Lan Viên có tên là Điêu tàn. Điêu tàn không phải chỉ là sự điêu tàn cụ thể của vương quốc Chiêm. Điêu tàn là cái thế giới này so với cái vương quốc lý tưởng luôn nằm trong tâm tưởng mà hình như mình đã từ bỏ, đã bị cắt lìa. So với cõi “thiên tiên” của Văn Cao trong những bài hát Suối mơ, Bến xuân, Thiên thai trong vắt thì ở đây quả là điêu tàn. So với cái “sơ nguyên tượng”, “sơ nguyên mộng” (chữ của Bùi Giáng) thì đây quả là đất trích và thi sĩ là trích tiên, tiên bị đày xuống thế gian:
Lên mù sương xuống mù sương
Bước xa bờ cỏ xa đường thương yêu
Tuổi thơ em có buồn nhiều
Thì xin cứ để bóng chiều bay qua
Bể dâu sực tỉnh giang hà
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh

(Áo xanh – Bùi Giáng)
Con người nói chung và thi sĩ nói riêng, có ai mà không “một lần lạc bước bước ra”, ra khỏi và nhớ mãi một “ngõ ban sơ”, một “mưa nguồn”, một “màu hoa trên ngàn”:
Ngõ ban sơ hạnh ngân dài
Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua
Lỡ từ lạc bước bước ra
Chết từ sơ ngộ màu hoa trên ngàn.

(B.G)
Trong bài thơ viết về Đà Lạt, Bùi Giáng đã nói giùm chúng ta một quê hương đích thật đã chìm đâu trong dâu biển trùng trùng:
Non nước ấy chìm đâu em có biết
Dựng bên trời để nhớ để quên đi
Màu nước chảy để dư vang chia biệt
Vọng miên man trường hận thở than gì.

“Ngày mở mắt ở đây” cũng là ngày mất mát “bờ bên kia” (bỉ ngạn, thuật ngữ PG):
Ngày mở mắt ngó trời xanh xa thế
Ở đây là màu đất cỏ xuân con
Hè nắng hạ với thu đông buồn thế
Với tình yêu em giữ mất hay còn. 

(B.G)

Hàn Mặc Tử, trong tập thơ đầu tiên Gái quê, lúc ông mới 23 tuổi, chưa bị bệnh tật hành hạ và cái chết réo gọi từng ngày, đang tuổi thanh niên tài năng nở rộ và phơi phới tình yêu, chúng ta vẫn bắt gặp một nỗi nhớ nhung mênh mông, một xao xuyến mông lung, một khắc khoải mơ hồ nào đó. Bài thơ đăng lần đầu trên báo Sài Gòn Văn Chương được đặt tên là "Mong đợi", về sau trong tập thơ đổi thành "Tình quê", và được phổ nhạc đã lâu:
Trước sân anh thơ thẩn
Đăm đăm trông nhạn về
Mây chiều còn phiêu bạt
Lang thang trên đồi quê
Gió chiều quên ngừng lại
Dòng nước luôn trôi đi
Ngàn lau không tiếng nói
Lòng anh dường đê mê...
Nhớ mong và xao xuyến, khắc khoải như chờ đợi một cái gì không biết đã đánh mất ở đâu từ đâu, và mơ hồ mong gặp lại. Đây là sự nhớ mong, xao xuyến, khắc khoải của chàng cùng tử trong kinh Pháp Hoa, lang thang phiêu giạt đói khổ cả vật chất lẫn tinh thần, tuy không biết mình là đứa con một trưởng giả giàu có, thân phận mình không phải nghèo nàn lang thang, nhưng đôi lúc rảnh rang giữa cảnh “tình quê”, không khỏi bâng khuâng tự hỏi biết đâu mình lại có một quê nhà ở đâu đó.
Thi sĩ là nỗi nhớ muôn kiếp, là bài sầu ca (élégie) nhớ xứ mênh mông:
Đồn xa quằn quại bóng cờ
Phất phơ buồn tự thuở xưa tìm về
Ngàn năm sực tỉnh lê thê
Trên thành son nhạt chiều tê cúi đầu...
Đêm mơ lay ánh trăng tròn
Hồn xưa gởi tiếng thời gian, trống dồn.

(Chiều xưa - Huy Cận)

Nỗi nhớ mong, sầu xứ, xao xuyến, khắc khoải, bất an này là một cảm thức mang tính hữu thể học (ontologie). Có nhớ mong, có bất an, khắc khoải, thì phải có một cái gì đó: một cái gì đó chìm sâu đâu trong tiềm thức để khơi gợi về một cái toàn thể, một cái hài hòa khiến cho ta có những cảm thức này và để cho những cảm xúc ấy trở về và chấm dứt trong đó. Còn nếu không có Hữu thể thì cũng phải có một cái gì đó cho mọi khắc khoải chấm dứt, dù đó là Hư vô (le Néant), mà Hư vô hiểu một cách thô thiển là cái chết. Phải chăng, có sự bất an của cái phần tử là bởi vì nó âm thầm cảm thấy một cái Toàn thể nào đó để giải quyết cho nỗi bất an tự nền tảng hiện hữu của nó, và dù gì nó cũng phải tự giải quyết nỗi bất an đó (Tập thể) bằng cách giải thể toàn bộ cơ cấu của những cái đã tạo ra bất an (Tập đế) để chấm dứt hoàn toàn mọi bất an (Diệt đế) bằng một con đường tự giải thoát (Đạo đế). Chẳng riêng gì thi sĩ, con người ai cũng phải đi theo tiến trình này, dù có khi chỉ là theo cách của mình, khả năng của mình, ảo vọng của mình.
Thi sĩ là người nhớ và tưởng, là kẻ si tình Hữu thể, cái Toàn thể, cái Hài hòa xa xưa, cái Thiên Nhiên viết hoa, mà hình như mình đã đánh mất hoặc có thể chưa bao giờ có nhưng rồi phải đạt đến. Cái đó có thể là Em của Trịnh Công Sơn, một Em mà tất cả những cô gái trên đời này chỉ là cái cớ, cái phản ảnh xa vời của cái Em vĩnh cửu, Em thiên thu. Ngay cả Diễm, một người có thật, thì Diễm đó cũng phải là Diễm xưa, Diễm xa xưa, Diễm huyền thoại, Diễm của ký ức, nghĩa là của một thời gian xa xôi thụt lùi đến tận vĩnh cửu thiên thu. Và Diễm đó hay những ai đó được đồng hóa với vũ trụ, với thiên nhiên, với trời đất vốn hài hòa từ nguyên thủy:
Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao...
Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
Để người phiêu lãng quên mình lãng du

(Diễm xưa)
Chỉ một “đôi vai gầy guộc nhỏ” cũng làm cho nhạc sĩ - nhạc sĩ là nhà thơ của âm thanh - mơ về “chốn xa xăm”:
Nắng có hồng bằng đôi môi em
Mưa có buồn bằng đôi mắt em
Vai em gầy guộc nhỏ
Như cánh hạc về chốn xa xăm...
Chỉ một thoáng em đi qua cũng đủ để “tôi tìm thấy tôi”, để nghe “lời thiên thu gọi”, cũng đủ để “Nằm mộng suốt đêm trong thiên đường”:
Hôm chợt thấy em đi về bên kia phố
Trong lòng bỗng vui như đời rất lạ
Tôi tìm thấy tôi theo từng gót xa
Làm nhiều lá bay trên đường đi
Tôi tìm thấy tôi như giọt nắng kia
Làm hồng chút môi cho em nhờ
Ta nghe đời rất mênh mông
Trong chân người bước chầm chậm....
Dưới đường phố kia có người nhớ em
Nằm mộng suốt đêm trong thiên đường.

Nhưng dù có khi “Nghe lời thiên thu gọi”, có khi mơ“ ta về đất rộng khói trời mênh mông”, thì tất cả cũng chỉ là nhớ và tưởng, bởi vì “rừng xưa đã khép”. Vì “rừng xưa đã khép” nên “trong khi ta về lại nhớ ta đi”, “nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa”. Rừng xưa đã khép từ khi cuộc đời làm người trần thế mở ra. Đạo không còn là một vòng tròn vĩnh cửu toàn vẹn như các họa sĩ Đông phương vẫn vẽ, đạo đã trở thành con đường gập ghềnh khổ ải cho thân phận con người ra đi và trở về. Và khổ sở hơn, ra đi mà không đến và trở về mà không tới.
Mở ra với thế giới này là “đã mất”, “đã lỡ”, đã “lạc trời cao”, đã “không thành”, như bài thơ "Hư vô" và "Vĩnh viễn" của Bùi Giáng:
Cũng vô lý như lần kia dưới lá
Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành
Đời đã mất tự bao giờ giữa dạ
Khi lỡ nhìn viễn tượng lúc đầu xanh
Buổi trưa đi vào giữa dòng lá nhỏ
Tiếng kêu kia còn một chút mong manh
Dòng nức nở như tia hồng đốm đỏ
Lạc trời cao kết tụ bóng không thành
Lá cũng mất như một lần đã lỡ
Trời đã xanh như tuổi ngọc đã xanh
Trời còn đó giữa tháng ngày lỡ dở
Hồn nguyên tiêu ai kiếm lại cho mình...

Mở ra con đường nhân gian là “tự ấy không về nữa”, là mất mát suốt đời:
Hồn xưa tự ấy không về nữa
Ở cõi hư vô dấu đã chìm.

(Hàn Mặc Tử)
Sứ mạng của thi sĩ là nhớ và tưởng. Nhưng nhớ và tưởng bao giờ cũng là nhớ trở lại và tưởng trở lại. Nhớ (to recollect) và tưởng (to reflect) đều bao gồm tiếp đầu ngữ (re, trở lại). Nhớ (recollect) còn có nghĩa là gom góp (collect) trở lại (re). Gom lại một thế giới đã bị phân mảnh, để làm hoàn nguyên thế giới. Cho nên con đường của thi sĩ là con đường trở lại, trở về. Trở lại là hướng chung với Đông phương, chỉ nêu vài từ ngữ Phật giáo: Quy y (trở về nương tựa), hồi quang phản chiếu (xoay trở lại ánh sáng để soi chiếu), hồi đầu thị ngạn (quay đầu lại là bờ)... Lão Tử: “Đạo là ra đi, ra đi là đi xa, đi xa là trở về”.
Con đường của thi sĩ là con đường hồi hương (Bùi Giáng: Hỏi quê rằng biển xanh dâu, Hỏi tên rằng mộng ban đầu đã xa). Hồi hương bằng ngôn ngữ và qua ngôn ngữ. Và thi ca là ngôn ngữ hồi hương. Nói cách khác, thi ca là sự hồi hương, sự về nguồn của ngôn ngữ.
Thi sĩ là người phát ngôn cho con người về sự nhớ và tưởng tối hậu của con người, về sự mất mát (do lãng quên) tối hậu của con người. Trong nhớ tưởng của riêng mình, thi sĩ thiết lập một khu vườn (như Tagore xem mình là Người làm vườn - đầu đề của một tập thơ của Tagore) của ngôn ngữ, mời gọi Hữu thể về trú ngụ. Thi sĩ là người lập ra một thế giới ngôn ngữ (lập ngôn). Nhưng lịch sử thi ca đã cho thấy nhiều, rất nhiều khu vườn ngôn ngữ được lập ra nhưng linh hồn của thi ca, Hữu thể, không về để trú ngụ, hoặc là chỉ ghé thoáng qua rồi ra đi biệt. Linh hồn của thi ca, hạc vàng Hữu thể chỉ thoáng ghé qua đâu đó một lần trong lịch sử một đời người, rồi ra đi vĩnh viễn, để lại lầu Hoàng hạc vẫn còn nằm đó trơ trụi, vắng không:
Người xưa cưỡi hạc vàng đi mất
Hoàng hạc lầu đây mãi trống không
Hạc vàng một đi không về nữa
Ngàn năm mây trắng đuổi mênh mông
Sông tạnh Hán Dương cây lúp xúp
Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh xa
Chiều xuống nào đâu quê xứ cũ
Khói sóng trên sông lạnh phiến sầu.

(Hoàng hạc lâu – Thôi Hiệu)
Thi sĩ là người lang thang tìm kiếm bằng ngôn ngữ, bằng nhớ và tưởng của mình. Trên bước đường lang thang, những con đường không dẫn về đâu ấy, đôi khi một bước chân như tình cờ trùng hợp với Con đường (Đạo). Những khoảnh khắc ấy, người ta gọi là xuất thần (extase), có nghĩa là: “Ở bên ngoài mình, ra khỏi mình, ra khỏi vị trí của mình” (ex: ra khỏi; stasis: vị trí). Đó là trong một giây phút thoáng qua, nhớ tưởng bắt gặp đối tượng của mình, khoảng cách thời gian không gian không còn nữa. Nhớ tưởng gặp lại, đối diện lại (rencontrer: re (lại), encontrer (chạm mặt, đối diện) đối tượng bấy lâu nhớ tưởng. Hay nói theo ngôn ngữ Phật giáo, đối tượng của nhớ tưởng không còn bị che khuất, trở nên “hiện tiền” (hiện diện trước mặt).
Hàn Mặc Tử, nỗi ám ảnh của ông là Trăng, hầu như bài nào cũng có chữ Trăng. Trăng như thực tại tối hậu, trăng như sự giải thoát. Trong bài thơ "Trăng vàng trăng ngọc" (bài này có phổ nhạc), ông mở đầu, rồi ở giữa và chấm dứt (3 lần) chỉ bằng một câu:
Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng.
Trong một giây phút xuất thần, ông đã thoáng thấy con đường trở về. Nói theo ngôn ngữ TP - như một gợi ý, vì tinh túy của thi ca thì không thể giải thích, chỉ có thể gợi ý - thì:
L'Etre (Trăng) est l’Etre (Hữu thể là Hữu thể). Hay: Hữu thể là (L'Etre est), hay dịch theo cách khác, Hữu thể đang là. Nói theo Đông phương, cái Hiện tiền đang hiện tiền. Hay: cái vốn có thì đang có, cái vốn hiện hữu thì vẫn đang hiện hữu. Nói một cách triết học, đó là cái Như thị, tánh Như, hay “Tất cả các pháp bổn lai thanh tịnh”...
Sứ mạng của thi sĩ là nhớ và tưởng. Qua sự nhớ và tưởng của những thi sĩ, họ đã giúp con người chúng ta đến đối diện với sự nhớ tưởng tối hậu của mỗi người. Chính trong sự nhớ tưởng đó, con người được nâng cấp, được sửa soạn hành trang, mà theo Phật giáo, đó là một phần của giai đoạn Tư lương vị. Cho đến một lúc nào, bằng con đường chơn chánh (Bát chánh đạo) nó sẽ gặp được đối tượng của sự nhớ tưởng. Gặp lại, đó là ý nghĩa của sự trở về.
Trở về với cái gì, gặp lại cái gì? Ở cấp độ hoàn toàn của sự giải thoát, của sự về đến (Đệ bát địa, tương đương cấp độ A la hán của Nam tông), kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập địa nói đến thật tánh như đối tượng của sự trở về: “Thật tánh của mọi sự là chân thường, tánh Như, vượt khỏi tư tưởng”.
Và tại sao gọi con đường ấy là sự trở về, về nguồn, về với thật tánh bổn nguyên? Một trong mười từ ngữ để gọi địa này là Đồng chơn địa (Thomas Cleary dịch là “The stage of youth, because of innocence”, “địa của sự trẻ trung, vì trong trắng vô nhiễm”. Nói theo ngôn ngữ Thiền, trở về với “bổn lai diện mục”, khuôn mặt xưa nay của tất cả.
Sự phát triển của thi ca là sự phát triển của con đường trở về. (Ngay cả khoa học vật lý cũng là đi trên con đường hoàn nguyên: tìm lại bản chất tối sơ của vũ trụ là gì). Thi ca là con đường trở về của ngôn ngữ. Và nói rộng ra, tất cả mọi loại nghệ thuật là con đường trở về của/bằng/qua/mọi phương tiện nghệ thuật.
Nguyễn Thế Đăng
Theo https://giacngo.vn/


Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm - Thân thế và sự nghiệp văn chương

Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm
Thân thế và sự nghiệp văn chương
Đoàn Thị Điểm, hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, quê quán ở làng Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
Đóng góp vào tiến trình lịch sử văn học Việt Nam ở vào thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX, giai đoạn thường được đánh giá là thời thịnh đạt của dòng văn học mang tính nhân văn với các tác phẩm lên tiếng bênh vực cho quyền sống của con người, cho hạnh phúc lứa đôi. Tiêu biểu nhất của dòng văn học này là các tác phẩm của Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.
Đoàn Thị Điểm, hiệu là Hồng Hà Nữ sĩ, biệt hiệu là Ban Tang, quê quán ở làng Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Bà chính họ là Đoàn, nhưng vì bà lấy chồng họ Nguyễn (ông Nguyễn Kiều), nên có sách chép bà là Nguyễn Thị Điểm. Bà sinh năm Ất Dậu (1705), thời Lê Trung Hưng. Bà là con gái ông hương cống Đoàn Doãn Nghi. Mẹ bà là người họ Vũ và là vợ hai ông Nghi, nhà ở phường Hà Khẩu, Thăng Long (phố Hàng Bạc bây giờ), sinh một trai (1703) là Đoàn Doãn Luân và một gái (1705) là Đoàn Thị Điểm. Từ nhỏ anh em bà đã theo mẹ về ở với ông bà ngoại là quan Thái Lĩnh Bá và được dạy dỗ chu đáo, lầu thông Tứ thư, Ngũ kinh.
Đoàn Thị Điểm là người có tài trí và nhan sắc hơn người, nổi tiếng từ hồi trẻ. Năm 6 tuổi đã học rất giỏi. Năm 16 tuổi, có quan thượng thư Lê Anh Tuấn mến mộ muốn xin làm con nuôi, để tiến cử vào cung Chúa Trịnh, nhưng bà nhất định từ chối. Về sau cha mất, gia đình phải chuyển về quê nhà, được ít lâu dời về làng Võ Ngai, tại đây Đoàn Thị Điểm cùng anh trai Đoàn Doãn Luân hành nghề dạy học.
Nhưng ông Luân mất sớm, bà Điểm lại đem gia đình lên Sài Trang, ở đây bà được vời dạy học cho một cung nữ. Thời gian này bà kiêm luôn nghề bốc thuốc, gần như một tay nuôi sống cả gia đình - gồm 2 cháu nhỏ, mẹ và bà chị dâu goá. Bởi tài năng và sắc đẹp cộng với tính hiếu thuận rất đáng quý, bấy giờ bà được nhiều người cầu hôn nhưng nghĩ đến gia đình đành chối từ tất cả. Bà được trau dồi học vấn với các bậc thi hào tài danh, gặp gỡ với nhiều trí thức của khắp miền hội tụ về kinh sư, nơi trung tâm văn hoá, chính trị của cả nước. Cùng với sự thông minh, tài trí, thích văn chương, ham học hỏi, môi trường ấy, tố chất con người ấy đã tạo nên một hồn thơ dân tộc Hồng Hà nữ sĩ.
Song, ở xã hội phong kiến không dành cho phụ nữ những ngôi vị quan lại và có điều kiện thi cử ngang hàng với nam giới. Tuy vậy, bà không kém tiếng ở đất kinh kỳ về văn thơ, nổi tiếng về sự nghiêm nghị, đoan trang, cứng cỏi. Bà là người phụ nữ đầu tiên mở trường dạy học, trường học của cô Điểm ở Chương Dương (nay là Thường Tín, Hà Nội). Rồi làm nàng dâu của đất Thăng Long, bà lấy ông Nguyễn Kiều, hiệu là Hạo Hiên, cũng là một danh sỹ thời đó.
Nhắc đến Đoàn Thị Điểm, chúng ta nghĩ ngay đến tác phẩm Chinh phụ ngâm và trong tâm khảm của mỗi người đều thấu hiểu cảnh biệt ly, tang tóc, đồng cảm với lời than oán của người phụ nữ phải chịu đựng nhiều thiệt thòi khi đất nước có chiến tranh.
Thủa trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên…
Đoàn Thị Điểm khi còn là thiếu nữ, lúc ở nhà của dưỡng phụ Lê Anh Tuấn tại phường Bích Câu, kinh thành Thăng Long, có dịp gặp Đặng Trần Côn. Côn nhỏ hơn cô Điểm chừng hai tuổi, con nhà quý tộc, quê ở Kẻ Mục, Hạ Đình. Đó là một trang thiếu niên anh tuấn tài hoa, năm 15 tuổi đã đậu Hương Cống. Côn rất quý mến cô Điểm về nhan sắc cũng như về tài văn chương, nên có gửi đến Cô Điểm một bài thơ tỏ ý cầu hôn.
Cô Điểm không trả lời nhưng có nói đùa với các chị em bạn:
“- Cái ông Cống Đặng, miệng còn hôi sữa, làm thơ chưa xong mà lại đi nói chuyện vợ chồng”
Đặng Trần Côn nghe thuật lại thì tức lắm, nên cố gắng miệt mài đèn sách, cố đậu cho được Tiến sĩ trong kỳ thi Hội.
Đầu niên hiệu Cảnh Hưng nhà Lê Trung Hưng, gặp buổi chiến tranh ly loạn, trai tráng bị bắt đi lính đánh giặc phương xa, gây cảnh biệt ly đau đớn cho nhiều gia đình, ông Đặng Trần Côn cảm xúc, đem hết sức học bình sinh viết nên tác phẩm Chinh phụ ngâm bằng Hán văn theo thể cổ nhạc phủ.
Khi viết xong, Đặng Trần Côn đưa tác phẩm này cho ông Ngô Thời Sĩ xem. Ông Sĩ xem xong lấy làm thán phục nói rằng: "Văn chương tới mức này thì lão Ngô tôi chỉ còn biết bái phục mà thôi."
Đặng Trần Côn sau đó gửi tác phẩm này đến cho Đoàn Thị Điểm xem, ngụ ý cho bà Điểm biết rằng, trước đây bà xem thường ông là lầm to. Lúc này bà Điểm đã lấy chồng là ông Nguyễn Kiều, và ông Kiều đang đi sứ sang Tàu, bị kẹt ở lại bên đó vì giặc giã cắt đứt đường giao thông, nên chưa trở về Việt Nam được. Bà Điểm xem xong tác phẩm Hán văn của ông Đặng Trần Côn thì rất phục tài văn chương của họ Đặng, lại thấy tâm sự của nàng chinh phụ trong tác phẩm giống y hệt tâm sự của bà lúc đó.
Tâm hồn của người nữ sĩ rung động, và cũng muốn đáp lại tấm tình cảm của Đặng Trần Côn khi trước, bà đem hết sự xúc cảm của tâm hồn, diễn Nôm tác phẩm Chinh phụ ngâm Hán văn của Đặng Trần Côn, theo lối thơ trữ tình hoàn toàn Việt Nam.
Bản dịch gồm 412 câu theo lối song thất lục bát, trong diễn tả nhiều tâm trạng: hy vọng, buồn bã, giận hờn tựu về một mối đó là nỗi nhớ nhung khắc khoải của một người chinh phụ (vợ có chồng đi lính) đang chờ chồng trở về sum họp. Tuy là bản dịch, nhưng thậm chí còn được yêu thích hơn bản chính, nên đến nay được xem như là một sáng tác của bà Điểm. Tác phẩm từng được dịch ra tiếng Pháp bởi những nhà văn trong nhóm Mercure de France, với tên Les Plaintes d’une Chinh phu (1939). Sau này giáo sư Takeuchi dịch ra tiếng Nhật, với tên Seifu Ginkyoku.
Cùng với Truyện Kiều của Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, bản dịch Chinh phụ ngâm của Hồng Hà nữ sĩ được xem là tác phẩm ưu tú của nền thi văn trung đại Việt Nam.
Đoàn Thị Điểm là người có công với nền văn học quốc âm. Riêng về Hà Nội, bà có tác phẩm Bích Câu kỳ ngộ, là một trong sáu truyện của tập truyện ký “Truyền kỳ tân phả”, được xếp vào những tác phẩm Việt văn thi ca ở triều Lê, sau đời Hồng Đức. (Truyện này về sau được viết lại bằng chữ Nôm theo thể văn vần, không biết tác giả).
Đoàn Thị Điểm còn là một nữ sĩ nổi tiếng với nhiều giai thoại về khả năng xuất khẩu tài tình. Đêm trăng, anh trai Đoàn Doãn Luân từ ngoài bờ ao vào thấy Đoàn Thị Điểm đang soi gương bèn đọc:
Đối kính họa mi, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm
(Soi gương vẽ mày, một chấm hóa thành hai chấm) 
Đoàn Thị Điểm đáp ngay:
Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân
(Ra ao ngắm trăng, một vầng chuyển hóa hai vầng) 
Tương truyền một lần Đoàn Thị Điểm đang tắm còn Trạng Quỳnh đang đợi ngoài cửa và đứng ngoài đập cửa đòi vào. Đoàn Thị Điểm đã ra câu đối "Da trắng vỗ bì bạch" và giao hẹn nếu đối được thì đồng ý. Nhưng với câu đối này, Trạng Quỳnh không thể đối lại được.
Đoàn Thị Điểm có lần gặp Trạng Nguyễn và hai người cùng đi tìm đường đến phố Mía (phố chuyên kéo mía làm mật, đường). Trên đường đi, bà đã phải hỏi đường một cô hàng mật. Gần đến nơi, bà ra vế đối:
Lên phố Mía, gặp cô hàng mật. Cầm tay kẹo lại, hỏi thăm đường.
Trạng Nguyễn không đối lại được đành cúi đầu bái biệt.
Bà Đoàn Thị Điểm đứng hàng đệ nhất cùng các nữ sĩ tên tuổi trên văn đàn Việt Nam như: Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Sương Nguyệt Anh,... Bà là một nữ sĩ có thi tài lỗi lạc, lời thơ tao nhã, đài các, bóng bẩy đầy âm điệu. Bà còn là một phụ nữ mẫu mực nho phong, đầy đủ hiếu thảo, nghĩa khí.
Trí Dũng
 Theo http://www.hungyentv.vn/



  Một ngày như mọi ngày X in vội vàng thưa ngay: Đây là một ngày của một ông già Việt Nam trên xứ Mỹ, một người đang dè dặt đặt những ...